Hôm nay bạn muốn đọc gì?

Cô Gái Đùa Với Lửa - Chương 3

Phần 2

Yêu thương từ nước Nga 10 THÁNG MỘT - 23 THÁNG BA Nói chung, một phương trình mang một hay nhiều hơn cái gọi là ẩn số thường được biểu thị bằng x, y, z, v.v... Nếu các giá trị thay vào các ẩn số đó mà đem lại được đẳng thức cho giữa hai vế của phương trình thì ta nói là thỏa mãn được phương trình và có một nghiệm.

Thí dụ: 3x + 4 = 6x-2 (x = 2) CHƯƠNG 4 Thứ Hai, 10 tháng Một

Thứ Ba, 11 tháng Một Salander xuống sân bay Arlanda ở Stockholm hồi trưa. Cộng cả giờ bay cô đã qua chín tiếng ở sân bay Grantly Adams ở Barbados. Hãng British Airways chỉ cho máy bay cất cánh khi nào nó đã nhót ra được một hành khách dáng dấp có vẻ láng máng Ả Rập để chất vấn, xóa đi một mối đe dọa có thể có về khủng bố. Vào lúc hạ cánh xuống sân bay Gatwick ở London, cô đã bị lỡ mất chuyến bay chuyển tiếp tới Thụy Điển và phải chờ cả đêm rồi mới mua vé lại được. Salander cảm thấy mình như một nải chuối đày nắng quá lâu. Tất cả đồ lề cô có chỉ là một túi du lịch đựng máy tính PowerBook, Các chiều kích và quần áo thay đổi. Cô qua cửa xanh của hải quan không phải kiểm tra an ninh. Khi ra ngoài đến các xe buýt con thoi của sân bay, cô đã được một trận mưa tuyết lạnh buốt chào đón trở về nhà.

Cô do dự. Cả đời cô đều phải chọn dùng thứ rẻ rúng nhất và cô thì chưa quen với ý nghĩ mình đang có trong tay hơn ba tỉ curon tháu được nhờ một cú đột nhập Internet phối hợp với trò gian lận kiểu cũ, ngon ơ. Sau một thoáng chịu rét ướt cô đã hê đi đời nhà ma các phép tắc mà vẫy một taxi. Cô cho người lái địa chỉ của cô trên đường Lundagatan rồi ngủ thiếp đi ở ghế sau. Mãi tới lúc taxi ló ra trên đường Lundagatan và người lái lay gọi cô mới nhận ra cô đã cho địa chỉ cũ. Cô bảo ông ta cô đã đổi ý, ông cứ lái tiếp đến Gotgatsbacken. Cô cho ông ta một boa hậu hĩnh bằng đôla rồi chửi thề khi giẫm phải một vũng nước cống. Cô mặc jean áo phông và jacket vải mỏng. Cô đi xăng đan và bít tất sợi ngắn cổ. Cô len lén đi bộ lên cửa hàng 7 - Eleven mua ít dầu gội đầu, thuốc đánh răng, xà phòng, rượu kefir, sữa, pho mát, trứng, bánh mì, bánh quế cuộn đông lạnh, cà phê, trà nhúng Lipton, một hũ rau quả muối chua, táo, một bánh pan pizza cỡ lớn hiệu Billy và một bao thuốc lá Marlboro nhẹ. Cô trả bằng thẻ Visa Card. Khi trở lại hè phố, cô phân vân đi ngả nào. Cô có thể đi bộ lên Svartensgatan hay xuống Hokens Gata để đến Slussen. Đi ngả Hokens Gata thì phiền là cô sẽ phải tạt qua cửa tòa soạn Millennium, có rủi ro đâm bổ vào Blomkvist. Cuối cùng cô quyết định cứ đi theo lối của mình để tránh anh. Cô đi bộ xuống tới Slussen tuy lối này xa hơn chút ít rồi quặt phải lên Mosbacke Torg bằng đường Hokens Gata. Cô cắt ngang quảng trường, đi qua tượng Chị Em ở trước nhà hát Sodra rồi cho chân leo đồi đến Fiskargatan. Cô đứng lại tư lự ngước nhìn lên tòa cao ốc chung cư. Không thật sự cảm thấy nó là “mái ấm”.

Cô nhìn quanh. Đây là một điểm hẻo lánh ở giữa đảo Sodermalm. Không có giao thông chạy qua, điều này hay cho cô. Dễ quan sát thấy ai đang đi đến khu vực. Vào mùa hè nó nổi tiếng với những người đi bộ nhưng vào mùa đông thì những ai ở đây đều là những người có công việc làm ở gần đó. Bây giờ khó mà nhìn thấy một ai - chắc chắn không có ai mà cô nhận được ra hay cô tạm hóng là sẽ nhận ra cô. Salander để túi hàng xuống mặt tuyết nát vữa để móc lấy chìa khóa. Cô đi thang máy lên tầng trên cùng, mở khóa cái cửa có biển đề tên V.Kulla. Sau khi sở hữu một khoản tiền rất lớn và do đó độc lập về tài chính cho đến hết đời (hay là hết cái thời gian kéo dài mà cô có thể hy vọng đem lại cho ba tỉ curon), một trong những việc đầu tiên Salander làm là kiếm quanh quẩn lấy một căn hộ. Thị trường bất động sản là một thể nghiệm mới với cô. Trước đây cô chưa ném tiền vào bất cứ cái gì quan trọng hơn những món hữu dụng nhất thời mà cô có thể trả bằng tiền mặt hoặc mua theo kế hoạch trả dần hợp lý. Các món mua lớn nhất trước kia là các thứ máy tính rồi chiếc xe máy hạng nhẹ Kawasaki. Cô mua xe này với 7.000 curon - thật sự hời. Cô đã chi tương tự bằng thế nữa cho phụ tùng linh kiện và dành nhiều tháng ra tháo xe để đại tu nó. Cô đã muốn một xe hơi nhưng còn ngại vì không biết sẽ điều hòa việc đó ra sao với quỹ tiền của mình. Cô nhận ra mua căn hộ là việc thuộc về một trật tự khác. Cô bắt đầu đọc các quảng cáo phân loại trong bản phát hành trên mạng của tờ Dagens Nyheter, cái tự nó đã là một môn khoa học, và cô phát hiện thấy:

1 phòng ngủ + phòng ăn, địa điểm kỳ ảo, gần Ga Sodra, 2,7 triệu curon. 3 phòng ngủ + bếp, cảnh quan quảng trường, Hogalid, 2,9 triệu curon. 2½ phòng ngủ 47 m2, buồng tắm cải tạo, mới đặt hệ thống ống dẫn 1998. Gotlandsgar. 1,8 triệu curon.

Cô đã gọi hú họa vài số điện thoại nhưng không biết cần hỏi những gì. Cô nhanh chóng thấy mình ngu ngốc nên ngừng hỏi thử. Thay vào việc gọi hỏi, một thứ Bảy đầu tiên của tháng Giêng, cô đã đi xem hai căn hộ những ngày công ty bất động sản mở cửa. Một căn ở Vindragarvagen, đường ra mạn trên Reimersholm, căn kia ở Helenborgsgatan gần Hornstull. Căn hộ trên đường Reimers là một chỗ bốn phòng sáng sủa trong một tòa tháp nhìn ra Langholmen và Essingen. Ở đây cô có thể hài lòng. Căn hộ ở Helenborgsgatan là một nhà thấp với cảnh quan là tòa cao ốc bên cạnh cửa ra vào. Vấn đề là cô không quyết định được mình muốn sống ở vùng nào trong thành phố, căn hộ nên trông ra sao hay cô cần hỏi gì về căn nhà mới. Cô vẫn nghĩ đến ngả mua bốn mươi bảy mét vuông ở Lundagtan, nơi thời thơ ấu cô đã sống ở đó. Qua người đỡ đầu lúc ấy, luật sư Holger Palmgren, khi bước vào tuổi mười tám cô đã được cho sở hữu căn hộ này. Cô buông phịch người xuống chiếc sofa lồi lõm trong tổ hợp bàn giấy kiêm phòng khách của cô rồi bắt đầu suy nghĩ. Căn hộ ở Lundagatan nhìn ra một cái sân. Nó tù túng và không dễ chịu chút nào. Từ giường ngủ cô nhìn ra một tường bảo vệ trên một mặt tiền có xà chống đỡ. Ở bếp nhìn ra là lưng một tòa cao ốc đối diện với đường phố và cửa vào một khu vực kho chứa ở dưới hầm ngầm. Ở phòng ngủ cô có thể nhìn thấy một ngọn đèn đường và dăm ba cành bạch dương.

Yêu cầu đầu tiên của căn nhà mới là nó nên có một vài cảnh quan nào đó. Chưa từng có ban công, cô luôn thèm được như các hàng xóm giàu ở chung cư cao hơn vẫn hưởng những ngày ấm áp dưới mái hiên của họ với cốc bia lạnh. Yêu cầu thứ hai là căn hộ mới của cô sẽ phải có một ban công. Căn hộ nên nom ra sao? Cô nghĩ đến căn hộ của Blomkvist - sáu mươi lăm mét vuông ở một không gian mở trong căn gác xép đã được cải tạo trên đường Bellmansgatan, với cảnh quan Tòa Thị chính và các cửa cống ở Slussen. Từng ở đấy cô đã thích căn hộ. Cô muốn có một căn hộ vui mắt, đồ đạc nội thất thưa thớt để dễ bề trông coi. Đây là điểm thứ ba trong danh sách yêu cầu của cô.

Trong nhiều năm cô đều phải sống chật chội. Bếp chỉ mười mét vuông, với chỗ đủ cho một cái bàn bếp tí teo và hai chiếc ghế tựa. Phòng khách thì hai mươi mét vuông. Phòng ngủ mười hai. Yêu cầu thứ tư của cô là căn hộ mới nên có nhiều không gian và cả tủ quần áo. Cô muốn có một bàn giấy đúng nghĩa là bàn giấy và một phòng ngủ to, ở đó cô có thể duỗi thẳng hết chân hết tay ra. Buồng tắm của cô là một cái hộp không cửa sổ, sàn láng xi măng, một chỗ tắm bất tiện và giấy dán tường bằng chất dẻo thì bất kể cô làm gì, nó cũng không chịu sạch thật sự cho. Cô muốn sàn đá hoa và một bồn tắm to đùng. Cô muốn một máy giặt ở trong căn hộ chứ không phải là dưới gian tầng hầm nào đó. Cô muốn phòng tắm sạch sẽ thơm tho và cô muốn có cửa sổ để mở ra. Rồi cô nghiên cứu quảng cáo của các công ty bất động sản trên mạng. Sáng sau, cô dậy sớm đến tham quan hãng Bất động sản Nobel, cái công ty mà theo một số người thì đang nổi tiếng nhất Stockholm. Cô mặc jean cũ màu đen, giầy bốt và chiếc jacket da đen. Cô đứng ở quầy ngắm một phụ nữ tóc vàng khoảng ba mươi lăm tuổi đang vào mạng tìm địa chỉ Bất động sản Nobel và tải ảnh các căn hộ xuống. Một lúc lâu, một người đàn ông trung niên thấp, béo, tóc đỏ đi đến. Salander hỏi ông hiện đang có loại căn hộ nào. Ông ngạc nhiên ngước nhìn cô rồi lên giọng cha chú:

- Tốt, thưa quý cô, chuyện quý cô đang tính rời nhà đi thì bố mẹ quý cô có biết không đấy? Salander quắc mắt nhìn ông ta cho tới khi ông ta thôi cười hi hí. - Tôi muốn một căn hộ.

Ông ta đằng hắng liếc cầu cứu người đồng nghiệp ở quầy. - Tôi hiểu. Cô đã nghĩ đến loại nào chưa? - Tôi thích một căn hộ ở Soder, có ban công và trông ra mặt nước, ít nhất bốn phòng, một buồng tắm có cửa sổ và một phòng phụ. Và có một chỗ có thể khóa được để cất xe máy.

Người phụ nữ ở quầy ngước mắt chăm chú nhìn Salander. - Xe máy? - Người đàn ông tóc thưa nói. Salander gật.

- Tôi có thể biết… ơ... tên quý cô không nhỉ? Salander nói. Cô hỏi tên ông, ông tự giới thiệu là Joakim Persson. - Phải cái là tậu một căn hộ chung cư ở Stockholm đây thì khá đắt...

Salander chỉ hỏi ông ta có thể cung cấp loại căn hộ nào. - Quý cô làm ở ngành nào chứ? Salander nghĩ một lát. Xét cho cùng cô là người làm tự do; trong thực tế cô chỉ làm việc cho Armansky và An ninh Milton. Nhưng trong năm qua công việc có phần không đều đặn. Ba tháng vừa rồi cô không làm gì cho ông.

- Lúc này tôi không làm gì cả. - Được, vậy thì... tôi cho là cô còn đi học. - Không, tôi không đi học.

Persson đi vòng quanh quầy đến quàng tay khá hiền lành vào vai Salander, đi kèm cô ra cửa. - Tốt, cô Salander, cô xem, vài năm nữa chúng tôi sẽ vui mừng đón cô đến nhưng cô nhớ mang theo một món tiền lớn hơn món hiện đang gửi trong cái ngân hàng hạng bét của cô. Sự thật là tiền trợ cấp hàng tuần không kham nổi chuyện này đâu. - Ông hồn nhiên bẹo má cô. - Vậy chờ lần sau cô quay lại, chúng tôi sẽ tìm cho cô một chỗ be bé mà đặt chân ha! Salander đứng bên ngoài Bất động sản Nobel vài phút. Cô lơ đãng nghĩ cái ông sếp Persson thấp con kia sẽ nghĩ gì nếu như một chai bom xăng Molotov bay vèo qua cửa sổ nhà trưng bày của ông. Rồi cô về nhà mở máy tính.

Mất mười phút cô lẻn vào được mạng máy tính nội bộ của Bất động sản Nobel, sử dụng cái mật mã cô đã tình cờ nhìn thấy người phụ nữ ở quầy gõ vào phím để tải các bức ảnh xuống. Mất ba phút cô phát hiện ra cái máy tính mà người phụ nữ dùng thật ra cũng là máy chủ của công ty - sao đằng ấy kém thông minh thế hả? - rồi lại ba phút nữa để cô vào tất cả mười bốn máy tính trong mạng máy chủ của nó. Chừng hai giờ sau, cô đã đọc hết các ghi chép của Persson, phát hiện thấy trong vòng hai năm qua, ông ta có khoảng 750.000 curon ở khoản thu nhập gian lận không báo cáo cơ quan thuế. Cô tải xuống tất cả các tệp tin cần thiết rồi gửi chúng cho cơ quan thuế qua một địa chỉ thư điện tử ẩn danh đặt máy chủ tại Mỹ. Rồi cô gạt Persson ra khỏi đầu mình. Ngày hôm ấy cô bỏ thì giờ còn lại ra xem hết tài sản đã lên danh sách của Bất động sản Nobel. Món đắt nhất là một cung điện nhỏ ở bên ngoài Mariefred, nhưng cô không hám sống ở chỗ đó. Gần như nổi cơn hăng máu, cô chọn món đắt nhất tiếp theo, một tòa nhà đồ sộ cách Mosebacke Torg không xa.

Xem kỹ các bức ảnh và mặt bằng các tầng, cuối cùng cô cả quyết là nó đã thực hiện vượt mức các yêu cầu của cô. Trước đây nó thuộc sở hữu của giám đốc ASEA, công ty điện lực Brown Boveri, người đã lủi vào tối tăm sau khi hớt một món bổng bị lắm tranh cãi và phê phán gồm vài tỉ curon. Tối hôm ấy cô điện thoại cho Jeremy MacMillan, đối tác trong công ty luật MacMillan & Marks ở Gibraltar. Trước đây cô đã làm ăn với MacMillan. Với một khoản phí thậm chí ông cho là hào hiệp, ông đã dựng nên các công ty ma để làm chủ sở hữu các tài khoản quản lý cho phần tài sản mà cô đã đánh cắp của nhà tài chính tham nhũng Hans - Erik Wennerstrom một năm trước đây. Cô lại thuê dịch vụ của MacMillan, chỉ thị ông thương lượng với Bất động sản MacMillan dưới tên Công ty Vò vẽ để mua căn nhà trên đường Fiskargatan gần Mosebacke Torg. Mất bốn ngày cho chuyện này và cuối cùng con số ngã giá đã làm cô phải nhướng lông mày lên. Cộng 5 phần trăm hoa hồng cho MacMillan. Chưa hết tuần cô đã dọn đến với hai thùng quần áo, khăn lụa trải giường, một tấm đệm và vài dụng cụ nhà bếp. Cô ngủ trên tấm đệm trong tòa nhà liền ba tuần trong khi tìm hiểu các bệnh viện phẫu thuật thẩm mỹ, làm nốt một số việc cụ tỉ còn chưa xong (gồm có cuộc nói chuyện nửa đêm với một luật sư nào đó, Nils Bjurman) và trả trước tiền thuê chỗ ở cũ của cô cũng như hóa đơn điện và các chi tiêu khác trong tháng.

Rồi cô đặt vé cho chuyến đi đến bệnh viện ở Ý. Khi điều trị xong và đã ra viện, cô ngồi trong một phòng khách sạn ở Rome, nghĩ đến chuyện sẽ làm. Cô nên trở về Thụy Điển sống tiếp cuộc đời nhưng vì nhiều lý do cô không chịu nổi ý nghĩ trở về Stockholm. Cô không có nghề gì thực sự. Cô có thể nhìn thấy cô không có tương lai ở An ninh Milton. Đó không phải lỗi của Armansky. Nhiều phần chắc chắn là ông muốn cô làm việc trong biên chế, trở thành một nhân viên đắc lực trong công ty, nhưng vào tuổi hai mươi lăm cô thiếu được học hành bài bản mà cô thì không mong thấy mình trong nhiều năm vẫn tiếp tục cần mẫn làm công việc điều tra các bọn lừa đảo trong thế giới tập đoàn. Là một thú chơi riêng thú vị thì được - còn công việc cả đời thì không. Một lý do khác làm cô ngập ngừng quay về Stockholm là Blomkvist. Ở Stockholm cô có cơ vồ phải Kalle Nhắng Blomkvist, mà lúc này điều cuối cùng cô muốn làm chính là gặp lại anh. Anh đã làm tổn thương cô. Cô biết anh không có ý như thế. Anh đã xử sự khá đứng đắn. Để cho mình “phải lòng” anh là lỗi của cô. Cụm từ “phải lòng” hoàn toàn tương phản với Lisbeth Salander Đĩ điếm Trời đánh.

Blomkvist đã nổi tiếng đào hoa. Quá lắm cô chỉ là một trò giải trí hay hay, một người mà anh thương hại giữa lúc anh cần đến cô và chẳng còn ai tốt hơn nữa. Nhưng anh mau chóng trở thành một bạn đồng hành thú vị hơn. Cô tự rủa mình đã hạ thấp cảnh giác để cho anh bước vào đời mình. Khi tỉnh ra cô đã cắt hết mọi liên hệ với anh. Chuyện này không dễ nhưng cô đã làm cho mình cứng rắn lên. Lần cuối cùng thấy anh, cô đang đứng trên sân ke xe điện ngầm ở Gamla Stan còn anh thì ngồi trên xe điện trên đường vào trung tâm thành phố. Cô đã nhìn anh đến cả một phút rồi quyết định là nó chẳng hề lưu lại một mảy may cảm giác nào ở cô vì nó sẽ lại làm cô chảy máu cho đến chết mà thôi. Xin cho dẹp nhà anh đi. Khi cửa xe đóng lại và đoàn xe chuyển bánh, anh đã trông thấy cô, đã nhìn cô với con mắt kiếm tìm. Cô không hiểu tại sao anh lại bướng bỉnh cố giữ liên hệ với cô, tựa hồ cô là một dự án chăm sóc chết giấp nào mà anh đã nhận gánh lấy. Việc anh quá yếu mềm như thế đã làm cho cô thấy phiền. Mỗi lần anh gửi email cho cô, cô lại buộc mình không đọc mà hủy luôn.

Stockholm xem vẻ không hấp dẫn chút nào. Ngoài việc làm tự do cho An ninh Milton, vài bạn giường chiếu đã thải và các cô gái trong nhóm rock cũ Những Ngón tay Ma quỷ ra, Salander ít biết ai ở thành phố quê hương mình. Hiện nay người duy nhất cô kính trọng là Armansky. Định nghĩa tình cảm của cô với ông không dễ. Cô luôn cảm thấy êm đềm mà ngạc nhiên về việc cô đã bị ông cuốn hút. Giá ông không có vợ như thế, hay không già như thế, hay không bảo thủ như thế, có thể cô đã nghĩ tới việc lân la ngỏ lời. Cô bèn lấy nhật ký ra, mở phần bản đồ thế giới. Cô chưa từng ở châu Phi, châu Úc. Cô đã nghe nói đến nhưng chưa nhìn thấy Kim tự tháp hay đền Angkor. Cô chưa đi phà qua giữa Kowloon và Victoria ở Hồng Kông. Cô chưa lặn với bình dưỡng khí ở vùng biển Caribbean hay ngồi trên bãi biển ở Thái Lan. Ngoài vài chuyến đi làm ăn vội vàng có ghé thăm vùng Baltic và các nước Bắc u lân cận, cũng như dĩ nhiên cả Zurich và London, cô ít rời Thụy Điển. Thực tế là cô hiếm khi ra khỏi Stockholm.

Thời trước cô không thể cho phép mình làm chuyện ấy. Cô đứng ở cửa sổ phòng khách sạn nhìn sang Via Garibaldi ở Rome. Thành phố nom như một đống hoang phế. Rồi cô quyết định. Cô mặc jacket đi xuống gian sảnh hỏi liệu có công ty du lịch nào gần đó. Cô đặt một vé đi Tel Aviv rồi mấy ngày sau đi bộ khắp Thành cổ ở Jerusalem và tham quan nhà thờ Hồi giáo al - Aqsa cùng bức tường Than thở. Cô chán nản nhìn lính tráng lăm lăm súng ống ở các ngã tư rồi cô bay đến Bangkok, sau đó du lịch tiếp cho hết năm. Có một việc cô phải làm thật sự. Cô đến Gibraltar hai lần. Lần thứ nhất để tìm hiểu sâu về con người cô đã chọn trông nom tiền bạc cho cô. Lần thứ hai để xem xét thấy ông ta đang làm tử tế việc này. Sau một thời gian dài như thế, cô cảm thấy khá lạ lẫm khi quay chìa khóa vào ngôi nhà của chính mình trên đường Fiskargatan.

Cô để bịch hàng họ và túi quàng vai xuống rồi gõ mã bốn con số để tắt báo động chống trộm. Cô cởi quần áo ướt ném xuống sàn gian sảnh. Cô trần truồng đi vào bếp, cắm điện tủ lạnh, lấy thực phẩm ra rồi vào buồng tắm, đứng mười phút dưới vòi hoa sen. Cô ăn bữa đó với một bánh pan pizza hiệu Billy mà cô đã hâm trong lò vi sóng và một quả táo cắt mỏng. Cô mở một trong mấy thùng đem theo tìm một chiếc gối, vài tấm khăn trải giường và một chiếc chăn có mùi đáng ngờ sau cả năm bị đóng thùng cất đi. Cô rải đệm làm giường trong gian phòng cạnh bếp. Đầu vừa chạm gối được mười tích tắc là cô ngủ ngay lập tức và ngủ suốt mười hai giờ liền. Rồi cô dậy, mở máy pha cà phê, quấn một cái chăn quanh người, ngồi lên một chiếc ghế bên cửa sổ trong bóng tối, hút một điếu thuốc lá, nhìn ra phía Djurgarden và Saltson, mê mẩn với ánh đèn. Ngày sau hôm Salander về nhà là một ngày trọn vẹn. 7 giờ sáng cô khóa cửa ngôi nhà. Trước khi rời đi, cô mở cửa sổ thông gió trong giếng cầu thang, cột chiếc chìa dự trữ vào một sợi dây đồng nhỏ mà cô đem buộc vào phía tường của đai kẹp giữ ống dẫn nước. Kinh nghiệm dạy cô là phải khôn ngoan luôn có một chiếc chìa dự phòng.

Không khí bên ngoài lạnh buốt. Salander mặc quần jean mỏng cũ, túi quần sau đã bị toạc để lộ ra chiếc quần lót chẽn ở đầu gối màu lam của cô. Cô mặc áo phông và một áo cổ chui ấm áp, diềm cổ đã bắt đầu sờn. Cô cũng lại thấy lại chiếc jacket da có tán đanh trên vai và đã bị mài bợt rồi quyết định cần nhờ thợ may sửa vì lớp lót trong túi gần như đã không còn tồn tại. Cô đi bốt nặng và bít tất dầy. Tóm lại cô thấy ấm và dễ chịu. Cô đi bộ xuôi St Paulsgatan xuống Zinkensdamm rồi đến căn hộ cũ của cô ở đường Lundagatan. Trước hết cô kiểm tra xem chiếc Kawasaki có còn ở dưới tầng hầm không. Cô vỗ vỗ yên xe rồi đi lên căn hộ. Cô đã phải đẩy cánh cửa ra vào, nó bị một núi thư rác chẹn mất. Năm ngoái khi rời Thụy Điển, chưa chắc chắn sẽ làm gì với căn hộ nên giải pháp đơn giản nhất cho cô là sắp đặt các lệnh chi tiền trả cho các biên lai đều kỳ của cô. Đồ đạc nội thất vẫn còn ở căn hộ, chúng đã được thu gom cần cù qua năm tháng từ các kho, các thùng đựng của đồng nát cùng với mấy cái cốc mẻ, hai máy tính cũ hơn và một lô giấy. Chả có cái gì giá trị.

Cô lấy ở trong bếp một túi lót thùng rác màu đen rồi bỏ năm phút lựa trong đống thư rác ra các thư thật. Phần lớn đống thư đi thẳng vào túi rác. Có một ít thư cho cô, chủ yếu là các bản sao kê từ ngân hàng, đơn khai thuế của An ninh Milton. Một cái lợi của việc sống trong chế độ bảo hộ là cô không phải xử lý các vấn đề thuế má - hoàn toàn không thấy thư từ gì về thuế. Ngoài ra chỉ có ba thư cá nhân của cô. Thư đầu tiên là của một bà luật sư, Greta Molander, người chấp hành di chúc của mẹ cô. Bức thư nói gia sản của mẹ cô đã được giải quyết, Lisbeth Salander và em gái cô, Camilla, mỗi người được thừa kế 9.312 curon. Khoản tiền nói trên đã được chuyển đến tài khoản ngân hàng của cô Salander. Cô có vui lòng xác nhận biên lai giúp cho không? Salander nhét bức thư vào túi trong jacket. Bức thứ hai của Mikaelsson, Giám đốc nhà dưỡng lão Appelviken, bức thư thân mật gợi nhớ lại việc cô và ông đóng cất đồ dùng cá nhân của mẹ cô vào một cái thùng. Cô có vui lòng liên hệ với Appelviken để bảo cho biết cô định làm gì với các món này không? Bức thư kết thúc với lời nhắc nếu đến cuối năm họ không có tin gì của Salander hay em gái cô (mà họ không biết địa chỉ), họ sẽ không có cách nào khác - do tính trước hết đến khoảng cách - là phải bỏ chúng. Thấy bức thư đề tháng Sáu, cô bèn lấy điện thoại di động. Cái thùng vẫn còn ở đấy. Cô xin lỗi đã không trả lời sớm hơn, hứa ngày mai sẽ đến lấy nó.

Bức thư cuối cùng của Blomkvist. Nghĩ một lát rồi quyết định không mở xem, cô ném nó vào túi rác. Cô chất đầy các món khác nhau cùng các đồ linh tinh lang tang mà cô muốn giữ vào một thùng khác rồi gọi taxi quay về Mosebacke. Cô làm chút cải trang, đeo kính và đội một bộ tóc giả màu vàng dài ngang vai, cho vào túi xách một hộ chiếu có tên Irene Nesser. Cô nhìn mình trong gương, thấy Irene Nesser có tí ti giống Lisbeth Salander nhưng vẫn cứ là một con người khác. Sau một bữa trưa ăn nhanh với bánh mì đũa và pho mát brie Pháp cùng một cà phê latte ở quán Café Eden trên đường Gotsgatan, cô đi xuống hãng xe thuê ở Ringvagen, ở đây với tên Irene Nesser cô thuê một chiếc Micra Nissan. Lisbeth lái đến cửa hàng Ikea ở Kungens Kurva, bỏ ba giờ ra tỉ mỉ duyệt xem mặt hàng, viết ra số lượng các món cô cần. Cô nhanh chóng cho ra mấy quyết định.

Cô mua hai sofa Karlanda màu cát, năm chiếc ghế có tay Poang, hai bàn tròn bằng gỗ bạch dương sơn mài, một bàn cà phê Svansbo và mấy chiếc bàn nhỏ Lack dự phòng. Ở gian hàng hòm tủ và đồ chứa đựng, cô đặt mua hai giá liên hoàn Ivar, hai giá sách Bonde, một tivi đứng và một giá Magiker có cửa. Cô trả tiền một tủ quần áo ba cánh Pax Nexus và hai bàn giấy nhỏ Malm. Cô bỏ nhiều thời gian ra chọn giường rồi quyết định mua một chiếc có khung cùng với đệm và các bàn cạnh giường. Cho yên tâm cô cũng mua một chiếc giường Lillehammer để kê ở buồng dự phòng cho khách. Cô không có ý mời ai đến ở nhưng do có buồng trống thì cô cũng có thể kê giường vào đó. Buồng tắm trong ngôi nhà mới đã được trang bị một tủ thuốc, tủ khăn tắm và một máy giặt mà các chủ trước để lại. Cô chỉ phải mua mỗi một cái giỏ đựng quần áo cần giặt. Nhưng thứ cô cần là đồ bày trong bếp. Suy nghĩ một ít, cô quyết định mua một bàn bếp Rosfors bằng gỗ sồi rắn đanh với một tấm kính đã tôi phủ lên trên và bốn ghế bếp nhiều màu.

Cũng cần đồ nội thất cho văn phòng, cô đã ngó đến nhưng chưa ưng một vài “trạm làm việc” với các tủ thông minh để cất giữ máy tính, bàn phím. Cuối cùng lắc đầu, cô đặt mua một bàn giấy thông thường, một bàn Galant lát gỗ sồi với một đầu có góc cạnh còn bốn mép thì tròn cùng một tủ lớn đựng hồ sơ. Cô dành nhiều thời gian chọn một ghế văn phòng - mà chắc chắn cô sẽ bỏ nhiều thì giờ ra ngồi ở đó - rồi lựa một thứ trong những thứ đắt nhất, chiếc ghế kiểu Verksam. Cô la cà hết nhà kho mua một khoản tú ụ những khăn giường, áo gối, khăn mặt, chăn lông chim, chăn len, gối, một hộp dao kéo bằng thép không gỉ mới ra mắt lần đầu, ít bát đĩa, xoong chảo, mấy cái thớt, ba thảm to, vài đèn làm việc cùng một số lượng lớn văn phòng phẩm - cặp ba dây, hộp hồ sơ, sọt rác, hộp lưu trữ, v.v... Cô trả tiền bằng một thẻ mang tên Công ty Vò vẽ rồi đưa cho xem thẻ căn cước của Irene Nesser. Cô cũng trả tiền công đóng gói và giao hàng tại nhà. Biên lai lên hơn 90.000 curon.

Năm giờ chiều cô về lại Soder và có thời gian tham quan chốc lát cửa hàng Điện gia dụng Axelsson, ở đây cô mua một tivi 48 inch và một radio. Ngay trước giờ đóng cửa, cô đã lẻn vào một cửa hàng ở Hornsgatan mua một máy hút bụi. Ở chợ Mariahallen, cô mua chổi lau sàn, nước rửa bát đĩa, một cái xô, ít chất tẩy, xà phòng rửa tay, bàn chải đánh răng và một bịch giấy vệ sinh to tướng. Cô mệt nhưng vui sau cơn hứng mua sắm. Cô chất tất cả chỗ hàng lên chiếc Micra Nissan cô thuê rồi buông sụp mình xuống ở trong quán Café Java tại Hornsgatan. Cô mượn tờ báo chiều của bàn bên, đọc biết rằng đảng Xã hội Dân chủ vẫn đang cầm quyền và hình như trong khi cô đi xa thì đã chả xảy ra khoảnh khắc lớn nào ở Thụy Điển sất. 8 giờ tối cô đến nhà. Trong bóng tối kín đáo, cô mang đồ đạc ra khỏi xe rồi mang lên căn hộ V.Kulla. Cô để tất cả thành đống tú ụ ở trong sảnh rồi bỏ nửa giờ ra cố tìm lấy chỗ cất chúng. Rồi cô mở nước vào bồn tắm vốn đủ lớn cho ba người tắm thoải mái. Cô nghĩ đến Blomkvist một lát. Cho đến khi trông thấy bức thư của anh sáng nay, suốt mấy tháng qua cô không nghĩ tới anh. Cô nghĩ liệu anh có nhà hay không và không biết mụ Berger hiện có đang ở nhà anh hay không.

Một lúc sau, cô hít một hơi dài, nằm úp sấp lại, cho người chìm xuống dưới mặt nước. Cô đặt tay lên ngực, bẹo mạnh vào núm vú, nhịn thở khá lâu cho tới khi phổi bắt đầu đau tức. Erika Berger, Tổng biên tập, xem đồng hồ khi Blomkvist đến. Gần như muộn mười lăm phút so với kế hoạch họp đúng vào 10 giờ sáng ngày thứ Năm thứ hai mỗi tháng. Đường nét các kế hoạch dự kiến cho số báo sau đã được phác qua còn các quyết định về nội dung thì đã được đề ra trước vài tháng. Blomkvist xin lỗi vì đến muộn, lầm bầm giải thích mấy lời mà chả ai nghe hay ít ra muốn bận tâm biết. Ngoài Berger, cuộc họp gồm có một trợ lý tòa soạn, Malin Eriksson, cộng sự và trưởng ban mỹ thuật Christer Malm, phóng viên Monika Nilsson và những người làm ngoài biên chế Lotie Karim và Henry Cortez. Blomkvist nhận thấy ngay là vắng cô thực tập nhưng lại có thêm một bộ mặt mới tại bàn hội nghị nhỏ trong văn phòng Berger. Để một người ngoài cuộc dự các cuộc họp đặt kế hoạch của Millennium là rất không bình thường với chị.

- Đây là Dag Svensson. - Erika nói. - Nhà báo tự do. Chúng ta sẽ đặt anh ấy viết một bài. Blomkvist bắt tay người đàn ông. Svensson mắt xanh, tóc vàng tóc cắt kiểu lính và râu thì đã ba ngày chưa cạo. Anh khoảng ba mươi và nom vẻ thích nghi đến mức đầu trơ trán bóng với chỗ lạ. - Mỗi năm chúng ta thường phát hành một hai số tạp chí có chủ đề. - Berger nói tiếp chỗ chị vừa ngừng lại. - Tôi muốn dùng bài báo của Dag vào số tháng Năm. Đã đặt hàng nhà in vào ngày 27 tháng Tư. Như vậy là chúng ta có ba tháng ngon lành để cho ra các bài báo.

- Vậy đề tài là gì? - Blomkvist hỏi thẳng trong khi rót cà phê ở phích ra. - Tuần trước Dag đến gặp tôi với đề cương bài báo. Vì thế tôi đề nghị anh ấy cùng họp hôm nay. Anh mang đề cương đi chứ, Dag? - Buôn lậu. - Svensson nói. - Buôn lậu tính dục. Ở đây trước hết là con gái các nước vùng Baltic và Đông u. Nếu chị cho phép tôi bắt đầu từ đầu thì xin nói là tôi đang viết một quyển sách về đề tài này do đó vì sao tôi lại liên hệ với Millennium - vì chỗ chị nay đã làm cả xuất bản sách.

Tất cả nom vẻ đều thích thú. Đến nay Nhà xuất bản Millennium mới ra chính xác có một đầu sách cục gạch cách đây một năm của Blomkvist về đế chế tài chính của nhà tỉ phú Wennerstrom. Quyển sách đang được tái bản lần thứ sáu ở Thụy Điển, đã được xuất bản bằng tiếng Na Uy, Đức và Anh và sớm sắp được dịch cả sang tiếng Pháp. Kết quả bán sách là đáng kể ở chỗ quyển sách bây giờ đã rất nổi tiếng và được mọi tờ báo đưa tin. - Chuyện làm ăn xuất bản sách của chúng tôi không quy mô lắm. - Blomkvist nói thận trọng. Svensson lại khẽ mỉm cười.

- Tôi biết thế. Nhưng các anh chị có phương tiện để xuất bản một quyển sách. - Có nhiều công ty lớn hơn. - Blomkvist nói. - Những nơi đã có cơ ngơi vững. - Chắc chắn như thế rồi. - Berger nói. - Nhưng với năm nay chúng tôi đang thảo luận khả năng về việc bắt đầu một danh sách xuất bản nhằm vào khe hở mà chưa ai làm, cộng thêm vào với các hoạt động thường xuyên của chúng tôi. Chúng tôi đã mang chuyện này ra hai cuộc họp ban biên tập và ai cũng tích cực. Chúng tôi đang nghĩ đến một danh sách rất nhỏ - ba, bốn đầu sách một năm - phóng sự về những vấn đề khác nhau. Nói cách khác là những ấn phẩm báo chí điển hình. Sách của anh sẽ là một cuốn mở đầu hay cho loại này đấy.

- Buôn lậu. - Blomkvist nói. - Anh nói cho xem nó là thế nào. - Bốn năm nay tôi đào vào đề tài buôn lậu. Tôi có được vấn đề này là qua một bạn gái - cô ấy tên là Mia Johansson, là nhà tội phạm học và nghiên cứu về giới. Trước đây cô ấy làm ở Trung Tâm Dự phòng Tội phạm, đã có viết một báo cáo về buôn bán tính dục. - Tôi đã gặp chị ấy. - Eriksson thình lình nói. - Hai năm trước tôi có làm với chị ấy một cuộc phỏng vấn so sánh cách tòa án đối xử với nam và nữ.

Svensson cười: - Chuyện ấy đã có khuấy động. Nhưng năm, sáu năm nay cô ấy nghiên cứu chuyện buôn lậu. Chúng tôi đã gặp nhau như thế. Tôi đang theo đuổi câu chuyện về buôn bán tính dục trên Internet thì được tin cô ấy có biết đôi chút. Và cô ấy biết thật. Để nói gọn lại: cô ấy và tôi bắt đầu làm việc với nhau, tôi là nhà báo còn cô ấy nhà nghiên cứu. Trong quá trình bắt đầu hẹn hò nhau, một năm trước, chúng tôi đã sống chung. Cô ấy đang học tiến sĩ, năm nay sẽ bảo vệ luận án. - Vậy là cô ấy làm luận án trong khi anh...?

- Viết phiên bản dễ hiểu hơn cho luận án ấy và có đưa cả nghiên cứu của tôi vào trong đó. Đại khái một bài viết ngắn hơn hình thức bài báo tôi đã nói sơ sơ với Erika. - OK, hai người làm việc với nhau như một nhóm. Bài báo về gì? - Chúng ta có một chính phủ đã ban hành một đạo luật cứng rắn về buôn bán tính dục, chúng ta có cảnh sát được chỉ định trông nom chuyện đó để cho luật được tuân thủ còn tòa án thì được chỉ định xét xử các tội nhân tính dục - chúng ta gọi đám đàn ông, bọn thiếu suy nghĩ, là tội nhân tính dục từ khi mua dịch vụ tính dục trở thành một tội - và chúng ta có truyền thông đại chúng viết những bài báo bất bình về đề tài này, vân vân... Đồng thời, Thụy Điển là một trong những nước nhập khẩu nhiều nhất gái điếm từ Nga và vùng Baltic.

- Và anh chứng minh được chuyện đó? - Thì có bí mật gì đâu. Thậm chí cũng chả đáng là tin tức nữa cơ. Cái mới là chúng tôi đã gặp và chuyện trò với chừng hơn chục gái điếm. Phần lớn họ tuổi từ mười lăm đến hai mươi. Từ Đông u khổ cực, họ bị dụ đến Thụy Điển vì một hứa hẹn về công ăn việc làm rồi kết thúc trong nanh vuốt của một mafia tính dục đểu cáng. Các cô gái ấy đã trải qua những điều mà ngay cả phim ảnh cũng không cho các anh chị thấy được. - OK.

- Vậy điều ta đang nói đây là tâm điểm luận án của Mia chứ không phải sách. Mọi người nghe chăm chú. - Mia đã phỏng vấn các cô gái. Việc tôi làm là dựng đồ thị về tình hình các nhà cung cấp gái và cơ sở khách chơi.

Blomkvist mỉm cười. Anh chưa gặp Svensson trước đây nhưng anh cảm thấy ngay anh ta là loại nhà báo anh thích, một người đi thẳng ngay vào trung tâm câu chuyện. Với Blomkvist, quy tắc vàng của nghề báo là luôn luôn có người gánh lấy trách nhiệm. Những gã tệ hại. - Và hai người đã tìm ra những sự việc thú vị? - Thí dụ tôi có thể cung cấp tư liệu về một viên chức ở Bộ Tư pháp từng tham gia soạn thảo các luật về buôn bán tính dục nhưng lại đã thông qua công ty của mafia tính dục mà khai thác ít nhất hai cô gái từ nước ngoài đến Thụy Điển. Một cô mười lăm tuổi.

- Ái chà! - Tôi làm việc thất thường với bài báo này trong ba năm. Quyển sách sẽ có những nghiên cứu trên nhân chứng về những người mua dâm. Đó là ba nhân viên cảnh sát, một trong số họ làm việc cho Cảnh sát An ninh, một nữa cho Đội chống tệ nạn. Có năm luật gia, một công tố viên và một thẩm phán. Cũng có ba nhà báo, một trong số đã viết những bài báo về buôn bán tính dục. Trong đời tư, anh này đã làm trò cưỡng dâm với một gái điếm người Tallinn - và trong trường hợp này thì không phải là trò chơi thuận lòng. Tôi đang nghĩ gọi tên ra như thế nào. Tư liệu tôi thu thập được đều vững chắc. Blomkvist huýt gió, anh nói:

- Từ khi trở lại làm xuất bản, tôi cứ muốn kiểm tra tư liệu bằng lược bí. Lần trước kiểm tra ẩu nguồn tin, tôi đã kết thúc bằng ba tháng ngồi tù. - Nếu các anh chị muốn in bài báo, tôi có thể đưa ra tất cả các tư liệu mà các anh chị muốn. Nhưng bán bài báo cho Millennium, tôi có một điều kiện. - Anh muốn chúng tôi cũng phát hành cả quyển sách nữa. - Berger nói.

- Đúng thế. Tôi muốn ném nó ra như một quả bom và ngay hiện tại, Millennium là tờ tạp chí đáng tin nhất, nói thẳng nhất trong nước. Tôi tin không một nhà xuất bản nào dám cho xuất bản một quyển sách thuộc kiểu này của tôi. - Vậy là không sách thì không bài báo? - Blomkvist hỏi. - Tôi nghe chuyện này thấy nghiêm túc và hay đấy. - Eriksson nói.

Có tiếng Cortez lầm rầm là tán thành. - Bài báo và quyển sách là hai chuyện khác nhau. - Berger nói. - Với tạp chí, Mikael là người phát hành và chịu trách nhiệm về nội dung. Còn về phát hành quyển sách thì tác giả chịu trách nhiệm về nội dung. - Tôi biết. - Svensson nói. - Tôi không ngại chuyện đó. Lúc phát hành quyển sách, Mia sẽ gửi cảnh sát một bản báo cáo chống lại tất cả những ai bị tôi nêu tên ra.

- Thế này rồi sẽ khuấy một trận loạn xà ngầu lên cho mà xem. - Cortez nói. - Chuyện mới nói có một nửa thôi. - Svensson nói. - Tôi cũng đang phân tích một số mạng máy tính kiếm tiền từ buôn bán tính dục này. Chúng tôi đang nói đến tội ác có tổ chức. - Và ai dính vào?

- Cái quá đỗi bi kịch là ở chỗ này. Mafia tính dục là một bè lũ bỉ ổi những kẻ không ra gì. Khi bắt đầu nghiên cứu, tôi thật sự không biết mình chờ đợi cái gì ở đây nhưng như thế nào đó rồi chúng tôi - ít nhất là tôi - đã hiểu rằng mafia là một băng đảng ở trên nấc thang cao hơn của xã hội. Một số phim ảnh Mỹ về vấn đề này chắc đã góp phần vào hình ảnh đó. Bài báo về Wennerstrom của anh. - Svensson quay lại Blomkvist. - Cũng cho thấy vấn đề đôi khi nó thật sự là như thế. Nhưng ở khía cạnh nào đó Wennerstrom là một ngoại lệ. Điều mà tôi xới lên là một băng đảng của những tên thất bại tàn nhẫn và bạo dâm không đọc thông viết thạo. Chúng là những đứa ngu ngốc hoàn toàn khi nói đến chuyện tổ chức và tư duy chiến lược. Có móc nối với những dân chơi xe máy và một phần nào với những nhóm có tổ chức hơn. Nhưng nói chung thì cai quản chuyện buôn bán tính dục là một lũ những đứa mạt hạng. - Tất cả cái này đều được nêu bật lên trong bài báo của anh. - Berger nói. - Chúng ta có pháp luật và lực lượng cảnh sát cùng một hệ thống tư pháp mà chúng ta tài trợ cho mỗi năm hàng triệu curon tiền thuế để xử lý chuyện buôn bán tính dục.. thế mà họ không tóm cổ nổi một lũ những tên ngu ngốc ấy. - Đây là một sự xúc phạm ghê gớm vào các quyền con người, còn các cô gái dính líu vào thì ở dưới cùng bậc thang xã hội, quá xa cho nên không quan tâm gì đến hệ thống pháp lý. Họ không đi bầu cử. Họ nói bập bẹ tiếng Thụy Điển, trừ những chữ họ cần đến để cài đặt mánh múng. Trong các tội phạm liên quan đến buôn bán tính dục, 99,99 phần trăm không báo cáo với cảnh sát còn những cái được báo cáo thì khó dẫn đến được buộc tội. Điều này đã trở thành tảng băng trôi lớn nhất trong thế giới tội ác Thụy Điển. Hãy thử tưởng tượng các vụ cướp nhà băng đã được giải quyết uể oải như thế thì sẽ thấy. Điều này là không thể hình dung nổi. Bất hạnh là tôi đã đi đến kết luận rằng phương pháp cai quản này sẽ không sống nổi lấy một ngày vì lẽ hệ thống tư pháp về tội phạm đã đơn giản là không thiết xử lý nó. Xúc phạm các thiếu nữ ở tuổi mười mấy đến từ Tallinn và Riga không phải là quyền ưu tiên cho ai. Một gái điếm là một gái điếm. Đó là một bộ phận của chế độ.

- Và ai cũng biết thế. - Eriksson nói. - Vậy tất cả nghĩ sao? - Berger nói. - Tôi thích vụ này. - Blomkvist nói. - Chúng ta sẽ nhào vô vụ này đến cùng và cái này chính là tất cả lý do vì sao lại cho khởi động tờ Millennium trước tiên.

- Vì thế nên tôi vẫn cứ làm ở đây. Thỉnh thoảng giám đốc phát hành cũng cần phải liều nhảy từ trên vách đá xuống chứ. - Nilsson nói. Mọi người đều cười, trừ Blomkvist. - Anh ấy duy nhất là người đủ độ hâm rồ để ôm lấy công việc phát hành. - Berger nói. - Tháng Năm chúng ta sẽ làm số báo có chủ đề này. Và lúc đó sách của anh cũng ra.

- Sách xong chưa? - Blomkvist hỏi. - Chưa. Tôi đã có toàn bộ đề cương nhưng mới viết một nửa. Nếu các anh chị tán thành xuất bản quyển sách và cho tôi tiền ứng trước, tôi có thể dành hết thời gian ra làm nó. Nghiên cứu gần như đã xong hết cả rồi. Còn lại vài chi tiết phụ - thật ra chỉ là xem lại tư liệu tôi đã biết - và đối chất các tên ngu ngốc mà tôi sẽ lôi ra để trị. - Chúng ta sẽ cho nó ra giống như quyển sách về Wennerstrom. Tôi sẽ bỏ một tuần ra trình bày nó. - Malm gật đầu. - Và hai tuần để in. Chúng ta sẽ làm các đối chất trong tháng Ba tháng Tư rồi tóm tất cả lại vào một phần cuối cùng mười lăm trang. Ngày 15 tháng Tư sẽ có bản thảo hoàn thiện nên chúng ta có thì giờ xem xét kỹ mọi nguồn tin.

- Chúng ta sẽ làm hợp đồng như thế nào về các việc này và vân vân? - Trước đây tôi đã có lần thảo một hợp đồng sách nhưng lần này chắc tôi phải nói chuyện với luật sư của chúng ta. - Berger cau mày. - Nhưng tôi đề nghị một hợp đồng ngắn hạn từ tháng Hai đến tháng Năm. Chúng ta sẽ không chi trả cho những râu ria thêm thắt. - Thế là tốt với tôi. Đúng là tôi cần một món lương cơ bản.

- Không thì theo lệ thường là chia đôi mỗi bên một nửa số tiền kiếm được từ quyển sách sau khi đã thanh toán các chi phí. Anh thấy sao? - Nghe quá hay. - Svensson nói. - Phân công luôn. - Berger nói. - Malin, tôi muốn anh lên kế hoạch về số báo có chủ đề này. Trách nhiệm đầu sổ của anh là tháng sau khởi động thì anh sẽ làm việc với Dag và in bản thảo. Lottie, tôi muốn từ tháng Ba đến tháng Năm anh ở đây tạm thời làm trợ lý tòa soạn cho tạp chí. Anh sẽ phải đi làm đủ giờ, Malin và Mikael sẽ đỡ lưng anh khi thời gian cho phép.

Eriksson gật đầu. - Mikael, em muốn anh phụ trách biên tập quyển sách. - Berger nhìn sang Svensson. - Mikael kín miệng nhưng thật sự là một biên tập viên giỏi và anh ấy biết điều tra nghiên cứu. Anh ấy lấy kính hiển vi ra soi từng câu chữ của anh. Anh ấy sẽ nhào đến mỗi chi tiết như con diều hâu vồ mồi. Tôi vui là anh muốn chúng tôi xuất bản quyển sách của anh nhưng ở Millennium, chúng tôi cũng có những vấn đề đặc biệt. Chúng tôi có một hai kẻ thù chả muốn gì hơn là cho chúng tôi sập tiệm. Nếu chúng ta quyết nhào vô đến cùng để xuất bản một cái gì như quyển sách này thì nó phải chính xác trăm phần trăm. Chúng ta không cho phép bất cứ cái gì kém chính xác. - Và tôi cũng không muốn làm nó khác với ý chị.

- Tốt. Nhưng suốt mùa xuân có ai đó nhòm ngó anh và phê bình anh đủ thứ thì anh có chịu nổi không? Svensson nhăn răng cười, nhìn Blomkvist. - Cứ nêu ra.

- Nếu đây sẽ là một số báo có chủ đề thì chúng ta sẽ cần có nhiều bài báo hơn nữa. Mikael, em muốn anh viết về tài chính của việc buôn bán tính dục. Chúng ta đang nói đến bao nhiêu tiền mỗi năm đây? Ai kiếm tiền trong buôn bán tính dục và tiền ấy đi đâu? Chúng ta có thể tìm ra bằng chứng rằng có một số tiền nào đó đã đi đến các két sắt của Chính phủ không? Monika, tôi muốn chị điểm lại các vụ xâm hại tính dục nói chung. Nói chuyện với các nơi mà phụ nữ trú thân, với các nhà nghiên cứu, các bác sĩ và những người làm công tác phúc lợi. Hai anh chị sẽ cùng Dag viết những bài bổ trợ. Henry, tôi muốn anh phỏng vấn Mia Johansson - tự Dag không làm được việc đó. Chân dung: chị ấy là ai, chị ấy đang nghiên cứu cái gì, và kết luận của chị ấy ra sao? Rồi từ các báo cáo của cảnh sát, tôi muốn anh tiếp cận và làm các nghiên cứu đối tượng. Christer - ảnh. Tôi không biết chúng ta sẽ minh họa chuyện này như thế nào đây. Hãy nghĩ về chỗ này nha! - Về chuyện minh họa, chắc nó là chủ đề đơn giản nhất trong mọi chủ đề. Sẽ đậm chất nghệ thuật, không thành vấn đề đâu. - Cho tôi thêm một cái. - Svensson nói. - Trong lực lượng cảnh sát có một số ít người đang làm việc hết sức tốt. Phỏng vấn vài người trong họ có thể là một ý.

- Anh có tên một ai không? - Cortez nói. - Có cả số điện thoại. - Svensson nói. - Nhất. - Berger kết luận. - Chủ đề của số báo tháng Năm là buôn bán tính dục. Trọng điểm chúng ta cần làm là việc buôn bán này chống lại các quyền con người, các tên tội phạm phải được lôi ra, phải được xử như những tội phạm chiến tranh hay những đội tử thần hay những kẻ tra tấn hành hạ ở bất cứ đâu trên thế giới. Bây giờ nào, chúng ta hãy cùng đi xây dựng.

CHƯƠNG 5 Thứ Tư, 12 tháng Một Thứ Sáu, 14 tháng Một

Appelviken cho cảm giác không quen thuộc, thậm chí còn như là ở nước ngoài khi lần đầu tiên sau mười tám tháng Salander lái chiếc xe thuê Nissan Micra rẽ vào con đường dẫn tới nó. Từ tuổi mười lăm, mỗi năm hai lần cô đến nhà nuôi dưỡng này thăm mẹ. Mẹ cô đã qua mười năm tại Appelviken kể từ khi xảy ra chuyện “Tất cả Xấu xa”, và cuối cùng mới bốn mươi tám tuổi thì mẹ mất ở đây, sau lần xuất huyết não. Những cơn xuất huyết não nho nhỏ đã điểm xuyết vào mười bốn năm sau cùng của đời bà Agneta Sofia Salander, mẹ cô; chúng khiến bà không thể tự trông nom lấy mình. Đôi khi còn không nhận ra nổi cả con gái. Hễ nghĩ đến mẹ, Salander luôn bị đẩy vào một tâm trạng bất lực và tối mù. Ở những tuổi mười mấy, cô rất thích nghĩ nhăng rằng mẹ cô sẽ lại khỏe mạnh, hai mẹ con lại sẽ có thể tạo nên một kiểu quan hệ nào đó với nhau. Trái tim cô thì nghĩ thế nhưng cái đầu biết điều này sẽ chẳng thể xảy ra.

Mẹ cô thấp và mảnh mai, nom chả có chỗ nào giống với cái dáng chê ăn của Salander. Thực tế, mẹ cô đẹp lồ lộ thấy ngay, bộ mặt của bà đáng yêu. Hệt như Camilla, em gái cô. Salander không muốn nghĩ đến em gái. Với Salander, việc hai chị em cô không giống nhau quá thể đến thế là một trò chơi khăm nho nhỏ của tạo hóa. Hai người sinh đôi, sinh ra cách nhau hai mươi phút.

Lisbeth là chị, Camilla thì đẹp. Họ khác nhau quá đến nỗi nhìn sơ qua thì không thể ngờ họ lại ở cùng một dạ con mà ra. Nếu mã di truyền của cô không bị một trục trặc gì đó thì Lisbeth cũng đã có thể đẹp rạng rỡ như em gái. Và chắc cũng khùng khùng điên điên. Khi hai chị em còn bé, Camilla đã dễ hòa nhập, được biết đến nhiều và học giỏi ở trường, trong khi Lisbeth thì ít năng khiếu, co lại, hiếm khi trả lời thầy cô hỏi. Kết quả học của Camilla rất tốt, Lisbeth thì không. Ngay ở trường tiểu học Camilla đã tự ý xa cách chị đến mức hai chị em tới trường riêng rẽ. Thầy cô và bạn bè để ý thấy hai cô gái không hề dính dáng đến nhau trong bất cứ việc gì, không ngồi gần bên nhau bao giờ. Từ khi lên tám, hai người đã học cùng cấp nhưng khác lớp. Khi hai chị em mười hai tuổi và xảy chuyện “Tất cả Xấu xa”, hai chị em đã bị đưa đến hai gia đình nhận nuôi khác nhau. Từ sinh nhật thứ mười bảy, hai chị em không còn nhìn nhau và cuộc gặp gỡ bữa đó đã chấm hết với mắt Lisbeth tím bầm và môi Camilla sưng vều. Lisbeth không biết hiện Camilla sống ở đâu và cũng không có ý tìm ra.

Trong mắt Lisbeth, Camilla không thật thà, hư đốn, thích mồi chài. Nhưng Lisbeth Salander lại bị xã hội tuyên bố là kém cỏi, không đủ trưởng thành. Cô kéo khóa áo jacket da lại rồi đi bộ trong mưa vào cổng chính. Cô dừng lại ở một chiếc ghế dài trong vườn rồi nhìn quanh. Mười tám tháng trước, tại chính chỗ này, cô đã gặp mẹ lần cuối cùng. Cô đã bất chợt tạt qua thăm mẹ khi đang trên đường lên mạn bắc giúp Blomkvist dò ra dấu vết của một tên giết người hàng loạt. Mẹ cô đã bồn chồn và có vẻ không nhận ra Lisbeth. Mẹ nắm chặt tay cô và mặt ngu nga ngu ngơ nhìn con gái. Salander đang gấp. Cô rút tay ra, ôm mẹ một cái rồi phóng xe máy đi. Giám đốc nhà nuôi dưỡng, bà Agnes Mikaelsson ân cần chào đón cô và đi cùng cô đến nhà kho. Họ tìm thấy chiếc hộp bìa các tông. Salander nhấc nhấc thử. Chỉ hai, ba kílô, không nhiều xét theo cung cách là một tài sản thừa kế. - Tôi vẫn nghĩ, một hôm nào đó cô sẽ đến. - Mikaelsson nói.

- Tôi ra nước ngoài ạ. - Salander nói. Cô cảm ơn bà đã cất giữ cái hộp, mang nó ra xe hơi rồi lái đi. Ngay sau đó Salander về Mosebacke. Cô để nguyên cái hộp các tông của mẹ ở trong sảnh rồi lại đi.

Khi cô mở cửa trước, một xe cảnh sát từ từ lăn qua. Salander thận trọng quan sát việc những người chức trách có mặt ở bên ngoài nhà mình nhưng khi họ không tỏ ra dấu hiệu chú ý đến cô thì cô cũng gạt họ ra khỏi đầu. Cô đến sắm đồ ở hai hiệu quần áo H&M và KappAhl, mua một tủ đựng quần áo mới. Cô nhặt một lô lớn các quần áo cơ bản như: quần dài, jean, áo lót, bít tất. Cô không chú ý đến các quần áo hàng hiệu đắt tiền nhưng thú vị là có thể không suy nghĩ mua liền ngay một nhát nửa tá jean. Lần mua sắm ngông cuồng nhất của cô là ở Twilfit, ở đó cô đã mua một ngăn kéo quần lót chẽn gối và áo nịt ngực. Đó cũng là loại quần áo thường mặc, nhưng sau nửa giờ bối rối tìm kiếm cô cũng đã đậu vào một bộ cô cho là hấp dẫn, thậm chí khêu gợi nữa, thứ trước đó cô không bao giờ nghĩ sẽ mua. Đêm hôm ấy mặc thử chúng vào, cô thấy mình dấm dớ không thể ngờ. Thứ cô nhìn thấy ở trong gương là một cô gái gầy gò, xăm mình ở trong một bộ quần áo lót nhố nhăng. Cô cởi nó ra ném ráo cả vào thùng rác. Cô cũng mua vài đôi giầy mùa rét, hai đôi giầy nhẹ đi trong nhà. Rồi cô mua một đôi bốt đen gót cao nó khiến cho cô cao lên được vài phân. Cô cũng tìm thấy một jacket mùa đông nom hay hay bằng da Thụy Điển màu nâu.

Cô pha cà phê và làm một bánh sandwich rồi lái chiếc xe thuê trả nó về lại ga ra ở gần Ringen. Cô đi bộ về nhà, ngồi trên chiếc ghế cửa sổ hết cả buổi tối trong bóng đêm, nhìn nước ở Saltsjon. Mia Johnsson cắt bánh gatô pho mát, trang trí cho mỗi miếng bánh một xêu kem mâm xôi Cô mời Berger và Blomkvist trước rồi lấy cho Svensson và mình sau. Kiên quyết cưỡng lại món tráng miệng, Eriksson bằng lòng với cà phê đen đựng trong một tách sứ cổ, vẽ hoa. - Đây là bộ đồ sứ của bà tôi. - Mia nói khi thấy Eriksson ngắm chiếc tách.

- Mia sợ có một chiếc nào bị vỡ, sợ tưởng chết đi được. - Svensson nói. - Cô ấy chỉ đem ra khi nào chúng tôi có khách thật sự quan trọng. Johansson mỉm cười. - Lúc bé tôi sống mấy năm với bà, và bộ đồ sứ là gần như tất cả những gì bà để lại cho tôi.

- Trông đẹp thật. - Eriksson nói. - Bếp của tôi trăm phần trăm là đồ của Ikea. Blomkvist chả màng chút nào tới các tách cà phê hoa mà đặt con mắt tán thưởng vào đĩa bánh ngọt. Anh thầm nghĩ sẽ nới thắt lưng ra một nấc. Berger xem vẻ chia sẻ cùng anh cảm tưởng này. - Lạy Chúa lòng lành, lẽ ra tôi cũng nên nói không với tráng miệng đây. - Chị nói, thiểu não liếc Eriksson rồi nắm chặt lấy chiếc thìa đưa nó lên.

Bữa này được nói là một bữa tối vừa ăn vừa làm việc, một phần để củng cố sự hợp tác mà họ đã nhất trí, một phần để thảo luận tiếp các kế hoạch cho số báo có chủ đề. Svensson đã gợi ý họp ở nhà anh để xài với nhau một chuyến và Johansson đã đãi món thịt gà chua ngọt ngon nhất mà Blomkvist từng thưởng thức. Trong bữa ăn họ đã uống hai chai vang đỏ Tây Ban Nha nặng, rồi Svensson lại hỏi có ai muốn một ly Tullamore Dew uống với món tráng miệng nữa không. Chỉ mình Berger đủ rồ để mà từ chối và Svensson đem li cốc ra. Đây là căn hộ một phòng ngủ ở Enskede. Hai người đã có cảm tình với nhau trong ít năm nhưng năm ngoái thì liều mạng dọn đến sống chung. Họ tụ tập vào khoảng 6 giờ chiều, và nay 8 rưỡi đã xong tráng miệng nhưng vẫn chưa ai đụng đến cái lý do mà người ta mượn cho bữa tối này. Nhưng Blomkvist phát hiện thấy anh thích hai vị chủ nhà và thú vị được có họ ở bên.

Cuối cùng Berger đã lái câu chuyện vào chủ điểm mà bọn họ đến đây để bàn. Johansson đưa ra một bản in luận án của chị, đặt nó xuống bàn trước mặt Berger. Nó có một đầu đề châm biếm khiến phải ngạc nhiên - Yêu thương từ nước Nga - dĩ nhiên là một thái độ trân trọng gửi tới quyển tiểu thuyết kinh điển của Ian Fleming[3]. Đầu đề nhỏ là Buôn lậu, Tội ác có tổ chức và Ứng phó của xã hội. - Các bạn cần nhận thấy giữa luận án của tôi và quyển sách mà Dag đang viết có chỗ khác nhau. - Chị nói. - Quyển sách của Dag là một bút chiến nhằm vào những người đang kiếm tiền bằng buôn lậu. Luận án của tôi là các thống kê, các nghiên cứu điền dã, các văn bản pháp luật và một nghiên cứu về cách đối xử của xã hội và tòa án với các nạn nhân.

- Chị muốn nói là các cô gái. - Các cô gái thường từ mười lăm đến hai mươi tuổi, tầng lớp lao động, ít học hành. Đời sống gia đình của họ thường không ổn, trong đám họ nhiều người ngay từ bé đã bị một số hình thức lạm dụng nào đó. Một lý do họ đến Thụy Điển là vị họ đã bị nhồi nhét một lô những lời dối trá. - Của bọn buôn bán tính dục?

- Theo nghĩa này thì có một nét nào đó giống như khía cạnh về giới tính trong luận án của tôi. Một người nghiên cứu thường thường không thể căn cứ vào giới tính nam nữ mà dựng ra các vai trò rõ rệt. Con gái - nạn nhân; con trai - kẻ tổ chức. Trừ một dúm phụ nữ tự làm lấy và kiếm lời bằng buôn bán tính dục ra thì không có một hình thức tội phạm nào khác mà trong đó vai trò của giới tính tự nó lại là điều kiện tiên quyết đối với tội ác. Cũng không có bất cứ hình thức tội phạm nào khác mà lại được xã hội chấp nhận lớn đến thế, hay xã hội lại đã làm quá ít như thế để phòng ngừa. - Mà Thụy Điển đã ban ra những luật cứng rắn chống lại buôn bán ma túy và buôn bán tính dục rồi đấy nha. - Berger nói. - Có phải là trường hợp này không? - Đừng pha trò cho tôi cười đi. Hàng năm mấy trăm cô gái - dĩ nhiên chưa có thống kê nào công bố - vẫn được đưa đến Thụy Điển để làm điếm, như thế có nghĩa là thân xác họ đã sẵn sàng để được đem ra dùng vào việc cưỡng dâm có hệ thống. Sau khi luật chống buôn bán ma tuý có hiệu lực, điều tôi vừa nói trên kia đã được tòa án xác chứng vài lần. Lần thứ nhất là vào tháng Tư 2003, vụ án xử mẹ chủ nhà thổ điên rồ từng mở kinh doanh trao đổi tính dục. Nhưng mụ trắng án, dĩ nhiên.

- Tôi nghĩ là mụ có bị kết án đấy chứ. - Vì mở nhà thổ thì đúng. Nhưng trắng án về tội buôn người vấn đề là các cô gái vừa là nạn nhân cũng lại vừa là nhân chứng chống lại mụ, nhưng sau khi về lại Baltic họ đều đã biệt tăm hết. Cảnh sát quốc tế Interpol cố dò ra tung tích họ, nhưng tìm kiếm nhiều tháng rồi người ta quyết định là sẽ không thể nào tìm ra họ. - Họ nay ra sao?

- Chả thế nào. Tiết mục tivi Người trong cuộc đã mò theo và mò tới tận Tallinn. Mất đúng một buổi chiều, các phóng viên đã tìm thấy hai trong đám các cô gái đó hiện sống với bố mẹ. Cô thứ ba đã đến Ý ở. - Nói cách khác thì cảnh sát Tallinn không có hiệu quả lắm. - Nhưng từ đó trong mọi trường hợp, chúng tôi thật sự tin chắc hai điều, họ đều là những người bị bắt vì không tội này thì tội nọ hoặc là quá ngu đến độ không thể tránh khỏi bị bắt. Pháp luật thuần túy là cây kiểng thôi. Người ta không tăng cường nó. Và. - Svensson nói. - Vấn đề ở đây là tội bị nặng thêm vì có cưỡng dâm, thường lại kết hợp với lạm dụng, lạm dụng có tình tiết gia trọng cũng như đe dọa giết, và trong vài vụ lại có cả giam cầm phi pháp nữa. Với nhiều cô gái, cuộc sống hàng ngày là như thế đấy; người ta cho họ trang điểm lòe loẹt, mặc váy cũn cỡn rồi đem đến một số biệt thự tại ngoại ô. Một cô gái đã lâm vào cảnh này thì không còn được lựa chọn, vấn đề là như vậy. Hoặc bị đuổi ra rồi ngủ ngáy với các lão già bẩn thỉu hoặc có nguy cơ bị bọn dẫn gái lạm dụng và hành hạ. Các cô không chạy trốn được - không biết tiếng, không hiểu pháp luật và không biết quay vào ngả nào. Các cô không thể về nhà vì hộ chiếu đã bị giữ mất, còn nếu ở nhà thổ của má mì thì bị nhốt trong một căn hộ.

- Nghe như trại nô lệ tính dục vậy. Các cô gái có làm được ra tí tiền nào không? - À có chứ. - Johansson nói. - Thường thường họ làm việc vài tháng rồi được phép về nhà. Người ta cho họ từ 20.000 đến 30.000 curon, vậy đổi sang tiền Nga thì cũng không phải là một món nhỏ. Bất hạnh là họ hay nhiễm phải thói nghiện rượu hay ma túy, rồi một lối sống xa hoa phóng túng, đồng tiền đội nón ra đi rất nhanh. Điều này giúp cho hệ thống tự nó duy trì được nó vì sau một thời gian họ lại đều sẽ quay trở về cả: nói rõ ra là họ tự nguyện quay lại với những kẻ hành hạ họ. - Chuyện làm ăn này mỗi năm đem lại được bao nhiêu tiền? - Blomkvist nói.

Mia liếc Svensson rồi nghĩ một lát mới trả lời. - Rất khó trả lời chính xác. Chúng tôi đã tính đi tính lại nhưng tất nhiên phần lớn các con số của chúng tôi là ước lượng. - Cứ cho chúng tôi vài nét lớn đi.

- OK, thí dụ chúng tôi biết rằng má mì, cái người bị kết tội cung cấp gái nhưng lại trắng án về buôn bán ma túy, trong vòng hai năm đã mang ba mươi lăm cô gái từ Đông u sang. Tất cả bọn họ đã ở đây từ vài tuần đến vài tháng để làm bất cứ việc gì. Trong khi tòa xét xử, nổi lên một điều là trong hai năm ấy họ đã thu về hai triệu curon. Tôi tính thì một cô gái có thể mang về mỗi tháng đại để 60.000 curon. Về cán cân thu chi thì cứ cho 15.000 là tiền chi phí - đi lại, quần áo, ăn ở v.v... Chả phải là cuộc sống sang trọng gì; họ có thể phải đàn đúm lêu lổng với một lũ các cô gái khác ở trong một căn hộ do băng nhóm cấp. Trong khoản thu chung 45.000 curon, băng đảng lấy từ 20.000 đến 30.000. Trùm băng đảng nhét vào riêng túi nó đại để 15.000 và chỗ còn lại thì chia cho các nhân viên chúng thuê mướn - lái xe, những thằng cha vai u thịt bắp, vân vân… Lương của cô gái là 12.000 đến 15.000 curon. - Và là đổ đồng hàng tháng? - Giả định một băng có hai hay ba cô gái làm việc cật lực thì mỗi tháng chúng lấy về khoảng 150.000 curon. Mỗi băng có hai hay ba người và chúng sống nhờ vào đó. Tài chính về cưỡng dâm đại khái như thế.

- Và chúng ta đang nói đến bao nhiêu cô gái ấy... theo như anh suy ra? - Bất cứ lúc nào cũng có khoảng một trăm cô gái hoạt động tích cực, bằng cách nào đó các cô đã trở thành nạn nhân của đường dây buôn người. Như vậy có nghĩa là tổng thu nhập hàng tháng ở Thụy Điển sẽ vào khoảng sáu triệu curon, khoảng bảy chục triệu mỗi năm. Và nạn nhân của các vụ buôn người này chỉ là các cô gái mà thôi. - Nghe như tiền lẻ còm ấy.

- Là tiền lẻ còm thật. Nhưng hãy gộp khoảng một trăm cô gái bị cưỡng dâm vào các món tiền tương đối khiêm tốn này xem. Tôi điên lên được vì chuyện này. - Nghe đã ra là một nhà nghiên cứu khách quan rồi đây! Nhưng bao nhiêu đứa đểu giả sống bám vào các cô gái này? - Tôi tính cỡ ba trăm.

- Nghe không có vẻ là vấn đề bất khả giải. - Berger nói. - Chúng ta thông qua pháp luật, thông tin đại chúng có làm nhặng lên, nhưng ít ai đã thật sự chuyện trò với một trong những cô gái đến từ phía đông này hay là hiểu họ sống ra sao. - Nó hoạt động thế nào? Tôi muốn nói đến thực tiễn của vấn đề. Đưa một cô gái mười sáu tuổi từ Tallinn đến tận đây mà không bị ai nhận thấy thì chắc cũng khá là khó khăn đây. Khi các cô gái đến rồi thì băng nhóm hoạt động ra sao? - Blomkvist hỏi.

- Khi bắt đầu nghiên cứu chuyện này, tôi nghĩ chúng ta đang đụng đến một tổ chức theo kiểu mafia nhà nghề nên có thể làm cho các cô gái biến qua biên giới mà không ai hay. - Nhưng không phải thế. - Eriksson nói. - Làm ăn này là có tổ chức nhưng tôi đã đi đến kết luận rằng chúng ta mới đang đụng tới nhiều băng nhóm nhỏ tổ chức lèm nhèm. Hãy quên các bộ complê hàng hiệu Armani và xe hơi thể thao đi - đám này là 50 phần trăm người Nga hay người Baltic và 50 phần trăm người Thụy Điển. Tựa như là một nét điển hình, kẻ đứng đầu băng nhóm thường bốn mươi tuổi, rất ít học hành và có vấn đề suốt cả đời. Nhìn phụ nữ thuần túy theo quan điểm thời đồ đá. Trong băng nhóm có một tôn ti thứ hạng, bọn đàn em thường sợ hắn. Hắn hung bạo, thường hống hách và kẻ nào chệch ra khỏi khuôn phép là hắn đánh cho vọt cả phân ra.

Ba hôm sau vào 9 rưỡi sáng, đồ nội thất Ikea mà Salander mua được đem đến nhà. Hai người cực kỳ khỏe bắt tay Irene Nesser, cô này nói với chất giọng Na Uy sôi nổi. Họ lập tức vào việc, chuyển các thùng lên nhà bằng thang máy bé rồi lắp ghép bàn ghế, tủ con và giường ngay trong ngày hôm ấy. Irene Nesser xuống chợ Sodenhallama mua các món ăn nhanh của Hy Lạp cho họ ăn trưa. Giữa chiều người của công ty Ikea đi. Salander bỏ bộ tóc giả ra, đi loanh quanh trong nhà, nghĩ trong căn nhà mới này mình sẽ thích sống như thế nào đây. Bàn bếp nom lịch sự đến mức khó tin là của thật. Phòng cạnh bếp, cửa thông sang cả với gian sảnh và bếp, là phòng khách mới của cô với chiếc sofa hiện đại và các ghế bành bày quanh bàn cà phê ở gần cửa sổ. Cô khoái gian phòng ngủ, cố tình ngồi lên khung giường để xem thử tấm đệm. Cô ngồi vào bàn giấy trong văn phòng, ngắm cảnh quan Saltsjon. Đúng, bày thế này hay đấy. Ta có thể làm việc ở đây.

Nhưng sẽ làm việc gì thì cô không biết. Salander bỏ cả tối ra tháo dỡ đồ đạc và xếp dọn các thứ của nả. Cô dọn giường, xếp vải vóc, khăn mặt, khăn tắm, khăn giường cùng áo gối vào tủ đựng các thứ đồ. Cô mở các túi quần áo mới, treo chúng vào tủ quần áo. Bất chấp tất cả các thứ đã mua, cô chỉ dùng có một phần không gian của cái tủ. Cô để các cây đèn vào chỗ và xếp đặt nồi chảo, các đồ sành sứ và dao kéo vào trong tủ bếp và ngăn kéo bếp. Cô nhìn có ý chê bai các bức tường trống không, nhận thấy sẽ phải tìm ra vài tấm ảnh hay tranh vẽ. Hay thảm. Lọ hoa cũng là một ý hay.

Rồi cô mở các thùng các tông ở Lundagatan, bày sách lên giá còn tạp chí, bài báo cắt dán, các giấy tờ nghiên cứu cũ mà chắc cô sẽ không còn lục bới đến nữa thì vào các ngăn kéo trong văn phòng. Không một chút luyến tiếc, cô hê mớ áo phông cũ và bít tất ngắn cổ bị thủng vào trong đám đó. Thình lình cô tìm thấy một dương vật giả vẫn còn nguyên si trong hộp. Cô cười ngượng nghịu. Đó là một trong các món quà quái đản nhất Mimmi tặng cô nhân sinh nhật. Cô đã quên hoàn toàn là có nó và cũng chả hề bao giờ thử đến. Cô quyết định là sẽ sửa khiếm khuyết này rồi đặt cái dương vật lên bàn đầu giường. Rồi cô nghiêm túc nghĩ. Mimmi. Cô cảm thấy bị cắn rứt vì có lỗi. Cô đã chơi khá đều đặn với Mimmi trong một năm sau rồi vì Blomkvist mà bỏ bạn, không một lời giải thích. Cô không nói lời từ biệt hay bảo Mimmi rằng cô đang định ra nước ngoài. Cô cũng chẳng chào từ biệt Armansky hay bảo đám con gái ở Những Ngón tay Ma quỷ một lời nào sất. Chúng chắc nghĩ cô đã chết hoặc đơn giản là chúng đã quên cô - cô không là nhân vật trung tâm trong nhóm. Lúc ấy cô nhận ra cũng không cả chào từ biệt George Bland ở Grenada nữa và cô nghĩ thầm liệu cậu ta có lang thang trên bãi biển tìm cô không. Cô nhớ điều Blomkvist đã bảo cô về tình bạn rằng tình bạn là dựa trên tôn trọng và tin cậy. Ta cứ phung phí bạn bè ta. Cô nghĩ Mimmi liệu có còn ở quanh đâu đây không, liệu cô có nên thử tìm cách liên hệ với Mimmi không.

Cô bỏ phần lớn buổi tối và một phần không nhỏ ban đêm vào việc sắp xếp giấy tờ trong văn phòng, kê máy tính, lướt mạng. Cô kiểm tra nhanh các đầu tư của mình và thấy mình đã có khá hơn so với năm ngoái. Cô làm một kiểm tra thường lệ máy tính của Bjurman nhưng không tìm thấy trong thư tín của hắn điều gì khiến cô nghĩ hắn đang giẫm phải vạch. Hắn có vẻ đã cho hạ thấp các hoạt động chuyên môn và riêng tư xuống một trạng thái nửa thực vật. Hắn ít dùng thư điện tử, khi lướt Internet hắn chủ yếu đến các địa chỉ khiêu dâm. Đến mãi 2 giờ sáng cô mới tắt máy. Cô vào phòng ngủ cởi quần áo, lăng áo quần lên ghế. Cô nhìn mình hồi lâu trong gương buồng tắm, xem xét bộ mặt góc cạnh, không đều, cặp vú mới của mình. Và hình xăm trên lưng cô - đẹp, một con rồng đỏ, xanh, đen uốn khúc. Trong thời gian đi du lịch cô để tóc dài chấm vai nhưng cuối thời gian ở Grenada cô đã cho nó một nhát kéo. Nay nó vẫn lởm chởm chòi ra tứ phía.

Cô cảm thấy một thay đổi cơ bản nào đó đã diễn ra hay đang diễn ra ở trong cô. Có thể đó là do nay cô có hàng tỉ curon và chẳng hề phải nghĩ ngợi khi chi tiêu. Có thể đó là thế giới trưởng thành đang muộn màng dấn bước vào đời cô. Có thể đó là qua việc mẹ chết cô nhận thấy rằng tuổi thơ của cô đã đi tới hồi kết. Trong lần mổ ngực ở bệnh viện tại Genoa, cô đã cho tháo một cái khoen ở núm vú đi. Rồi cho đi nốt một khoen khác ở môi dưới, còn ở Grenada thì đã lấy đi cái khoen khỏi môi trái âm hộ cô - nó bị cọ xát trầy lên và cô không tài nào hiểu nổi sao hồi ấy cô lại tự nguyện cho xâu khoen trước tiên vào chỗ đó. Cô ngáp rồi mở ốc tháo một cái khuyên xuyên qua lưỡi đã bảy năm nay. Cô để nó vào một cái bát trên giá gần chậu rửa mặt. Cô thấy miệng mình như rỗng tuếch. Ngoài hai hoa tai, cô nay chỉ còn lại có hai chỗ xâu lỗ: một khoen ở lông mày bên trái và một viên đá ở rốn.

Cuối cùng cô trườn vào dưới lớp chăn lông chim mới. Cái giường cô mua là cho người khổng lồ; cô có cảm tưởng mình đang nằm ở rìa một sân bóng đá. Cô kéo chăn lông chim lên rồi nghĩ một hồi lâu. CHƯƠNG 6 Chủ nhật, 23 tháng Một

Thứ Bảy, 29 tháng Một Salander đi thang máy từ nhà xe lên tầng bảy, tầng cao nhất trong ba tầng mà An ninh Milton thuê tại cao ốc văn phòng gần Slussen. Cô mở cửa thang máy bằng một thẻ chìa khóa cô đã làm mạo vài năm trước. Cô tự động nhìn đồng hồ khi bước vào hành lang tối đèn. Chủ nhật, 3 giờ 10 sáng. Người gác đêm chắc đang ngồi ở trung tâm báo động dưới tầng năm cách đường giếng thang máy một quãng xa, và cô biết gần như chắc chắn là cô làm chủ dãy hàng lang này. Cô ngạc nhiên, như vẫn luôn luôn thế, một công ty an ninh mà lại có những khe hở cơ bản như vậy trong thao tác của nó.

Tầng bảy không có gì thay đổi lắm trong năm vừa rồi. Cô bắt đầu thăm văn phòng cũ của mình, một hộp vuông con con đằng sau một bức vách toàn kính trong hành lang mà Armansky bố trí cho cô ở đó. Cửa không khóa. Tuyệt đối không thay đổi, trừ ai đó đã đặt một hộp các tông đựng rác vào bên trong cửa: bàn giấy, ghế văn phòng, sọt rác, một giá sách (rỗng) và một máy tính Toshiba cũ rích cùng với một ổ đĩa cứng bé đến tội nghiệp. Salander không thấy bất cứ cái gì gợi ý rằng Armansky đã giao gian buồng này cho một người nào khác. Cô coi đó là dấu hiệu tốt nhưng cô biết nó cũng chả nói lên gì nhiều. Đây là không gian khó đem dùng vào một việc thực tế nào được. Salander đóng cửa rồi đi dọc hành lang, cầm chắc là không có một con cú đêm nào trong bất cứ văn phòng nào. Dừng lại ở máy pha cà phê, cô bấm nút lấy một tách cappuccino rồi mở cửa văn phòng Armansky bằng chiếc thẻ chìa khóa làm mạo.

Như vẫn luôn luôn thế xưa nay, văn phòng của ông sạch sẽ làm tức cả con mắt. Cô làm một vòng kiểm soát nhanh và xem xét giá sách rồi ngồi vào bàn làm việc của ông, mở máy tính. Cô nhót ở túi trong jacket ra một đĩa CD, đẩy nó vào ổ đĩa cứng. Cô khởi động một chương trình có tên Asphyxia 1.3. Cô tự viết ra nó, chức năng duy nhất của nó là nâng cấp Internet Explorer ở máy tính của Armansky sang một bản hiện đại hơn. Việc làm này mất năm phút. Xong cô lấy CD ra, cho máy tính hoạt động lại theo bản mới của Internet Explorer. Chương trình nom và hoạt động đúng như bản gốc, nhưng nó có lớn hơn chút ít và chậm hơn chừng một phần triệu giây. Mọi cài đặt giống như nguyên gốc, kể cả ngày cài đặt. Sẽ không có dấu vết nào về tệp tin mới hết.

Cô gõ một địa chỉ FTP cho một máy chủ ở Hà Lan và có được màn hình lệnh. Cô bấm copy, viết tên Armansky/ANMilton rồi bấm OK. Máy tính lập tức sao ổ cứng của Armansky sang máy chủ ở Hà Lan. Một đồng hồ cho biết việc sao chép này sẽ mất ba mươi tư phút. Trong khi máy tính chuyển dữ liệu, cô lấy ở chậu hoa trên giá sách chiếc chìa dự trữ để bàn làm việc của Armansky rồi bỏ nửa giờ ra để cập nhật các tài liệu Armansky cất trong ngăn kéo trên cùng bên phải bàn làm việc, các việc quan trọng, hiện hành của ông. Khi chuông máy tính kêu báo đã chuyển xong, cô để các tập tài liệu trở lại trật tự vốn dĩ của nó. Rồi cô tắt máy tính, tắt đèn bàn làm việc, mang theo tách cappuccino đi. Cô rời cao ốc An ninh Milton đúng như cách cô đã vào. Đang là 4 giờ 12 sáng. Cô đi bộ về nhà, ngồi vào máy tính PowerBook của cô rồi đăng nhập máy chủ ở Hà Lan, cô khởi động ở đây một bản sao của Asphyxia 1.3. Một cửa sổ mở ra hỏi tên ổ cứng. Có bốn chục lựa chọn khác nhau, cô cho chúng rải mành mành ra. Cô đi qua ổ cứng tìm NilsEBjurman, trước đây tháng tháng cô vẫn ghé mắt qua nó. Cô ngừng lại một thoáng ở MikBlom/laptop và MikBlom/văn phòng. Hơn một năm qua cô không click vào các biểu tượng này, cô lờ mờ nghĩ có nên bỏ chúng đi không. Nhưng rồi cô quyết định, như một vấn đề nguyên tắc, là cứ giữ chúng lại - khó nhọc mới đột nhập được một máy tính thì có là ngu mới đem bỏ thông tin đi mà một ngày nào đó cần đến có khi lại phải làm lại tất cả các thủ tục đột nhập. Với biểu tượng có tên Wennerstrom mà lâu rồi cô không mở ra thì cũng đúng như thế. Người mang tên này đã chết. Biểu tượng Armansky/ANMilton, mới đặt ra, nằm ở dưới cùng danh sách.

Cô có thể nhái đĩa cứng của Armansky sớm hơn nhưng cô không lo cho chuyện ấy vì cô làm việc cho An ninh Milton và có thể dễ dàng thòi ra bất cứ thông tin nào mà Armansky muốn giấu kín với mọi người. Cô vào máy tính của Armansky là không có ác ý: cô chỉ là muốn biết công ty đang làm gì, nhìn thấy hướng công việc của nó. Cô click và một thư mục lập tức mở ra với một biểu tượng có tên là ArmanskyHD. Cô thử xem có vào được ổ cứng không và kiểm tra các tệp tin có đâu vẫn đấy cả không. Cô đọc hết các báo cáo, các số liệu tài chính và thư điện tử của Armansky cho tới 7 giờ sáng. Cuối cùng cô bò lên giường ngủ tới 12 rưỡi trưa. Thứ Sáu tháng Giêng mới rồi, ban quản trị của Millennium họp với sự có mặt của các cổ đông công ty, một kiểm toán viên ở bên ngoài và bốn thành viên: Berger (30 phần trăm), Blomkvist (20 phần trăm), Malm (20 phần trăm) và Harriet Vanger (30 phần trăm). Eriksson dự với tư cách đại diện cơ quan báo, ủy ban cơ quan và chủ tịch công đoàn của tạp chí. Công đoàn gồm có Eriksson, Lottie Karim, Cortez, Nilsson và Sonny Magnusson, người phụ trách tiếp thị. Đây là cuộc họp tòa soạn đầu tiên của Eriksson.

Cuộc họp bắt đầu lúc 4 giờ và kéo dài một tiếng. Phần lớn thời gian dành cho vấn đề tài chính và báo cáo kiểm toán. Millennium rõ ràng là đang vững chân, khác xa với cuộc khủng hoảng mà nó sa vào hai năm trước. Kiểm toán cho hay đã có một lợi nhuận 2,1 triệu curon trong đó áng chừng một triệu là từ cuốn sách của Blomkvist về vụ Wennerstrom. Berger đề nghị, và được tán thành, sẽ để ra một triệu làm quỹ đề phòng các khủng hoảng trong tương lai; 250.000 curon cho các đầu tư quan trọng như máy tính mới và các thiết bị mới cũng như sửa chữa các văn phòng của tòa soạn; 300.000 curon dành riêng ra cho việc tăng lương và cho phép tạp chí ký với Cortez hợp đồng làm việc trọn thời gian, về thanh khoản, đề nghị mỗi thành viên được một cổ tức 50.000 curon cũng như chia đều cho bốn nhân viên làm thuê 100.000 curon bất kể họ làm việc chính thức hay bán thời gian. Magnusson sẽ không nhận tiền thưởng. Hợp đồng của anh cho anh hưởng hoa hồng ở các quảng cáo anh bán được, như vậy anh là người được đều đặn trả cao nhất tòa soạn. Các đề nghị này đều được nhất trí chấp nhận. Blomkvist đề nghị giảm quỹ nhuận bút người viết tự do để ưu đãi cho một phóng viên làm bán thời gian. Blomkvist nghĩ đến Svensson; lúc ấy Svensson sẽ có thể dùng Millennium làm cứ địa để viết tự do rồi nếu mọi sự trơn tru thì sẽ được mướn chính thức. Berger chống lại đề nghị này với lý lẽ là nếu không sử dụng một lượng lớn các bài báo của người viết tự do thì tạp chí không thể phát triển mạnh được. Harriet Vanger ủng hộ Berger; Malm không có ý kiến. Đã quyết định không dụng đến quỹ người viết tự do nhưng sẽ điều tra xem liệu có thể có những điều chỉnh trong các chi phí khác không. Ai cũng muốn Svensson ở trong tòa soạn, ít nhất thì cũng là người đóng góp nửa ngày công.

Tiếp sau đó bàn chóng vánh đến phương hướng và các kế hoạch phát triển trong tương lai; Berger được bầu lại làm chủ tịch hội đồng quản trị trong năm tới rồi ngừng họp. Eriksson không nói gì. Cô vui lòng với triển vọng cô và các đồng nghiệp sẽ được nhận 25.000 curon tiền thưởng, nhiều hơn một tháng lương. Họp hội đồng xong, Berger triệu tập họp các đối tác. Berger, Blomkvist, Malm và Harriet Vanger ở lại còn những người khác rời phòng họp.

Berger tuyên bố khai mạc hội nghị. - Chỉ có một mục trong chương trình làm việc. - Chị nói. - Harriet, căn cứ hợp đồng định chúng tôi làm với Henrik thì phần sở hữu của ông ấy có thời hạn hai năm. Hợp đồng sắp hết hạn. Chúng ta cần quyết định xem lợi ích của chị - hay đúng hơn lợi ích của Henrik - ở Millennium rồi sẽ nên như thế nào. - Ai cũng biết chú tôi đầu tư vào tạp chí là một hành động bồng bột do một tình huống bất thường nhất nó kích động ông già. - Harriet nói. - Tình huống này không tồn tại nữa. Các anh chị định đề nghị sao nào?

Malm ngán ngẩm cau mày. Anh là người duy nhất trong đám họp không hiểu cái tình hình bất thường nhất kia là gì. Blomkvist và Berger phải giữ kín với anh. Berger chỉ bảo anh đây là chuyện rất riêng tư liên quan đến Blomkvist mà trong bất cứ hoàn cảnh nào anh cũng đừng bàn đến. Rõ ràng sự im lặng của Blomkvist là có dính dáng gì với Hedestad và Harriet Vanger. Anh không cần đến mọi chi tiết để có thể ra quyết định còn với Blomkvist thì anh đủ tôn trọng để không làm cho to chuyện này ra. - Ba chúng tôi đã bàn chuyện này và chúng tôi đã đi tới quyết định. - Berger nói. Chị nhìn vào mắt Harriet. - Nhưng trước khi nói rõ ý chúng tôi, chúng tôi muốn biết ý chị đã nhỉ.

Đến lượt Harriet Vanger nhìn họ. Mắt chị hơi dừng lại ở Blomkvist nhưng chị không thấy bất cứ điều gì trên mặt họ. - Nếu các anh chị muốn mua cổ phần của gia đình thì đó sẽ là vào khoảng ba triệu curon cộng thêm lãi. Các anh chị có thể mua lại của gia đình chúng tôi không? - Chị nhẹ nhàng hỏi. - Vâng, chúng tôi có thể. - Blomkvist mỉm cười nói.

Anh đã được Henrik Vanger trả cho năm triệu curon vì cái việc anh làm cho vị tài cống công nghiệp già này. Nực cười là một phần công việc đó lai là tìm xem chuyện gì đã xảy ra với cháu gái ông, Harriet. - Nếu thế thì quyết định là ở trong tay của các anh chị. - Harriet nói. - Hợp đồng quy định đến lúc này các anh chị có thể bỏ được phần sở hữu của gia đình Vanger mà. Tôi thì sẽ không soạn hợp đồng nào luộm thuộm như bản hợp đồng Henrik đã ký đâu. - Nếu cần chúng tôi có thể mua lại của chị. - Berger nói. - Nhưng với chúng tôi, vấn đề thực sự là chị muốn thế nào. Chị là giám đốc của một công ty công nghiệp quan trọng - thật ra là hai công ty cơ. Cái thứ mà chị mua vào bán ra trong một bữa cà phê giải lao của chị thôi cũng có thể bằng cả ngân sách năm của chúng tôi. Thế thì sao chị lại bỏ thì giờ vào một công việc bên lề như Millennium?

Harriet Vanger bình thản nhìn chiếc ghế tòa soạn, một lúc lâu không nói. Rồi chị quay sang Blomkvist đáp: - Từ khi sinh ra đời tôi đã là chủ sở hữu của một cái gì đó rồi. Tôi đang trông nom một tập đoàn mà mớ bòng bong của nó còn nhiều hơn cả một cuốn tiểu thuyết lãng mạn 400 trang. Lần đầu tiên tôi tham gia ban lãnh đạo của các anh chị là để làm trọn những phận sự mà tôi không thể lơ là. Nhưng các anh chị biết không? Trong mười tám tháng qua, ở ban lãnh đạo này, tôi vui hơn tất cả các nơi khác gộp lại. Blomkvist tư lự nghe. Rồi Vanger quay sang Malm:

- Các vấn đề các anh chị gặp phải ở Millennium là nhỏ thôi và có thể giải quyết được. Dĩ nhiên công ty muốn hoạt động có lãi - đó là chuyện tất nhiên. Nhưng tất cả các anh chị đều có một mục đích khác - các anh chị muốn làm được điều gì đó. Chị nhấp nước trong cốc, đăm đăm nhìn Berger. - Đúng ra thì với tôi cái điều gì kia vẫn còn đôi chút không rõ. Mục đích khá là lờ mờ. Các anh chị không phải là một chính đảng hay một nhóm lợi ích đặc biệt. Các anh chị không phải xét lòng trung thành của mình với ai, trừ với bản thân. Có điều là khi nhận ra các tiêu cực trong xã hội, các anh chị lại không có ý nhập cuộc đấu tranh với các nhân vật nổi nênh trong cộng đồng. Các anh chị thường muốn thay đổi sự vật và tạo ra một cái khác thực sự. Tất cả các anh chị đều cho mình là những người hoài nghi, vô chính phủ nhưng chính đạo lý của các anh chị lại đang dắt đưa tờ tạp chí và tôi đã mấy lần nhận thấy đó là một kiểu đạo lý hoàn toàn đặc biệt. Tôi không biết gọi nó là gì, trừ nói rằng Millennium có một linh hồn. Đây là một ban lãnh đạo mà tôi tự hào và thích thú được đứng ở trong đó.

Chị lặng một lúc quá lâu khiến Berger phì cười. - Nghe rất hay. Nhưng chị vẫn chưa trả lời câu hỏi đấy nhé. - Đây là cái món dớ dẩn nhất, phi lý nhất mà tôi dính dáng vào, nhưng tôi thích có các anh chị ở bên và tôi đã có những ngày thật tuyệt. Nếu các anh chị muốn tôi tiếp tục thì tôi vui mừng ở lại.

- OK. - Malm nói. - Chúng tôi đã bàn tới bàn lui và tất cả chúng tôi đều tán thành. Chúng tôi sẽ mua lại phần của chị. Mắt Harriet mở to: - Vậy anh muốn rũ tôi chăng?

- Khi ký hợp đồng, chúng tôi kê đầu chúng tôi lên thớt chờ lưỡi búa phập xuống. Chúng tôi không được lựa chọn. Ngay từ đầu chúng tôi đếm ngày đếm tháng xem tới khi nào mua lại được phần của ông chú chị. Berger mở một tập hồ sơ, đặt một số giấy tờ lên bàn rồi đẩy về Vanger, cùng với một ngân phiếu ghi chính xác món tiền phải thanh toán. Vanger đọc các giấy tờ rồi ký, không nói một lời. - Xong rồi. - Berger nói. - Hoàn toàn không đau đớn gì cả. Chúng tôi muốn ghi lại lòng biết ơn của chúng tôi với Henrik Vanger về tất cả những gì ông đã làm cho Millennium. Tôi mong chị chuyển điều đó tới ông.

- Tôi sẽ chuyển. - Harriet Vanger nói, giọng bình thường, không để lộ ra cảm nghĩ. Chị vừa thấy bị xúc phạm lại vừa thất vọng sâu sắc vì đã để cho họ buộc chị phải nói ra là chị muốn ở lại và chị nói rồi thì họ lại đơn giản đá chị đi. - Thế bây giờ để xem tôi có thể làm cho chị thích thú được với một hợp đồng hoàn toàn khác không nhé. - Berger nói. Chị lại lấy ra một tập giấy và cho nó trượt qua trên mặt bàn. - Chúng tôi đang nghĩ liệu cá nhân chị có thích thú gì đó với việc là một thành viên ở Millennium không. Giá tiền làm thành viên này sẽ tương tự với khoản tiền chị vừa mới nhận lấy kia. Bản thỏa thuận không có giới hạn thời gian hay các điều khoản ngoại lệ. Chị sẽ là thành viên chính thức với tất cả các trách nhiệm giống như tất cả chúng tôi. Vanger nhướng lông mày:

- Sao phải vòng vèo như vậy nhỉ? - Sớm muộn thì cũng phải làm thôi. - Malm nói. - Chúng tôi có thể hằng năm vào một lúc nào đó làm mới lại bản hợp đồng hay đợi khi nào ban lãnh đạo cãi nhau là đưa chị ra. Nhưng đó vẫn là một bản hợp đồng sớm muộn cũng phải hủy Harriet chống khuỷu tay lên bàn, liếc anh dò hỏi. Chị nhìn Blomkvist rồi Berger.

- Chúng tôi kí với Henrik khi tài chính của chúng tôi đang khó khăn. - Berger nói. - Chúng tôi cho chị thỏa thuận này vì chúng tôi muốn thế. Không như bản cũ, nó không cho chúng tôi mai này hê chị quá dễ dàng được đâu. - Với chúng tôi, hợp đồng này khác bản cũ rất lớn. - Blomkvist hạ giọng nói. Trong cuộc thảo luận anh chỉ góp duy nhất câu này. - Thật ra ngoài hòn đá tảng tài chính mà tên của Vanger đem đến, chúng tôi còn tin chị sẽ cho thêm một cái gì đó vào Millennium. - Berger nói. - Chị thông minh, nhạy bén, có được các giải pháp xây dựng. Cho đến nay chị vẫn giữ mình lu mờ, gần như một vị khách đến thăm chúng tôi mỗi quý một lần nhưng với tòa soạn này thì chị là sự ổn định và phương hướng trước đây chúng tôi chưa có. Chị hiểu kinh doanh. Chị có lần hỏi liệu có thể tin được tôi không thì tôi cũng đã hỏi thầm tương tự về chị. Nay chúng ta đã biết câu trả lời. Tôi mến chị và tin chị - tất cả chúng tôi đều thế. Chúng tôi không muốn chị là một bộ phận của chúng tôi theo kiểu một tấm bùa hợp pháp rắc rối nào đó. Chúng tôi muốn chị là một thành viên và một cổ đông thực sự.

Harriet giơ tay kéo bản hợp đồng lại, đọc nó năm phút, cuối cùng ngửng lên nhìn. - Các anh chị cả ba đều tán thành chứ? - Chị nói. Ba cái đầu gật. Vanger nâng bút ký.

Các thành viên của Millennium ăn tối với nhau ở quán Vạc bếp Samir trên đường Tavastgatan. Một bữa liên hoan êm ả - mừng một quan hệ đối tác mới - với vang ngon và thịt cừu nấu món couscous. Chuyện trò thoải mái và Vanger ngạc nhiên ra mặt. Nó có chút nào giống như cuộc hò hẹn đầu tiên lấn bấn: một cái gì đó sắp diễn ra, nhưng không ai biết đích xác nó có thể là gì. Vanger phải đi lúc 7 giờ rưỡi. Chị xin lỗi, nói chị phải về khách sạn nghỉ sớm. Đến nhà chồng, Berger đi bộ với chị một quãng. Họ chia tay nhau ở Slussen. Blomkvist và Malm nán lại một lúc rồi Malm cáo lỗi nói cần về nhà. Vanger ngồi taxi đến khách sạn Sheraton, đi thẳng lên phòng ở tầng chín. Chị cởi quần áo, tắm, mặc áo khoác của khách sạn vào. Rồi chị ra cửa sổ ngồi nhìn về phía Riddarholmens. Chị lấy bao Dunhill trong ví ra. Mỗi ngày chị hút ba bốn điếu, quá ít đến mức chị có thể coi mình là dân không hút và vẫn được thưởng thức mà không áy náy vì có lỗi.

9 giờ, có tiếng gõ cửa. Chị mở và để cho Blomkvist vào. - Nhảm nhí nhà anh này. - Chị nói. Anh cười, hôn má chị.

- Tôi đã thật lòng nghĩ là các tướng đá tôi đấy. - Chúng tôi không bao giờ làm thế. Chị có biết tại sao bọn tôi muốn viết lại hợp đồng không? - Dĩ nhiên biết. Như thế cho ra ấn tượng hoàn hảo.

Blomkvist mở áo chị ra, đặt tay lên ngực chị, thận trọng vuốt ve. - Nhà anh này nhảm nhí đấy nhé. - Chị lại nói. Salander dừng lại ở cái cửa có biển đề tên “Wu”. Cô đã nhìn thấy ánh đèn đường và nay thì có thể nghe thấy tiếng nhạc ở trong nhà. Vậy là Miriam Wu vẫn sống ở đây, trong căn hộ nhỏ trên đường Tomtebogatan gần St Erikplan. Đang tối thứ Sáu, Salander chỉ hy vọng có một nửa vì Mimmi chắc đã ra ngoài và căn hộ sẽ tối om. Các câu hỏi vẫn cần giải đáp là liệu Mimmi có còn muốn dính dáng gì đó với cô, liệu Mimmi có sống một mình và có sẵn sàng quan hệ với cô không.

Cô bấm chuông. Mimmi mở cửa, lông mày nhếch hết lên vì ngạc nhiên. Rồi tựa vào thành cửa, tay chống nạnh lên hông. - Salander, tớ tưởng cậu chết hay làm sao đó rồi cơ đấy.

- Hay làm sao đó rồi. - Cậu muốn gì? - Có nhiều cách trả lời cho câu này.

Mimmi nhòm khắp lòng giếng cầu thang rồi nhìn chằm chằm Salander. - Thử một câu xem nào. - Được, tớ đang muốn xem cậu có vẫn còn độc thân và có thể muốn một bạn giường tối nay hay không.

Mimmi nom sửng sốt một thoáng giây rồi bật cười to. - Tớ chỉ biết mỗi đứa dám sau một năm rưỡi im lặng mà mơ chuyện bấm chuông nhà tớ để hỏi tớ có muốn lên giường không. - Cậu có muốn tớ đi không?

Mimmi thôi cười. Im một lát. - Lisbeth... Trời đất, cậu nghiêm túc đấy chứ? Salander chờ.

- Vậy thì vào nào. Ít ra tớ cũng mời cậu cà phê được. Salander theo Mimmi vào nhà, ngồi xuống một trong hai chiếc ghế đẩu ở cạnh cái bàn nho nhỏ trong sảnh. Bếp bé hơn một cái hốc để nấu nướng, ở một góc của gian sảnh. Mimmi đã đặt một vòi cao su từ trong buồng tắm ra chậu rửa bát đĩa. Mẹ Mimmi là người Hồng Kông, bố Thụy Điển ở Boden. Salander biết bố mẹ Mimmi đang sống ở Paris. Mimmi học xã hội học ở Stockholm, cô chị của Mimmi học nhân học ở Hoa Kỳ. Gien mẹ thấy rõ ở bộ tóc đen như quạ, cắt ngắn và nét mặt hơi hơi châu Á. Bố cho cô đôi mắt xanh nước biển nhạt. Cái miệng rộng, hai lúm đồng tiền thì chả đến từ ai, bố cũng như mẹ.

Mimmi ba mươi mốt. Cô thích mặc đồ da, đến các câu lạc bộ, nơi họ biểu diễn nghệ thuật - đôi khi cô xuất hiện trên các sô tivi. Từ mười sáu tuổi Salander đã không đến một câu lạc bộ nào. Ngoài việc học, mỗi tuần một ngày Mimmi đi làm nhân viên bán hàng tại Thời Trang Domino trên một phố gần Sveavagen. Các khách hàng thèm có những quần áo như đồng phục bằng vải cao su của nữ y tá hay bộ đồ phù thủy bằng da đen thì hay đến Thời Trang Domino, ở đây vừa thiết kế vừa quần áo. Mimmi là đồng sở hữu tiệm này với vài ba bạn gái; cửa hàng đã thêm một phụ khoản khiêm tốn vào món nợ ít nghìn curon mỗi tháng của sinh viên. Salander lần đầu tiên gặp Mimmi khi Mimmi biểu diễn một tiết mục kỳ dị ở Liên hoan Tự hào Đồng tính ái trước đó một hai năm rồi tình cờ đâm bổ phải cô ta trong một lều bán bia khuya đêm hôm đó. Mimmi mặc một váy dài kỳ cục bằng chất dẻo màu vàng chanh, bày biện ra nhiều hơn là cất giấu đi. Salander không thấy gì là khiêu dâm trong bộ đồ nhưng đã đủ say đến mức thình lình muốn nhót đi một đứa con gái trông giống như quả chanh. Salander hết sức ngạc nhiên thấy quả chanh nhìn mình, cười hơ hớ, hôn mình chả chút ngượng nghịu rồi nói: Cậu là người tớ muốn đấy. Họ đã về chỗ của Salander rồi cả đêm làm tình. - Là thế nào thì tớ cứ là thế. - Salander nói. - Tớ đã bỏ mọi người mọi cái mà đi. Lẽ ra nên chào bái bai.

- Tớ nghĩ có cái gì đó đã xảy ra với cậu. Không phải vì tớ và cậu đã tiếp xúc với nhau nhiều trong những tháng vừa qua mà cậu ở đây. - Tớ bận. - Cậu lúc nào cũng bí mật. Cậu không nói về cậu bao giờ. Cậu làm việc ở đâu hay tớ nên gọi ai khi cậu không trả lời điện thoại, tớ cũng chả biết nữa.

- Ngay bây giờ tớ chẳng làm ở đâu, với lại cậu giống y như tớ mà. Cậu thích làm tình nhưng cậu đặc biệt không thích có một quan hệ. Hay cậu thích? - Cậu nói đúng đấy. - Cuối cùng Mimmi nói. - Tớ cũng như vậy. Tớ không có hứa hẹn bao giờ.

- Cậu đã thay đổi. - Mimmi nói. - Chả mấy. - Cậu nom già hơn. Trưởng thành hơn. Quần áo khác. Rồi cậu nhét vào xú chiêng cái gì đó.

Salander không nói. Mimmi đã trông thấy cô trần truồng - dĩ nhiên phải nhận thấy sự thay đổi. Cuối cùng cô cúi đầu lầm bầm: - Tớ độn ngực. - Cậu nói gì kia?

Salander ngước mắt lên, cao giọng, không biết như vậy giọng mình hóa ra như thách thức. - Tớ đã đến một bệnh viện ở Ý và độn ngực. Tớ biến đi vì thế. Rồi tớ cứ đi du lịch miết. Bây giờ tớ quay về. - Cậu đùa đấy chứ?

Salander thản nhiên nhìn Mimmi. - Tớ mới ngu thật chứ lại. Xưa nay cậu có biết đùa là gì đâu nhỉ. - Tớ sẽ không xin lỗi. Tớ chỉ muốn trung thực. Nếu muốn tớ đi, chỉ cần nói một câu thôi.

Mimmi cười phá lên. - Được, tớ chắc chắn không muốn cậu đi nếu cậu chưa để tớ nhòm xem nó nom ra thế nào. Làm ơn mà. - Tớ luôn thích làm tình với cậu, Mimmi. Cậu chả thiết khỉ gì đến việc tớ làm nó ra sao và nếu tớ bận thì cậu kiếm luôn một đứa nào đó khác.

Ngay từ ở trường phổ thông, Mimmi đã dứt khoát rằng mình đồng tính ái. Mười bảy tuổi, sau một số toan tính lăng nhăng, cuối cùng cô nhập môn vỡ lòng về các bí mật tính dục ở một dạ hội liên hoan do Liên hiệp Thụy Điển vì các Quyền lợi Đổi giới tính, Đồng tính ái nam, nữ, Lưỡng tính tổ chức ở Goteborg. Sau đó cô không màng đến bất cứ lối sống nào khác nữa. Một lần lúc hai mươi ba, cô đã thử ăn nằm với một người đàn ông. Cô chờ anh ta bảo làm gì thì làm theo như máy nhưng chả thấy thú vị gì. Cô cũng ở trong cái số ít thuộc số ít không quan tâm đến hôn nhân hay chung thủy hay những buổi tối êm ấm trong nhà. - Tớ trở về đã vài tuần. Tớ cần biết là phải ra ngoài nhót lấy một đứa hay là cậu vẫn còn thú. Mimmi cúi xuống hôn phớt lên môi cô.

- Tớ đang nghĩ tối nay nên học hành bài vở. (Cô cởi cúc trên của chiếc áo sơmi của Lisbeth ra). Nhưng đồ quỷ gì... (Cô lại hôn Lisbeth và cởi cúc tiếp). Tớ phải trông thấy nó mới được. (Lại hôn). Hoan nghênh trở về. Harriet Vanger ngủ đi vào khoảng 2 giờ sáng. Blomkvist nằm thức nghe chị thở. Một lúc, anh đứng dậy, móc một điếu trong gói Dunhill để trong ví chị. Anh ngồi vào chiếc ghế bên giường nhìn chị. Anh không định làm người tình của Harriet Vanger. Và có thế. Sau thời gian ở Hedestad về, anh không muốn gì hơn là không gần gũi lắm với gia đình Vanger. Anh có gặp Harriet ở các cuộc họp ban lãnh đạo và giữ khoảng cách. Hai người biết bí mật của nhau, nhưng ngoài vai trò của Harriet ở ban lãnh đạo Millennium ra, công chuyện của họ đã chấm hết.

Trong kỳ nghỉ lễ Whitsuntide năm ngoái, lần đầu tiên trong vài tháng Blomkvist đã đến căn nhà nhỏ của anh ở Sandhamn để có đôi chút yên bình và tĩnh lặng, ngồi đọc tiểu thuyết trinh thám ở trên cổng. Chiều thứ Sáu đang trên đường tới kiốt mua thuốc lá thì anh vồ phải Harriet. Chị rõ ràng cũng đang có nhu cầu đi khỏi Hedestad và đã đặt trước phòng trọ cuối tuần ở khách sạn tại Sandhamn. Chị đã không ở đây từ ngày bé. Mười sáu tuổi chị lìa Thụy Điển và quay về khi đã năm mươi ba. Chính Blomkvist đã mò được ra chị. Sau mấy lời chào hỏi ngạc nhiên của hai bên, Harriet chìm vào im lặng lúng túng. Blomkvist biết chuyện đời chị và chị biết là anh đã vi phạm các nguyên tắc nghề nghiệp của anh để giấu những bí mật khủng khiếp của nhà Vanger. Và phần nào anh làm thế là cho chị. Blomkvist mời chị đến nhà mình. Anh pha cà phê rồi hai người ngồi ở cổng chuyện trò suốt mấy giờ. Từ ngày chị về nước, đây là lần đầu tiên hai người nói chuyện lâu với nhau.

Blomkvist không kìm được hỏi: - Chị đã làm gì với các thứ dưới tầng hầm của Martin? - Anh muốn biết thật sự ư?

- Muốn. - Tôi tự mình dọn dẹp. Tôi đốt hết tất cả những gì có thể đốt được. Tôi cho đánh sập ngôi nhà. Tôi không thể sống ở đó, tôi không thể bán nó hay để cho ai sống ở đó. Với tôi mọi liên hệ với nó là đều dính đến cái xấu xa. Tôi đang định xây một ngôi nhà khác ở trên nền đất cũ, một căn nhà nhỏ bằng gỗ. - Khi chị cho phá sập nhà, mọi người có sửng sốt không? Nó khá đẹp và sang trọng mà.

Chị mỉm cười. - Dạo này Frode dựng lên câu chuyện là dưới nền nhà có nhiều túi khí cho nên xây lại thì đắt hơn hạ nó xuống. Frode là luật sư của gia đình.

- Dạo này Frode ra sao? - Ông ta sắp bảy mươi rồi. Tôi khiến ông ta bận bịu luôn. Họ ăn trưa với nhau. Blomkvist nhận thấy Harriet Vanger đang ngồi nói với anh những chuyện thầm kín và riêng tư nhất về cuộc đời chị. Anh hỏi tại sao, chị nghĩ một lúc rồi nói trên thế giới này thật tình không có ai mà chị lại có thể cởi mở được như với anh. Vả lại khó mà không cởi mở được với một đứa trẻ bốn chục năm trước chị đã từng săn sóc.

Chị đã có chuyện tính dục với ba người đàn ông trong đời chị. Đầu tiên là bố chị, rồi anh chị. Chị đã giết bố rồi bỏ trốn người anh. Không biết sao chị đã sống sót và gặp một người mà cùng với anh ta chị đã tạo ra được một đời sống mới cho mình. - Anh ấy dịu dàng và đáng yêu. Đáng tin và trung thực. Tôi hạnh phúc với anh ấy. Chúng tôi có hai chục năm tuyệt vời bên nhau rồi anh ấy ốm. - Chị không tái hôn ư? Sao thế?

Chị nhún vai. - Tôi là mẹ của hai đứa con trai ở Úc, tôi sở hữu một doanh nghiệp nông nghiệp lớn. Tôi không thể bỏ đi vì một cuối tuần lãng mạn. Và tôi không nhớ tính dục Họ ngồi lặng lẽ một lúc.

- Muộn rồi, tôi nên quay về khách sạn thôi. Blomkvist cứ ngồi im, không đứng lên. - Anh muốn dụ dỗ tôi sao?

- Muốn. Anh đứng dậy cầm tay chị dắt vào trong nhà, lên gác xép phòng ngủ. Thình lình chị giữ anh lại. - Tôi thật không hiểu sao lại thế này. Đây không phải là chuyện tôi làm hàng ngày.

Họ ở với nhau hết cuối tuần rồi cứ ba tháng sau cuộc họp ban lãnh đạo tạp chí thì lại một lần. Đây không phải là một quan hệ có thể duy trì được. Chị làm việc suốt ngày đều đặn và thường đi xa, rồi hàng tháng lại về Úc. Nhưng chị đã đi tới hẹn hò thi thoảng với Blomkvist. Hai giờ sau Mimmi pha cà phê trong khi Salander nằm trần truồng, vã mồ hôi trên lớp khăn trải giường. Cô hút thuốc lá nhìn Mimmi qua khung cửa. Cô thèm thân hình Mimmi. Cơ bắp nom ấn tượng. Mimmi tập ở nhà thể dục ba tối một tuần, một tối tập bốc Thái hay một thứ karate con khỉ gì đó, tất cả đã cho cô một thân hình đáng sợ. Cô đúng là nom ngon ăn. Không đẹp như người mẫu nhưng thực chất hấp dẫn. Cô thích khêu gợi và tán tỉnh. Khi ăn mặc để dự tiệc, cô có thể làm cho bất cứ ai cũng phải để ý đến. Salander không hiểu tại sao Mimmi lại quan tâm đến một con ngỗng như mình. Nhưng cô thích được Mimmi quan tâm. Làm tình với Mimmi có sức giải tỏa ghê gớm đến mức Salander thấy thanh thản và khoái chuyện đó, lấy về cái cô muốn có cho mình và đổi lại thì cô cũng cho đi.

Mimmi quay vào để hai hũ cà phê lên chiếc ghế đẩu cạnh giường Cô bò toài lên giường cúi xuống nhay nhay vào một đầu vú của Salander. - Tớ sẽ làm chúng nó như cậu. Salander không nói gì. Cô nhìn ngực Mimmi. Vú Mimmi cũng bé nhưng nom rất tự nhiên ở trên người Mimmi.

- Nếu thật thà thì tớ phải nói là cậu kỳ ảo đấy. - Chuyện điên rồ ấy mà. Cách nào thì cách, ngực tớ cũng chả có khác đi gì, nhưng ít ra thì tớ cũng đã có tí ti. - Cậu bị ám ảnh quá về thân hình cậu.

- Cậu chỉ nói thôi, tập luyện cơ thể cứ y như một con ngu. - Tớ tập luyện như con ngu vì tớ thích thế. Nó như là một cú đá cũng tốt như làm tình vậy. Cậu nên thử đi. - Tớ có chơi một tí quyền Anh.

- Trò rác, cho cậu tối đa một tháng đấm bốc một lần. Mà phần lớn là do cậu phởn đã đánh được mấy thằng oe ở xung quanh. Cái đó khác với tập tành để cho người khỏe mạnh. Salander nhún vai. Mimmi cưỡi lên cô. - Lisbeth, cậu bị thân hình cậu nó ám ghê quá. Nay cậu nên biết tớ thích ngủ với cậu không phải vì cậu trông như thế nào mà vì cái cách làm lụng của cậu. Tớ nghĩ cậu rất gợi dục, y như quỷ ấy.

- Cậu cũng thế. Chính vì thế mà tớ cứ quay lại. - Không phải vì yêu hả? - Mimmi nói, làm như bị xúc phạm. Salander lắc đầu.

- Cậu đang có một đứa nào? Ngừng một lát rồi Mimmi gật. - Có lẽ. Một cách nào đó. Có thể. Hơi phức tạp một tí.

- Tớ không tọc mạch đâu. - Tớ biết nhưng tớ muốn kể với cậu. Đó là một người ở cùng trường đại học hơn tuổi tớ một ít. Chị ấy lấy chồng đã hai chục năm nhưng chồng đi xa nhiều cho nên chúng tớ gặp nhau những khi anh ta không ở nhà. Ngoại thành, biệt thự, tất cả các thứ đó. Chị ấy là một ô môi bí ẩn. Chuyện từ mùa thu năm ngoái và đang hơi có tí ti phiền phiền. Nhưng chị ấy khêu gợi thực sự. Rồi tớ vẫn còn bạ với băng nhóm quen cũ, dĩ nhiên. - Tớ đúng là đang nghĩ có thể đến gặp lại cậu được không.

- Nghe cậu nói thế tớ thật sự là thích. - Ngay cả nếu tớ biến thêm sáu tháng nữa? - Cốt sao cứ giữ liên hệ. Tớ muốn biết cậu sống hay chết. Muốn gì chứ ngày sinh của cậu tớ vẫn nhớ nha.

- Không có chuỗi ư? Mimmi thở dài rồi mỉm cười. - Cậu biết, cậu là một con ô môi tớ có thể tưởng đến chuyện sống chung. Cậu biết để tớ một mình khi tớ muốn yên.

Salander không nói gì. - Trừ việc cậu không thực sự là một con ô môi. Cậu chắc là lưỡng tính. Nhưng trên hết tất cả là cậu gợi dục - cậu thích làm tình và cậu bất cần nam nữ. Cậu là một nhân tố hỗn loạn. - Tớ chả biết tớ là gì. - Salander nói. - Nhưng hiện giờ tớ đang ở Stockholm và rất tồi tệ về mặt quan hệ. Thật ra, tớ chả biết ai ở đây hết. Cậu là người đầu tiên tớ nói chuyện từ khi về nhà.

Mimmi nghiêm túc quan sát cô. - Cậu có thật lòng muốn biết thế gian không? Cậu là đứa bí mật nhất, không thể đến gần nhất mà tớ biết. Nhưng vú cậu nom ngon lành thật. - Cô để các ngón tay vào dưới núm vú rồi kéo da căng ra. - Hợp với cậu. Không quá to, không quá bé. Salander thở dài nhẹ người thấy các cuộc xét duyệt đều dẫn tới chỗ hài lòng.

- Và nom chúng thật. Cô bóp mạnh vú một cái đến nỗi Salander há mồm ra. Họ nhìn nhau. Rồi Mimmi cúi xuống hôn một cái sâu vào trong miệng. Salander đáp lại, quàng hai tay quanh người Mimmi. Cà phê đành chịu để cho nguội ngắt. CHƯƠNG 7

Thứ Bảy, 29 tháng Một Chủ nhật, 13 tháng Hai Sáng thứ Bảy, khoảng 11 giờ, một chiếc xe hơi lái vào Svavelsjo ở giữa Jarna và Vagnharad - cái cộng đồng có không quá mười lăm căn nhà - rồi dừng lại trước căn nhà cuối cùng, chừng 150 mét bên ngoài ngôi làng đích thực. Đó là một cấu trúc công nghiệp xập xệ một thời từng là nhà máy in nhưng nay trên cổng chính có một bảng hiệu cho hay nó là Câu lạc bộ Xe máy Svavelsjo. Không thấy một xe hơi nào khác. Nhưng người lái chú ý nhìn quanh rồi mới ra khỏi xe. Hắn đồ sộ, tóc vàng. Không khí rét lạnh. Đi găng tay da màu nâu, hắn lấy ở trong cốp xe ra một túi thể thao màu đen.

Hắn không ngại bị quan sát. Đỗ xe ở gần nhà máy in cũ thế nào mà chả bị trông thấy. Nếu đơn vị cảnh sát hay chính phủ nào muốn kiểm soát toà nhà thì sẽ phải trang bị cho người của họ các thứ ngụy trang cùng kính viễn vọng và lại còn phải vùi chúng xuống tận đâu cánh đồng xa xa kia. Chuyện đó rồi nhất định dân làng cũng nói đến thôi, mà ba ngôi nhà ở đây đã là của các thành viên Câu lạc bộ Xe máy Svavelsjo mất rồi. Mặt khác, hắn không muốn vào toà nhà. Cảnh sát đã đột nhập khám xét câu lạc bộ mấy phen, chả ai dám chắc liệu các thiết bị “bọ” có bị cài giấu ở trong đó không. Điều này có nghĩa là phần lớn chuyện trò ở câu lạc bộ là về xe hơi, gái gú và bia, thỉnh thoảng về món chứng khoán nào hay để đầu tư vào. Vậy nên người đàn ông chờ cho tới khi Carl - Magnus Lundin đi ra ngoài sân. Lundin là chủ tịch câu lạc bộ. Hắn cao gầy nhưng cùng với thời gian hắn đã có một cái bụng bia bự. Hắn mới ba mươi sáu. Tóc hắn vàng sẫm để kiểu đuôi ngựa và hắn mặc jean đen, bốt, jacket mùa đông nặng trịch. Hắn đã có năm tiền án tiền sự trong biên bản cảnh sát. Hai vụ vi phạm nhẹ vào ma tuý, một vụ nhận các hàng hoá ăn cắp, một vụ ăn cắp xe hơi và say rượu lái xe. Tội thứ năm, trầm trọng nhất, đã đưa hắn vào tù một năm: đó là vụ hành hung nghiêm trọng tổn hại đến thân thể khi hắn nổi cơn lên trong một quán bar tại Stockholm, vài năm trước.

Lundin và người khách đồ sộ bắt tay nhau rồi thong thả đi dọc hàng rào quanh sân. - Đã mấy tháng rồi đấy. - Lundin nói. Người khách nói:

- Chúng ta có một món đang bị xuống giá. 3.060 gam methamphetamine. - Các khoản cũng giống lần trước? - Năm mươi năm mươi.

Lundin rút lấy một bao thuốc lá ở túi ngực. Hắn thích làm ăn với gã khổng lồ này. Giá đường phố của thứ meth này vào khoảng từ 160 đến 230 curon, tuỳ vào lúc có hay không. Vậy thì 3.060 gam này sẽ mang lại một giá trị ăn đứt khoảng 600.000 curon. Câu lạc bộ xe máy Svavelsjo sẽ phân phối ba kilô chia thành những túi nhỏ chừng 250 gam một cho dân mua quen. Vào lúc này giá bị giảm xuống đâu đó quãng từ 120 đến 139 curon một gam. Với Câu lạc bộ xe máy Svavelsjo, đây là một vụ làm ăn hấp dẫn khác thường. Không giống như các vụ với những đối tác khác, không có bất cứ chuyện lèm nhèm về trả tiền trước hay về giá cố định bao giờ. Gã khổng lồ tóc vàng cung cấp hàng và đòi 50 phần trăm, chia chác như thế là hoàn toàn biết điều, ít nhiều chúng biết một kilô meth mang lại bao nhiêu, số tiền chính xác là tuỳ vào chỗ Lundin có thể lấy lại đến mức nào khi giá hàng bị giảm. Tuỳ tình hình nó có thể thay đổi dăm ba nghìn nhưng khi công chuyện bàn đã xong thì gã khổng lồ sẽ có thể thu được khoảng 190.000 curon Hai người đã làm ăn nhiều với nhau trong những năm qua, luôn chỉ dùng một hệ thống. Lundin biết gã khổng lồ có thể được gấp đôi tiền nếu tự nắm lấy việc phân phối. Lundin cũng biết tại sao gã này lại chịu nhận khoản lời thấp hơn; gã có thể ngồi ở hậu trường dành mọi nguy cơ cho Câu lạc bộ Xe máy Svavelsjo. Thu nhập gã nhận có nhỏ hơn nhưng gã an toàn hơn. Và không như các nhà cung cấp khác, gã không ngang tắt, đây là một quan hệ dựa trên các nguyên tắc làm ăn đứng đắn, lòng tin và thiện ý. Không cãi cọ, không ăn nói lăng nhăng, không đe dọa.

Gã khổng lồ cũng đã nuốt gần 100.000 curon thua lỗ ở vụ cung cấp vũ khí mà thế nào hoá thành ra là đầu đi đuôi không lọt. Lundin chưa thấy ai trong làm ăn lại có thể tiếp nhận được một tổn thất như thế. Hắn kinh sợ khi phải nói với gã. Lundin giải thích vì sao vụ làm ăn lại đâm ra xấu, làm sao một cảnh sát ở Trung tâm Đề phòng Tội phạm lại có thể suýt nữa dớ được một thành viên của Tình Huynh đệ Aryan ở Varmland. Nhưng gã khổng lồ chỉ nhíu lông mày không làm gì hơn. Gã gần như thông cảm. Lùm xùm xảy ra, tất cả việc giao hàng phải xoá bỏ. Lundin không phải dân vô tài. Hắn hiểu rằng một món lời nhỏ hơn, ít rủi ro hơn chính là việc làm ăn tốt. Hắn chưa lần nào tính trò hai mang với gã khổng lồ. Đó là một thói xấu. Gã khổng lồ và đồng bọn của gã còn chịu một ít món lời nhỏ hơn chừng nào việc thanh toán vẫn cứ trung thực. Nếu lừa gã tóc vàng thì bằng là hắn gọi gã đến thăm và Lundin tin chắc hắn sẽ không sống sót nổi sau một chuyến viếng thăm như thế.

- Khi nào anh có thể giao hàng? Gã khổng lồ buông túi thể thao xuống đất. - Giao rồi.

Lundin cảm thấy không muốn mở cái túi ra để kiểm tra bên trong. Thay vì thế, hắn giơ tay làm hiệu rằng họ đang làm ăn với nhau và hắn có ý sắm vai trò của hắn. - Có một chuyện nữa. - Gã khổng lồ nói. - Chuyện gì?

- Chúng tôi muốn giao cho anh một việc đặc biệt. - Nghe xem nào. Gã rút từ trong túi trong chiếc jacket ra một phong bì đưa cho Lundin. Hắn mở ra lấy một ảnh hộ chiếu và một tờ giấy khổ A4 có ghi những dữ liệu về cá nhân. Hắn nhếch lông mày lên hỏi.

- Tên nó là Lisbeth Salander, sống ở Stockholm, đường Lundagatan quận Sodermalm. - Xong. - Hiện nó có thể không ở trong nước nhưng sớm muộn sẽ về thôi.

- OK. - Người thuê tôi muốn có một cuộc chuyện trò yên ắng với con này. Phải tóm sống nó. Chúng tôi gợi ý là nhà kho gần Yngern. Và sau đó chúng tôi cần một người dọn dẹp sạch sẽ. Phải cho con này biến mất không tăm tích. - Chúng tôi sẽ lo vụ này. Khi nào thì biết nó về?

- Tôi sẽ bảo anh. - Giá cả thế nào? - Tất tật 10 nghìn thì anh bảo sao? Cái này khá gọn gàng thôi mà. Đến Stockholm, nhót lấy nó, nộp cho tôi.

Chúng lại bắt tay nhau. Lần thứ hai đến thăm Lundagatan, Salander buông phịch người xuống sofa suy nghĩ. Cô phải ra một số quyết định, một trong đó là cô có nên giữ căn hộ lại không. Cô châm thuốc lá, thổi khói lên trần, gõ tàn vào một lon Coke rỗng.

Cô chả có lý do gì để yêu căn hộ này. Lên bốn thì cô cùng mẹ và em gái dọn đến đây. Mẹ ngủ trong phòng khách, cô và Camilla chia nhau cái phòng ngủ con con. Lúc cô mười hai và xảy vụ “Tất cả Xấu xa”, cô được đưa đến bệnh viện thiếu niên rồi khi cô mười lăm, rồi thì đến gia đình nhận nuôi đầu tiên và rồi cả một loạt sau đó. Holger Palmgren, người đỡ đầu cô đã cho thuê cái nhà này rồi khi cô mười tám tuổi, cần một chỗ trú ngụ, ông lại để mắt tới và cho nó quay về lại với cô. Căn hộ đã là một điểm cố định với gần hết đời cô. Tuy không cần đến nó nữa, nhưng cô không thích bán nó đi. Bán đi thì có nghĩa là những người xa lạ sẽ bước vào trong không gian của cô. Về hậu cần, vấn đề là tất cả thư tín của cô - tới chừng nào cô còn nhận được một bức thư - đều đến Lundagatan đây. Nếu cô bỏ căn hộ cô phải tìm một địa chỉ khác để thay thế. Salander không muốn bất cứ kho dữ liệu nào có được thông tin chính thức về mình. Ở mặt này cô gần như bị tâm thần phân lập. Cô không có lý do để mà tin tưởng ở các nhà chức trách hay một ai khác ở vấn đề này.

Cô nhìn bức tường bảo vệ mảnh sân sau như cô vẫn từng nhìn nó. Cô bỗng vui với quyết định lìa bỏ căn hộ. Cô không bao giờ cảm thấy an toàn ở đây. Mỗi lần cô quay về Lundagatan, đến gần đầu phố - có say hay không - cô đều nhạy bén nhận biết về xung quanh, về những chiếc xe đỗ và người qua lại. Cô cảm thấy ở một chỗ nào đó ngoài kia chắc chắn có những người đang mong muốn làm hại cô và chắc chắn nhất là khi cô đến hay đi khỏi căn hộ thì họ sẽ công kích cô. Đã không có cuộc công kích nào. Nhưng như thế không có nghĩa cô có thể buông lỏng. Địa chỉ ở Lundagatan đã vào trong mọi danh bạ đăng ký công cộng và kho dữ liệu máy tính, nhưng trong tất cả mấy năm qua cô không có cách nào để nâng cao mức độ an toàn của mình lên; cô chỉ có thể tự canh phòng lấy cho bản thân. Nay tình hình đã khác. Cô không muốn ai biết địa chỉ mới của cô ở Mosebacke. Bản năng mách cô là cứ càng vô danh thì lại càng hay. Nhưng như thế không giải quyết được vấn đề làm gì với căn hộ cũ. Cô nghiền ngẫm việc này một lúc rồi lấy di động gọi Mimmi. - Chào, tớ đây.

- Chào Lisbeth. Vậy mới có một tuần mà cậu đã liên hệ rồi đấy hả? - Tớ đang ở Lundagatan. - OK.

- Tớ đang nghĩ cậu có muốn lấy căn hộ không đấy. - Ý là thế nào? - Cậu đang sống trong một cái hộp đựng giầy mà.

- Tớ thích cái hộp giầy của tớ. Cậu đang dọn đi à? - Nó rỗng không rồi. Đầu dây đằng kia hình như Mimmi ngập ngừng.

- Lisbeth, tớ không đủ lực. - Đây là một căn hộ của công ty cho thuê và đã trả hết cả rồi. Tiền thuê mỗi tháng 1.480 curon, như vậy chắc là ít hơn khoản cậu trả cho cái hộp giầy. Và tiền thuê cả năm thì đã trả rồi. - Nhưng cậu đang có ý bán nó mà? Tớ nói là nó cũng đáng một tí của đấy.

- Khoảng một triệu rưởi nếu cậu tin được vào quảng cáo của bọn môi giới bất động sản. - Tớ không đủ lực làm chuyện đó. - Tớ đang bán. Tối nay cậu có thể dọn đến đây rồi cậu có thể sống bao lâu tuỳ thích và chả phải trả cái gì hết trong một năm. Tớ không được phép cho thuê nó nhưng tớ có thể viết tên cậu vào là bạn chung phòng của tớ. Cách này thì cậu sẽ chả bị lôi thôi rắc rối gì với công ty cho thuê nhà.

- Nhưng Lisbeth, cậu đang đề nghị với tớ đấy ư? - Mimmi cười to. - Tớ đang không dùng đến căn hộ và tớ không muốn bán nó. - Ý nói tớ có thể ở đấy không mất tiền, hả cô gái? Cậu nghiêm đấy chứ?

- Nghiêm. - Lâu chừng nào? - Chừng nào tuỳ thích cậu. Cậu có thích không?

- Dĩ nhiên thích. Có phải ngày nào tớ cũng được tặng một căn hộ không mất tiền ở giữa Soder đâu cơ chứ. - Thế là dớ một món bở rồi đấy. - Tớ nghĩ thế.

- Cậu có thể sống ở đây bao lâu tuỳ thích, nhưng tớ vẫn phải đăng ký là chủ hộ và tớ vẫn nhận thư từ của tớ ở đấy. Cậu chỉ việc nhòm qua thư từ rồi cho tớ biết có cái gì thú vị không thôi. - Lisbeth, cậu là con bốc đồng nhất đấy. Cậu đến sống ở đâu chứ? - Chuyện ấy nói sau. - Salander nói.

Họ bằng lòng chiều hôm ấy sẽ gặp nhau để cho Mimmi có thể xem tận mắt căn hộ. Tâm trạng của Salander đã ổn hơn nhiều. Cô đi bộ xuống Handelsbanken trên đường Hornsgatan, lấy số chờ rồi đợi đến lượt mình. Cô đưa thẻ căn cước, nói rõ cô vừa ở nước ngoài một thời gian và nay muốn biết số tiền có trong tài khoản tiết kiệm cô gửi. Món tiền là 82.670 curon. Tài khoản nằm im trong một năm và mùa thu vừa rồi đã có 9.312 curon chuyển đến nó. Đây là di sản của mẹ cô. Salander rút ra 9.312 curon. Cô muốn tiêu chỗ này vào việc gì đó làm cho mẹ cô vui. Cô đi đến bưu điện ở Rosenlundsgatan, chuyển vô danh món tiền đó đến một trong những trung tâm khủng hoảng cho phụ nữ ở Stockholm.

Thứ Sáu, 8 giờ tối thì Berger tắt máy tính, vươn vai. Chị vừa qua chín tiếng trọn vẹn chữa xong cho số Millennium tháng Ba; từ khi Eriksson làm chuyên cho số có chủ đề của Svensson, chị phải tự mình làm lấy phần lớn chuyện xuất bản. Cortez và Karim có giúp nhưng họ vốn là người viết và nghiên cứu, không quen lắm với việc xuất bản. Cho nên chị mệt, đau lưng nhưng chị hài lòng về ngày hôm ấy cũng như về cuộc đời nói chung. Biểu đồ hạch toán cho thấy đúng hướng, các bài báo đến đúng giờ hoặc không muộn quá đến nỗi không xoay xở nổi, và nhân viên toà soạn thì vui vẻ. Sau hơn một năm, họ vẫn chưa hết cơn hăng máu từ vụ Wennerstrom. Sau khi cố xoa bóp cổ một lúc, Berger cả quyết cần phải tắm và nghĩ dùng vòi hoa sen trong buồng tắm cơ quan. Nhưng cảm thấy quá lười, chị lại ghếch chân lên bàn làm việc. Ba tháng nữa chị sẽ bốn mươi lăm, cái tương lai nổi tiếng chị hằng khao khát kia nó đang bắt đầu trở thành việc của quá khứ. Quanh mắt và miệng chị đã hiện lên cả một mạng vết nhăn nho nhỏ nhưng chị biết mình nom vẫn khả dĩ. Tập ở phòng tập thể dục một tuần hai lần nhưng chị nhận thấy trong các chuyến rong chơi du thuyền, chị leo cột buồm có khó khăn hơn. Mà chị lại luôn là người làm cái chuyện leo trèo - chồng chị bị chứng chóng mặt đáng sợ.

Berger nghĩ rằng bốn mươi lăm năm đầu của chị, mặc dù thăng trầm nhưng cũng vẫn là thành đạt. Chị có tiền, địa vị, một mái ấm đem lại cho chị niềm vui lớn. Chị có người chồng dịu dàng yêu chị và chị cũng vẫn phải lòng anh ấy sau mười lăm năm lấy nhau. Cạnh đó chị có một người tình vui tính và xem vẻ không thể hao cạn, người có thể không chỉ thoả mãn tâm hồn chị mà còn thoả mãn cả thân xác chị mỗi khi chị cần đến. Nghĩ đến Blomkvist chị mỉm cười. Chị tự hỏi khi nào anh thú nhận, khai với chị anh đã ngủ với Harriet Vanger. Cả hai người đều không hé ra một lời về quan hệ của họ nhưng Berger đâu có là con nít. Ở một cuộc họp ban lãnh đạo hồi tháng Tám, chị đã để ý thấy họ liếc nhau. Hoàn toàn do ương bướng, tối hôm ấy chị đã thử gọi vào di động của cả hai và cả hai đều tắt máy. Dĩ nhiên đó là bằng chứng rành rành, nhưng sau các cuộc họp lãnh đạo tiếp theo, vẫn luôn luôn không thể tìm thấy Blomkvist vào buổi tối. Cách Vanger rời đi sau bữa ăn tối với lý do trăm lần như một - cần đi nghỉ sớm - xem thấy gần như là khôi hài. Berger không tò mò mà cũng không ghen. Nhân một dịp thích hợp nào đó chắc chắn chị sẽ ghẹo cả hai. Chị không bao giờ dây vào chuyện của Blomkvist với những phụ nữ khác, nhưng chị mong chuyện với Vanger sẽ không khuấy lên vấn đề trong ban lãnh đạo. Nhưng chị không thực sự e ngại. Tất cả các mối quan hệ của Blomkvist đều đã chấm dứt ở đằng sau và anh vẫn cứ thân thiện với phần lớn các phụ nữ có dính líu.

Berger không thể tin mình lại sung sướng được là bạn và người tâm giao của Blomkvist. Ở một số mặt, anh là một tay ngố nhưng ở một số mặt khác anh lại quá sâu sắc đến mức có vẻ là một vị tiên tri. Nhưng anh không hiểu được tình yêu chị dành cho chồng, không bao giờ nắm được tại sao chị lại coi Greger Beckman là một người cuốn hút đến thế; một người nồng ấm, kích thích, hào hiệp và trên hết không có những nét mà chị quá ghét ở phần lớn cánh đàn ông. Beckman là người đàn ông chị muốn cùng về già với nhau. Chị đã muốn có con với anh nhưng rồi không thể và nay thì quá muộn. Nhưng trong chọn lựa đối tác của cuộc đời, chị không thể tưởng tượng ra ai lại tốt hơn hay ổn định hơn anh được - một người chị có thể tin cậy hoàn toàn, hết lòng, một người khi chị cần đến thì luôn vì chị mà có mặt. Blomkvist rất khác. Anh là một người đàn ông với những nét thay đổi, đôi khi ngỡ anh như người đa tính cách. Là người rất chuyên nghiệp, anh ngoan cường và gần như tập trung theo kiểu bệnh hoạn vào công việc đang ở trong tay. Anh nắm chắc lấy mẩu tin, bài báo, tự mở lối đi tới cái điểm mà ở đó ta tiếp cận sự hoàn hảo rồi anh chốt khoá lại tất cả các hệ lụy. Khi lên tay nhất, anh xuất sắc, khi xuống tay thì anh vẫn cứ hay hơn mức trung bình nhiều. Anh hình như có một năng khiếu gần như linh giác với việc quyết định bài báo nào đang còn chưa có khung cốt của nó, bài báo nào sẽ hoá ra một mẩu loàng xoàng, nhạt nhẽo. Làm việc với anh, chị không bao giờ ân hận. Chị cũng chưa bao giờ ân hận là đã yêu anh.

Người duy nhất hiểu nỗi đam mê tính dục của Berger với Blomkvist là chồng chị, anh hiểu vì chị dám bàn với anh về các nhu cầu của chị. Đây không phải là vấn đề chung thuỷ mà là ham muốn. Làm tình với Blomkvist cho chị một cú kích thích mà người khác, kể cả chồng chị, không thể đem lại được. Tính dục quan trọng với chị. Mất trinh năm mười bốn tuổi, chị đã bỏ phần lớn quãng tuổi mười mấy vào một cuộc tìm kiếm sự hoàn thiện vẹn toàn nhưng rồi thất vọng. Chị đã thử mọi thứ, từ mê mết các bạn cùng lớp và một vụ lòng thòng vụng về với một thầy giáo cho đến tính dục điện thoại và bái vật. Phần lớn những điều ở lĩnh vực chữ dâm từng khiến chị quan tâm thì chị đều đã trải qua. Chị đã đóng vai kẻ nô lệ phục tùng và đã là thành viên của Câu lạc bộ Xtreme, cái nơi từng bố trí những bữa dạ hội tiệc tùng thuộc vào loại mà xã hội không thể chấp nhận. Chị đã vài dịp thử làm tình với phụ nữ nhưng rồi thất vọng, chị thừa nhận chuyện đó đơn giản không phải là gu của chị và phụ nữ không thể kích thích nổi được chị dù chỉ trong một giây như một người đàn ông. Với Beckman chị đã khám phá tính dục với hai người đàn ông - một người là chủ sở hữu một gallery nổi tiếng - và chị phát hiện thấy cả hai mà chị cặp bồ đều có xu hướng lưỡng tính ái mạnh mẽ, còn bản thân chị thì gần như bị tê liệt đi vì khoái trá với cảm giác được hai người đàn ông cùng lúc vuốt ve và thoả mãn mình. Không phải vì đời sống tính dục của chị và chồng đáng ngán hay không thoả mãn mà chị cặp với Blomkvist. Chính là vì Blomkvist đem lại cho chị một thể nghiệm hoàn toàn khác.

Anh có tài. Khá đơn giản là anh quá tốt đến nỗi ngỡ như khi cần đến thì chị đã đạt được cân bằng tối ưu giữa Beckman chồng và Blomkvist người tình. Chị có thể không đạt tới cân bằng đó nếu như không có cả hai và chị thì không có ý chọn ai trong hai người. Chỗ này chồng chị hiểu, rằng nhu cầu của chị vượt khỏi những gì anh có thể đem lại cho chị, dù cả những khi anh biểu diễn nó dưới dạng những bài tập nhào lộn giàu trí tưởng tượng nhất trong bồn tắm phun nước. Về quan hệ với Blomkvist, điều mà Berger thích nhất là anh không có bất kỳ mong muốn nào kiểm soát chị. Anh không ghen tuy chị đã từng có vài cơn ghen khi họ mới bắt đầu lòng thòng với nhau hai mươi năm trước, chị đã phát hiện thấy trong trường hợp của anh thì không cần phải ghen. Quan hệ của họ dựa trên tình bạn mà về vấn đề tình bạn thì anh trung thực vô hạn độ. Nó là một mối quan hệ sống sót qua mọi kiểm nghiệm gay gắt nhất.

Nhưng chị phiền là rất nhiều chỗ quen biết của chị cứ xì xào về quan hệ của chị với Blomkvist, mà luôn ở sau lưng. Blomkvist là một người đàn ông. Anh có thể đi hết giường này đến giường kia mà chả ai nhíu lông mày. Chị là phụ nữ, và việc chị có một người tình, mà được chồng bằng lòng - cộng với việc trong suốt hai chục năm chị cũng đã thật lòng với người tình đã đưa tới những cuộc chuyện trò thú vị nhất ở các bữa ăn tối. Nghĩ một lúc chị nhấc điện thoại gọi chồng.

- Chào, anh yêu. Anh đang làm gì? - Viết. Beckman không chỉ là nghệ sĩ, trước hết anh là giáo sư lịch sử nghệ thuật và tác giả của mấy quyển sách. Anh thường tham gia thảo luận công cộng và làm cố vấn cho vài công ty kiến trúc lớn. Năm ngoái anh làm việc cho một quyển sách về trang trí nghệ thuật của các toà nhà lớn cùng với ảnh hưởng của nó, về tại sao ở trong vài toà nhà người ta lại phát đạt mà ở các toà nhà khác thì không. Quyển sách đã khơi mào và đi tới chỗ công kích chủ nghĩa chức năng, điều (Berger ngờ) sẽ gây ra tranh cãi dữ dội.

- Viết ra sao? - Tốt. Đang dào dạt. Em thế nào? - Em vừa xong số báo có chủ đề. Thứ Ba này nó đến nhà in.

- Tốt rồi. - Em đang rã rời đây. - Nghe như có cái ý gì ở trong đầu em.

- Anh có định cái gì tối nay không? Nếu em không về nhà thì anh có suy sụp ghê gớm không? - Chào Blomkvist hộ nha, bảo hắn rằng cái nghiệp của hắn là dụ người. - Beckman nói. - Anh ấy nghe thế lại thích đấy.

- OK. Rồi bảo hắn rằng em là một mụ phù thuỷ không sao thoả mãn được còn hắn thì sẽ già sớm. - Anh ấy biết thế rồi. - Nếu thế thì mọi sự với anh chỉ còn có nước tự sát. Anh sẽ tiếp tục viết cho tới khi thở hắt. Chúc vui vẻ.

Blomkvist đang ở chỗ Svensson và Johansson tại Enskede, kết thúc một cuộc thảo luận về vài chi tiết trong bản thảo của Svensson. Berger thầm hỏi liệu Blomkvist có bận tối nay hay anh có chiều cố xoa bóp cái lưng đau giần cho chị không đây. - Em có khoá đấy mà. - Anh nói. Tự vào nhà lấy đi. - Sẽ. Một giờ nữa hay hơn sẽ gặp anh.

Chị đi bộ mất mười phút đến Bellmansgatan. Chị cởi quần áo, tắm vòi hoa sen rồi pha cà phê espresso. Rồi chị nhoài lên giường trần truồng chờ đó, đầy háo hức. Nếu chị được làm bộ ba với chồng và Blomkvist thì đó chắc chắn sẽ là một ban thưởng tối ưu nhưng nó không bao giờ xảy ra. Blomkvist quá cổ điển đến mức chị đã trêu anh là mắc chứng sợ đồng tính. Anh không hề thú vị gì hết với cánh đàn ông. Rõ ràng ở cái thế gian này bạn không thể muốn gì là cũng có được. Hắn cau có giận dữ vì phải xoay xở với chiếc xe chạy mười lăm cây số một giờ dọc theo con đường rừng trong một tình trạng tồi tệ đến mức có lúc hắn nghĩ chắc hắn đã rẽ nhầm ở đâu. Cuối cùng vừa đúng lúc trời tối sầm xuống thì con đường rộng ra và hắn trông thấy một căn nhà gỗ nhỏ. Hắn dừng xe, tắt máy, nhìn quanh. Hắn có chừng năm chục mét phải đi bộ.

Hắn đang ở vùng Stallarholmen, không xa thị trấn Mariefred. Đây là một căn nhà gỗ đơn sơ 50 mét vuông ở giữa rừng. Qua một hàng cây hắn có thể nhìn thấy một dải băng trên mặt hồ Malaren. Hắn không thể tưởng tượng có người lúc nhàn rảnh lại đến sống ở một nơi heo hút như thế này. Lúc đóng cửa xe vào, thình lình hắn cảm thấy không yên tâm. Khu rừng có vẻ đe doạ tựa hồ chúng đang khép lại xung quanh hắn. Hắn có cảm giác bị dò xét. Hắn bắt đầu đi đến căn nhà nhỏ thì có tiếng cào loạt xoạt làm cho hắn đứng sững. Hắn nhìn chăm chú vào khu rừng. Nó âm u, lặng như tờ, im gió. Hắn đứng ở đó hai phút, thần kinh căng hết nấc báo động rồi thoáng nhanh ở khoé mắt hắn nhận ra một người đang di chuyển lặng lẽ, thong thả qua các thân cây. Khi hắn tập trung mắt nhìn, người này liền đứng bất động ngay tại trận ở trong rừng, cách hắn quãng ba chục mét và trừng trừng nhìn hắn.

Hắn sờ sợ mơ hồ. Hắn cố nhận rõ chi tiết. Hắn thấy một bộ mặt tối, xương xẩu. Nó có vẻ một người lùn, không cao hơn nửa tầm vóc hắn, mặc cái gì như một tấm áo dài làm bằng các cành thông và rêu. Một quái nhân rừng rú? Một con quỷ? Hắn nín thở. Hắn thấy tóc gáy dựng hết lên. Rồi hắn chớp mắt mấy cái và lắc lắc đầu. Khi hắn nhìn lại thì người kia đã chuyển sang bên phải chừng mười mét. Chả có ai ở đấy cả. Hắn biết hắn đang tưởng tượng ra các trò. Nhưng hắn vẫn phân biệt ra rất rõ con người ấy giữa các thân cây. Thình lình nó đi và tới gần hơn. Hình như nó đang lắc lư theo một hình cánh cung để bước vào vị trí tiến công hắn.

Gã khổng lồ vội hấp tấp đi đến căn nhà nhỏ. Hắn gõ cửa hơi mạnh. Nghe thấy tiếng người ở bên trong, cơn hoảng hốt của hắn liền lắng xuống. Hắn ngoái lại sau vai. Không có gì hết ở đấy. Nhưng hắn vẫn nín thở cho đến khi cửa mở ra. Bjurman lịch sự chào rồi mời hắn vào nhà. Leo trở lại gác sau khi kéo túi rác cuối cùng đựng của nả của Salander xuống buồng tái chế dưới tầng hầm, Miriam Wu thở hổn hển. Căn hộ sạch như bệnh viện, sực mùi xà phòng, sơn và cà phê Salander mới pha. Cô ngồi lên ghế đẩu tư lự nhìn các gian phòng trống không, các thứ rèm cửa, thảm, tem phiếu mua hạ giá trên tủ lạnh cùng món đồ cà tàng quen thuộc của cô ở trong gian sảnh đã tiêu tan như nhờ pháp thuật vậy. Cô ngạc nhiên thấy căn hộ có vẻ lớn rộng ra bao nhiêu.

Salander và Mimmi không có sở thích giống nhau về áo quần, đồ đạc hay kích thích trí tuệ. Nói đúng hơn: về cách cô muốn chỗ có sống nom nó ra sao, các kiểu đồ đạc cô muốn nó là gì và kiểu áo nào cô sẽ mặc thì Mimmi có sở thích và các quan niệm nhất định. Còn Salander chả có bất cứ sở thích gì, Mimmi nhận thấy vậy. Sau khi xem xét căn hộ ở Lundagatan kỹ càng như một nhân viên công ty bất động sản, hai người đã bàn bạc và Mimmi quyết định phần lớn các món là phải quăng đi. Đặc biệt chiếc sofa màu nâu đất trong phòng khách. Salander có muốn giữ lại một thứ gì đó không? Không. Rồi liền trong hai tuần Mimmi đã bỏ ra mấy ngày cũng như mỗi tối mấy giờ để quăng đi các thứ đồ đạc cũ, lau chùi tủ, cọ sàn nhà, tẩy bồn tắm và sơn lại tường bếp, phòng khách, gian sảnh. Cô cũng đánh xi lại sàn gỗ trong phòng khách. Salander không chú ý đến các nhiệm vụ như thế nhưng cô có đến vài lần xem Mimmi làm, như bị mê hoặc. Cuối cùng căn hộ trống trơ mọi thứ, trừ một bàn bếp bằng gỗ chắc chắn mà Mimmi có ý đánh bóng bằng cát và tân trang, hai ghế đẩu chắc chắn mà Salander vồ lấy khi người ta dọn quang một tầng thượng của toà nhà và một bộ giá đựng vững chãi trong phòng khách mà Mimmi nghĩ cô có thể sơn lại.

- Cuối tuần tớ dọn đến, trừ phi cậu đổi ý. - Tớ không cần căn hộ. - Nhưng căn hộ này to. Ý tớ là có những cái to hơn, tốt hơn nhưng cái này ở đúng giữa quận Soder và tiền thuê không là gì. Lisbeth, không bán nó, cậu để tuột mất một gia tài đấy.

- Tớ có đủ để qua ngày được. Mimmi im, không rõ nên hiểu ra sao việc Salander đột ngột bỏ căn hộ. - Bây giờ cậu sống ở đâu?

Salander không trả lời. - Đến thăm cậu được không? - Bây giờ thì không.

Salander mở túi khoác vai lấy ra vài tờ giấy đưa cho Mimmi. - Tớ đã sửa bản hợp đồng với công ty cho thuê nhà. Việc đơn giản nhất là cậu đăng ký vào đây là bạn cùng ở với tớ và nói tớ đã bán cho cậu một nửa căn hộ. Giá tiền là một curon. Cậu phải ký vào hợp đồng. Mimmi cầm bút ký, thêm ngày tháng năm sinh vào.

- Tất cả có thế? - Có thế. - Lisbeth, tớ luôn nghĩ cậu có tí quái dị. Cậu có thấy cậu vừa cho tớ cả một nửa căn hộ không? Tớ thích có căn hộ nhưng tớ không muốn cuối cùng rơi vào một tình thế là thình lình cậu tiếc căn hộ hay tớ đến thế này gây ra những cảm giác không hay giữa cậu và tớ.

- Sẽ không có cảm giác không hay nào hết. Tớ muốn cậu sống ở đây. Tớ thấy như thế là đúng. - Nhưng không có gì đổi lại à? Cậu chập mạch rồi. - Cậu trông nom hòm thư cho tớ. Đã thoả thuận như thế.

- Chuyện đó lấy mất của tớ bình quân mỗi tuần vài ba giây. Cậu có định mỗi tuần đến làm tình một lúc không? Salander đăm đăm nhìn Mimmi. Cô im lặng một lúc. - Tớ rất thích thế nhưng điều này không nằm trong hợp đồng. Lúc nào không thích cậu cứ việc nói không.

Mimmi thở dài. - Và tớ đây vừa bắt đầu hưởng thụ việc làm một phụ nữ được giữ làm của riêng. Cậu biết đấy, có ai đó cho tớ một căn hộ, lại trả tiền thuê, rồi thỉnh thoảng còn đến vật nhau khắp quanh giường. Họ ngồi im lặng một lúc. Rồi Mimmi dứt khoát đứng lên đi vào phòng khách tháo cái bóng đèn trần trụi ở trên trần ra.

- Vào đây. Salander làm theo. - Tớ chưa làm tình trên sàn một căn hộ mới sơn và không có mẩu đồ đạc nào bao giờ. Tớ đã xem một phim có Marlon Brando đóng nói về một cặp ở Paris đã làm như thế.

Salander liếc sàn nhà. - Tớ cảm thấy như là đùa. Cậu có sẵn sàng làm chuyện đó không? - Mimmi nói. - Tớ gần như là luôn luôn sẵn sàng.

- Tối nay tớ nghĩ tớ sẽ là một đứa thống trị. Tớ phải ra quyết định. Nào, cởi quần áo ra. Salander cười vờ ngượng. Cô cởi quần áo. Mất ít nhất mười tích tắc. - Nằm xuống sàn cơ. Nằm sấp.

Salander làm theo lệnh Mimmi. Sàn gỗ lạnh, da cô lập tức sởn hết gai ốc lên. Mimmi lấy chiếc áo phông có khẩu hiệu Bạn có quyền giữ im lặng của cô trói hai tay cô lại đằng sau. Salander không thể không nghĩ cách này giống như cách Nils Bjurman Dòi bọ Đểu giả đã trói cô hai năm trước. Chỗ giống chấm hết ở đây.

Với Mimmi, Salander chỉ cảm thấy những ý nghĩ dâm đãng. Cô ngoan ngoãn để cho Mimmi lăn cô nằm ngửa lại và giạng chân cô ra. Salander nhìn Mimmi trong gian phòng mờ tối khi cô kéo chiếc áo phông của cô qua đầu, mê hoặc trước bộ vú mềm mịn của cô. Rồi Mimmi buộc áo phông của cô lên mắt Salander. Cô có thể nghe thấy tiếng vải sột soạt. Vài giây sau cô cảm thấy lưỡi của Mimmi ở trên bụng mình và các ngón tay của Mimmi ở trên má trong của đùi mình. Cô bị kích thích nhiều hơn lần bị kích thích trước đây một thời gian dài. Cô nhắm chặt mắt đang bị bịt kín lại rồi để cho Mimmi dắt đi. CHƯƠNG 8 Thứ Hai, 14 tháng Hai

Thứ Bảy, 19 tháng Hai Nghe tiếng gõ nhè nhẹ vào thành cửa, Armansky ngước trông lên và thấy Salander ở trước cửa. Cô đang giữ cho khỏi đổ hai tách cà phê lấy ở máy pha espresso. Ông đặt bút xuống, đẩy bản báo cáo ra. - Chào. - Cô nói.

- Chào. - Đây là một thăm viếng xã hội. - Cô nói. - Tôi vào được không? Một thoáng nhanh Armansky nhắm mắt lại. Rồi ông chỉ vào chiếc ghế dành cho khách.

Ông liếc đồng hồ. 6 rưỡi tối. Salander đưa ông một tách cà phê rồi ngồi xuống. Hai người thăm dò nhau một lúc. - Hơn một năm rồi. - Armansky nói. Salander gật.

- Ông có cáu không? - Tôi nên cáu ư? - Tôi đã không chào từ biệt.

Armansky dẩu môi ra. Ông bị sốc nhưng đồng thời cũng lại nhẹ người thấy ít ra Salander đã không chết. Ông thình lình cảm thấy rất giận và mệt. - Tôi không biết nói thế nào. - Ông nói. - Cô không có phận sự phải bảo tôi là cô đang làm gì đâu. Cô muốn gì đây? Giọng ông lạnh hơn là ý định của ông.

- Tôi không rõ. Tôi đến chính là để chào. - Cô có cần công việc không? Tôi sẽ không mướn cô nữa. Cô lắc đầu.

- Cô có đang làm ở đâu khác không? Cô lại lắc. Có vẻ cô đang cố diễn ra thành lời. Armansky chờ. - Tôi đi du lịch. - Cuối cùng cô nói. - Tôi mới trở về thôi.

Armansky xem xét cô. Cô đã thay đổi. Có một kiểu mới mới về... trưởng thành trong cách chọn quần áo và phong thái. Và cô độn ngực bằng cái gì đó. - Cô đã thay đổi. Cô đã ở đâu? - Đây đó... - Cô nói nhưng thấy ông chán nản thì cô nói thêm. - Tôi đi Ý rồi đi tiếp đến Trung Đông, Hồng Kông, qua Bangkok. Tôi đã ở Úc một dạo và New Zealand, và tôi nhảy cóc giữa các hòn đảo để qua Thái Bình Dương. Tôi ở Tahiti một tháng. Rồi đi xuyên nước Mỹ rồi qua mấy tháng sau cùng ở Caribbean. Tôi không biết tại sao tôi lại không chào từ biệt.

- Tôi bảo cô tại sao nhé: vì cô không có coi ai ra cái cóc khô gì cả. - Armansky nói, thản nhiên như không. Salander cắn môi dưới. - Thường thì là người khác không coi tôi ra cái cứt gì.

- Nhảm. - Armansky nói. - Cô có vấn đề về thái độ, cô đối xử với người như cứt khi họ cố làm bạn với cô. Đơn giản thế thôi. Im lặng. - Ông có muốn tôi đi không?

- Thích sao cô cứ việc làm thế. Cô vẫn thế mà. Nhưng nếu cô đi thì tôi sẽ không bao giờ muốn gặp cô nữa đâu. Salander thình lình sợ. Người mà cô kính trọng đang quẳng cô đi. Cô không biết nói sao. - Holger Palmgren bị đột quỵ đến nay là hai năm rồi. Cô đã thăm ông ấy lần nào chưa? - Armansky nói gay gắt.

Salander choáng nhìn Armansky. - Ông ấy còn sống? - Ông ấy sống hay chết cô cũng chả biết.

- Các bác sĩ nói ông ấy... - Các bác sĩ nói về ông ấy nhiều. - Armansky cắt lời cô. - Tình trạng ông ấy rất xấu, không giao lưu tiếp xúc được với ai. Nhưng từ năm ngoái ông ấy đã phục hồi được chút ít. Nói vẫn không rõ, phải chú ý nghe cô mới hiểu là nói gì. Ông ấy cần giúp đỡ nhiều thứ nhưng đã có thể vào buồng tắm một mình. Những người quan tâm đến Palmgren vẫn đến ngồi chơi với ông ấy. Salander ngồi chết điếng đi ở đó.

Hai năm trước, cô là người đầu tiên tìm thấy Holger sau khi ông bị đột quỵ. Cô đã gọi xe cứu thương, các bác sĩ đã lắc đầu nói kết quả hội chẩn không mấy khả quan. Tuần đầu tiên cô đã ở bệnh viện cho tới khi một bác sĩ nói Palmgren đang bị hôn mê và có vẻ như cầm chắc không qua khỏi. Cô đứng lên đi khỏi bệnh viện, không ngoái lại. Và đúng là không kiểm tra xem rồi đã xảy ra chuyện gì. Cô cau mày. Cùng thời gian ấy hồ sơ giấy tờ của cô bị Nils Bjurman gian lận, hắn đã làm cô phải chú ý nhiều đến việc đó. Nhưng không ai, ngay cả Armansky, bảo cô Palmgren còn sống hay ông đang khá dần lên. Cô không nghĩ đến khả năng ấy bao giờ. Mắt cô đầy nước mắt. Trong đời cô chưa bao giờ cảm thấy mình xấu xa ích kỷ như thế. Cũng chưa bao giờ bị chỉ trích dữ dội như thế. Cô gục đầu xuống.

Họ im lặng rồi Armansky nói: - Cô đang làm gì? Salander nhún vai.

- Cô sinh sống thế nào? Cô có việc làm không? - Không, tôi không có. Mà tôi cũng không biết mình muốn việc gì. Nhưng tôi đã có một khoản tiền do đó hiện đang sống được. Armansky nhìn cô soi xét.

- Tôi chỉ xẹt qua chào… Tôi không đi tìm việc... có thể tôi sẽ làm cho ông nếu ông cần đến nhưng phải là việc tôi thích. - Tôi không cho là cô muốn nói với tôi những chuyện xảy ra ở Hedestad năm ngoái. Salander không đáp.

- Được, đã xảy ra một chuyện. Sau khi cô quay về đây mượn bộ thiết bị kiểm soát và ai đó đe doạ cô thì Martin Vanger lái xe đâm vào xe tải. Rồi do người anh chết mà em gái người chết trở về. Giật gân đấy chứ, đấy là nói sơ sơ thôi. - Tôi đã hứa là không nói đến chuyện đó. - Và cô cũng không muốn nói với tôi cô đã đóng vai trò gì cả ở trong vụ Wennerstrom.

- Tôi giúp Blomkvist điều tra. - Giọng cô thình lình lạnh ra. - Tất cả có như thế. Tôi đã không muốn liên quan đến. - Blomkvist sằng sặc lên tìm cô. Mỗi tháng một lần lại gọi tôi hỏi có biết tin gì của cô không. Salander vẫn im lặng, nhưng Armansky nhìn thấy hai môi cô mím chặt lại.

- Tôi không thể nói là tôi mến anh ta. - Armansky nói. - Nhưng anh ta cũng quan tâm đến cô. Tôi gặp anh ta một lần mùa thu năm ngoái. Anh ta cũng không muốn nói đến Hedestad. Salander không muốn bàn đến Blomkvist. - Tôi chỉ là đến chào và bảo ông là tôi đã trở về. Tôi không biết liệu tôi rồi sẽ có ở lại không. Đây là số di động và địa chỉ email mới của tôi phòng khi ông cần tìm.

Cô đưa cho Armansky một tờ giấy và đứng lên. Cô đã ra đến cửa thì ông gọi giật: - Chờ chút. Cô sẽ làm gì bây giờ? - Tôi đi chào Holger Palmgren.

- OK. Nhưng ý tôi là cô sẽ làm việc gì? - Tôi không biết. - Nhưng cô phải có sinh kế.

- Tôi đã nói là tôi có đủ để sống. Armansky ngả vào lưng ghế. Ông không dám chắc là đã hiểu ý cô. - Tôi đã giận điên lên vì cô biến đi không một lời, giận đến nỗi gần như quyết định là không bao giờ tin cô nữa. - Ông làm bộ khó chịu. Rất không thể dựa được vào cô. Nhưng cô là một điều tra viên giỏi, chết thế. Sắp tới tôi có một việc có thể là thích hợp với cô.

Cô lắc đầu nhưng trở lại bàn ông. - Tôi không muốn việc của ông. Ý là tôi không cần việc làm. Tôi nói nghiêm chỉnh, tôi đã độc lập về tài chính. Armansky cau mày.

- OK, cô độc lập về tài chính, thì hiểu như thế nào cũng được. Tôi tin cô ở chuyện này. Nhưng khi nào cô cần việc... - Dragan, từ khi tôi trở về, ông là người thứ hai tôi đến thăm. Tôi không cần việc của ông. Nhưng mấy năm qua cho đến nay, ông là một trong số ít người tôi kính trọng. - Ai cũng phải làm một cái gì để sống.

- Xin lỗi nhưng tôi không còn thích làm những việc điều tra đời tư nữa. Xin cho biết có phải ông đã nhào vô một vấn đề thật sự thú vị rồi đấy chứ. - Vấn đề kiểu gì? - Kiểu mà ông không phân biệt được là đầu hay là đuôi. Tuy ông đã bị kẹt và không biết làm thế nào. Tới đây nếu tôi có việc của tôi cho ông, ông sẽ phải đảm đương một món đặc biệt. Có thể ở phương diện tác chiến.

- Phương diện tác chiến? Cô? Nhưng cô thích biến lúc nào là cô biến mất tăm cơ mà. - Việc nào tôi bằng lòng làm là tôi không có bỏ. Armansky bất lực nhìn cô. Chữ “phương diện tác chiến” là tiếng lóng, có nghĩa là công việc dã ngoại. Nó có thể là bất cứ thứ gì, từ vệ sĩ đến bảo vệ cho các triển lãm nghệ thuật. Nhân viên tác chiến là dân thâm niên, tin cậy, vững vàng, nhiều người trong họ từng làm cảnh sát và 90 phần trăm họ là đàn ông. Salander là đối cực với tiêu chuẩn mà ông đặt ra cho nhân sự thuộc các đơn vị tác chiến của An ninh Milton.

- Được... - Ông nghi ngờ nói. - Nhưng cô đã biến mất tăm đi ở đâu ấy. - Armansky lắc đầu. Cô bé này kỳ dị. Kỳ dị mà nghiêm túc. Nhưng nhoáng một cái Salander đã trở lại ở ngoài cửa. - À, nhân dịp... Ông cho hai người bỏ cả tháng ra bảo vệ diễn viên Christine Rutherford khỏi bị cái tên óc bã đậu viết thư đe doạ. Ông nghĩ đây là một vụ nội bộ vì kẻ viết thư biết rất nhiều chi tiết về chị ấy.

Armansky nhìn trừng trừng Salander. Ông như bị điện giật. Con bé lại làm chuyện này rồi. Một vụ cô tuyệt đối không thể biết một tí gì thế mà cô vừa lia ra một khía cạnh của nó. - Vậy...? - Giả mạo. Nữ nghệ sĩ và bạn trai viết các thư này để chơi trò giật gân quảng cáo cho mình. Vài ngày nữa, chị ấy lại sẽ nhận được một thư khác rồi tuần sau hai người sẽ xì nó ra cho giới thông tin đại chúng. Họ chắc sẽ lên án An ninh Milton để lộ chuyện. Xoá ngay bây giờ tên chị ấy ở danh sách khách hàng của ông đi.

Armansky chưa kịp nói gì cô đã đi. Ông nhìn trừng trừng khung cửa trống. Cô không có cách nào biết được bất cứ chi tiết nào của vụ này mà. Chắc phải có tay trong ở An ninh Milton giúp cô cập nhật. Nhưng ngoài ông ra, chỉ có bốn năm người biết chuyện - nhóm trưởng nhóm tác chiến và một ít người tố cáo các đe doạ... họ đều là dân chuyên môn vững vàng hết cả. Armansky cọ cọ cằm. Ông nhìn xuống bàn làm việc. Hồ sơ Rutherford khoá ở trong này. Văn phòng có bọ báo động đột nhập. Ông lại liếc đồng hồ và biết Harry Fransson, trưởng phòng kỹ thuật chắc đã xong công việc. Ông viết email rồi gửi đi yêu cầu Fransson sáng mai đến văn phòng ông đặt một camera theo dõi. Salander đi bộ về thẳng nhà ở Mosebacke. Cô bước gấp vì cảm thấy cấp bách.

Cô gọi bệnh viện ở Soder rồi sau vài chặng nối tiếp của tổng đài thì đã lần tìm ra được tình hình đầu đuôi về Holger. Trong mười bốn tháng qua, ông sống ở một nhà phục hồi chức năng tại Ersta. Thình lình cô thấy lại hết khung cảnh Appelviken. Khi cô gọi, người ta bảo ông đang ngủ nhưng ngày mai cô có thể thoải mái đến thăm. Cả tối ấy Salander cứ đi đi lại lại trong nhà. Cô đang trong tâm trạng bần thần lơ ma lơ mơ. Cô đi ngủ sớm và ngủ ngay. Dậy lúc 7 giờ, tắm, ăn điểm tâm ở cửa hàng 7-Eleven. Tám giờ, cô đi bộ đến hãng cho thuê xe hơi Ringvagen. Mình phải có một chiếc xe. Cô lại thuê chiếc Nissan Micra mà cô đã lái đến Appelviken vài tuần trước. Cô bồn chồn không thể giải thích được khi đỗ xe gần nhà phục hồi chức năng, nhưng lấy hết can đảm cô đi vào bàn tiếp khách.

Người phụ nữ ở đây xem giấy tờ của cô, nói hiện nay Holger Palmgren đang trị liệu ở phòng thể dục, phải sau 11 giờ mới gặp được. Cô ra xe ngồi, hút ba điếu thuốc chờ. 11 giờ, cô lại vào bàn giấy đón tiếp khách. Người ta bảo cô vào phòng ăn, xuôi đến cuối hành lang, ở bên phải rồi sang trái. Cô dừng lại ở cửa vào nhà ăn, nhận ra Palmgren trong nhà ăn trống vắng. Ông ngồi quay mặt vào Salander nhưng tập trung hết chú ý vào đĩa của mình. Ông lóng ngóng nắm dĩa, rất chăm chú lái đưa thức ăn vào miệng. Ông bị lỡ trớn và thức ăn rớt khỏi dĩa, phải đến ba bốn lần mới ăn được. Ông nom xọp đi, có thể như đã già trăm tuổi. Mặt ông hình như bất động lạ lùng. Ông ngồi trong xe lăn. Chỉ lúc ấy Salander mới nhận rằng ông còn sống, rằng Armansky không trừng phạt cô.

Palmgren thầm chửi thề khi ông cố xiên dĩa vào miếng pho mát trộn mì macaroni lần thứ ba. Ông nhẫn chịu việc không thể đi lại bình thường, chấp nhận rằng có nhiều thứ ông không thể làm được. Nhưng ông ghét việc không thể ăn bình thường, ghét cái việc nhiều khi ông cứ rỏ dớt rỏ dãi ra như một đứa bé. Ông biết rõ ông nên làm như thế nào: hạ thấp dĩa xuống đúng góc độ, đẩy nó về trước, nhấc nó lên và hướng vào miệng, vấn đề là ở chỗ phối hợp. Bàn tay ông có sự sống riêng của nó. Khi ông chỉ thị nhấc lên, nó lại từ từ trượt sang rìa đĩa. Nếu ông cố lái nó vào miệng thì vào lúc cuối cùng nó lại thay đổi hướng mà hạ cánh xuống má hay cằm ông. Nhưng phục hồi đang đem lại kết quả. Sáu tháng trước, tay ông run đến mức ông không thể cho nổi chỉ một thìa thức ăn vào miệng. Các bữa ăn của ông vẫn mất nhiều thời gian nhưng ít nhất ông cũng đã tự ăn lấy và ông đang tiếp tục như vậy cho tới khi một lần nữa ông lại kiểm soát được đầy đủ tứ chi. Trong khi ông hạ dĩa xuống để vun một miếng mì nữa thì ở sau lưng ông, một bàn tay nhẹ nhàng cầm lấy nó. Ông nhìn chiếc dĩa xúc một ít macaroni pho mát rồi nâng lên. Nghĩ mình đã biết cái bàn tay mảnh mai như của búp bê này, ông quay lại và gặp mắt Salander. Con mắt trông chờ của cô nhìn ông. Cô có vẻ lo lắng.

Palmgren nhìn chằm chằm mặt Salander hồi lâu. Thình lình không sao hiểu nổi tim ông đập mạnh lên. Rồi ông há miệng nhận thức ăn. Cô cho ông ăn từng dĩa mỗi lần. Thông thường Palmgren ghét bị xúc cho ăn nhưng ông hiểu Salander cần làm thế. Đây không phải vì ông là một món hành trang bất lực. Cô đang cho ông ăn với cử chỉ của kẻ dưới kém mọn - điều cực kỳ hiếm khi xảy ra ở cô. Cô để miếng ăn vừa phải lên dĩa, chờ ông nhai xong. Khi ông chỉ vào cốc sữa có ống hút, cô cầm lên để ông uống. Khi ông nuốt xong miếng cuối cùng, cô đặt dĩa xuống, nhìn ông có ý hỏi. Ông lắc đầu. Trong cả bữa ăn, hai người không nói với nhau lời nào.

Palmgren ngả người vào xe lăn, thở một hơi dài. Salander nhặt khăn ăn lên lau miệng ông. Ông cảm thấy mình giống ông trùm mafia trong một bộ phim xưa của Mỹ, trong đó một capo di tutti capi, một thuộc hạ đang tỏ lòng cung kính bề trên. Ông tưởng tượng cô sẽ hôn tay ông như thế nào rồi mỉm cười với cái điều huyễn hoặc dớ dẩn ấy. - Theo ông, có thể uống cà phê ở đây được không? - Cô nói. Ông nói líu ríu. Môi và lưỡi ông không tạo nên được hình thù cho âm thanh.

- Ba phụ u ơ gót. Bàn phục vụ ở góc kia, cô đoán được ra. - Ông uống không? Sữa, không đường, như thường lệ chứ?

Ông ra hiệu tay rằng có. Cô đem khay của ông đi rồi một phút sau quay lại với hai tách cà phê. Ông để ý thấy cô uống đen, khác trước. Ông cười khi thấy cô dành lại cái ống hút sữa để ông dùng uống cà phê. Palmgren có cả hàng nghìn điều muốn nói nhưng ông không phát ra được một âm tiết đơn giản nào. Nhưng mắt hai người chốc chốc lại gặp nhau. Salander nom vẻ đã phạm lỗi ghê gớm. Cuối cùng cô bật ra. - Tôi nghĩ ông chết rồi. Nếu biết ông còn sống tôi sẽ không bao giờ... tôi đã đến thăm từ lâu rồi. Ông tha lỗi cho. Ông cúi đầu xuống. Mỉm cười, chỉ là môi lượn một nét.

- Tôi đi lúc ông đang hôn mê và các bác sĩ bảo tôi ông sắp chết. Họ nói ông sẽ chết trong vài ba ngày và thế là tôi đi. Tôi rất ân hận. Ông nhấc tay đặt lên bàn tay nhỏ nhắn đang nắm lại của cô. Cô bóp mạnh tay ông. - Cu biết.

Cô biến mất. - Dragan Armansky bảo ông ư? Ông gật.

- Tôi du lịch xa. Tôi cần ra đi. Tôi không chào từ biệt ai, cứ là bỏ đi thôi. Ông có lo phiền không? Ông lắc đầu từ trái sang phải, thong thả mấy cái. - Ông không bao giờ phải lo phiền về tôi.

- Tu khôn su vi cu. Cu ba giơ cung qua. Nhun Armshi lu. Tôi không bao giờ lo về cô. Cô bao giờ cũng qua được. Nhưng Armansky lo. Cô lại mỉm cười, nụ cười khó hiểu quen thuộc mà cô vẫn cười với ông, và Palmgren nhẹ người. Ông xem xét cô, so sánh trí nhớ của ông về cô với người phụ nữ đang ở trước mặt ông đây. Cô đã thay đổi. Cô đầy đặn, sạch gọn và ăn mặc khá đẹp. Cô đã bỏ chiếc khoen ở môi đi... hừm... con vò vẽ xăm trên cổ cũng không còn. Cô nom lớn khôn hơn. Ông cười thành tiếng lần đầu tiên trong nhiều tuần qua. Tiếng cười nghe như một cơn ho.

Nụ cười của Salander nở rộng hơn và cô thình lình thấy một luồng nóng ấm tràn dâng lên trong tim mình, điều lâu lắm cô mới lại thấy. - Cu su đư la tút. Cô đã sống được tốt. Ông chỉ tay vào quần áo cô. Cô gật.

- Tôi đang sống tốt. - Ngư giá hu mưi nao... Người giám hộ mới thế nào?

Palmgren để ý thấy mặt Salander sầm tối. Môi mím lại. Cô ngay thẳng nhìn ông. - Ông ấy OK... Tôi có thể nắm được ông ấy. Palmgren nhếch lông mày hỏi. Salander nhìn quanh phòng ăn rồi đổi hướng câu chuyện.

- Ông ở đây đã bao lâu rồi? Palmgren tuy đã bị đột quỵ, ăn nói cũng như vận động còn khó khăn nhưng đầu óc ông vẫn nguyên vẹn, rađa của ông lập tức nhặt ra được một âm sắc giả tạo trong tiếng nói của Salander. Trong từng ấy năm biết cô, ông đã đi tới chỗ nhận ra là cô không bao giờ nói dối thẳng thừng với ông nhưng cô cũng không phải là hoàn toàn hồn nhiên. Cô không nói với ông sự thật, cái kiểu cốt để cho ông sao lãng chú ý đi. Rõ ràng là đã có vài ba vấn đề nào đó với người giám hộ mới của cô. Palmgren chả ngạc nhiên vì chuyện này. Ông cảm thấy hối hận sâu sắc. Đã bao nhiêu lần ông toan gọi người đồng nghiệp Nils Bjurman - dẫu sao cũng là luật sư nếu như không phải là bạn - để hỏi Salander sống ra sao nhưng lại lơ là mất? Và tại sao ông không phản đối việc tuyên bố cô bất lực, không tự cai quản được mình trong khi ông vẫn còn quyền ở trong tay? Ông biết tại sao - do ích kỷ ông đã muốn giữ liên hệ với cô lúc còn sống. Ông yêu đứa con gái khó tính khó nết đến phát ghét lên này như đứa con mà ông chưa bao giờ có và ông muốn có một lý do để duy trì quan hệ. Ngoài ra, về mặt sinh thể cũng quá khó khăn. Khi ông chập chững vào phòng tắm, chỉ việc mở khoá quần ra thôi ông cũng đã đủ thấy rầy rà. Ông cảm thấy tựa như mình đã bỏ rơi Salander. Nhưng cô ấy vẫn sẽ luôn luôn sống sót… Cô ấy là người có bản lĩnh nhất mà tôi đã gặp.

- Tá án quê. - Tôi không hiểu. - Tò á qu...ân.

- Toà án quận? Ông muốn nói sao? - Đá bó tuy bố cu khu trớ thà... Mặt Palmgren đỏ gay lên, ông nhăn mặt lại khi không nói được ra lời. Salander để tay lên cánh tay ông khẽ bóp.

- Holger ... đừng lo cho tôi. Tôi sẽ có kế hoạch sớm lấy được bản tuyên bố không tự cai quản được bản thân. Ông không phải lo chuyện ấy nữa, nhưng cuối cùng tôi cũng cần ông giúp đỡ đấy. OK chứ? Nếu tôi cần thì ông có làm luật sư cho tôi không? Ông lắc đầu. - Gia qua. - Ông gõ khuỷu ngón tay vào tay xe lăn. - Ông gia khôn nàn.

- Đúng, cứ như thế này thì ông đúng là một ông già cù lần. Tôi cần một cố vấn pháp lý và tôi muốn ông. Ông có thể không nói được ở toà nhưng ông có thể cho tôi lời khuyên lúc cần. Ông làm chứ? Ông lại lắc đầu nhưng rồi gật. - La gờ?

- Tôi không hiểu. - Cu đan lam gi? Không Armshy. Cô đang làm việc gì? Không phải Armansky.

Salander ngập ngừng trong khi nghĩ cách giải thích thế nào về tình hình của cô. Nó phức tạp. - Tôi không làm việc với Armansky nữa. Tôi không cần làm việc với ông ấy để kiếm sống. Tôi có tiền của tôi và tôi sống ổn. Lông mày Palmgren lại nhíu sát như đan vào nhau.

- Tôi sẽ đến thăm ông nhiều, bắt đầu từ hôm nay. Tôi sẽ nói với ông hết về... nhưng chúng ta đừng nên căng thẳng vì các thứ. Ngay bây giờ tôi có một việc khác muốn làm. Cô cúi xuống nhắc một cái túi lên bàn, lấy ra một bàn cờ. - Suốt hai năm vừa rồi tôi không có cơ hội chiếu bí ông.

Ông chịu. Cô đã phạm phải vài lỗi lầm nào đó mà cô không muốn nói đến. Ông khá chắc chắn rằng ông đã có những bảo lưu nghiêm khắc với cô nhưng ông vẫn đủ tin cô để biết là cô có gan làm bất cứ điều gì khả nghi trong con mắt pháp luật nhưng làm một tội ác chống lại pháp luật của Chúa thì không. Không giống như phần đông người khác biết cô, Palmgren tin rằng Salander là một người có luân lý đạo đức. Vấn đề là quan niệm đạo đức của cô không luôn luôn khớp với quan niệm đạo đức của hệ thống pháp lý. Cô bày các quân cờ và ông giật mình nhận ra bàn cờ của mình. Cô bé chắc đã nẫng nó đi sau khi ông bị bệnh. Như một vật lưu niệm. Cô cho ông quân trắng. Bất ngờ ông vui như một đứa trẻ. Salander ở lại với Palmgren hai giờ đồng hồ. Cô đánh với ông ba ván siêu liêu, cho tới khi một nữ y tá đến cắt đứt cuộc giành giật hơn thua của họ trên bàn cờ, báo rằng đã đến giờ ông đi điều trị vật lý buổi chiều. Salander thu dọn quân cờ và gấp bàn cờ lại.

- Chị có thể cho biết ông ấy đang điều trị vật lý kiểu gì được không ạ? - Đây là tập luyện về sức lực và phối hợp. Chúng tôi đang tiến bộ đấy, có tiến bộ chứ, đúng không? Palmgren gật đầu dứt khoát.

- Ông đã đi được vài bước. Hè này ông sẽ đi được một mình ở trong vườn hoa. Đây là con gái ông à? Palmgren và Salander nhìn nhau. - Co đớ đâu.

Con đỡ đầu. - Chị đến thăm hay quá! Cả thời gian qua cái đồ quỷ nhà chị ở đâu vậy chứ?

Salander lờ đi cái ngụ ý không thể hiểu lầm này. Cô cúi xuống hôn lên má Palmgren. - Thứ Sáu này tôi lại đến. Palmgren kỳ khu cố đứng lên khỏi xe lăn. Cô đi với ông ra thang máy. Cửa thang máy vừa đóng, cô đi xuống bàn tiếp tân đề nghị được nói chuyện với bất cứ ai chịu trách nhiệm về người bệnh. Cô được chuyển tới bác sĩ A. Sivarmandan, cô tìm thấy ông ở một văn phòng gần cuối hành lang. Cô tự giới thiệu, nói mình là con gái đỡ đầu của Palmgren.

- Tôi muốn biết ông ấy nay thế nào và điều gì sẽ đến với ông ấy. Bác sĩ Sivarnandan xem hồ sơ y bạ của Palmgren, đọc những trang giới thiệu. Mặt ông bị rỗ hoa vì đậu mùa và ông có một bộ ria mà Salander nom thấy dớ dẩn. Cuối cùng ông ngước lên. Cô ngạc nhiên thấy ông nói giọng Phần Lan. - Tôi không thấy giấy tờ nói ông Palmgren có con gái hay con gái đỡ đầu. Thực tế thì thân nhân gần nhất của ông ấy hình như là một anh em họ 86 tuổi sống ở Jamtland.

- Ông ấy chăm sóc tôi từ khi tôi mười ba, cho tới khi ông ấy bị đột quỵ. Lúc ấy tôi hai mươi tư tuổi. Cô thục tay vào túi trong jacket, vứt một cây bút lên trên bàn làm việc trước mặt bác sĩ. - Tôi tên là Lisbeth Salander. Ông viết tên tôi vào hồ sơ y bạ này. Trên thế giới, quan hệ gần gũi nhất mà ông ấy có là tôi.

- Cái ấy có thể. - Bác sĩ Sivarnandan đáp lại dứt khoát. - Nhưng nếu cô là quan hệ gần gũi nhất thì rõ là cô đã để cho chúng tôi biết quá muộn. Như tôi biết, ông ấy chỉ có một người đến thăm vài lần, người này tuy không dính dáng đến ông ấy nhưng đã được ghi tên để phòng lúc tình trạng sức khoẻ của ông ấy xấu đi hay nếu ông ấy lìa trần. - Chắc là Dragan Annansky. Bác sĩ nhếch lông mày.

- Đúng đấy. Cô biết ông ấy? - Ông có thể gọi ông ấy kiểm tra xem tôi là ai. - Không cần thiết. Tôi tin cô. Tôi nghe nói cô ngồi đánh cờ với ông Palmgren suốt trong hai giờ. Nhưng không có phép của ông ấy, tôi không được nói tình trạng sức khoẻ của ông ấy với cô.

- Và ông sẽ không bao giờ có được cái phép ấy của lão quỷ ngang bướng này đâu. Ông xem, ông ấy đau khổ vì nghĩ nhắng rằng ông ấy không nên để cho tôi bị nặng gánh vì các khó khăn của ông ấy, rằng ông ấy vẫn chịu trách nhiệm cho tôi. Chuyện là thế này: hai năm qua tôi nghĩ ông ấy đã chết. Hôm qua tôi phát hiện ông ấy còn sống. Nếu tôi biết ông ấy... cái này giải thích lòng thòng đây, nhưng tôi muốn biết ông ấy được chẩn đoán ra sao và liệu ông ấy có phục hồi được không. Bác sĩ Sivarnandan cầm bút lên viết rõ ràng tên Salander vào hồ sơ y bạ Palmgren. Ông hỏi cô số bảo hiểm xã hội và số điện thoại. - OK, nay đã chính thức đăng ký cô là con gái ông ấy đỡ đầu. Điều này có thể không đúng hẳn như sổ sách nhưng xét đến việc cô là người đầu tiên thăm ông ấy từ lễ Giáng sinh, lúc ấy ông Armansky có tạt qua... Hôm nay cô đã gặp ông ấy, cô tự thấy được là ông ấy có vấn đề về phối hợp động tác và nói. Ông ấy đã bị một trận đột quỵ mà.

- Tôi biết. Tôi là người đã tìm thấy ông ấy và gọi cấp cứu. - A ha, thế thì chắc cô biết ông ấy đã phải nằm ba tháng ở chỗ cấp cứu khẩn cấp. Ông ấy hôn mê lâu. Nhiều bệnh nhân bị hôn mê như thế không thể tỉnh lại nhưng ông ấy thì không thế. Rõ ràng là ông ấy chưa chuẩn bị chết. Đầu tiên ông ấy được đưa đến phòng bệnh nhân mất trí, những người không hoàn toàn không có khả năng tự trông nom mình. Hết sức lạ lùng là ông ấy cho thấy các dấu hiệu tiến bộ rồi thì được chuyển về đây để phục hồi từ chín tháng nay. - Ông làm ơn cho cho biết khả năng lấy lại vận động và ngôn ngữ của ông ấy.

Bác sĩ Sivarnandan xoè hai bàn tay ra: - Cô có quả cầu pha lê nào tốt hơn của tôi không? Câu trả lời đúng là tôi không biết. Ông ấy có thể chết vì xuất huyết não tối nay. Hay ông ấy có thể sống một cuộc đời tương đối bình thường hai mươi năm nữa. Tôi không tài nào biết được. Cô có thể nói đó là Chúa quyết định. - Và nếu ông ấy sống hai mươi năm nữa?

- Với ông ấy, đây là một cuộc phục hồi bền bỉ, chúng tôi chỉ mới thấy có tiến triển trong mấy tháng vừa qua. Sáu tháng trước ông ấy ăn phải có người giúp. Một tháng trước ông ấy đi ra khỏi xe lăn chật vật, một phần vì teo cơ do nằm quá lâu. Bây giờ ít ra ông ấy cũng đi một mình được một quãng ngắn. - Ông ấy có thể khá hơn nữa không? - Có. Thậm chí khá hơn nhiều nữa. Gay go là bước cất chân đầu tiên nhưng nay chúng tôi trông thấy tiến bộ hàng ngày. Ông ấy gần như đã mất hai năm trong đời. Vài tháng nữa, vào mùa hè, tôi hy vọng ông ấy có thể đi trong vườn hoa.

- Còn nói? - Vấn đề của ông ấy là trung tâm ngôn ngữ và khả năng di chuyển đều bị tổn thương nặng. Một thời gian dài ông ấy bất lực. Từ lúc ấy, ông ấy đã bị buộc phải học cách kiểm soát thân thể và nói lại. Ông ấy luôn không nhớ dùng chữ nào chữ nào nên ông ấy phải học lại một số từ. Nhưng việc đó không giống như ta dạy đứa bé nói - ông ấy biết nghĩa của từ, ông ấy chỉ là không phát được âm của nó ra thôi. Cho ông ấy hai ba tháng cô sẽ thấy ông ấy nói tiến bộ lên như thế nào so với hôm nay. Về khả năng di chuyển đây đó của ông ấy thì cũng tương tự thế. Chín tháng trước ông ấy không phân biệt được trái với phải hay lên xuống trong thang máy. Salander nghĩ về chỗ này một lúc. Cô phát hiện thấy mình thích tay bác sĩ có vẻ người Ấn Độ và giọng nói Phần Lan này.

- A là viết tắt cho chữ gì? - Cô hỏi. Ông nhìn cô, con mắt thú vị. - Anders.

- Anders ư? - Tôi sinh ra ở Sri Lanka nhưng khi tôi ba tháng tuổi thì được một cặp vợ chồng ở Abo nhận làm con nuôi. - OK, Anders, tôi có thể giúp được như thế nào nhỉ? Thăm ông ấy. Cho ông ấy được kích thích trí tuệ. Tôi có thể đến hàng ngày.

- Tôi không muốn cô ở đây ngày ngày. Nếu ông ấy yêu cô, tôi muốn ông ấy phải ngóng trông cô đến chứ không là thấy phiền toái. - Có cách chăm sóc đặc biệt nào có thể nâng cao được các tiến bộ của ông ấy lên không? Ông mỉm cười với Salander:

- Tôi sợ rằng mọi cách chăm sóc đặc biệt chúng tôi đã có đầy đủ ở đây cả rồi. Tất nhiên chúng tôi cần có thêm nhân lực và các sự cắt giảm không ảnh hưởng đến chúng tôi, nhưng tôi bảo đảm với cô là chúng tôi đã cho ông một sự chăm sóc sát sao. - Nếu không phải lo về những cắt giảm nhân sự thì ông còn có thể cho ông ấy thêm gì khác nữa? - Với các bệnh nhân như Holger Palmgren thì nếu tôi có thể cho ông ấy một huấn luyện viên làm đủ giờ hành chính là lý tưởng. Nhưng chỉ gần đây ở Thụy Điển chúng ta mới có những nhân lực kiểu như thế.

- Thuê… - Xin lỗi? - Thuê cho ông ấy một huấn luyện viên riêng. Ông cố tìm ra một người tốt nhất cho. Xin làm việc này ngay ngày mai. Cũng bảo đảm cho ông ấy các thứ thiết bị kỹ thuật mà ông ấy cần. Tôi sẽ có đủ tiền để cuối tuần này chi trả cho việc thuê ấy.

- Cô định chọc tôi đấy ư, cô gái trẻ? Salander cứng cỏi, điềm đạm nhìn ông. Johansson phanh rồi đưa chiếc Fiat của cô tới chỗ chắn ở bên ngoài ga xe điện ngầm Gamla Stan. Svensson mở cửa, lỏn vào ghế khách. Anh nhoài sang hôn má cô trong khi cô cho xe chạy vào sau một chiếc xe bus.

- Chào anh. - Cô nói, mắt vẫn nhìn đường. - Nom quan trọng thế, xảy ra chuyện gì vậy? Svensson thở dài, cài chặt thắt lưng an toàn. - Không có gì quan trọng. Chỉ là một chuyện nhỏ về bản thảo.

- Vấn đề gì? - Một tháng nữa là hết hạn. Chúng ta dự định hai mươi hai cuộc gặp thì anh đã làm được chín. Anh bị rắc rối về Bjorck ở Cảnh sát An ninh. Cha này đang nghỉ ốm dài hạn và không trả lời điện thoại ở nhà hắn. - Nằm bệnh viện ư?

- Không biết. Em đã thử lấy thông tin của Sapo chưa? Họ thậm chí bảo là hắn không làm việc ở đấy. - Anh có thử với bố mẹ hắn không? - Chết cả hai rồi. Hắn không lấy vợ. Hắn có một người anh sống ở Tây Ban Nha. Cái chính là anh không biết làm sao nắm được hắn đây.

Johansson liếc đối tác của mình trong khi lái xe qua Slussen đến đường hầm dẫn tới Nynasvagen. - Kịch bản trong trường hợp xấu nhất, chúng ta vứt bỏ phần về Bjorck. Blomkvist nhấn mạnh rằng tất cả những ai chúng ta định vạch mặt đều có cơ hội bình luận trước khi chúng ta đưa họ vào tù. - Nhưng bỏ lọt mất một đại diện của Cảnh sát An ninh tụ bạ với gái điếm thì đáng tiếc lắm đấy. Anh định làm gì bây giờ?

- Tìm hắn, dĩ nhiên. Em sao thế? Căng thẳng à? Anh dui dúi thụi vào sườn cô. - Không, thật sự. Tháng sau em bảo vệ luận án, chính thức thành tiến sĩ và em thấy mình bình thản.

- Em biết tỏng hết cả rồi. Căng thẳng vào đâu được! - Nhìn đằng sau anh xem. Svensson quay lại, thấy một cái hộp để mở ở trên ghế sau.

- Mia, in rồi kìa. - Anh khoái chí nói. Anh cầm lên một bản luận án vừa được nói đến. Yêu thương từ nước Nga: Buôn lậu, tội ác có tổ chức, và phản ứng của xã hội

của tác giả Mia Johansson - Cứ tưởng là đến cuối tuần mới xong cơ. Khiếp... sẽ phải nổ một chai khi về tới nhà. Chúc mừng, Tiến sĩ! Anh lại nhoài sang hôn cô.

- Bình tĩnh lại. Ba tuần nữa mới là tiến sĩ cơ. Và kiểm soát cái tay anh khi em đang lái. Svensson cười to. Rồi quay sang nghiêm túc. - Nhân thể, tội phạm đã chuồn và tất cả các thứ kia... khoảng năm ngoái em đã phỏng vấn một cô gái tên là Irina P.

- Irina P, hai mươi hai, người St Petersburg. Lần đầu tiên đến đây năm 1999 rồi có vài ba chuyến đi đi về về. Có gì về cô ấy? - Anh tình cờ gặp Gulbrandsen hôm nay. Tay cảnh sát dính vào vụ điều tra nhà thổ ở Sodertalje ấy. Em có đọc tin tuần trước họ tìm thấy một cô gái trôi trên sông đào không? Báo chiều có đưa lên tít mà. Đó là Irina P. - Ôi không, kinh khủng...

Họ im lặng lái xe qua Skanstull. - Cô ấy ở trong luận án của em. - Cuối cùng Johansson nói. - Em cho cô ấy tên giả là Tamara. Svensson giở đến phần phỏng vấn ở Yêu thương từ nước Nga, lật các trang tìm “Tamara”. Anh chăm chú đọc trong khi Mia đi qua Gullmarsplan và sân vận động Hoàn cầu.

- Cô ta bị một người em gọi là Anton đưa đến đây. - Em không thể dùng tên thật. Tại buổi bảo vệ em có thể bị chê chỗ này nhưng em không thể nêu tên các cô gái ra. Sẽ làm cho các cô ấy gặp nguy hiểm thật sự, chết người. Và đúng là em cũng không thể nêu tên bọn chăn dắt các cô vì chúng có thể lần ra cô gái nào đã nói chuyện với em. Cho nên trong các vụ em nghiên cứu, em chỉ lấy tên giả. - Anton là ai?

- Tên hắn chắc là Zala. Em chưa thể chẹt được hắn là ai nhưng em nghĩ hắn là một gã Ba Lan hay Nam Tư, và Zala cũng đều không phải là tên thật. Em nói chuyện với Irina bốn năm lần, mãi đến lần cuối cùng gặp em cô ấy mới bảo tên hắn. Cô ấy đang định sống tử tế ra khỏi việc làm ăn này nhưng chắc là cô ấy thật sự sợ hắn. - Anh đang nghĩ... Tuần trước hay hơn thế, anh tình cờ thấy cái tên Zala. - Ở đâu thế?

- Anh đối chất Sandstrom, tên dắt gái vốn là một nhà báo. Một thằng bậy bạ hoàn toàn. - Theo kiểu nào? - Hắn không là nhà báo thật. Hắn làm việc quảng cáo cho nhiều công ty. Hắn có những ý nghĩ bậy bạ về hãm hiếp mà cô gái ấy là đối tượng...

- Em biết. Em đã phỏng vấn cô ấy mà. - Nhưng em có biết hắn đã viết một bài trong quyển sách về các bệnh lây truyền bằng tính dục cho Viện Sức khoẻ Cộng đồng không? - Cái ấy em không biết.

- Tuần trước anh đối chất hắn. Anh bày ra mọi bằng chứng,và hỏi hắn tại sao hắn lại dùng các cô gái ở Đông u đến để thoả mãn những ý nghĩ bậy bạ của hắn về hãm hiếp thì hắn quên hết. Dần dần anh moi ra được vài biện minh của hắn. - Như thế nào? - Từ chỗ không chỉ là một khách hàng, Sandstrom đã kiếm được một công việc. Hắn cũng làm tạp vụ cho mafia tính dục. Hắn cho anh những cái tên hắn biết, trong đó có tay Zala này. Hắn không nói được điều gì đặc biệt về Zala nhưng đây không phải là một cái tên chung chung.

Johansson liếc anh. - Em có biết hắn là ai không? - Svensson nói. - Em không nhận diện được hắn. Hắn chỉ là một cái tên thỉnh thoảng ló ra. Các cô gái xem vẻ đều khiếp hắn, chả cô nào muốn nói với em thêm gì khác nữa cả.

CHƯƠNG 9 Chủ nhật, 6 tháng Ba Thứ Sáu, 11 tháng Ba

Trên đường tới nhà ăn, dừng lại ở làn đỗ xe của ông, bác sĩ Sivarnandan trông thấy Palmgren và Salander. Họ cúi xuống bàn cờ. Bây giờ mỗi tuần cô đến một lần, thường vào Chủ nhật. Cô luôn đến vào khoảng 3 giờ, chơi cờ với ông chừng hai tiếng. Cô đi hồi 8 giờ tối, lúc ông cần đi nằm. Bác sĩ nhận xét thấy cô không đối xử với ông như là một người khuyết tật - trái lại, xem vẻ như họ cãi nhau miết, cô cũng chả đoái hoài Palmgren chờ cô, cứ thế mà đi lấy cà phê cho cô. Sau lần cô đến đầu tiên vài hôm, cô quay lại với một bịch tư liệu cho hay một quỹ phi lợi nhuận đã được thành lập với mục đích duy nhất là giúp đỡ trung tâm có Pamlgren phục hồi chức năng ở đó. Chủ tịch ban quản trị của quỹ này là một luật sư ở Gibraltar. Có một luật sư nữa, cũng địa chỉ ở Gibraltar và một kế toán viên tên là Hugo Svensson với địa chỉ ở Stockholm. Quỹ này có sẵn một khoản lên tới 2 triệu rưỡi curon để bác sĩ Sivarnandan lúc muốn có thể sử dụng nhưng với một mục đích chuyên biệt là cấp cho người bệnh Holger Palmgren mọi sự chăm sóc cùng tiện ích cần thiết cho đến khi bình phục. Sivarnandan chỉ việc yêu cầu ở người kế toán số tiền cần thiết. Đây là một dàn xếp ít có, nếu không nói là chưa từng có tiền lệ. Mấy ngày qua Sivarnandan đã nghĩ nhiều là ở trường hợp này liệu có điều gì trái đạo nghĩa không. Ông cả quyết là không và theo lời Salander, ông đã thuê Johanna Koralina Oskarsson làm trợ lý và huấn luyện viên riêng của Holger Palmgren. Chị ba mươi chín tuổi, một bác sĩ vật lý trị liệu có bằng tâm lý học và đã trải qua nhiều kinh nghiệm chăm sóc phục hồi. Sivarnandan ngạc nhiên thấy ngay sau khi ký hợp đồng, bệnh viện đã ứng cho chị lương tháng đầu tiên. Cho tới lúc đó ông vẫn loáng thoáng lo chuyện này là một thứ lừa lọc nào đó.

Trong vòng một tháng, sự phối hợp động tác và tình hình chung của Palmgren tiến bộ lên trông thấy. Có thể thấy điều này qua các lần sát hạch ông hàng tuần. Trong tiến bộ này có bao nhiêu phần do tập luyện và bao nhiêu phần nhờ ở Salander, Sivarnandan chỉ có thể đoán ra. Không còn nghi ngờ gì là Palmgren đã hết sức cố gắng và ông ngóng chờ Salander đến thăm với một nhiệt tình của con trẻ. Thậm chí việc đều đặn bị nện tả tơi trên bàn cờ lại có vẻ làm cho ông vui nữa. Bác sĩ Sivarnandan đã có dịp cùng ngồi với hai người. Palmgren chơi quân trắng và đã khai cuộc thế trận Sicile khá chính xác. Mỗi nước đi ông đều nghĩ lung và lâu. Là hậu quả của đột quỵ, cơ thể của ông có thể thế này thế nọ nhưng về mức độ sắc bén thì đầu óc ông bây giờ đã ổn. Salander ngồi đó đọc một quyển sách về xác định đường kính tần số của kính viễn vọng vô tuyến ở trạng thái không trọng lượng. Cô ngồi trên một cái gối đệm, cao ngang với mặt bàn. Khi Palmgren đi quân, cô ngước lên và đi luôn, rõ là chẳng xem đến bàn cờ rồi lại quay về với quyển sách. Palmgren đầu hàng sau hai mươi bảy nước đi. Salander ngửng đầu lên, khẽ cau mày nhìn bàn cờ trong chừng mười lăm giây.

- Không mà. - Cô nói. - Ông có cơ hội chiếu bí đấy. Palmgren thở dài nghiên cứu bàn cờ trong năm phút. Cuối cùng ông nheo mắt nhìn Salander. - Chứng minh coi.

Cô quay bàn cờ lại, cầm lấy quân của ông. Cô chiếu bí ở nước cờ thứ ba mươi chín. - Trời đất. - Sivarnandan kêu lên. - Cô ấy thế đấy. Đừng có bao giờ chơi cờ ăn tiền với cô ấy nha. - Palmgren nói.

Sivarnandan chơi cờ từ lúc là một cậu bé, vào tuổi mười mấy đã thi cờ ở trường tại Abo, xếp thứ nhì. Ông tự coi mình là một kỳ thủ nghiệp dư giỏi. Ông có thể thấy Salander là một tay cờ dị kỳ. Rõ ràng cô không chơi cho một câu lạc bộ nào và khi ông nhắc rằng ván cờ có vẻ như là dị bản của một ván cờ kinh điển của Emmanuel Lasker thì cô đã nhìn ông lạ lẫm. Cô chưa nghe nói đến Emmanuel Lasker bao giờ. Ông không thể không nghĩ tài năng của cô phải chăng là thiên phú và nếu là thế thật thì liệu cô có còn những tài năng nào khác có thể làm cho một nhà tâm lý học quan tâm không. Nhưng ông không nói năng gì. Ông có thể thấy người bệnh của ông đang tỏ ra tốt lành hơn cái ngày đến Ersta đây. Bjurman về nhà muộn tối hôm ấy. Hắn đã sống bốn tuần tròn trong căn nhà gỗ nhỏ của hắn ở bên ngoài Stallharholmen, nhưng hắn đã nản lòng. Chưa có gì diễn ra để thay đổi tình trạng của hắn trừ việc gã khổng lồ báo rằng người của gã thích thú lời đề nghị và như vậy hắn sẽ phải trả 100.000 curon.

Thư từ chất đống ở trên thảm chùi chân. Hắn mang tất cả vào bàn bếp. Hắn ngày càng ít quan tâm đến mọi sự liên quan đến công việc cũng như đến thế giới bên ngoài và cho tới tận tối muộn hắn mới nhòm đến thư từ. Rồi lơ đãng đọc lướt chúng. Một thư là từ Handelsbanken. Nó là lời xác nhận cho việc rút ra 9.300 curon ở tài khoản tiết kiệm của Lisbeth Salander. Con ranh đã về.

Hắn vào văn phòng, để thư từ lên bàn làm việc. Hắn nhìn lá thư hơn một phút, mắt đầy hằn thù. Hắn buộc phải nhìn đến con số điện thoại. Rồi nhấc máy bấm số của một di động bằng một thẻ gọi trả trước. Gã khổng lồ tóc vàng trả lời, giọng hời hợt. - Vâng? - Nils Bjurman đây.

- Ông muốn gì? - Con bé về Thụy Điển rồi. Một thoáng im lặng ở đầu đằng kia.

- Thế tốt. Đừng gọi lại số này nữa. - Nhưng... - Ông sẽ được báo ngay thôi.

Thế rồi cắt, Bjurman rất cáu. Hắn tự rủa thầm mình. Hắn đi đến tủ đựng đồ giải khát, rót ba suất rượu bourbon Kentucky. Hắn nuốt hai ngụm hết chỗ rượu. Ta sẽ phải bớt khoản cồn đi thôi, hắn nghĩ. Rồi hắn rót một suất nữa vào cốc mang đến bàn làm việc, xem lại lờỉ xác nhận của Handelsbanken. Mimmi xoa bóp lưng và cổ cho Salander. Cô ra sức bấm day chừng hai mươi phút trong khi Salander rất khoái trá thỉnh thoảng lại thốt ra một tiếng rên sung sướng. Được Mimmi mát xa là được hưởng một thể nghiệm kỳ ảo, cô thấy mình giống như một con mèo chỉ muốn cò cử và quều quào bốn chân. Cô kìm một tiếng thở dài ngán ngẩm khi Mimmi phát vào lưng cô bảo hãy thế thôi. Cô nằm im hy vọng hão Mimmi sẽ tiếp tục nhưng khi thấy Mimmi cầm cốc vang lên thì cô lăn ngửa lại.

- Cảm ơn. - Cô nói. - Cậu ngồi suốt ngày trước máy tính thế nên cậu mới đau lưng. - Tớ mới duỗi làm sái một cơ bắp.

Hai người nằm tô hô trên giường của Mimmi ở Lundagatan uống vang đỏ và thấy vớ vẩn. Từ khi nối lại tình bạn với Mimmi, Salander thấy mình cơ hồ không thể nào chán cô bạn được. Đã thành một thói xấu là ngày nào cũng gọi - thường thường thì quá nhiều. Nhìn Mimmi cô tự dặn mình nhớ chớ có để cho gần gũi quá với một ai đó nữa. Nó có thể chấm dứt với một người bị đau. Mimmi nhoài ra thành giường mở ngăn kéo bàn đầu giường. Cô lấy ra một hộp dẹt nhỏ gói bằng giấy hoa vẽ một cánh cung vàng ném vào bụng Salander. - Gì thế?

- Quà sinh nhật của cậu. - Còn hơn một tháng nữa cơ mà. - Quà năm ngoái nhưng tớ không tìm ra cậu.

- Tớ mở được không? - Nếu cậu thích. Cô đặt cốc vang xuống, lắc lắc cái gói rồi thận trong mở. Cô rút ra một hộp thuốc lá đẹp, nắp tráng men lam và đen có trang trí bằng vài chữ Trung Quốc xinh xinh.

- Cậu phải bỏ hút thật. - Mimmi nói. - Nhưng nếu không thể thì ít nhất cậu cũng phải đựng thuốc của cậu trong một cái hộp nom nó đèm đẹp chứ lại. - Cảm ơn. - Salander nói. - Cậu là người duy nhất xưa nay cho tớ quà sinh nhật. Các chữ này nghĩa là gì? - Tớ có biết cái con ma tịt. Tớ không hiểu tiếng Trung Quốc. Tớ thấy nó ở chợ trời.

- Đẹp đấy. - Rẻ hèo ấy mà, chả có đáng gì, nhưng trông cứ như là nó được làm riêng cho cậu vậy. Chúng mình hết rượu rồi. Cậu có muốn ra ngoài làm ít bia không? - Có nghĩa là phải dậy và mặc quần áo vào hả?

- Tớ sợ là có chuyện ấy đấy. Nhưng nếu cậu không thỉnh thoảng ra một quán bar thì hỏi ở Soder đây có lợi gì chứ hả? Salander thở dài. - Nào đi. - Mimmi nói, chỉ vào viên đá nữ trang ở rốn Salander. - Sau đó cánh ta lại về đây.

Salander lại thở dài nhưng cho một chân xuống sàn với lấy chiếc quần lót chẽn gối. Svensson đang làm việc muộn ở bàn giấy người ta cho anh mượn tại một góc của tòa soạn Millennium thì nghe thấy tiếng khóa kêu ở cửa. Anh nhìn đồng hồ thấy đã quá 9 giờ tối. Blomkvist có vẻ ngạc nhiên thấy vẫn có người còn làm việc. - Ngọn đèn cần cù và tất cả... Mikael. Tôi đang giũa gọt cho quyển sách và tôi quên mất thời gian. Anh làm gì ở đây?

- Chỉ xẹt qua lấy một hồ sơ tôi để quên. Mọi sự tốt cả chứ? - Chắc chắn rồi... à, thật ra không... Tôi đã bỏ ba tuần cố mò ra cha Bjorck người của Sapo. Nó như biến đi vô tung tích. Có thể nó bị bọn mật vụ thù địch nào đó bắt cóc. Blomkvist kéo ghế lại ngồi suy nghĩ một lúc.

- Anh đã thử cái mẹo xưa của xổ số chưa? - Là cái gì? - Nghĩ ra một cái tên, viết một cái thư nói hắn đã trúng thưởng một điện thoại di động có GPS chỉ đường hay cái gì đó. In ra cho nó nom có vẻ chính quy rồi gửi bưu điện tới địa chỉ của hắn - trong trường hợp này là tới hòm thư mà hắn có. Hắn đã trúng một chiếc Nokia mới toanh. Nhưng hơn thế, hắn lại là một trong số hai chục người có thể thắng tiếp thêm 100.000 curon. Mọi sự hắn phải làm chỉ còn là tham gia một nghiên cứu về tiếp thị cho vài sản phẩm. Buổi nghiên cứu sẽ mất chừng một tiếng và do một người chuyên môn phỏng vấn làm... Thế rồi... được đấy!

Svensson miệng há hốc, chăm chú nhìn Blomkvist. - Anh nói chuyện nghiêm đấy chứ? - Sao không nghiêm? Anh đã thử mọi cách rồi, ngay cái đồ ma ở Sapo kia thì cũng thấy món thưởng 100 xoọc là khá ngon nếu hắn cũng nằm ở trong danh sách trúng thưởng chỉ gồm có hai chục người.

Svensson cười phá lên: - Anh điên. Như thế có hợp pháp không? - Cá một điện thoại di động, tôi không thể hình dung ra chuyện ấy là bất hợp pháp.

- Anh đúng là nghĩ quẩn. Blomkvist đang trên đường về nhà, lâu nay ít đến bar nhưng anh muốn có Svensson ở bên. - Có thấy thích ra ngoài uống ít bia không?

Svensson lại xem đồng hồ. - Sao lại không chứ? Vui lòng. Nhanh thôi. Để tôi nhắn tin cho Mia. Ra ngoài với đám con gái, cô ấy sẽ qua đây nhót tôi đi cùng với cô ấy về nhà. Họ tới Kvarnen, chủ yếu vì ở đó dễ chịu và gần. Svensson cười lặng lẽ trong khi thảo bức thư cho Bjorck ở trụ sở Cảnh sát An ninh. Blomkvist ngờ vực nhìn người bạn đồng nghiệp dễ vui cười. Gọi mỗi người một vại bia nặng. Đụng đầu với nhau họ bắt đầu uống và bàn về quyển sách của Svensson.

Blomkvist không trông thấy Salander đứng ở bar với Miriam Wu. Salander lùi lại một bước để cho Mimmi lọt vào giữa cô và anh. Cô nhìn anh qua vai Mimmi. Từ ngày trở về cô chưa đến bar và - đúng là may mắn - thì cô tình cờ thấy anh. Kalle Blomkvist Nhắng. Hơn một năm nay đây là lần đầu tiên cô thấy anh. - Có gì thế?

- Không gì cả. Họ vẫn nói chuyện hay đúng hơn, Mimmi vẫn tiếp tục câu chuyện về một ả đồng tính cô gặp ở chuyến đi London ít năm trước. Cô đang tham quan một gallery nghệ thuật và khi cô cố nhót cô ả này theo mình thì tình hình lại cứ đâm ra ngộ hơn lên. Salander thỉnh thoảng gật đầu nhưng như thường lệ bỏ mất chỗ hay của câu chuyện. Blomkvist không thay đổi lắm, cô cả quyết. Anh khỏe mạnh đến mức khó tin; dễ gần và thư thái nhưng vẻ mặt nghiêm. Anh nghe người bạn nói, thỉnh thoảng gật đầu. Hình như bàn một chuyện quan trọng.

Salander nhìn người bạn của Blomkvist. Một người tóc vàng cắt kiểu lính, trẻ hơn Blomkvist dăm ba tuổi, anh ta nói sôi nổi. Cô không biết anh là ai. Thình lình một nhóm đến bàn Blomkvist, bắt tay anh. Một phụ nữ tát nhẹ vào má Blomkvist rồi nói điều gì làm mọi người cười to lên. Blomkvist nom vẻ không tự nhiên nhưng anh cũng cười. Salander quắc mắt lên.

- Tớ nói cậu không nghe. - Mimmi nói. - Nghe chứ. - Đi bar với cậu chán thế đấy! Tớ thôi đây. Vậy thì về nhà mà đú chứ?

- Một tí nữa. - Salander nói. Cô đến gần Mimmi hơn, để một tay lên hông bạn. Mimmi nhìn cô. - Tớ thấy thích hôn vào miệng cậu.

- Đừng có làm thế. - Cậu sợ thiên hạ bảo cậu là con đồng tính à? - Ngay bây giờ tớ không muốn bị chú ý tới.

- Vậy thì về nhà. - Chưa. Chờ một tí. Họ chả phải chờ lâu. Hai mươi phút sau khi họ đến, người đàn ông ngồi cùng Blomkvist mở di động ra nghe gọi. Họ uống cạn cốc và cùng đứng dậy.

- Trông xem cái này nhá. - Mimmi nói. - Cái tay ở đằng kia ấy là Mikael Blomkvist. Sau vụ Wennerstrom, tay ấy nổi tiếng hơn cả ngôi sao nhạc rock. - Cậu đừng nói thế đi. - Cậu không nhớ tất cả các chuyện đó ư? Nó xảy ra vào lúc cậu sắp ra nước ngoài đấy.

- Tớ có nghe thấy. Salander chờ thêm năm phút rồi mới nhìn Mimmi. - Cậu muốn hôn vào miệng tớ đấy.

Mimmi ngạc nhiên nhìn cô: - Tớ chỉ là nói đùa thôi mà. Salander kiễng đầu ngón chân lên kéo mặt Mimmi xuống rồi hôn sâu vào miệng Mimmi. Khi họ buông nhau ra, có tiếng vỗ tay.

- Cậu chập mạch đấy, biết không? - Mimmi nói. 7 giờ sáng Salander mới về nhà. Cô kéo cổ áo phông ra hít hít. Cô định đi tắm nhưng nghĩ thôi cho hê nó đi rồi thay vì vất quần áo xuống sàn thì lên giường ngủ. Cô ngủ tới 4 giờ chiều thì dậy đi xuống chợ Soderhallarma ăn điểm tâm. Cô nghĩ đến Blomkvist, đến phản ứng của cô lúc thình lình thấy mình đang ở cùng một phòng với anh. Việc anh có mặt đã làm cô ngán nhưng cô cũng thấy cô không còn khổ vì việc ấy nữa. Anh đã hóa thành một đốm sáng nho nhỏ ở chân trời, một nhân tố quấy quả cỏn con trong cuộc sống cô. Có những nhiễu loạn còn tồi tệ hơn trong đời cô.

Nhưng lại mong có gan đi đến chào anh một câu, hay có lẽ bẻ gẫy chân anh, cô chẳng rõ là sẽ làm đằng nào nữa. Muốn gì cô cũng tò mò về chuyện gì nó đến với anh. Chiều cô đi mua ít đồ lặt vặt, về nhà quãng 7 giờ tối. Cô mở máy tính PowerBook, khởi động Asphyxia 1.3. Biểu tượng MikBlom/laptop vẫn còn ở trên máy chủ ở Hà Lan. Cô click kép và mở một bản sao ổ cứng của Blomkvist. Từ ngày cô rời Thụy Điển đi hơn một năm trước, đây là lần đầu tiên cô thăm viếng máy tính của anh. Cô hài lòng thấy anh vẫn không nâng cấp lên MacOS mới nhất, điều có nghĩa là nếu anh nâng cấp thì Asphyxia có thể bị nghiền vụn và cuộc thăm viếng chui vào kết thúc. Cô thấy cô cần viết lại chương trình để cho có nâng cấp cũng không can thiệp vào được nó. Từ lần thăm viếng trước của cô, dung lượng ổ cứng đã tăng lên tới gần 6,9 gigabytes. Một phần lớn chỗ tăng lên là do các tệp tin PDF và Quark. Tư liệu thì không chiếm nhiều chỗ nhưng ảnh bitmap chiếm nhiều, mặc dù ảnh đều được nén. Từ ngày anh trở về làm xuất bản, xem vẻ anh đã lưu giữ tất cả các số báo Millenmium.

Cô xếp các tệp tin trên ổ cứng theo ngày tháng với ngày tháng lâu nhất ở trên cùng và nhận thấy trong mấy tháng qua, Blomkvist đã bỏ nhiều thời gian vào một mục có tên , có vẻ là một dự án về sách. Rồi cô mở email của Blomkvist, đọc kỹ các địa chỉ trong danh sách thư tín. Một địa chỉ làm Salander nhảy dựng. Ngày 26 tháng Giêng Blomkvist nhận một thư điện của Harriet Vanger Quạ mổ. Cô mở thư đọc ít dòng ngắn gọn về một hội nghi Hội đồng quản trị họp ở trụ sở Millennium. Bức thư chấm hết với tin cho hay Vanger vẫn trọ ở cái khách sạn như lần trước. Salander tiêu hóa cái tin này. Rồi cô nhún vai tải xuống email cùa Blomkvist, bản thảo quyển sách của Svensson với đầu đề Những con đỉa hút máu và đầu đề nhỏ Sự ủng hộ của Xã hội đối với Công nghiệp Mại dâm. Cô cũng tìm thấy bản sao một luận án có đầu đề Yêu thương từ nước Nga do một phụ nữ tên là Mia Johansson viết. Cô ra khỏi mạng, đi vào bếp lấy một ít cà phê. Rồi cô ngồi trên cỗ sofa mới trong phòng khách với máy tính PowerBook. Cô mở hộp đựng thuốc lá của Mimmi, châm một điếu Marlboro Nhẹ. Cả tối cô đọc trên máy tính.

9 giờ, cô đọc xong luận án của Johansson.Cô bậm môi dưới. 10 giờ rưỡi cô đọc xong quyển sách của Svensson. Millennium lại sắp có đầu đề nổi đình đám đây. 11 rưỡi đọc các thư điện tử cuối cùng của Blomkvist thì thình lình cô ngồi thẳng lên mở to mắt.

Cô thấy một dòng lạnh buốt chạy dọc xương sống. Đó là thư điện Svensson gửi Blomkvist. Trong thư Svensson viết anh toan có vài ý về một tên cướp người Đông u tên là Zala, hắn có thể chiếm hẳn một chương sách - nhưng Svensson thừa nhận không có đủ thì giờ vì sắp hết hạn nộp sách. Blomkvist không trả lời thư này.

Zala. Salander ngồi bất động cho tới khi màn hình tự nghỉ. Svensson để sổ tay sang bên, gãi gãi đầu. Anh nhìn đăm đăm vào cái từ duy nhất ở đầu trang trong sổ tay. Bốn chữ cái:

Zala. Anh suy nghĩ lung trong ba phút, vẽ những vòng tròn ngoằn ngoèo xung quanh cái tên. Rồi anh vào căn bếp nhỏ lấy cà phê. Đã đến giờ về nhà ngủ nhưng anh phát hiện thấy mình thích làm việc khuya ở Millennium khi tòa nhà yên tĩnh. Anh đã kiểm soát mọi tư liệu nhưng từ khi anh bắt đầu dự án, lần đầu tiên anh cảm thấy không yên tâm giống như là anh có thể đã để sót một chi tiết quan trọng.

Zala. Đến lúc này anh đã hết kiên nhẫn viết xong quyển sách và cho in nhưng nay anh đang mong có nhiều thì giờ hơn. Anh nghĩ đến bản báo cáo giải phẫu mà thanh tra Gullbrandsen cho anh đọc. Xác của Irina P. đã được tìm thấy ở kênh đào Sodertalje. Trên mặt và ngực cô có những vết thương phá nát. Nguyên nhân dẫn đến cái chết là cổ bị gẫy, nhưng hai vết thương khác cũng được xét là nghiêm trọng. Sáu xương sườn bị gẫy, phổi trái bị đâm thủng. Lá lách bị giập. Khó nói rõ được về các vết thương. Bác sĩ bệnh học đã gợi ý rằng vũ khí được sử dụng là một cây gậy gỗ có bọc vải. Tại sao hung thủ lại bọc vải vào vũ khí giết người, điều này không được giải thích nhưng cấp độ thương tích thì không tiêu biểu cho một vụ công kích thông thường.

Vụ án mạng không được giải quyết và Gullbrandsen nói triển vọng giải quyết vụ án là mong manh. Cái tên Zala đã được đưa ra bốn lần trong tài liệu mà Mia thu thập trong hai năm qua, nhưng luôn ở ngoài rìa, luôn mờ mịt kỳ lạ. Không ai biết được hắn là ai hoặc đưa được bằng chứng rằng hắn đã tồn tại thật. Vài cô gái nhắc đến tên hắn như một công cụ đe dọa, một cảnh cáo hãi hùng cho những ai vi phạm khuôn phép của băng nhóm. Anh đã để cả tuần săn lùng nhiều thông tin cụ thể hơn nữa về Zala, đặt câu hỏi với cảnh sát, nhà báo và vài nguồn tin mới phát triển có tiếp xúc với buôn bán tính dục. Anh đã tiếp xúc nhà báo Sandstrom, người mà anh rất muốn phơi bày ra ở trong sách. Sandstrom đã cầu van và xin anh tha tội. Hắn đã đưa hối lộ. Svensson không thay đổi ý nhưng anh tranh thủ lợi thế để ép ra thông tin về Zala ở Sandstrom. Sandstrom nói hắn chưa hề gặp Zala nhưng đã nói chuyện qua điện thoại. Không, hắn không có số. Không, hắn không thể nói ai bố trí cuộc tiếp xúc. Hắn sợ lộ thông tin hơn cả sợ viễn cảnh bị vạch mặt là một tên khốn kiếp tham nhũng, xấu xa. Hắn sợ cho cái mạng hắn. Tại sao?

CHƯƠNG 10 Thứ Hai, 14 tháng Ba Chủ nhật, 20 tháng Ba

Đến Ersta và từ Ersta đi là những hành trình ngốn thời gian và phiền toái. Giữa tháng Ba, Salander quyết định mua xe hơi. Bắt đầu là cô phải kiếm chỗ đỗ xe, một vấn đề còn lớn hơn cả việc mua xe nhiều. Cô có một chỗ trong gara bên dưới tòa nhà ở Mosebacke, nhưng cô không muốn ai đó có thể từ chiếc xe mà lần ra được chỗ cô sống ở Fiskargatan. Mặt khác do thâm niên vài năm ở đây, cô đã được vào danh sách chờ một chỗ để xe ở trong gara của tòa nhà tại Lundagatan mà cô thuê của công ty nhà. Cô gọi để hỏi xem hiện cô đang ở đâu trong danh sách thì được bảo là đang ở trên đầu. Và không chỉ thế - đến cuối tháng sẽ có một ô không mất tiền. Ngon. Cô gọi Mimmi nhờ làm ngay một hợp đồng với công ty cho thuê nhà. Hôm sau cô bắt đầu lùng xe. Cô có tiền để mua bất cứ Rolls-Royce hay Ferrari nếu muốn nhưng cô không hề thích một thứ gì phô trương. Thay vì vậy, cô đến hai nhà đại lý ở Nacka rồi ra đi với một chiếc Honda tự động bốn năm tuổi màu vang chát. Cô bỏ một giờ ra xem mọi chi tiết, kể cả động cơ, trước vẻ giận dữ của người bán. Theo nguyên tắc, cô mặc cả giá ít hơn hai nghìn đôla và trả tiền ngay.

Rồi cô lái đến Lundagatan, gõ cửa nhà Mimmi cho bạn một bộ chìa khóa xe. Chắc quá rồi, Mimmi có thể dùng xe, nếu hỏi trước. Vì cuối tháng chỗ trong gara mới được sử dụng, hai cô đỗ xe ở ngoài đường. Mimmi sắp đi tới một cuộc hẹn và xem phim với một bạn gái mà Salander chưa nghe nói đến bao giờ. Do Mimmi phấn son dữ dằn và mặc một bộ đáng sợ nom như cái cổ dề chó ở quanh cổ nên Salander cho rằng đây là một ả ô môi của Mimmi, nên khi Mimmi hỏi cô có muốn cùng đi không thì cô cảm ơn. Cô không hám câu chuyện kết thúc ở một bộ ba cùng với một trong những bạn gái chân dài của Mimmi, đám mà chắc chắn khiêu dâm đến mức khôn lường nhưng lại sẽ làm cho cô thấy mình là đồ nghệt. Đằng nào Salander cũng có việc phải làm trong thành phố cho nên họ cùng đi xe điện ngầm đến Hotorger rồi chia tay. Đi bộ đến cửa hàng điện tử OnOff trên đường Sveavagen, Salander vừa mua bán xong, còn hai phút thì nó đóng cửa. Cô mua một các tút mực màu cho máy in laser rồi bảo họ lấy ra khỏi hộp để cô có thể cho nó vào ba lô.

Ra khỏi cửa hàng, cô đói và khát. Đi bộ đến Stureplan, cô quyết định vào quán Café Hedon, một nơi cô chưa vào và chưa cả nghe nói tới trước đây. Lập tức nhận ra Nils Bjurman đang quay lưng lại, cô bèn vòng sang bên phải lối vào. Cô đứng gần cửa sổ ngắm cảnh ngoài đường, thò cổ ra để có thể quan sát người giám hộ cô đang ở sau một quầy phục vụ. Trông thấy Bjurman, Salander không thấy vởn lên cảm giác gì ghê gớm trong người, không giận, không ghét, không sợ. Chừng nào liên quan đến cô mà không có hắn thì thế giới sẽ là nơi tốt đẹp hơn nhưng sở dĩ hắn còn sống là chỉ vì cô đinh ninh hắn sống thì có ích cho cô hơn. Cô nhìn quá tới người đàn ông đối diện Bjurman và mắt cô liền mở to khi hắn đứng dậy. Click. Hắn là một người to lớn lạ thường, ít nhất cao hai mét và vạm vỡ. Vạm vỡ khác thường, rõ ràng thế. Hắn có một bộ mặt nhu nhược, mái tóc vàng cắt ngắn nhưng bao trùm lên hết tất cả, hắn cho ra một ấn tượng rất hùng mạnh.

Salander thấy người đàn ông nhoài về trước bình thản nói gì đó với Bjurman và Bjurman gật. Họ bắt tay và Salander để ý thấy Bjurman rút vội tay về. Mày là loại nào đây và mày có công chuyện gì với Bjurman? Salander đi nhanh xuống phố, dừng lại ở mái hiên một quầy bán thuốc lá. Cô đang xem báo dán trên bảng thì người tóc vàng bước ra ngoài quán Café Hedon rồi rẽ trái không nhòm ngó gì xung quanh. Hắn đi quá Salander nửa mét. Cô để cho hắn đi được mười lăm mét mới theo sau.

Đi không lâu. Người đàn ông xuống thẳng ga xe điện ngầm ở Birger Jarlsgatan, mua vé ở cổng. Cô chờ ở trên ke phía xe điện chạy về nam - hướng này đằng nào Salander cũng sẽ đi - rồi lên đoàn xe Norsborg. Hắn xuống xe điện ở Slussen, đổi hướng đến Farsta ở chỗ đèn xanh đèn đỏ rồi lại xuống xe ở Skanstull. Ở đây hắn đi bộ về quán Café Blomberg trên đường Gorgatan. Salander đứng lại ở bên ngoài. Cô có thể quan sát người đàn ông mà gã khổng lồ tóc vàng đi đến gặp. Click. Ngay lập tức Salander thấy một chuyện gì ác độc đang diễn ra. Người đàn ông quá béo so với tuổi, mặt hẹp vanh, không thể tin cậy được. Tóc hắn túm lại về sau gáy thành một đuôi ngựa và hắn có một bộ ria màu lông chuột. Hắn mặc jacket bằng vải denim, quần jean đen và bốt đế Cuba. Ở mu tay phải hắn có một hình xăm nhưng Salander không thể mò ra hình vẽ. Hắn đeo dây chuyền vàng ở cổ tay và hút Lucky Strikes. Mắt hắn như bằng thủy tinh, giống mắt một người luôn luôn phê. Salander cũng để ý thấy hắn mặc gilê da ở dưới chiếc jacket. Cô có thể nói hắn là một dân chơi xe máy. Gã khổng lồ không gọi món gì. Hắn hình như đang cho chỉ thị. Người mặc jacket bằng vải denim chăm chú nghe, không góp chuyện lại. Salander tự nhủ nhớ hôm nào mua cho mình một micro nghe trộm.

Chỉ năm phút sau, gã không lồ rời Café Blomberg. Salander lui lại mấy bước nhưng gã chả nhìn gì về hướng cô. Hắn đi bốn chục mét đến các bậc tam cấp lên Allhelgonagatan, đến đây hắn vào một chiếc Volvo trắng. Salander đã cố đọc được biển số xe trước khi hắn rẽ ở góc phố sau. Salander quay vội trở lại Blomberg nhưng ở chỗ bàn ấy không còn ai. Cô nhìn ngược xuôi con phố nhưng không thấy người tóc đuôi ngựa. Rồi cô bất chợt thấy hắn qua đường mở cửa nhà hàng McDonalc’s. Cô phải vào trong tìm lại hắn. Hắn ngồi với một người đàn ông khác mặc một chiếc gilê ở bên ngoài jacket. Salander đọc dòng chữ trên gilê: CLBXM SVAVELSJO. Hình logo là một bánh xe máy cách điệu hóa nom giống một chữ thập Celtic với một cái búa rìu.

Cô đứng một lúc ở Gorgatan rồi đi lên mạn bắc. Linh tính bảo rằng cô cần phải cảnh giác cao độ. Salander dừng lại ở 7-Eleven mua thức ăn dùng cho cả tuần: một bịch cỡ đại pan pizza hiệu Billy, ba xoong cá đông lạnh, ba bánh patê thịt ba chỉ, một kilô táo, hai bánh mì gối, nửa kilô pho mát, sữa, cà phê, một tút Marlboro Nhẹ và báo chiều. Cô đi bộ lên Svartensgatan đến Mosebacke, nhìn quanh rồi đấm vào mã hiệu cửa tòa nhà cô ở. Cô để một bánh patê thịt ba chỉ vào lò vi sóng, uống sữa thẳng từ hộp giấy. Cô bấm chạy máy pha cà phê rồi mở máy tính, click Asphyxia 1.3, vào bản sao ổ cứng của Bjurman. Cô bỏ nửa giờ sau đó vào xem hết các nội dung của máy tính hắn. Cô tuyệt đối không tìm thấy một thứ gì đáng chú ý. Hình như hắn ít dùng máy tính; cô chỉ thấy một chục thư riêng ngắn ngủi nhận hay gửi đi cho bạn bè. Không thư điện tử nào dính dáng đến cô.

Cô tìm thấy một thư mục mới tạo gồm các ảnh khiêu dâm cho thấy hắn vẫn thú thói bạo dâm làm nhục phụ nữ. Ngặt nghèo mà nói, hắn không vi phạm quy tắc của cô nhưng vẫn cứ là có cái gì đó liên quan đến phụ nữ. Cô mở thư mục tài liệu nói đến vai trò Bjurman là người giám hộ Salander, đọc kỹ từng báo cáo mỗi tháng của hắn. Chúng ứng chính xác với các bản sao mà hắn gửi cho một trong những địa chỉ hotmail của cô. Mọi sự bình thường.

Có thể một chệch choạc nho nhỏ... Khi cô kiểm tra đặc tính các tệp Word lưu các báo cáo hàng tháng, cô có thể thấy hắn thường quen viết báo cáo vào mấy ngày đầu của mỗi tháng, hắn bỏ ra chừng bốn tiếng đồng hồ in từng bản báo cáo rồi gửi đúng hạn cho Sở Giám hộ vào ngày mười hai mỗi tháng. Nay là giữa tháng Ba mà hắn chưa bắt tay viết báo cáo tháng Ba. Lười ư? Ra nước ngoài về quá muộn? Bận việc gì đó khác? Định giở mánh nào đó chăng? Salander cau mày. Cô tắt máy tính, ngồi lên ghế cửa sổ, mở hộp thuốc lá. Cô châm một điếu nhìn ra bóng đêm. Cô đã lỏng tay theo dõi hành tung hắn. Hắn trơn tuột như lươn.

Cô thật sự khó chịu. Thứ nhất là Blomkvist Nhắng, thứ đến tên Zala rồi bây giờ Nils Bịurman Đồ Sâu bọ Ba láp cùng với một thằng đực rựa đầu bảng về ma túy có liên hệ với một băng nhóm nào đó của dân chơi xe máy trước đây. Trong ít ngày, một vài gợn sóng bất an đã hiện lên cụ thể trong đời sống ngăn nắp mà Salander cố tạo ra cho mình. 2 giờ rưỡi sáng, Salander tra chìa khóa vào cửa trước của tòa cao ốc trên đường Upplandsgatan gần Odenplan, nơi Bjurman sống. Cô dừng lại ngoài cửa nhà hắn, thận trọng mở nắp thùng thư, nhét vào một chiếc micro cực kỳ thính nhạy cô mua ở cửa hàng Phản gián ở Mayfair tại London. Cô chưa nghe nói đến Ebbe Carlsson nhưng nó là cửa hàng mà ông ta đã mua thiết bị nghe trộm, cái thiết bị từng làm cho Bộ trưởng Tư pháp Thụy Điển phải đột ngột từ hồi chức cuối những năm 80. Salander nhét loa nghe vào tai rồi điều chỉnh âm lượng. Cô có thể nghe thấy tiếng rù rì âm âm của chiếc tủ lạnh và tiếng tích tắc đanh gọn của ít nhất hai chiếc đồng hồ, một là chiếc treo tường ở phòng khách bên trái cửa ra vào. Cô vặn to âm lượng lên nghe, nín thở. Cô nghe thấy mọi thứ cót két, lục bục ở trong căn nhà nhưng dấu hiệu về có người đang hoạt động thì không. Cô mất một phút mới để ý thấy và nhận ra âm thanh yếu ớt của tiếng thở nặng, đều.

Bjurman đang ngủ. Cô rút micro ra nhét vào túi trong của chiếc jacket da. Cô mặc jean sẫm màu, giầy thể thao đế kếp. Cô lùa chìa im như không vào lỗ khóa, đẩy cửa ra không một tiếng kẹt. Trước khi mở cửa, cô lấy khẩu súng bắn điện trong túi ra. Cô không mang theo vũ khí nào khác. Cô nghĩ xử lý với Bjurman thì không cần đem theo một thứ gì khác mạnh hơn. Đóng cửa lại ở đằng sau, cô đi tới hành lang ở bên ngoài phòng ngủ của hắn. Nhìn thấy ánh đèn, cô dừng lại, nhưng từ chỗ cô đứng đã có thể nghe thấy tiếng hắn ngáy. Cô lẻn vào phòng ngủ của hắn. Ngọn đèn đặt trên cửa sổ. Có chuyện gì thế, Bjurman? Có tí ti sợ đêm tối hả?

Cô đứng bên giường hắn, nhìn hắn một lúc. Hắn già đi và có vẻ so súi. Gian phòng sực mùi đàn ông không chú ý vệ sinh. Cô không cảm thấy một chút thương hại nào. Trong chớp nhoáng, một thoáng thù hận lóe lên trong mắt cô. Thấy một cốc nước ở trên bàn ngủ, cô cúi xuống hít. Whisky. Một lúc sau, cô rời phòng ngủ. Cô làm một vòng ngắn quanh bếp, không thấy cái gì lạ, tiếp tục đi sang phòng khách và dừng lại ở cửa phòng làm việc của Bjurman. Cô lấy ở trong túi jacket ra một nắm mẩu nhỏ bánh mì khô rồi cẩn thận đặt chúng lên sàn trong chỗ tối. Nếu có ai toan theo cô qua phòng khách thì tiếng bánh mì bị nghiền vỡ sẽ báo động cô.

Cô ngồi vào bàn làm việc của Bjurman, để khẩu súng bắn điện trước mặt. Cô tìm kỹ các ngăn kéo, đọc hết thư từ liên quan đến các tài khoản riêng của Bjurman. Cô nhận thấy hắn trở nên cẩu thả hơn và không thường xuyên cân đối các tài khoản của hắn hơn. Ngăn kéo cuối cùng của bàn làm việc bị khóa. Salander cau mày. Năm ngoái cô đến, các ngăn kéo đều không khóa. Mắt cô vẫn không tập trung khi cô nhìn xem nội dung các ngăn kéo. Có một camera, một máy ảnh chụp xa, một máy ghi âm đút túi hiệu Olympus, một album ảnh bìa da và một hộp các dây chuyền, nữ trang, một nhẫn vàng đề chữ Tilda và Jacob Bjurman. 23 tháng tư 1951. Salander biết đây là tên bố mẹ hắn và cả hai đều đã chết. Cho rằng đây là một nhẫn cưới, nay làm vật lưu niệm. Vậy hắn khóa lại những thứ hắn cho là có giá trị.

Cô xem xét cái tủ có cửa cuốn lên xuống ở đằng sau bàn làm việc, lấy ra hai cặp ba dây đựng các báo cáo của hắn về quá trình giám hộ của cô. Cô đọc từng bản một trong mười lăm phút. Salander là một cô gái trẻ vui tính và cần cù. Bốn tháng trước hắn đã viết xem liệu cô đã có đủ lý trí và bản lĩnh đến mức trở thành lý do thảo luận cho cuộc xét duyệt hàng năm sắp tới về việc có còn cần người giám hộ nữa hay thôi. Nó đã được viết thành câu cú lịch sự và dẫn tới nền móng đầu tiên cho việc xóa bỏ cho cô tuyên bố không tự cai quản được bản thân. Cái cặp ba dây cũng đựng những ghi chép viết tay cho thấy Bjurman đã tiếp xúc với một Ulrika von Liebenstaahl ở Sở Giám hộ, nói tới một cuộc thảo luận chung về tình trạng của Salander. Những chữ “sự cần thiết cho sự đánh giá về bệnh tâm thần” đã được gạch dưới. Salander bĩu môi, đặt lại các cặp ba dây rồi nhìn quanh.

Cô không tìm thấy được một ghi chép nào. Có vẻ Bjurman làm đúng theo các chỉ thị của cô. Cô cắn môi dưới. Cô vẫn có cảm giác về một cái gì đó không ổn. Cô đứng lên khỏi ghế, sắp tắt đèn bàn làm việc thì dừng lại. Cô lại lấy các cặp ba dây ra xem kỹ lại một lần nữa. Cô phân vân. Các cặp ba dây phải đựng nhiều hơn thế này. Năm ngoái đã có một bản sơ yếu của Sở Giám hộ về quá trình phát triển của cô từ tuổi thơ ấu. Cái đó nay mất. Tại sao Bjurman lấy các giấy tờ ra khỏi một vụ hiện hành? Cô cau mày. Cô không nghĩ ra được lý do nào thỏa đáng. Trừ phi hắn đang sắp xếp tư liệu có thêm ở một chỗ nào đó. Mắt cô quét một lượt qua các ngăn giá của chiếc tủ cửa cuốn lên xuống và đẩy ngăn kéo dưới cùng của bàn làm việc. Cô không mang theo cái móc nạy ổ khóa cho nên phải rón rén quay lại phòng ngủ của Bjurman, câu lấy chùm chìa khóa ra khỏi túi áo jacket hắn treo trên cây mắc mũ áo bằng gỗ. Đồ vật trong ngăn kéo này vẫn giống như năm ngoái. Nhưng bộ sưu tập đã có thêm một cái hộp dẹt, hình minh họa in ở ngoài hộp cho thấy là một khẩu súng Colt.45 Magnum.

Cô nghĩ lại cuộc nghiên cứu cô làm về Bjurman hai năm trước Hắn thích bắn và là thành viên một câu lạc bộ bắn súng. Theo danh bạ đăng ký vũ khí công cộng thì hắn có bằng sở hữu một súng Colt.45 Magnum. Ngần ngừ cô đi tới kết luận rằng chẳng có gì ngạc nhiên trong việc hắn khóa ngăn kéo cuối cùng lại. Cô không thích tình hình này nhưng trước mắt cô không nghĩ ra được lý do nào để đánh thức Bjurman dậy, dọa cho hắn một trận sợ vãi linh hồn.

Johansson dậy lúc 6 rưỡi sáng. Cô xem tivi sáng với âm lượng thấp ở trong phòng khách và ngửi mùi cà phê mới pha. Cô cũng nghe thấy tiếng phím máy tính iBook của Svensson lách cách. Cô mỉm cười. Cô chưa từng thấy anh làm việc cho một bài báo căng như thế bao giờ. Millennium là một nước đi hay. Anh thường buồn vì chuyện ngáng chân của giới viết lách nhưng hình như quàng vào với Blomkvist, Berger và những người khác thì đã có một kết quả bổ ích cho anh. Anh thường về nhà rạng rỡ sau khi Blomkvist chỉ ra những thiếu sót hay bẻ gẫy một lập luận nào đó của anh. Rồi anh làm việc hăng lên gấp đôi. Cô nghĩ thầm liệu có nên bắt anh ngừng tập trung suy nghĩ lúc này không. Kinh nguyệt của cô đã chậm ba tuần. Cô chưa khám thai. Có lẽ là lúc rồi đấy.

Cô sắp ba mươi tuổi. Chưa đầy một tháng nữa cô bảo vệ luận án. Tiến sĩ Johansson. Cô lại mỉm cười và quyết định mình chưa có chắc thì chưa nói gì với Svensson. Có lẽ cô sẽ chờ cho đến khi nào anh xong quyển sách và sau bảo vệ cô mở một buổi liên hoan. Lơ mơ ngủ chừng hơn mười phút rồi cô đứng dậy đi vào phòng khách, người quấn trong một mảnh khăn. - Blomkvist lại làm một chuyện giỏi.

- Anh ấy có ý nghĩa gì với anh? Phục vụ anh tốt. Mến anh, đúng không? Svensson ngả người vào chiếc sofa trong phòng khách và bắt gặp mắt cô. Một lúc sau anh gật đầu. - Millennium là một nơi làm việc nhất đấy. Anh đã nói với Mikael ở Kvarnen trước lúc em đến đón anh đêm qua. Anh ấy hỏi anh sẽ làm gì sau khi xong quyển sách này.

- Ái chà. Anh bảo sao? - Bảo là anh không biết. Là một người viết tự do trong rất nhiều năm nay anh cứ bám quanh bám quẩn. Anh vui với một việc gì đó bền chắc hơn. - Millennium.

Anh gật. - Mikael đã thăm dò và muốn biết liệu anh có hứng thú với một công việc bán thời gian không. Giống như hợp đồng hiện nay của Henry Cortez và Lottie Karem. Anh sẽ có một bàn làm việc và một món tiền ứng trước ở Millennium và có thể nhận được sự ủng hộ ở bên cạnh. - Anh có thích làm thế không?

- Nếu họ đi đến mời cụ thể, anh sẽ nói đồng ý. - Nhưng chưa đến 7 giờ và hôm nay là thứ Bảy. - Anh biết, anh vừa nghĩ là sẽ trau chuốt cho chỗ này chỗ kia một ít.

- Em nghĩ anh nên về giường mà trau chuốt cho một cái khác. Vén một góc mảnh khăn lên, cô cười với anh. Anh chuyển máy tính sang chế độ nghỉ. Ít ngày sau Salander bỏ nhiều thì giờ ra tìm tòi trong máy tính PowerBook. Cô tìm tòi rộng sang nhiều hướng nhưng vẫn không cầm chắc mình đang lùng kiếm cái gì. Từ sự việc Salander suy luận ra được một số cái đơn giản. Từ Lưu trữ Hồ sơ Media Archive, cô ghép nên lịch sử của Câu lạc bộ Xe máy Svavelsjo. Câu lạc bộ IU xuất hiện trong các bài báo với cái tên Những người cưỡi xe máy Talje Hog. Cảnh sát đã đột nhập trụ sở câu lạc bộ lúc ấy đóng ở một trường học bỏ không bên ngoài Sodertalje, do hàng xóm báo cáo nghe thấy tiếng súng nổ. Đưa đến một lực lượng đông lạ lùng, cảnh sát đã phá một cuộc liên hoan lũ lõa bia mà cuối cùng thoái hóa thành một trận thi bắn súng AK-4, những súng này té ra là súng ăn cắp của trung đoàn 120 ở Vasterbotten bị giải thể đầu những năm 80.

Theo một tờ báo chiều, Câu lạc bộ Xe máy Svavelsjo có dăm bảy thành viên và một tá kẻ bấu sấu kiếm chác. Tất cả các thành viên chính thức đều bị tù. Hai người nổi bật. Trưởng câu lạc bộ là Carl - Magnus (hay “Magge”) Lundin, người được tờ Aftonbladet đưa ảnh khi cảnh sát đột nhập nơi này năm 2001. Hắn bị kết án năm vụ ăn cắp, nhận đồ ăn cắp và vi phạm ma túy cuối những năm 80, đầu những năm 90. Một trong những bản nghị án - cho một vụ hình sự liên quan đến xâm phạm thân thể nghiêm trọng - đưa hắn đi mười tám tháng. Năm 1995 hắn được tha và ngay sau đó trở thành chủ tịch của Hội Những người cưỡi xe máy Talje Hog, nay là Câu lạc bộ Xe máy Svavelsjo. Theo cảnh sát chống băng nhóm, số hai của câu lạc bộ là Sonny Nieminen, năm nay ba mươi bảy tuổi, tên này bị kết án không dưới hai mươi ba lần. Hắn bắt đầu sự nghiệp tội ác ở tuổi mười sáu, lúc ấy hắn đã chịu chế độ thử thách và vào trại cải tạo vì đánh người, hành hung và ăn cắp. Trong mười năm sau, hắn bị kết án về năm vụ ăn cắp, một vụ ăn cắp có tình tiết nặng, hai vụ đe dọa phi pháp, hai vụ vi phạm ma túy, trấn lột tiền của, công kích một viên chức dân sự, hai lần buộc tội sở hữu phi pháp vũ khí, một tố cáo dùng vũ khí gây án, lái xe khi say rượu và sáu lần bị buộc tội đánh người chung chung. Hắn đã bị tuyên án theo một thang bậc Salander khó lòng hiểu nổi: thử thách cải tạo, phạt tiền, liên tiếp bị giữ trong tù từ ba mươi đến sáu mươi ngày, cho tới 1989 khi hắn bị đưa đi mười tháng vì tội hành hung gây tổn hại nghiêm trọng và đột nhập ăn trộm. Vài tháng sau ra tù, hắn giữ sạch sẽ được cho tới tháng Mười 1990. Rồi hắn tham gia vụ đánh nhau trong một quán bar tại Sodertalje và kết thúc với một lời buộc tội giết người và một tuyên án sáu năm tù. 1995 hắn ra tù. Năm 1996 hắn bị bắt vì là đồng bọn trong một vụ cướp có vũ khí. Hắn đã khai ra ba trong bốn tên cướp có vũ khí. Hắn bị tuyên án bốn năm tù và được tha năm 1999. Theo một bài báo từ 2001 mà Nieminen không bị nêu tên ra - nhưng qua những chi tiết trong bài báo về kẻ nghi can người ta dễ nhận ra là hắn - hắn xem ra đã góp phần vào vụ giết một thành viên của một băng nhóm đối địch.

Salander tải các ảnh căn cước của Nieminen và Lundin xuống. Nieminen có bộ mặt ăn ảnh, mái tóc quăn sẫm màu và đôi mắt nguy hiểm. Lundin trông hệt một thằng ngu đặc và rõ ràng hắn là người đã gặp gã khổng lồ ở quán Café Blomberg. Nieminen là người chờ ở McDonalc’s. Qua danh bạ đăng ký xe quốc gia, cô mò ra chiếc Volvo trắng là của hãng cho thuê xe Auto - Expert ở Eskilstuna. Cô bấm số gọi họ rồi nói với một Refik Alba nào đó: - Tôi là Gunilla Hansson. Hôm qua con chó của tôi bị một người lái xe cán chết rồi bỏ đi. Kẻ tầm bậy ấy lái một xe của hãng ông - tôi có thể nói số xe. Một Volvo trắng. - Cô cho số xe.

- Tôi rất lấy làm tiếc. - Tôi sợ như thế chưa đủ đâu. Tôi muốn tên người lái để tôi có thể kiện. - Cô đã báo cảnh sát việc này chưa?

- Không, tôi muốn giải quyết trực tiếp. - Tôi xin lỗi nhưng tôi không thể cho tên khách hàng của chúng tôi trừ phi đã có biên bản của cảnh sát. Giọng của Salander tối sầm lại. Cô hỏi nay bắt cô báo cáo khách của công ty với cảnh sát hay giải quyết câu chuyện đơn giản hơn thì đằng nào hay. Refik Alba xin lỗi một lần nữa nhưng nhắc lại là ông ta không có quyền phá vỡ quy định của công ty.

Cái tên Zala lại là một tắc tị khác. Với hai tảng to tướng pan pizza hiệu Billy, Salander tiêu tốn phần lớn ngày hôm ấy bên máy tính với một chai Coca Cola lít rưỡi làm bạn. Cô tìm thấy cả trăm Zala - từ một lực sĩ Ý đến một nhà soạn nhạc Argentina. Nhưng cô không tìm ra người mà cô cần. Cô thử tìm Zalachenko nhưng cũng lại tắc tị. Thất vọng, cô lăn kềnh ra giường ngủ thẳng một mạch mười hai tiếng. Cô tỉnh dậy thì đã 11 giờ sáng. Cô đặt một ít cà phê rồi chạy vào bồn tắm. Cô rót bột tạo bọt vào bồn rồi mang cà phê cùng sandwich vào bồn tắm. Cô mong có Mimmi ở bên lúc này nhưng cô vẫn chưa bảo bạn biết chỗ ở của mình. Trưa cô ra khỏi bồn tắm, lau khô người, mặc áo khoác trong nhà vào. Cô lại mở máy tính.

Các tên Dag Svensson và Mia Johansson mang lại được những kết quả tốt hơn. Qua công cụ tìm kiếm của Google, cô có thể mau chóng gộp lại một bản tóm lược ngắn về các việc họ đã làm trong những năm gần đây. Cô tải xuống các bản sao vài bài báo của Svensson và tìm thấy một loạt ảnh chụp của anh. Không ngạc nhiên lắm khi nhận ra anh là người cô thấy ngồi với Blomkvist ở Kavarna. Cái tên đã được cho một bộ mặt và ngược lại, một bộ mặt đã có tên. Cô tìm thấy vài bài viết về Mia Johansson hay do Johansson viết. Lần đầu tiên Mia được thông tin đại chúng chú ý đến là do một tường trình của cô về thái độ phân biệt trong đối xử với đàn ông và phụ nữ nằm ở trong tay pháp luật. Đã có một số lượng xã luận và bài báo trong mục thư bạn đọc của các tổ chức phụ nữ. Bản thân Johansson cũng đã viết thêm vài bài báo. Salander đọc chăm chú. Một số nhà hoạt động phụ nữ thấy các kết luận của Johansson có ý nghĩa, một số lại phê bình cô “cho các ảo tưởng tư sản lan tràn đi”. 2 giờ chiều, cô vào Asphyxia 1.3 nhưng thay vì MikBlom/laptop, cô chọn MikBlom/cơ quan, máy tính của Blomkvist ở Millennium. Bằng kinh nghiệm cô biết máy tính cơ quan của anh khó chứa đựng một cái gì thú vị. Ngoài việc thỉnh thoảng anh dùng nó để lướt Net, anh gần như chuyên làm việc trên iBook. Nhưng anh có quyền của người quản trị đối với tất cả cơ quan Millennium. Cô mau chóng tìm thấy điều cô tìm; mật khẩu vào mạng lưới nội bộ của Millennium.

Để vào các máy tính khác ở Millennium, ổ cứng bản sao trên máy chủ tại Hà Lan là không đủ. Máy gốc của MikBlom/cơ quan phải mở và kết nối với mạng máy tính nội bộ. Cô gặp may. Có vẻ Blomkvist đang làm việc và có hiện ra màn hình nền. Cô chờ mười phút nhưng không thấy một dấu hiệu hoạt động nào, cô đồ chừng là khi vào văn phòng anh đã mở máy và lướt Net rồi để nó tiếp tục chạy trong khi anh làm việc gì khác hay dùng máy tính mang theo người của anh. Việc dò xem này đã được làm cẩn thận. Giờ tiếp sau đó Salander thận trọng “chui” từ máy tính này sang máy tính khác và tải xuống thư điện tử của Berger, Malm, và một nhân viên mà tên nghe lạ với cô, Malin Eriksson. Cuối cùng cô xác định được màn hình nền của Svensson. Theo như thông tin hệ thống thì nó là một Macintosh PowerPC cũ với một ổ cứng chỉ có 750 MB, cho nên nó phải là một bộ phận thừa, chắc là chỉ được những người viết tự do thi thoảng dùng đến trong việc xử lý văn bản. Nó được gắn với một mạng lưới máy tính, có nghĩa là Svensson ngay lúc này đang ở trong các phòng biên tập của Millennium. Cô tải email của anh xuống rồi tìm ổ cứng của anh. Cô mò thấy một thư mục mang cái tên ngắn ngủn nhưng ngọt ngào . Hắn dớ được tới đúng 203.000 curon tiền mặt, một món tiền lớn không ngờ cho ba kilô methamphetamine mà hắn giao cho Lundin cuối tháng Giêng. Đó là một món lợi gọn ghẽ cho vài giờ làm một việc thừa hành - nhận meth của người đưa thư cất giữ một thời gian, giao cho Lundin rồi lĩnh 50 phần trăm tiền lời. Câu lạc bộ Xe máy Svavelsjo có thể nhận được món tiền này hàng tháng và băng nhóm của Lundin chỉ là một trong ba khâu thao tác như thế - hai khâu kia là ở quanh quẩn Goteborg và Malmo. Các băng nhóm cùng nhau mang lại cho hắn mỗi tháng gần nửa triệu curon tiền lời.

Vậy mà tâm trạng hắn lại đang tồi tệ đến nỗi hắn cho xe vào vệ đường và tắt máy. Ba mươi giờ qua hắn không ngủ, cảm thấy người lơ ma lơ mơ. Hắn ra khỏi xe duỗi chân và đái. Đêm lạnh và sao sáng. Hắn không còn xa Jarna. Về bản chất, cơn xung đột hắn hiện đang trải qua nó gần như có tính ý thức hệ. Việc cung cấp tiềm năng methamphetamine là vô hạn trong bán kính bốn trăm cây số kể từ Stockholm. Yêu cầu thì không thể chối cãi được là lớn rồi. Phần còn lại là chuyện hậu cần - chở sản phẩm từ điểm A đến điểm B như thế nào hay để cho chính xác hơn, từ một xưởng dưới hầm ở Tallinn đến Cảng Tự do ở Stockholm như thế nào. Đây là một vấn đề thường trở lại - bảo đảm làm sao cho việc chuyên chở từ Estonia đến Thụy Điển được đều đặn? Thật ra đây là vấn đề chủ yếu nhưng mối liên lạc thì lại yếu do mấy năm sau hắn luôn chỉ làm lụng tùy hứng. Và mới đây mọi sự bát nháo cũng nhiều ra. Hắn tự hào về khả năng tổ chức của hắn. Hắn đã dựng lên một mạng lưới chạy trơn như bôi dầu và được vun xới bằng các suất cà rốt và gậy tương đương nhau. Hắn là người làm cái công việc đòi hỏi phải đi tới đi lui, gắn kết các đối tác, thương lượng các vụ làm ăn và đảm bảo cho việc cung cấp đến đúng địa chỉ.

Cà rốt là lợi ích cấp cho các đầu mối phụ như Lundin - một món lợi vững chắc và tương đối không bị rủi ro. Hệ thống thì tốt. Lundin không phải động đến một ngón tay mà vẫn nhận được hàng - không phải có các chuyến đi bán căng thẳng hay giải quyết việc với những người có thể là một đứa nào đó ở đội chống ma túy hay ở mafia Nga. Lundin biết gã khổng lồ sẽ giao hàng rồi nhận 50 phần trăm của gã. Cái gậy là để cho khi nào các trò rắc rối nổi lên. Một đứa bán lẻ trên đường mồm mép ba hoa, kẻ tìm ra quá nhiều điều về dây chuyền cung cấp đã suýt gây lụy cho Câu lạc bộ Xe máy Svavelsjo. Hắn đã buộc phải dính tay vào trừng phạt kẻ đó. Hắn xử lý tốt chuyện trừng phạt.

Nhưng tác chiến đang trở nên quá phiền toái để cho hắn phái giám sát đến. Hắn châm một điều thuốc, duỗi chân lên một cái cổng ở trong cánh đồng. Methamphetamine là một nguồn thu nhập kín đáo và dễ quản lý - lời to, rủi nhỏ. Vũ khí là dễ bị rủi ro và mưu tính đến cả chuyện rủi ro thì đơn giản không phải là làm ăn tốt.

Thi thoảng làm gián điệp công nghiệp hay đưa lậu linh kiện điện tử sang đông u - tuy mấy năm gần đây thị trường đã bị rơi rụng - những việc ấy thì còn bào chữa được. Mặt khác, điếm ở các nước vùng Baltic là một đầu tư hoàn toàn không được hài lòng. Kinh doanh này là thứ tiền lẻ còm, nó có khả năng xới lên bất cứ lúc nào những bài báo, những bài diễn văn nhạt nhẽo lê thê trên báo đài và ở cả các cuộc thảo luận bên trong cái thực thể chính trị kỳ quái người ta gọi là Quốc hội Thụy Điển. Cái dấu dương cho chuyện điếm là ai ai cũng thích điếm - công tố viên, thẩm phán, cảnh sát, thậm chí thỉnh thoảng cả đại biểu quốc hội. Không ai sẽ đi đào sâu nhiều vào đây để đánh sập cái nghề này xuống đâu. Ngay một cô điếm chết cũng không tất yếu gây nên những cuộc cãi vã chính trị om sòm. Nếu trong vòng vài giờ cảnh sát bắt được một nghi phạm vẫn còn vết máu trên quần áo thì sẽ có xét xử tiếp theo và kẻ giết người sẽ ngồi tù mấy năm hoặc ngồi trong một trại giáo dưỡng mù mờ nào đó. Nhưng theo kinh nghiệm của hắn, nếu trong vòng bốn mươi tám tiếng mà không mò ra nghi phạm thì cảnh sát sẽ đủ mau lẹ tìm ra ngay những món quan trọng hơn thế để điều tra.

Nhưng hắn không thích buôn bán băng gái điếm. Hắn không thích tí nào hết bọn gái điếm, không thích những bộ mặt phấn son dầy cộp, tiếng rên hú và tiếng cười say xỉn rượu của họ. Họ không sạch. Và luôn có nguy cơ là một đứa sẽ nảy ra ý rằng ả có thể tìm được nơi trú thân hay sẽ bắt đầu ba hoa chích chòe với cảnh sát hay nhà báo. Lúc ấy hắn sẽ phải tự tay nắm lấy sự tình và ban phát trừng phạt. Và nếu việc tiết lộ ra mà lại đủ ầm ĩ thì công tố viên, cảnh sát sẽ bị buộc phải hành động - nếu không Quốc hội sẽ thực sự tỉnh dậy và chú ý. Nghề điếm nó cuốn hút. Atho và Harry Ranta là điển hình: hai đứa ăn bám vô dụng đã tìm ra được quá nhiều mánh về nghề này. Trước hết hắn muốn quấn xích quanh người hai đứa rồi dìm xuống cảng. Thay vì vậy, hắn lại cho hai đứa lên phà đi Estonia rồi kiên nhẫn chờ cho tới khi phà nhổ neo. Chuyến đi nghỉ của hai đứa là kết quả của một tên phóng viên chết giấp thọc mũi vào công việc của chúng và hắn đã quyết định tốt nhất là cho hai đứa té biệt. Hắn thở dài.

Trên hết hắn không thú những trò làm thêm như với cô gái Salander kia. Với riêng bản thân hắn thì rõ ràng cô gái chả có gì đáng phải quan tâm. Cô không là một thứ lợi lộc nào hết. Hắn không thích Bjurman, hắn không thể tưởng tượng ra tại sao chúng lại quyết định làm cái việc mà Bjurman yêu cầu chúng làm. Nhưng nay quả bóng đã lăn. Chỉ thị đã cho ra, bản hợp đồng đã được tặng cho một thằng làm việc tự do ở Câu lạc bộ Xe máy Svavelsjo và cả cái tình huống này hắn cũng không thích một chút nào. Hắn nhìn qua cánh đồng tối, ném đầu mẩu thuốc lá vào lớp sỏi cạnh cổng. Hắn nghĩ qua khóe mắt hắn thấy có động đậy và hắn lạnh cứng người lại. Hắn chăm chú nhìn. Không có ánh sáng trừ một mảnh trăng lưỡi liềm nhợt nhạt và các ngôi sao, nhưng hắn vẫn có thể cho hắn thấy lại hình thù một người đen ngòm đang bò đến phía hắn, cách chừng ba chục mét. Người ấy tiến đến, thỉnh thoảng dừng lại chút ít. Hắn thấy mồ hôi lạnh toát ra ở chân mày. Hắn ghét cái vật ở trong cánh đồng kia. Hắn đứng một lúc như tê liệt, nhìn chằm chằm như bị hút vào cái vật vẫn đang không ngừng tiến đến. Khi nó đến gần đủ cho hắn nhìn thấy mắt nó loe lóe trong bóng đêm, hắn quay ngoắt lại chạy đến xe hơi. Hắn giật toang cửa. Hắn càng thấy hoảng loạn hơn cho tới khi hắn khởi động được máy và bật đèn đầu xe. Vật kia đã ra ngoài đường đứng và cuối cùng lúc này trong chùm ánh sáng đèn, hắn mới nhận rõ ra được hình nét của nó. Hắn thấy nó giống như một con cá đuối đang trượt trôi đi. Nó có một cái ngòi giống như bọ cạp.

Thế giới không có vật này. Nó là ma quái của thế giới ngầm dưới đất. Hắn vào số xe và rít bánh phóng đi. Khi qua con vật kia hắn thấy nó mổ nhưng không trúng. Hắn không dừng lại, suốt mấy dặm cứ lẩy bẩy run hoài. Salander bỏ cả đêm xem hết nghiên cứu mà Svensson và Millennium đã thu thập được về buôn bán tính dục. Dần dần cô đã có một cái nhìn chung hay hay, ngay dù nó có dựa trên các mảng vụn khó hiểu mà cô đã lắp lại với nhau từ những tư liệu đa dạng.

Berger gửi một thư điện cho Blomkvist hỏi việc đối chất ra sao; anh đáp lại cụt lủn rằng họ không thể lần theo người đàn ông này từ Cheka cho đến mặt đất. Salander hiểu như thế có nghĩa là một trong những kẻ sắp bị ra tòa nhận tội đã làm việc ở Sapo, Cảnh sát An ninh. Eriksson gửi cho Blomkvist và Berger tóm tắt về một nhiệm vụ điều tra phụ giao cho Svensson. Blomkvist và Berger đáp lại có kèm cả bình luận và gợi ý. Blomkvist và Svensson nên ngày ngày trao đổi email cho nhau vài lần. Svensson tả lại một đối chất anh đã làm với một nhà báo, Per - Ake Sandstrom. Từ email của Svensson cô thấy anh đang liên hệ với một người có tên là Gulbrandsen ở một địa chỉ Yahoo. Phải một lúc cô mới nhận ra Gulrandsen là một viên cảnh sát và thư trao đổi giữa hai người là không có sao lưu, dùng một địa chỉ thư điện tử cá nhân thay vì địa chỉ cảnh sát của Gulbrandsen. Vậy thì Gulbrandsen là một nguồn cấp tin. Thư mục có tên ngắn đến phát thất vọng, chỉ ba tư liệu Word. Cái dài nhất, chỉ 128 KB được gọi là [Irina P.], cho ra một phác thảo cuộc đời một cô điếm, tiếp theo có một bản tóm lược của Svensson về bản báo cáo giải phẫu, vài nét tả sơ sài của anh về các vết thương kinh khủng của cô gái.

Cô nhận ra một câu trong bài viết là trích dẫn nguyên văn bản luận án của Johansson. Trong luận án, cô gái được gọi là Tamara nhưng Irina và Tamara chắc là một người nên cô đọc rất thú vị phần phỏng vấn trong bản luận án. Tư liệu thứ hai [Sandstrom] gồm bản tóm lược Svensson đã gửi cho Blomkvist, cho thấy rằng tay nhà báo này là một trong mấy đứa chăn dắt gái từng lạm dụng một cô gái người vùng Baltic và hắn cũng chạy các việc vặt cho mafia tính dục rồi được trả công bằng ma túy hay gái. Ngoài viết cho hộp thư bạn đọc của công ty, Sandstrom còn viết với tư cách tự do cho một nhật báo những bài báo bất bình lên án nghề buôn bán tính dục. Một trong các tiết lộ của hắn là nhà kinh doanh Thụy Điển không bị nêu tên đã đến một nhà thổ ở Tailinn. Zala không được nhắc đến trong cả hai tư liệu, nhưng Salander cho rằng do cả hai tư liệu đều ở trong một thư mục vậy thì chắc phải có một quan hệ. Nhưng tư liệu cuối cùng lại có tên . Nó ngắn và chỉ là ghi chép. Theo Svensson, từ giữa những năm 90, cái tên Zala đã xuất hiện trong chín vụ liên quan đến ma túy, vũ khí hay bán dâm. Không ai biết Zala là ai nhưng các nguồn tin đã chỉ ra mỗi phía một phách rằng hắn là một người Serbia, một người Ba Lan hay có lẽ một người Czech. Tất cả các thông tin đều là nghe sang tai.

Svensson đã thảo luận triệt để với nguồn G (Gulbrandsen) và gợi ý rằng Zala có thể đã phụ trách việc giết Irina P. Không thấy nói G nghĩ thế nào về lý luận này nhưng có một ghi chép hàm ý rằng một năm trước Zala đã được đưa vào chương trình nghị sự tại một cuộc M họp “với nhóm điều tra đặc biệt về tội phạm có tổ chức”. Cái tên này nổi lên nhiều lần quá đến nỗi cảnh sát đã bắt đầu đặt câu hỏi, cố xác lập xem liệu Zala có thật hay không và liệu có còn sống hay không. Theo như Svensson phát hiện thì cái tên Zala xuất hiện lần đầu tiên là dính líu đến một vụ trấn lột một chiếc xe tải nhỏ của bảo hiểm ở Orkelljunga năm 1966. Các tên cướp đã lấy đi hơn 3,3 triệu curon nhưng chúng tổ chức cuộc trốn chạy vụng về cho nên chỉ hai mươi tư giờ sau cảnh sát đã có thể nhận diện được bọn chúng và bắt các thành viên của băng cướp. Ngày hôm sau lại một vụ bắt nữa. Đó là Nieminen, một thành viên của Câu lạc bộ Xe máy Svavelsjo, tên này có vai trò cung cấp vũ khí cho vụ trấn lột. Một tuần sau vụ chặn cướp xe năm 1996, ba người nữa đã bị bắt. Nhóm này vậy là gồm có tám người, bảy đứa trong bọn không chịu nói chuyện với cảnh sát. Đứa thứ tám, một cậu con trai mười chín tuổi tên là Birger Nordman trong khi hỏi cung đã quy phục và thú thật mọi sự mà hắn biết. Vụ xét xử đám này tại tòa đã là một thắng lợi chớp nhoáng của công tố viên. Một hậu quả là (nguồn tin cảnh sát của Svensson nghi) hai năm sau người ta đã tìm thấy Nordman bị vùi trong một giếng mỏ tại Varmland sau khi chạy trốn khỏi nhà tù trong thời gian nghỉ phép tạm.

Theo như G. thì cảnh sát tin rằng Nieminen là chất xúc tác ở đằng sau toàn bộ băng nhóm. Cảnh sát cũng tin rằng Nordman đã bị Nieminen giết theo hợp đồng, tên này được coi là nguy hiểm và tàn nhẫn, nhưng không có chứng cứ. Lúc ở tù hắn có vẻ đã có bàn bạc với Tình huynh đệ Aryan[4], một tổ chức Quốc xã[5] để rồi quay ra cũng gắn kết với Tình huynh đệ Wolfpack và với các câu lạc bộ ở rải rác trên thế giới vốn từng ủng hộ Các Thánh thần Địa ngục, cũng như với các tổ chức Quốc xã bạo lực ngu ngốc khác chẳng hạn Phong trào Kháng chiến Thụy Điển. Nhưng điều làm cho Salander thấy thú vị lại là một cái gì hoàn toàn khác. Nordman nhận với cảnh sát rằng các vũ khí dùng trong vụ trấn lột là đến từ chỗ Nieminen, còn hắn thì lại lấy từ một người Serb mà Nordman không biết nhưng gọi là “Sala”. Svensson đã coi hắn là một nhân vật vô danh trên sân khấu tội phạm và thừa nhận rằng Zala là một bí danh. Nhưng anh cảnh cáo rằng chúng có thể giải quyết chuyện này với một tên tội phạm đặc biệt xảo quyệt hoạt động dưới một bí danh.

Phần sau cùng gồm có thông tin của Sandstrom về Zala, như nói ở trên. Sandstrom đã một lần nói qua điện thoại với một người dùng cái tên Zala này. Các ghi chép không cho biết họ nói chuyện gì. Vào quãng 4 giờ sáng, Salander đóng máy tính, ngồi lên ghế cửa sổ nhìn ra Saltsjon. Cô ngồi lặng lẽ trong hai tiếng, hút hết điếu thuốc này sang điếu khác, suy nghĩ. Cô phải đưa ra một số quyết định chiến lược - và cô phải đánh giá về rủi ro. Cô phải tìm Zala thanh toán một lần và vĩnh viễn các món nợ giữa đôi bên.

Tối thứ Bảy tuần trước lễ Phục sinh, Blomkvist thăm một bạn gái xưa trên đường Slipgatan lân cận với Hornstull. Anh đã một lần nhận lời mời đến một liên hoan. Nay chị đã có chồng và vẫn quan tâm đến Blomkvist chẳng khác gì một người bạn nhưng chị làm ở báo đài và vừa hoàn thành một quyển sách chị từng ấp ủ trong mười năm, quyển sách bàn đến một cái gì đó lạ lùng như bộ mặt của phụ nữ trong thông tin đại chúng. Blomkvist đã cung cấp tư liệu cho quyển sách, do đó anh được mời. Vai trò của anh là nghiên cứu một vấn đề. Anh đã chọn xem xét các chính sách về cơ hội bình đẳng mà hãng tin TT, báo Dagens Nyheter, tiết mục Rapport và một số báo đài khác đã huênh hoang quảng cáo. Rồi anh kiểm tra xem trong ban điều hành của mỗi công ty có bao nhiêu đàn ông và phụ nữ, cao hơn trình độ trợ lý tòa soạn. Kết quả là đáng bối rối: giám đốc - đàn ông; chủ tịch tòa soạn - đàn ông; tổng biên tập - đàn ông; ủy viên biên tập đối ngoại - đàn ông; ủy viên biên tập quản trị - đàn ông... và v.v... cho đến cuối cùng thì người phụ nữ đầu tiên đã đến. Buổi liên hoan được tổ chức ở nhà tác giả và khách dự phần lớn là những người đã giúp chị về quyển sách.

Đó là một buổi tối tao nhã với thức ăn ngon và chuyện trò thoải mái. Blomkvist đã biết điều có ý về sớm nhưng nhiều khách mời là chỗ quen biết lâu ngày mà anh ít gặp. Ngoài ra không ai nói quá nhiều đến vụ Wennerstrom. Buổi liên hoan tiếp tục cho tới 2 giờ sáng ngày Chủ nhật. Blomkvist trông thấy chiếc xe buýt đêm chạy qua nhưng anh không kịp giữ cho nó dừng lại, mà khí trời thì êm dịu, cho nên anh quyết định đi bộ về nhà thay vì chờ chiếc sau. Anh theo đường Hogalidsgatan đến nhà thờ rồi quẹo lên Lundagatan và ký ức xưa lập tức thức dậy. Blomkvist đã giữ lời hứa anh đưa ra hồi tháng Chạp để thôi đến thăm Lundagatan với hy vọng hão huyền rằng Salander sẽ xuất hiện. Đêm nay anh dừng lại ở hè phố đối diện với tòa cao ốc của cô. Anh muốn bấm chuông cửa nhưng anh biết có vẻ cô không thích gặp anh một mình vào lúc này trong đêm khuya khoắt mà lại không báo trước.

Anh nhún vai đi tiếp tới Zinkensdamm. Chưa đi được năm chục mét thì nghe thấy có tiếng cửa mở, anh quay lại và thế là tim anh hẫng ngay một nhịp. Không thể nào lầm được cái thân người xương xẩu kia. Salander vừa bước khỏi cửa ra phố và đi ngược lại với anh. Cô dừng lại ở một chiếc xe hơi đỗ. Blomkvist há miệng toan gọi thì tiếng anh nghẹn lại ở cổ họng. Anh trông thấy một người đàn ông đi ra khỏi một xe hơi khác đỗ dọc đường vòng đầu phố. Hắn rảo chân đi theo Salander. Blomkvist có thể thấy hắn cao lớn và tóc túm đuôi ngựa. Salander nghe thấy tiếng động và thoáng nhìn thấy đằng sau mình một cử động đúng vào lúc cô tra chìa vào cửa chiếc Honda. Hắn sáp chéo góc đến sau lưng cô và cô quay ngoắt lại hai tích tắc trước khi hắn với được tới cô. Cô nhận diện ngay lập tức hắn là Carl - Magnus Lundin ở Câu lạc bộ Xe máy Svavelsjo, đứa mấy ngày trước đã gặp gã khổng lồ ở quán Café Blomberg.

Cô đánh giá hắn là hung hãn và cân nặng hơn 120 kilô. Dùng chùm chìa khóa như một quả đấm sắt và nhanh như một con thằn lằn, cô rạch một vết thương sâu vào má hắn, từ chân mũi đến mang tai. Như Salander, hắn đấm vào không khí rồi nom vẻ như chìm vào dưới đất. Blomkvist thấy Salander vung quả đấm ra. Đánh kẻ tấn công xong, cô ngã xuống đất rồi lăn vào dưới gầm xe. Mấy giây sau, Salander đã đứng lên ở phía bên kia xe, sẵn sàng chiến đấu hay chuồn. Nhìn thấy ánh mắt kẻ địch dưới chiếc mũ ôm sát sọ, cô quyết định chọn cách thứ hai. Máu chảy ra ở má hắn. Hắn chưa kịp cố tập trung chú ý vào cô, cô đã băng qua Lundagatan, chạy đến Nhà thờ Hogalid.

Blomkvist đứng như trời trồng, mồm há hốc khi kẻ tiến công thình lình nhào đến sau lưng Salander. Hắn trông như cỗ xe tăng đuổi một xe hơi đồ chơi. Salander ba bậc một leo cầu thang lên Lundagatan thượng. Lên đỉnh cầu thang cô liếc qua vai thấy kẻ đuổi mình đang lên bậc thứ nhất. Hắn nhanh. Cô để ý thấy một đống ván và cát mà chính quyền địa phương đào lên bên đường. Gần như sắp leo hết cầu thang thì Lundin lại trông thấy Salander. Hắn đủ thì giờ nhận thấy cô ném một cái gì nhưng hắn không kịp phản ứng lại với một viên đá sắc cạnh đập vào thái dương hắn. Viên đá được ném rất mạnh, nó xé toạc ra một vết thương nữa trên mặt hắn. Hắn cảm thấy được hắn đang hụt chân rồi thế gian đảo tít khi hắn ngã ngửa ra trên các bậc thang. Hắn cố giảm bớt đà ngã bằng cách nắm lấy lan can nhưng hắn đã lỡ mất vài ba giây.

Blomkvist hết tê liệt khi người đàn ông biến đi ở trên đỉnh cầu thang. Anh bắt đầu la hét để xua hắn cút đi. Salander đã đến giữa sân nhà thờ thì nghe thấy tiếng Blomkvist. Cái quỷ gì thế nhỉ? Cô đổi hướng, nhìn qua lan can trên sân trời. Cô thấy Blomkvist ở dưới cô ba mét. Thoáng do dự rất nhanh rồi cô lại vọt. Cùng lúc chạy đến cầu thang Blomkvist để ý thấy một xe Dodge bắt đầu chạy qua cửa trước nhà Salander, đằng sau chiếc xe cô định lên lúc nãy. Chiếc xe vút ra khỏi chỗ lượn, đi qua Blomkvist, chạy phía Zinkensdamm. Anh nhác thấy một bộ mặt khi chiếc xe đi qua. Tối quá không đọc được biển số xe.

Blomkvist bắt kịp kẻ đuổi theo Salander ở đỉnh cầu thang. Hắn dừng lại, đứng bất động nhìn quanh. Blomkvist vừa đến tới chỗ hắn thì hắn quay lại cho anh một cú đấm ngược tay vào giữa mặt. Blomkvist hoàn toàn không đề phòng. Anh lăn long lóc, lộn đầu xuống cầu thang. Nghe thấy tiếng kêu u ú nghèn nghẹn của Blomkvist, Salander gần như sắp đứng lại. Xảy ra chuyện gì thế này? Nhưng quay lại cô thấy Lundin chỉ cách cô có ba chục mét. Hắn nhanh hơn. Cứt, hắn sắp tóm được mình.

Cô rẽ trái chạy lên vài bậc thang đến sân trời ở giữa hai cao ốc. Cô đến một cái sân không chỗ che chắn rồi chạy hết sức nhanh đến góc sân khác. Cô quay phải, vừa kịp nhận ra mình có thể rúc vào phải một lối cụt. Khi tới tường cuối cùng của tòa cao ốc sau, cô trông thấy Lundin đến đầu cầu thang của cái sân. Cô cứ rẽ - cho khỏi tầm nhìn của hắn - lấy một ít mét nữa rồi nhào đầu trước tiên vào một bụi đỗ quyên ở giữa một luống hoa dọc theo hông tòa cao ốc. Cô nghe thấy Lundin chạy rình rịch nhưng không thấy được hắn. Cô nín thở, nằm ép sát vào đất bên dưới bụi đỗ quyên. Lundin đi qua chỗ cô nấp thì dừng lại. Hắn ngập ngừng một ít rồi rảo bước quanh sân. Một phút sau hắn quay lại. Hắn dừng lại ở chỗ hắn dừng lúc nãy. Lần này hắn đứng im chừng nửa phút. Salander căng hết gân cốt, chuẩn bị tư thế cho cuộc phới chạy tức thì nếu như bị hắn phát hiện. Nhưng hắn lại đi, ngang qua chỗ cô, cách hai mét. Cô nghe tiếng chân hắn mất dần ở đầu sân đằng kia.

Blomkvist thấy đau ở gáy và hàm, khi anh lụi cụi đứng lên, đầu óc anh choáng váng. Anh thấy mùi máu ở chỗ môi bị rách. Anh loạng choạng đi đến đỉnh cầu thang nhìn quanh. Anh thấy người có tóc đuôi ngựa chạy xuống cuối phố cách anh một trăm mét. Hắn dừng lại nhòm soi vào các khe giữa các cao ốc rồi chạy qua Lundagatan leo lên chiếc Dodge. Chiếc xe phóng đi tới Zinkensdamm. Blomkvist đi thong thả dọc mạn trên của Lundagatan tìm Salander. Anh không thấy cô đâu. Không một bóng người và anh ngạc nhiên vào lúc 3 giờ sáng Chủ nhật mà một đường phố ở Stockholm lại có thể quạnh quẽ như thế này. Một lúc sau anh đi bộ trở lại cửa trước nhà Salander ở mạn cuối đường Lundagatan. Khi đi qua chiếc xe, chỗ đã xảy ra chuyện Salander bị đánh, anh dừng lại ở một chùm chìa khóa mắc vào một chiếc vòng. Anh cúi nhặt lên và trông thấy cái túi đeo vai ở dưới gầm xe.

Blomkvist đứng ở đó một lúc lâu. Cuối cùng anh tra các chìa khóa vào cửa. Không vừa. Salander nằm trong bụi đỗ quyên mười lăm phút, chỉ cựa mình để xem đồng hồ. Ngay sau 3 giờ cô nghe thấy một cánh cửa mở và những bước chân đi đến chỗ chiếc xe đạp cất ở sân. Khi tiếng chân tắt ngấm cô quỳ dần lên trên đầu gối nhòm qua bụi cây. Cô nhìn chằm chằm vào mọi ngóc ngách xó xỉnh của mảnh sân nhưng không thấy dấu hiệu nào của Lundin. Cô bước trở lại đường phố, từng phút sẵn sàng quay đuôi chạy. Cô dừng lại ở đỉnh một bức tường nhìn với sang bên Lundagatan và trông thấy Blomkvist đang ở ngoài tòa nhà có căn hộ của cô. Chiếc túi vai của cô ở trong tay anh.

Cô đứng bất động hoàn toàn, nấp sau một cột đèn khi mắt Blomkvist nhìn quét lên cầu thang và bức tường. Anh không trông thấy cô. Blomkvist đứng ở trước cửa nhà cô gần nửa giờ. Cô kiên nhẫn dõi nhìn anh, không động đậy, cho tới khi anh bỏ cuộc đi về quả đồi dẫn tới Zinkensdamm. Anh đi rồi cô bắt đầu nghĩ về câu chuyện vừa xảy ra. Kalle Blomkvist.

Cô không thể tưởng tượng ra nổi vì tính mạng cô mà anh lại vọt ra chả biết từ đâu như thế. Cạnh đó, cuộc tiến công không phải là khó giải thích. Carl Magnus Lundin Thằng khốn kiếp. Lundin đã gặp gã khổng lồ mà cô thấy nói chuyện với Bjurman.

Nils Bjurman Thằng đểu. Cục cứt này đã thuê một thằng đực rựa số dách để hại ta. Và ta sẽ cho nó thấy rõ như pha lê hậu quả là như thế nào. Salander sôi sục trong lòng. Cô điên lên đến nỗi cô cảm thấy có vị máu ở trong miệng. Bây giờ cô sẽ đi trừng trị hắn.

.