Hôm nay bạn muốn đọc gì?

Chuyện xảy ra trên con tàu tốc hành Phương Đông - Chương 33

. IX

POIROT TRÌNH BÀY HAI GIẢI PHÁP CỦA ÔNG.

N Những hành khách đều đã tập trung ở toa ăn.

Tất cả các khuôn mặt đều biểu lộ sự mong đợi và sự dè dặt.

Gureta Ohlson vẫn khóc và bà Hubbard đang dỗ cô ta.





- Nào, cô hãy can đảm lên! Tất cả sẽ ổn thôi, cô bình tĩnh đi! Nếu có một kẻ sát nhân ở trong chúng ta thì không ai nghĩ là cô đâu.

Phải điên mới buộc tội cô.

Hãy ngồi xuống bên cạnh tôi đi.

Poirot đứng lên.

Anh phục vụ tàu Pierre Michel đứng gần cửa hỏi:



- Ông cho phép tôi ở lại chứ?

- Dĩ nhiên rồi Michel.

Poirot bắt đầu:



- Thưa các ông bà, tôi sẽ nói bằng tiếng Anh vì các ông bà đều hiểu ít nhiều.

Chúng ta đến đây để tìm sự thật về cái chết của Samuel Edward Ratchett.

Còn được biết đến với cái tên là Cassetti.

Chúng ta có hai giải đáp mà tôi sẽ trình bày trước ông bà và mời ông Bouc, bác sĩ Coustantine hiện diện ở đây xem giải đáp nào đúng nhất.



- Các ông bà đã biết sáng nay ông Ratchett đã bị ám sát bằng dao trong phòng.

Chúng ta biết ông ta vẫn còn sống vào lúc 12g37 đêm qua.

Vào giờ đó ông vẫn nói chuyện với nhân viên phục vụ qua cánh cửa.

Một cái đồng hồ bị vỡ tìm thấy trong túi áo nạn nhân có kim đồng hồ chỉ 1g15.

Bác sĩ Constantine, người xem xác nạn nhân đã cho biết là cái chết xảy ra giữa 12g đêm và 2g sáng.

Vào lúc 12g30, như các ông bà đều biết, con tàu đã bị ngừng lại vì tuyết.

Vậy sau giờ này không ai có thể rời tàu được.

Ông Hardman, nhân viên của một văn phòng thám tử tư ở Nữu ước (New York) (nhiều cái đầu quay về phía Hardman) đã xác nhận là không có ai đi ngang qua phòng ông ta.

Phòng 16, mà ông ta không trông thấy.

Như vậy là chúng ta có thể kết luận là tên sát nhân đã lẫn trốn trong những hành khách của tàu Staraboul Calais.



- Ít ra đó cũng là giả thuyết của chúng ta.





- Sao ? ông Bouc ngạc nhiên nói.



- Dù sao tôi cũng sẽ trình bày với các ông bà một giải đáp khác.

Ông Ratchett bị kẻ thù đe dọa, đã cho Hardman những chi tiết để nhận dạng, và nói với Hardman rằng cuộc ám sát sẽ có thể xảy ra vào đêm thứ hai của cuộc hành trình.



- Tôi xin các ông bà lưu ý là Ratchett biết nhiều hơn là những gì ông ta tiết lộ.

Đêm thứ hai bằng cánh cửa mà Mac Queen và đại tá Arbuthnot đã để mở khi xuống ga Vincovci, một lúc sau, có kẻ lạ mặt đã lên tàu.

Bên ngoài quần áo, hắn đã mặc bộ đồng phục của nhân viên toa kút sét.

Dùng xâu chìa khóa của nhân viên tàu hỏa, hắn đã vào phòng Ratchett lúc bấy giờ đang ngủ say vì thuốc ngủ.

Kẻ sát nhân đã đâm Ratchett nhiều lần rất mạnh và rời phòng bằng cánh cửa thông qua phòng bà Hubbard.





- Đúng thế đấy.



- Bà Hubbard nói.



- Khi đi ngang qua phòng bà Hubbard, kẻ sát nhân đã cho con dao dùng để đâm Ratchett vào túi xách của bà treo ở cửa.

Và kẻ sát nhân đã vô ý làm rơi một cái khuy của bộ đồng phục.

Hắn đã lẻn ra khỏi phòng, lần theo hành lang.

Rất nhanh chóng, hắn đã cởi bộ đồng phục ra trong một phòng trống và nhét vào vali.

Vài phút sau, trước khi tàu tiếp tục chạy hắn đã xuống vẫn bằng cánh cửa cạnh toa.

Những hành khách ngồi nghe chăm chú.





- Vậy ông nghĩ gì về cái đồng hồ ?

- Hardman hỏi.



- Tất cả đều được giải thích một cách dễ dàng.

Ratchett đã quên điều chỉnh đồng hồ chậm lại theo giờ Á Đông (giờ Á Đông sớm hơn 1 tiếng so với giờ Trung u).

Như thế Ratchett đã bị giết lúc 12g15 chứ không phải 1g15.



- Lý luận của ông không vững!

- ông Bouc nói.



- Vào lúc 1g kém 23, một người đã nói trong phòng Ratchett.

Ông ta hay kẻ sát nhân của ông ấy ?



- Không nhất thiết, một kẻ thứ ba đã vào phòng để nói chuyện với Ratchett và đã thấy ông ta chết.



- Người này đã bấm chuông gọi nhân viên phục vụ.

Sau đó hiểu ra sự nguy hiểm của tình huống, sợ bị nghi ngờ, người này đã trả lời thay cho Ratchett khi anh phục vụ gõ cửa phòng.



- Có thể lắm,

- ông Bouc nói.



Poirot quan sát bà Hubbard:

- Bà định nói gì thưa bà ?

- Tôi cũng không biết nữa.

Ông có tin là chính tôi cũng đã quên điều chỉnh đồng hồ không ?



- Không, thưa bà, chắc có lẽ bà đã nghe thấy kẻ sát nhân đi ngang qua một cách vô ý thức.

.

.

Và sau đó, vì bị ác mộng, bà đã tưởng tượng có một người đàn ông trong phòng.

Bà đã thức giấc và bấm chuông gọi nhân viên phục vụ,

- Cũng có thể lắm,

- bà Hubbarđ đáp.

Công chúa Dragomiroff chăm chú nhìn Poirot và nói:



- Thưa ông, ông giải thích thế nào về lời chứng của cô hầu phòng của tôi.



- Đơn giản thôi thưa bà.

Cô hầu phòng của bà đã nhận ra chiếc khăn tay tôi đưa cho cô ấy, là của bà.

Đã cố gắng đánh lạc hướng sự nghi ngờ của tôi đối với bà.

Cô ấy đã gặp kẻ lạ mặt, nhưng sớm hơn, khi tàu vẫn còn đậu ở ga Vincovci.

Cô ta đã bảo là đã trông thấy kẻ lạ mặt trễ hơn.

Mong rằng đã cung cấp cho bà một chứng cứ vắng mặt chắc chắn.

Công chúa Dragomiroff gật đầu:



- Ông đã giải đáp được mọi điều.

Tôi phục ông đấy.

Im lặng một lúc, bỗng mọi người đều giật mình: Bác sĩ Constantine đập mạnh tay lên bàn:

- Không, không thể được! Những lời giải thích của ông không làm tôi hài lòng! Nhiều cái vô lý lắm.

Vụ án đã không xảy ra như vậy và cũng như tôi, ông thừa biết như vậy.



Poirot nhìn bác sĩ Constantine:

- Như vậy tôi lại phải trở lại cách giải đáp thứ nhất của tôi.

Nhưng ta không nên bác bỏ giải đáp thứ hai này.

Biết đâu lát nữa lại phải sử dụng nó.

Quay sang những hành khách, Poirot nói:



- Còn một giải đáp nữa cho vụ án, và đây là cách mà tôi đã tìm ra nó:

- Sau khi nghe xong những lời khai của quý ông, quý bà, tôi đã ngồi nhắm mắt và suy nghĩ.

Có một vài điểm gây sự chú ý của tôi.

Tôi đã kể cho hai bạn tôi nghe.



- Tôi đã tìm ra câu trả lời cho một vài vấn đề, ví dụ như vết mờ trên thông hành.

.

.

Nhưng một vài điểm vẫn còn khó hiểu.

Điểm quan trọng nhất là nhận xét của ông Bouc trong bữa cơm trưa, ngay sau khi chúng ta vừa rời khỏi Stamboul, ông Bouc nhận thấy rằng những hành khách trên chuyến tàu này thuộc những quốc tịch, những giai cấp khác nhau lạ lùng.





- Việc này đối với tôi cũng khá lạ.

Tôi tự hỏi không hiểu nó có hay xảy ra không ? Và tôi thấy rằng sự việc như vậy cũng hay xảy ra ở.

.

.

Mỹ.

Trong một gia đình người Mỹ, người ta có thế thấy một tài xế Ý, một bà quản gia Anh, một Ý tá Thụy Điển, một cô hầu phòng Pháp.

.

.

Điều đó đã đưa tôi đến chỗ gắn cho mỗi người một vai trò trong tấm thảm kịch gia đình Armstrong.

Cũng như một đạo diễn phân vai chỗ diễn viên của một vở kịch, tôi đã có một kết quả khá lý thú.



- Tôi xem xét lại từng lời khai của từng hành khách, một cách riêng lẻ và tôi đã có những nhận xét ngộ nghĩnh.

Ta hãy lấy lời khai của Mac Queen.

Lần hỏi cung đầu tiên không có gì đáng nói.

Nhưng lần thứ hai khi tôi hỏi anh ta, Mac Queen đã nói một câu kỳ lạ.

Khi tôi cho anh ta biết là tôi đã tìm ra một mảnh giấy có liên quan đến vụ Armstrong, Mac Queen đã nói: nhưng mà.

.

.

Và sau một lúc do dự, tôi muốn nói là hắn thật lơ đễnh khi để giấy tờ lung tung.



- Tôi hiểu ngay là anh đã lỡ lời.

Giả thử như Mac Queen đã nói tiếp câu của mình: Nhưng mà tờ giấy đó đã được đốt rồi mà.

Nếu thế Mac Queen đã biết bức thư này và việc bức thư bị đốt đi.

.

.

Nói một cách khác, Mac Queen là kẻ sát nhân hay đồng lõa.

Như thế là đã loại được một người.





- Sau đó là lời khai của Masterman, anh hầu phòng.

Anh ta xác nhận là Ratchett có thói quen dùng thuốc ngủ khi đi du lịch bằng tàu hỏa.

Điều này khá hợp lý

- Nhưng thử hỏi đêm qua Ratchett có muốn ngủ không ? Khẩu súng để dưới gối chứng tỏ điều trái ngược lại.

Ratchett muốn đề phòng.

Vậy nếu có người muốn ông ta uống thuốc ngủ đó là ngoài ý muốn của Ratchett.

Ai là người làm việc này nếu không phải là Mac Queen hay anh hầu phòng.



- Đến lời khai của Hardman.

Tôi tin anh ta khi anh đề cập đến danh tánh thật của mình.

Nhưng khi nói đến cách làm việc của anh để bảo vệ Ratchett thì điều này cần xét lại.

Cách duy nhất có hiệu quả để bảo vệ Ratchett là ngủ trong phòng Ratchett hay đứng ở một chỗ nào đó thuận tiện để canh chừng phòng Ratchett.

Qua lời khai của Hardman tôi thấy là không một ai, ngoài số hành khách trên tàu Stamboul

- Calais có thể giết Ratchett.

Chi tiết này đối với tôi hơi lạ, và tôi quyết định là sẽ để ý đến Hardman.



- Chắc quý ông, quý bà đều biết là tôi đã nghe lỏm được mẫu chuyện giữa cô Debenham và đại tá Arbuthnot.

Một điều đáng nhớ là đại tá Arbuthnót gọi cô Debenham là Mary và có vẻ rất thân với cô ta.

Tuy nhiên Arbuthnót khai là mới quen cô Debenham trên tàu.

Nhưng đối với tâm lý người Anh, như đại tá Arbuthnot, cho dù ông ta có bị tiếng sét ái tình thì Arbuthnot cũng sẽ tiến một cách từ từ.

Và như thế là tôi có thể kết luận là đại tá Arbuthnot và cô Debenham đã biết nhau lâu rồi và họ chỉ giả vờ như không quen biết nhau thôi.





- Chúng ta hãy sang lời khai của bà Hubbard.

Bà Hubbard cho rằng từ kút sét của mình bà không thể biết cánh cửa thông qua phòng Ratchett khóa hay không, cho nên bà đã nhờ cô Ohlson xem hộ.

Tốt, nếu bà Hubbard ngủ ở các phòng 2, 12, 14,.

.

.

Vì ở những phòng mang số chẵn cái chốt cài cửa ở ngay dưới nắm đấm cửa.

Nhưng ở những phòng mang số lẻ như phòng 3 của bà Hubbard thì cái chốt cài cửa ở ngay phía trên nắm đấm cửa, không thể bị cái túi xách che.

Và tôi đã kết luận là bà Hubbard đã bịa ra chuyện vừa rồi.

Bây giờ tôi xin đề cập đến thời gian.



- Cái đồng hồ được tìm thấy trong túi áo Ratchett, một chỗ hơi lạ, vì ở ngay đầu giường đã có cái móc treo đồng hồ.

Và thế là tôi tin chắc rằng cái đồng hồ sau khi đã được điều chỉnh kim đã được cố ý bỏ vào túi nạn nhân, nếu thế vụ án mạng không xảy ra lúc 1 giờ 15.



- Có thể nào vụ án mạng đã xảy ra sớm hơn, lúc 1 giờ kém 23 phút ? Có lẽ ông Bouc tin thế vì tiếng hét đã đánh thức tôi lúc đó.

Nhưng Ratchett vì uống thuốc ngủ, không thể hét được.

Nếu không, ông ta còn có thể chống cự được.

Điều này đã không xảy ra vì chúng tôi không tìm thấy vết tích của một cuộc xô xát nào ở hiện trường.





- Tôi nhớ Mac Queen đã nói với tôi hai lần là Ratchett không hề biết tiếng Pháp, và tôi hiểu là những gì đã xảy ra lúc 1 giờ kém 23 phút chỉ nhằm mục đích lừa tôi.

Bất cứ ai cũng có thể tìm ra việc cố tình sửa kim đồng hồ.

.

.

Một cách rất thông thường trong các truyện trinh thám.

Cho nên người ta biết ngay là không sớm thì muộn tôi sẽ tìm ra sự bịp bợm về cái đồng hồ.

Nếu tôi ỷ vào sự nhạy bén của tôi thì tôi đã xác định là Ratchett, vì không biết tiếng Pháp, giọng nói nghe được vào lúc 1 giờ kém 23 từ phòng nạn nhân không thể là của Ratchett.

Vậy lúc đó ắt hẳn Ratchett phải bị giết rồi.

Nhưng, tôi lại chắc chắn là vào lúc 1 giờ kém 23.

Ratchett đang còn chìm vào giấc ngủ do thuốc ngủ gây ra.



- Tuy nhiên, tôi suýt bị lừa.

Tôi mở cửa nhìn ra hành lang và đã nghe rõ ràng câu nói bằng tiếng Pháp (nói rất đúng).

Nếu tôi khá đần độn để không hiểu nghĩa câu này thì người ta sẽ giải thích cho tôi.

Nếu cần Mac Queen sẽ đến nói với tôi là: “Xin lỗi, ông Poirot, chắc chắn không phải là ông Ratchett đâu.

Ông ta không hề biết tiếng Pháp”.



- Vậy vụ án xảy ra lúc nào ? Ai là thủ phạm ?



- Theo tôi

- ở đây tôi chỉ nói ý kiến cá nhân tôi – Vụ án mạng đã xảy ra lúc 2 giờ, mốc giờ cuối cùng do bác sĩ Constantine đưa ra.



- Ai là thủ phạm ? Poirot ngừng một lúc và nhìn tất cả những hành khách đang chăm chú nghe ông.

Im lặng hoàn toàn.



Poirot chậm rãi nói:

- Tôi ngạc nhiên khi cảm thấy khó mà kết tội bất cứ một người nào trong những hành khách.

Một sự trùng hợp kỳ lạ, chứng cớ vắng mặt của mỗi một người, lại được một người khác xác nhận, ví dụ như ông Mac Queen và đại tá Arbuthnot đã cung cấp những chứng cớ gỡ tội cho nhau rất vững vàng.

Mặc dù cả tính hai người này hoàn toàn khác biệt nhau để có thể nói chuyện với nhau trong suốt cuộc hành trình.

Trường hợp này cũng rơi vào anh hầu phòng người Anh và ánh người Ý.

Cô người Thụy Điển và cô gái người Anh.



Bỗng nhiên tôi hiểu ra, tất cả đều có tội.

Việc mà nhiều người dính líu đến vụ Armstrong đi du lịch trên cùng một chiếc tàu không thể là một sự ngẫu nhiên được.

Tất cả phải được chuẩn bị từ lâu.

Tôi nhớ đến một nhận xét của đại tá Arbuthnot về bản án của bồi thẩm đoàn.

Một bồi thẩm đoàn gồm 12 người.

.

.

Và Ratchett bị đâm 12 nhát.

Lần này thì, việc tụ tập của nhiều người, đủ mọi tầng lớp, mọi quốc tịch trên chuyến tàu Stamboul Calais vào một mùa mà con tàu thường vắng người được giải thích một cách rõ ràng.

Nếu Ratchett đã thoát khỏi luật pháp Hoa Kỳ, dù cho tội của hắn đã rõ ràng.

Tôi liền liên tưởng đến một bồi thẩm đoàn gồm 12 người kết tội hắn và đã trở thành những kẻ trừng trị tội phạm.

Đứng ở khía cạnh này thì tất cả bí mật đều được sáng tỏ.

Mỗi hành khách đều được giao cho một vai trò.

Tất cả đều được chuẩn bị từ chi tiết nhỏ nhất.

Nếu một người trong nhóm người này bị nghi ngờ thì sẽ có kẻ khác làm chứng và làm đảo lộn mọi cuộc điều tra.

Ngoài ra, sự canh chừng có xếp đặt của Hardman không cho phép kết tội oan bất cứ một ai.



Giải đáp này đã làm sáng tỏ mọi tình huống của vụ án.

Những vết thương trên người nạn nhân do 12 người khác nhau gây ra.

Những thư hăm dọa viết ra chỉ nhằm mục đích làm tang vật

- Ratchett có nhận được

- những bức thư mà Mac Queen đã đốt đi và đánh tráo bằng những bức thư giả.

Câu chuyện của Hardman được thuê để bảo vệ Ratchett chỉ là một điều bịa đặt ra hoàn toàn.

Hình dáng, một người đàn ông nhỏ, tóc nâu, có giọng nói đàn bà, một sự bịa đặt khôn khéo vì nó có thể áp dụng cho đàn ông hay đàn bà và những người phục vụ trên tàu đều vô tội.

Việc dùng dao làm tôi ngạc nhiên.

Nhưng sau khi suy nghĩ thấy không một vũ khí nào phù hợp hơn.

Tất cả, khỏe hay yếu đều có thể dùng dao và tiện lợi của nó là không gây tiếng động, có lẽ tôi nói hơi quá.

Nhưng đấy là những gì tôi có thể tưởng tượng ra.

Mỗi người lần lượt đi qua phòng bà Hubbard vào phòng Ratchett và đâm! Vì phòng không bật đèn, nên không ai nhận ra vết thương của mình gây ra cho nạn nhân.

Và như thế không thể xác định ai là người đã đâm chết nạn nhân.

Bức thư cuối cùng mà có lẽ Ratehett đã tìm thấy dưới gối đã được đốt một cách cẩn thận.

Không có cái gì cho thấy sự liên hệ giữa vụ Armstrong và nạn nhân.

Như vậy không có lý do gì nghi ngờ hành khách trên tàu.

Người ta có thể nghĩ cho một kẻ sát nhân đến từ bên ngoài.

Và người đàn ông tóc nâu, có giọng nói đàn bà, sẽ được nhận ra bởi một trong những hành khách như đã xuống ga Brod.



Tôi không hiểu khi tàu bị kẹt vì tuyết làm đảo lộn phần hai này của chương trình, quí vị đã nghĩ gì.

Có lẽ quí vị đã họp nhanh lại để quyết định hành động ngay.

Lần này thì chắc chắn là một hay nhiều người trong quí vị sẽ bị nghi ngờ.

Nhưng điều này đã được tính rồi và nghi ngờ sẽ được xóa tan ngay do việc làm chứng của những hành khách khác.

Bây giờ phải tính đến chuyện làm nản chí những người điều tra.

Với mục đích đó, hai tang vật đã được để lại tại hiện trường.

.

.

Một tang vật kết tội đại tá Anbuthnot, một người có chứng cớ vắng mặt rất vững vàng.

Và sự liên hệ với gia đình Armstrong rất khó được phát hiện.

Tang vật thứ hai, chiếc khăn tay buộc tội công chúa Dragomiroff.

Căn cứ vào giai cấp, vào sự yếu đuối về thể xác và lời chứng của cô hầu, bà Dragomiroff cũng được xem là vô can.

Để cho vụ án rắc rối thêm, một người đàn bà mặc áo choàng đỏ xuất hiện và vì muốn tôi trông thấy bóng dáng bà ta, người ta đã gõ cửa phòng tôi.

Khi nhìn ra ngoài tôi thấy bóng dáng cái áo choàng đỏ vừa khuất ở cuối hành lang.

Ba lời chứng khác đã được lựa chọn khéo léo cũng đều trông thấy cái áo choàng đỏ: nhân viên phục vụ, cô Debenham, và Mac Queen.

Kẻ nào nghịch ngợm đã đem dấu cái áo choàng này trong va li của tôi.

Khi tôi đang bận điều tra.

Tôi không hiểu cái áo choàng này của ai.

Nhưng tôi nghĩ là có lẽ của bà Andrenyi vì hành lý của bà chỉ toàn quần áo ngủ mỏng đắt tiền nhưng lại thiếu mất áo choàng ngoài.

Khi biết lá thư mặc dù đã được đốt kỹ, vẫn còn để lại chữ Armstrong, Mac Queen vội vàng báo động ngay cho những hành khách.

Như thế bà Andernyi phải đề phòng và có lẽ lúc đó quận công Andernyi đã nghĩ đến việc tẩy xóa thông hành.

Tất cả những hành khách đều chối là không quen biết gia đình Armstrong.

Nghĩ rằng tôi không có một phương tiện nào để kiểm tra việc này ngay (vì tàu đang bị kẹt).

Quý vị đã nghĩ rằng tôi chỉ chú ý đến vụ Armstrong nếu một hành khách làm tôi nghi ngờ có liên quan đến vụ này.



Một điểm khác cần được sáng tỏ: Nếu giả thuyết của tôi đúng, và tôi nghĩ rằng mình không lầm

- anh phục vụ toa kút sét tham dự vào vụ án.

Nhưng trong trường hợp này chúng ta có tất cả 13 người phạm tội thay vì 12.

Trái với số lượng bồi thẩm đoàn.

Tôi phải tìm cho ra trong 13 người này ai là kẻ vô tội.

Tôi đã đi đến một kết luận khá kỳ lạ:

- Người không tham dự vào vụ án này là người đáng bị nghi ngờ nhất, đó là bà Andrenyi.

Khi quận công thề danh dự là vợ ông ta không rời khỏi phòng.

Ông đã tỏ ra rất thành thật đến độ tôi tin là ông ta nói thật Và tôi biết là quận công Andrenyi đã thay chỗ cho vợ mình.





- Pierre Michel là đồng lõa.

Vì một lý do gì, một nhân viên lâu năm trong ngành lại dính líu đến vụ này ? Khó có thể có một sự liên hệ nào giữa Pierre Michel, một người Pháp, và gia đình Armstrong.

Bỗng nhiên tôi nhớ ra là cô giữ trẻ là người Pháp, người đã giữ Daisy Armstrong.

Nếu cô ta là con gái của Pierre Michel thì sao ? Tất cả đều được sáng tỏ.

Còn có ai mà sự liên hệ với gia đình Armstrong còn chưa rõ ràng ? Tôi nghĩ rằng đại tá Armstrong là bạn của đại tá Arbuthnot, có lẽ họ đã chiến đấu bên cạnh nhau.

Về phần cô hầu phòng Hildegarde Schmidt tôi đoán ngay vai trò của cô ở trong gia đình Armstrong.

Có thể tôi tham ăn, nhưng tôi nhìn thấy ngay ở cô Schmidt một người đầu bếp giỏi.

Tôi đã giăng một cái bẫy và cô Scbmidt đã rơi vào cái bẫy đó: “Tôi biết cô nấu ăn rất giỏi!”.

Tôi đã nói với cô và Schmidt đã trả lời: “Đúng vậy, những chủ cũ của tôi đều khen tôi”.





- Sau đó là Hardman, bề ngoài thì anh la không liên quan gì đến gia đình Armstrong.

Tôi nghĩ anh ta là hôn phu của cô gái giữ trẻ người Pháp.

Tôi đã đề cập trước mặt anh ta về vẻ đẹp và duyên dáng của những phụ nữ ngoại quốc.

Hardman đã long lanh nước mắt

- anh ta đã viện cớ là tại tuyết làm chóa mắt mình.



- Còn bà Hubbard, người được giao vai trò chính trong vụ án là người ở cạnh phòng Ratchett.

Bà Hubbard, hơn những người khác bị nghi ngờ nhiều nhất và bà cũng không có chứng cứ vắng mặt.

Muốn diễn xuất vai trò của một người đàn bà Mỹ, hơi kỳ cục, chỉ biết đến con gái và cháu mình, phải là một kịch sĩ tài tình.

Một kịch sĩ như thế trong gĩa đình Armstrong là ai khác, ngoài mẹ là Armstrong, nữ kịch sĩ nổi tiếng: Linda Arden.

Poirot ngừng lại.



Và rồi một giọng nói ấm và truyền cảm nổi lên, bà Hubbard nói:

- Ông còn muốn biết thêm gì nữa ? Tôi cứ ngỡ như mình vẫn còn diễn kịch! Và bà tiếp bằng một thái độ mơ màng.





- Sự sơ suất vì cái xách tay chứng tỏ là mình phải luôn luôn tập diễn lại vai trò của mình cho đến phút cuối cùng.

Chúng tôi đã diễn thử một lần trên tàu rồi đấy chứ.

.

.

Có thể lúc đó tôi ở một phòng chắn và sau này không xem lại chỗ then cửa.

Bà nhìn thẳng vào Poirot và tiếp:

- Ông Poirot, tôi phục ông đấy.

Tất cả những lập luận của ông đều đúng, ông không thể tưởng tượng ra tấn thảm kịch vào cái ngày kinh khủng đó.

.

.

Ở New York.

Tôi điên lên vì đau khổ.

.

.

Tất cả những gia nhân đều buồn khổ.

.

.

Đại tá Arbuthnot bạn thân của John Armstrong điên lên vì kinh tởm và tức giận.





- Armstrong đã cứu sống tôi trong chiến tranh,

- Arbuthnot nói.

Ngày đó, trong cơn phẫn uất, trong sự đau buồn, trong sự tức giận đến tột cùng, có thể là chúng tôi đã không bình tĩnh, đã điên rồ.

Làm sao tôi biết được ? Chúng tôi đã quyết định, vì kẻ sát nhân đã không bị trừng trị thì chúng tôi phải tự mình trừng trị nó một cách đích đáng.

Chúng tôi gồm mười hai người, hay đúng hơn mười một người, bố của Suzanne, cô hầu giữ Daisy, ở mãi tận Pháp.

Mới đầu, chúng tôi định rút thăm xem ai sẽ là người thi hành bản án.

Nhưng cuối cùng tất cả chúng tôi đều theo ý kiến Antonio, anh nhân viên.

Mary và Hector Mac Queen sắp xếp mọi chi tiết của vở kịch.



Sự chuẩn bị đòi hỏi một thời gian dài.

Chúng tôi phải truy lùng kẻ sát nhân

- Hắn đã đổi tên khác

- Hardman đã làm việc này.

Sau đó Masterman và Hector đã được Ratchett mướn vào làm.

Đại tá Arbuthnot nghĩ rằng con số mười hai phải được tôn trọng, nên chúng tôi phải mời bố của Suzanne tham dự.

Vì muốn trả thù cho cô con gái duy nhất đã tự tử vì Ratchett, Pierre Michel (bố của Suzanne) đồng ý giúp chúng tôi.

Đại tá Arbuthnot không thích dùng dao nhưng cuối cùng ông cũng đồng ý, vì cách này đỡ gây rắc rối! Hector đã cho chúng tôi biết rằng Ratchett sớm muộn gì cũng sẽ đi Paris bằng chuyến tàu tốc hành Phương Đông.

Dịp may đến với chúng tôi.

Pierre Michel làm việc trên tuyến đường này.

Như vậy một người vô tội khác không bị nghi ngờ.

Dĩ nhiên là chúng tôi phải nói chuyện này với chồng của con gái tôi.

Anh ta đã xin được đi theo Hector để giàn xếp cho Ratchett quyết định đi du lịch vào đúng ngày Michel trực.

Chúng tôi có ý định lên hết toa tàu kút sét Stamboul

- Calais nhưng không may, một phòng của toa lại được dành cho ông giám đốc của công ty.

Còn phần Harris, anh ta chỉ là một cái tên được bịa đặt ra thôi, vì cho một người lạ mặt ở chung phòng với Mac Queen là rất nguy hiểm.

Và đến phút cuối cùng ông đã vào đó.



Ngừng một lát, bà tiếp:

- Ông Poirot thân mến, bây giờ thì ông đã rõ hết mọi chuyện.

Ông sẽ quyết định điều gì ? Nếu ông phải làm một tờ báo cáo chính thức.

Xin ông hãy cho tôi là thủ phạm duy nhất.

Tôi sẵn sàng đâm con quái vật đó mười hai nhát dao! Không những nó đã giết con gái tôi, và cháu gái Daisy của tôi.

Và còn đứa con trong bụng mẹ nó.

Đáng lý đứa bé phải được sống chứ.

Nhưng trước khi bắt cóc Daisy của chúng tôi, con quái vật sát hại bao nhiêu trẻ thơ khác và ai biết được nó sẽ còn giết bao nhiêu người khác nữa nếu nó còn sống, xã hội đã lên án nó.

Chúng tôi chỉ thi hành bản án thôi.

Tôi xin một mình chịu trách nhiệm về vụ án này.

Tại sao những người như Michel, lại phải chịu tội.

Còn Mary và đại tá Arbuthnot, họ yêu nhau.

Giọng nói của Linda Arden tràn ngập căn phòng.

Giọng nói ấm áp, truyền cảm đã làm rung động biết bao khán giả.



Poirot đưa mắt dò hỏi ông Bouc:

- Với tư cách là giám đốc của công ty, ông nghĩ thế nào ? Ông Bouc nói:



- Theo tôi thì cách giải thích thứ nhất của ông là đúng nhất.

.

.

Chắc chắn là như vậy.

Khi cảnh sát Nam Tư đến, chúng ta sẽ trao cho họ một tờ báo cáo với nội dung như thế.

Bác sĩ có đồng ý không ?

- Dĩ nhiên.

Còn về những nhận xét thuộc phạm vi Y học hình như.

.

.

tôi đã nhầm ở một hai vấn đề gì đó!

- Sau khi trình bày quan điểm riêng của tôi, thưa quý ông, quý bà, tôi xin hân hạnh báo là tôi đã giải quyết xong vụ án này.



HẾT.