fa-bars

Cô Gái Đùa Với Lửa - Chương 4

Phần III

Những phương trình phi lý 23 THÁNG BA - 2 THÁNG TƯ Những phương trình vớ vẩn mà không có đáp án nào tồn tại cho chúng được gọi là trò vô lý.

(a+b)(a-b) = a2 - b2 + 1 CHƯƠNG 11 Thứ Tư, 23 tháng Ba

Thứ Năm trước Phục sinh, 24 tháng Ba Blomkvist cầm bút đỏ khoanh vào lề bản thảo của Svensson một vòng tròn trong có một dấu hỏi rồi viết “chú thích chân trang”. Anh muốn Svensson cấp nguồn tư liệu ở đây. Là thứ Tư, tối trước thứ Năm Phục sinh, muốn gì ít nhiều Millennium cũng đóng cửa vì tuần lễ Phục sinh. Nilsson ra nước ngoài, Karim lên núi với chồng. Cortez đến vài giờ để giải quyết các tin gọi qua điện thoại nhưng Blomkvist đã cho anh ta về vì chả có ai gọi mà anh thì sẽ ở đây. Cười hí hửng, Cortez lên đường đi gặp bạn gái mới.

Svensson ở quanh quẩn đây. Blomkvist ngồi một mình trong tòa soạn đọc kỹ tập bản thảo. Quyển sách sẽ có mười hai chương và dài 288 trang. Svensson đã nộp chín trong số mười hai chương và Blomkvist thì đang xét từng chữ, rồi đưa trả lại bản sao đã đọc kỹ với những ghi chú yêu cầu giải thích thêm và gợi ý những chỗ cần viết lại. Svensson là một người viết có tài. Phần lớn việc xét duyệt của Blomkvist được ghi vào bên lề tập bản thảo. Trong các tuần khi mà tập bản thảo dầy lên ở trên bàn làm việc của anh, họ chỉ không đồng ý với nhau về một đoạn văn, Blomkvist muốn bỏ nó nhưng Svensson sống chết đòi giữ lại. Và anh đã giữ được. Tóm lại, Millennium có một quyển sách xuất sắc sẽ được gửi rất sớm đến nhà in. Không nghi ngờ gì là nó sẽ nổi đình đám trên các báo. Svensson đã vạch mặt không thương xót đám chăn dắt gái, anh kể câu chuyện theo cách mà ai cũng có thể hiểu được là ở ngay trong bản thân chế độ đang có một cái gì đó không ổn. Phần này của quyển sách cho thấy tài năng của anh ở cả tư cách nhà văn lẫn tư cách nhà triết học xã hội. Việc nghiên cứu điều tra của anh đã dựng nên khung cốt của quyển sách. Đó là tác phẩm báo chí thuộc vào loại sẽ bị nằm vào trong bảng danh sách các giống loài lâm nguy.

Blomkvist biết rằng Svensson là một nhà báo tự đòi hỏi cao, rất ít để hở sườn. Anh không dùng lối tu từ đao to búa lớn điển hình của quá nhiều báo đạo biến các bài viết trở thành những lời lẽ vô vị huênh hoang. Vượt ra khỏi một bản tường trình, quyển sách của anh là một lời tuyên chiến. Blomkvist tự mỉm cười với mình. Svensson trẻ hơn anh chừng mười lăm tuổi nhưng anh nhận ra niềm đam mê anh từng có khi anh giương ngọn giáo lên chống lại các phóng viên tài chính hạng hai và đưa ra một quyển sách gây xôn xao dư luận. Một số phòng họp báo đã không xóa tội xóa nợ cho anh. Với quyển sách của Svensson, vấn đề là phải kín kẽ chắc chắn. Một phóng viên dám theo đến cùng như thế này thì hoặc phải bảo vệ được trăm phần trăm bài báo của mình hoặc kiềm chế lại không đăng. Ngay lúc này Svensson đã bảo vệ được 98 phần trăm, vẫn còn một ít điểm yếu cần gia công thêm và ở một hay hai điều khẳng định anh chưa đưa ra được tư liệu thích đáng. 5 rưỡi chiều, Blomkvist mở ngăn kéo bàn làm việc lấy một điếu thuốc lá. Berger đã ban hành quy chế cấm hoàn toàn thuốc lá ở tòa soạn nhưng anh là người duy nhất và cũng chả còn ai khác sẽ ở tòa soạn vào cuối tuần này. Anh làm thêm bốn chục phút rồi thu dọn các trang viết và đặt cái chương anh đã làm lên khay nhận bài vở của Berger để cho chị đọc. Svensson đã hứa sáng mai gửi bản viết cuối cùng của ba chương còn lại qua email, như vậy Blomkvist có cơ hội đọc kỹ nó trong hai ngày cuối tuần. Đã định thứ Ba sau Phục sinh khi họ làm xong bản thảo cuối cùng của quyển sách và các bài báo cho Millennium thì sẽ có một cuộc họp những người phụ trách tòa soạn. Sau đó chỉ còn lại việc trình bày minh họa, chuyện nhức đầu của một mình Malm, rồi nó sẽ được đi đến nhà in. Blomkvist đã không tìm kiếm những giá chào hàng của các nhà in khác; anh tin tưởng công việc của Hallvigs Reklam ở Morgongava. Họ đã in quyển sách của anh về vụ Wennerstrom và đã cho anh một giá hời cùng dịch vụ hàng đầu.

Blomkvist xem đồng hồ rồi quyết định tự thưởng cho mình được xa hoa hút một điếu thuốc nữa. Anh ngồi ở cửa sổ nhìn xuống Gorgatan. Anh đưa lưỡi vào chỗ môi bị rách. Nó đang bắt đầu lành. Anh đã nghĩ cả nghìn lần về thực chất câu chuyện xảy ra ở bên ngoài tòa cao ốc của Salander sáng Chủ nhật. Tất cả những gì anh biết chắc chắn là Salander còn sống và đã quay về Stockholm. Từ đấy hàng ngày anh cố tìm cách gặp cô. Anh đã gửi email đến địa chỉ cô dùng hơn năm trước. Anh đảo khắp Lundagatan. Anh đã bắt đầu thất vọng.

Biển tên ở trên cửa nay là “Salander - Wu”. Có 230 người tên Wu trong danh sách cử tri và khoảng 140 người trong số đó sống ở Stockholm, không ai ở Lundagatan. Blomkvist không biết liệu cô đã có bạn trai chưa hay cô cho thuê căn hộ rồi. Không ai ra mở khi anh gõ cửa. Cuối cùng anh ra lại bàn làm việc, viết cho cô một bức thư hiền lành theo kiểu cổ: Chào Sally,

Tôi không biết năm ngoái chuyện gì đã xảy ra nhưng nay thì ngay đến một đứa óc bã đậu như tôi cũng nhận thấy ra là cô đã cắt đứt hết mọi tiếp xúc. Cô chơi bời với ai là cô tự quyết định, tôi không có ý chõ vào. Tôi chỉ muốn bảo cô rằng tôi vẫn nghĩ đến cô như một người bạn, rằng tôi nhớ thời gian ở bên cô và thích được uống một tách cà phê với cô - nếu cô thích như thế. Tôi không biết cô đã vướng phải rắc rối nào nhưng vụ đánh đuổi ở Lundagatan là đáng báo động. Nếu cần giúp đỡ cô có thể gọi tôi bất cứ lúc nào. Tôi chịu ơn cô lớn, cô biết đấy. Thêm, tôi có cái túi khoác của cô. Khi nào muốn lấy, cứ việc cho tôi biết. Nếu cô không muốn gặp tôi thì cho tôi một địa chỉ để tôi gửi nó qua bưu điện. Tôi hứa không làm phiền cô vì cô đã cho thấy đủ rõ ràng rằng cô không muốn có bất cứ liên hệ nào với tôi cả.

Mikael Như đã lường trước, anh không được một hồi âm nào. Sáng sau vụ đánh đuổi, khi về nhà, anh đã mở cái túi khoác, đổ các thứ ở bên trong lên bàn bếp. Có một chiếc ví với một thẻ căn cước, khoảng 600 curon, 200 đôla Mỹ, và một thẻ đi xe tháng. Có một gói Marlboro Nhẹ, ba bật lửa Bic, một hộp thuốc chữa đau họng hình thoi, một gói giấy khăn lau, một bàn chải răng, thuốc đánh răng, ba chiếc băng vệ sinh ở trong một túi bên, một hộp bao cao su chưa bóc với miếng dán đề giá tiền cho thấy nó đã được bán ở sân bay Gatwick, một sổ tay đóng gáy với dụng cụ đo tính màu đen, năm bút bi, một bình xịt Mace, một túi con đựng son môi và đồ trang điểm, một radio FM chạy pin với một tai nghe nhưng không có pin và tờ báo Aftonbladet thứ Bảy.

Vật làm cho anh ngạc nhiên nhất là một cái búa, dễ dàng đút vào ngăn túi bên ngoài. Nhưng bị tấn công quá đột ngột cô đã không kịp dùng đến nó hay lọ xịt Mace. Rõ ràng cô đã dùng chùm chìa khóa làm một quả đấm sắt - vẫn có vết máu và da trên các chìa. Có sáu chiếc chìa móc vào vòng. Ba cái là chìa điển hình dùng cho cửa nhà ở - cửa chính, cửa căn hộ và cho khóa vòng. Nhưng không chìa nào hợp với cửa của tòa nhà ở Lundagatan. Blomkvist mở quyển sổ tay đọc hết từng trang một. Anh nhận ra chữ viết gọn ghẽ của cô và ngay lập tức thấy đây không phải là cuốn nhật ký riêng tư của một cô gái. Ba phần các trang sổ tay chi chít những cái nom như những ghi chép toán học. Ở đầu trang thứ nhất là một phương trình mà ngay Blomkvist cũng nhận ra:

(x3 + y3 = z3) Blomkvist không bao giờ gặp rắc rối trong môn toán. Anh rời trường phổ thông với điểm số cao nhất về toán, điều dĩ nhiên không có ý nói anh là một nhà toán học mà chỉ là nói anh có thể tiếp thu nội dung giáo trình của nhà trường. Nhưng sổ tay của Salander có những công thức thuộc loại mà Blomkvist chưa từng hiểu cũng như rồi cũng sẽ không thể hiểu. Một phương trình nằm vắt ngang cả hai trang liền và chấm hết với những thứ bị giập xóa và sửa. Anh cũng không thể nói chúng là các công thức toán thực sự hay là các bài toán, nhưng do anh hiểu cái sự quái của Salander nên anh cho rằng các phương trình này là thật và chắc chắn có mang một ý nghĩa bí kíp nào đó. Anh lật đi lật lại nhiều lần quyển sổ tay. Mà chẳng khác nào anh bập phải một quyển sổ tay dày đặc chữ Trung Quốc. Nhưng anh nắm được điều chính yếu của cái việc cô đang cố làm. Cô đã bị định lý Fermat mê hoặc, một bài toán đố mà anh cũng chỉ là nghe nói đến mà thôi. Anh buông một tiếng thở dài đánh sượt.

Trang cuối cùng của quyển sổ có một số ghi chú rất cụt lủn và khó hiểu, những cái tuyệt đối không có gì liên quan đến toán học, nhưng muốn gì nom vẫn giống như một công thức: (Khổng lồ Tóc vàng + Magge) = NEB Nó được gạch dưới và khoanh tròn, và chả có ý nghĩa gì với anh. Ở dưới cùng trang là một số điện thoại và tên một công ty cho thuê xe hơi ở Elskilstuna, Auto - Expert.

Blomkvist dập điếu thuốc, mặc jacket vào, đặt tín hiệu báo động trong tòa soạn rồi đi bộ ra bến xe buýt cuối cùng ở Slussen, lên xe đi đến khu sinh sống riêng của đám thanh niên yuppie ở Staket, gần Lannersta. Blomkvist được cô em gái Annika Blomkvist Giannini mời ăn tối, hôm nay là sinh nhật lần thứ bốn mươi hai của cô. Berger bắt đầu lễ Phục Sinh dài ngày bằng một cuốc đi rảo cẳng ba cây số hùng hục và đầy lo lắng rồi kết thúc ở một bến tàu chạy hơi nước ở Salssjobaden. Lười đúng giờ tới nhà thể dục, chị đã cảm thấy người cứng đơ và không được khỏe. Chị đi bộ về nhà. Chồng chị lên lớp ở Viện bảo tàng Hiện đại, ít nhất cũng phải tới 8 giờ mới về. Chị nghĩ sẽ mở một chai vang ngon, vặn tắm hơi lên rồi mồi chài anh. Như thế ít nhất cũng sẽ làm cho chị thôi nghĩ đến cái vấn đề nó đang quấy rối chị. Một tuần trước chị đã ăn trưa với vị Tổng giám đốc của công ty truyền thông lớn nhất Thụy Điển. Đang dùng món salad, ông hết sức nghiêm túc đưa ra thẳng thừng ý ông định tuyển chị về làm Tổng biên tập của tờ báo hàng ngày lớn nhất của công ty, tờ Svenska Morgon - Posten. Ban lãnh đạo đã bàn mấy khả năng nhưng chúng tôi tán thành rằng chị sẽ là một tài sản lớn của tờ báo. Chị là người mà chúng tôi mong muốn. Kèm với lời mời làm là một khoản lương nó làm cho thu nhập của chị ở Millennium nom hóa ra hài hước.

Như tiếng sét nổ giữa trời xanh, lời mời đã khiến cho chị im lặng không nói. Tại sao lại là mình? Ông Tổng giám đốc đã nói mập mờ hơi là lạ, nhưng dần dà ý tứ đã rõ ra là chị có tên tuổi, được kính trọng và là một biên tập viên mà tài năng thì đã được chứng nhận. Cách chị kéo Millennium ra khỏi bãi cát lún hai năm trước đã gây ấn tượng với họ. Tờ Svenska Morgon - Posten cũng cần có được sức sống mới bằng cách ấy. Một khí quyển của những người già nua ở tờ báo đang khiến cho số lượng người đặt mua báo giảm xuống liên tục. Berger là một nhà báo quyền uy. Chị có mục tiêu. Để cho một phụ nữ và một người bảo vệ quyền lợi phụ nữ phụ trách một trong những thiết chế báo thủ nhất và chuyên bị đàn ông thống trị này là một ý tưởng khiêu khích và táo bạo. Mọi người đều tán thành. Những người đáng kể tới đều đứng về một bên. - Nhưng tôi lại không chia sẻ các quan điểm chính trị cơ bản của tờ báo.

- Thì có ai bảo sao? Chị cũng không phải là một người đối lập nói đốp chát. Chị sẽ là bà chủ - chứ không phải là máy nói của các vị quan chức - trang xã luận sẽ tự lo liệu lấy cho nó. Nói điều này, ông đã kiệm lời, nhưng đó cũng là một vấn đề thuộc về đẳng cấp. Berger có xuất thân không chê vào đâu được. Chị bảo ông là lời mời chắc chắn hấp dẫn chị nhưng chị chưa thể trả lời ông ngay. Chị cần phải suy nghĩ kỹ. Nhưng họ đồng ý rằng chị nên cho họ biết sớm quyết định chứ đừng để muộn. Ông Tổng giám đốc nói nếu tiền lương mà ông nêu ra là lý do để cho chị do dự thì chắc chắn là chị có tư thế để bàn tới một con số cao hơn. Một khoản tiền thưởng lớn đến độ ngạc nhiên cũng sẽ được tính đến. Đã đến lúc chị bắt đầu nghĩ đến kế hoạch về hưu rồi đó.

Sinh nhật lần thứ bốn mươi tư của chị sắp tới. Chị đã học nghề với tư cách thực tập viên và nhân viên tạm thời. Chị đã lắp ráp nên Millennium rồi bằng thành tích của bản thân mà trở thành Tổng biên tập của nó. Giây phút chị phải cầm điện thoại lên để nói là nhận hay không đang tới nhanh mà chị vẫn không biết sẽ nói thế nào. Tuần trước chị đã xem xét đến thời hạn và bàn chuyện này với Blomkvist nhưng chị không có đủ nghị lực. Thay vì vậy, chị lại giấu anh lời mời này, và chị thấy nhói đau vì có lỗi. Có vài bất lợi rõ. Một câu vâng sẽ làm tan vỡ quan hệ đối tác với Blomkvist. Anh sẽ không bao giờ theo chị đến Svenska Morgon - Posten, dù chị hay họ có thể cho anh một công việc thơm tho thế nào. Hiện nay anh đang không cần tiền và anh đang được thung dung viết tiếp các bài báo ra trò. Berger rất thích làm Tổng biên tập tờ Millennium. Nó đã cho chị một vị trí trong thế giới báo chí, cái vị trí mà chị hầu như coi mình là không xứng. Chị không là người sản xuất tin. Việc này không phải sở trường của chị - chị tự xem mình là một cây viết xoàng. Nhưng chị là số dách về phát thanh hay truyền hình và trên hết chị là một biên tập viên xuất sắc. Cạnh đó, chị thích công việc thực tế của xuất bản, nó là điều kiện tiên quyết cho chức vụ Tổng biên tập của tờ Millenium.

Dẫu sao chị cũng bị cám dỗ. Không phải vì tiền lương mà sự thật là công việc đó có nghĩa chị sẽ nghiễm nhiên trở thành một trong những tác nhân của ngành truyền thông Thụy Điển đang thành công ghê gớm. Đây là lời mời chỉ gặp có một lần ở trong đời mà thôi, ông Tổng giám đốc đã nói. Ở đâu đó quãng gần Grand Hotel ở Saltsjobaden, chị nhận ra chị sẽ không thể từ chối lời mời này. Và chị nhún vai khi nghĩ tới việc sẽ phải nói với Blomkvist. Bữa tối ở nhà Giannini luôn luôn hỗn loạn ở mức chịu được. Annika có hai con: Monica mười ba và Jennie lên mười. Enrico, chồng chị, đầu ngành của một công ty sinh kỹ học quốc tế vùng Scandinavia đã nuôi Antonio, đứa con trai mười sáu tuổi có với người vợ đầu. Cùng ăn có Antonia, mẹ của Enrico, em anh Pietro, em dâu anh Eva - Lotta cùng Pietro và Nicola, hai đứa con của chị. Cộng Marcella, em gái của Enrico và bốn đứa con của chị sống loanh quanh cùng xóm. Angelina, dì của Enrico, bị gia đình coi như điên đặc hay là cực kỳ hóa rồ vào những ngày tốt lành, cũng được mời đến với ông bạn trai mới của bà.

Dễ dàng nhận ra cái sự rối loạn bên bàn ăn đầy ú. Chuyện trò diễn ra huyên náo với tiếng Ý và tiếng Scandinavia pha trộn đôi khi cùng lúc. Tình hình càng đáng rầu do bà dì Angelina bỏ cả buổi tối ra nói ầm ầm lên - cho ai cũng nghe thấy - rằng tại sao ông anh của Annika cứ vẫn không vợ. Angelina cũng đề nghị một số giải pháp thích hợp cho vấn đề của anh ở trong đám con gái của các bạn bè bà. Bực mình, cuối cùng Blomkvist nói rõ rằng lấy vợ thì anh hạnh phúc nhưng không may thay, người mà anh yêu lại đã có chồng mất rồi. Như vậy mới làm cho Angelina im được một lúc. 7 rưỡi, di động của Blomkvist reo. Anh tưởng đã cắt máy và suýt nữa lỡ mất cuộc gọi khi anh moi máy ở túi trong áo jacket ra, chiếc áo đã có ai treo lên mắc mũ áo ở gian sảnh. Svensson gọi. - Tôi có phá ngang mất chuyện gì không?

- Không có gì đặc biệt. Tôi ăn tối với em gái và một trung đội những người của gia tộc chồng cô ấy. Chuyện gì thế? - Hai chuyện. Tôi cố túm lấy Christer nhưng anh ấy không trả lời. - Cậu ấy đang ở nhà hát với tay bạn trai.

- Chán thật. Tôi đã hứa sáng mai gặp anh ấy ở tòa soạn cùng với ảnh và đồ họa cho quyển sách. Christer sẽ xem trong những ngày cuối tuần nhưng thình lình Mia lại quyết định nhân lễ Phục sinh đi thăm bố mẹ cô ấy ở Dalarna và đưa các vị xem luận án của cô ấy. Chúng tôi sẽ đi sớm mai và một số ảnh tôi không gửi email được. Tôi có thể gửi chúng đến anh tối nay không? - Có thể... nhưng xem nào, tôi đang ở mãi tận ngoài Lannersta cơ. Tôi còn ở đây một lúc nữa nhưng sau đây sẽ về thành phố. Con đường tôi đi không xa Enskede chỗ anh lắm. Tôi có thể xẹt qua lấy cho. Quanh quẩn 11 giờ được chứ? - Thế thì nhất. Việc thứ hai... tôi nghĩ anh sẽ không thích cái này.

- Phun ra đi. - Tôi dớ được một cái mà tôi nghĩ tốt nhất nên kiểm tra trước khi đưa quyển sách đi nhà in. - OK. Cái gì thế?

- Zala viết là Z. - A, Zala tên cướp. Đứa mà mọi người có vẻ khiếp sợ và không ai muốn dây đến. - Nó đấy. Một hai ngày trước đây tôi lại đã vập phải nó. Tôi tin là nó hiện đang sống ở Thụy Điển và nó chắc là nằm trong danh sách đám ma cô chăn dắt gái ở chương bảy.

- Dag, ba tuần nữa đưa sách đến nhà in rồi, anh không thể lại bắt đầu đào bới được đâu. - Tôi biết nhưng cái này hơi đặc biệt một tí. Tôi đã nói chuyện với một người cảnh sát từng nhặt được một tin gì đó về Zala. Tuần sau bỏ hai ba ngày ra kiểm tra thêm về hắn thì tôi nghĩ muốn gì cũng sẽ ra chuyện đấy. - Tại sao lại là hắn? Những loại dòi bọ đó ở trong sách của anh đã có đủ hết rồi mà.

- Thằng này dòi bọ cỡ Thế vận hội đấy. Không ai biết thực sự nó là thế nào. Linh tính bảo rằng chúng ta bỏ một lúc ra tìm nó là đáng đấy. - Đừng có đem hạ giá linh tính của anh đi. - Blomkvist nói. - Nhưng nói thật ra thì... chúng ta không thể lùi hạn được. Đã đặt chỗ ở nhà in và quyển sách lại phải ra cùng lúc với số Millennium có chủ đề. - Tôi biết. - Svensson nói, giọng nghe cụt hứng.

- Tôi sẽ gọi anh sau. - Blomkvist nói. Johansson vừa pha cà phê đổ vào phích thì chuông cửa reo. Đúng vào trước 9 giờ tối. Ở gần cửa hơn, lại nghĩ có thể là Blomkvist đến sớm trước hẹn, Svensson mở cửa không nhòm qua lỗ quan sát. Không phải Blomkvist. Svensson đối diện với một cô gái như búp bê, thấp, cỡ ở vào cuối tuổi mười mấy. - Tôi muốn gặp Dag Svensson và Mia Johansson. - Cô gái nói.

- Tôi là Dag Svensson đây. - Tôi muốn được nói chuyện với cả hai người. Svensson bất giác xem đồng hồ. Johansson tò mò đã vào gian sảnh đứng ở đằng sau bạn trai cô.

- Đến thăm thế này thì có hơi bị muộn. - Svensson nói. - Tôi muốn nói đến quyển sách anh dự định xuất bản ở Millennium. Svensson và Johansson nhìn nhau.

- Thế cô là ai? - Tôi quan tâm đến vấn đề này. Tôi có thể vào được không hay là ta nói chuyện ở ngoài hành lang? Svensson do dự một thoáng giây. Cô gái hoàn toàn xa lạ, giờ đến thăm kỳ quặc nhưng xem vẻ cô không đủ sức gây hại nên anh mở cửa. Anh chỉ cho cô bàn trong phòng khách.

- Cô có muốn uống cà phê không? - Johansson nói. - Trước hết cô nên giới thiệu cô là ai đã. - Svensson nói. - Vâng, tôi xin, à, ý tôi là nói cà phê. Tôi là Lisbeth Salander.

Johansson nhún vai mở phích. Chuẩn bị đón Blomkvist cô đã bày cốc tách cà phê ra. - Điều gì khiến cô biết chúng tôi đang in sách ở Millennium? - Svensson nói. Anh bỗng hết sức nghi ngờ nhưng cô gái lờ anh mà quay sang Johansson. Cô nheo mặt, và đó có thể là một nụ cười khó hiểu.

- Luận án lý thú đấy. - Cô nói. Johansson nom có vẻ choáng. - Sao cô lại biết được luận án của tôi chứ?

- Tôi tình cờ vớ được một bản sao. - Cô gái nói bí ẩn. Svensson càng khó chịu. - Thôi, bây giờ đúng là cô phải nói rõ với tôi cô là ai và cô muốn gì?

Cô gái nhìn vào mắt anh. Anh chợt nhận thấy con ngươi mắt cô sẫm màu đến mức mắt cô nom đen lay láy lên trong ánh sáng này. Và có lẽ anh đã đánh giá thấp tuổi cô. - Tôi muốn biết tại sao anh lại la cà khắp nơi đặt các câu hỏi về Zala, Alexander Zala. - Salander nói. - Và trước hết tôi muốn biết chính xác anh đã biết được những gì về hắn.

Alexander Zala, Svensson giật mình nghĩ. Anh không biết tên hắn. Cô gái nâng tách cà phê lên nhấp một ngụm, mắt vẫn không rời mắt anh. Mắt cô không có chút ấm áp nào. Anh bỗng thấy vơ vẩn bồn chồn. Không như Blomkvist và những người đứng tuổi ở bữa ăn liên hoan (và mặc dù đây là mừng sinh nhật chị), Annika Giannini chỉ uống bia nhẹ, không đụng đến vang và rượu aquavit trong khi ăn. Cho nên 10 rưỡi chị vẫn tỉnh như sáo. Do chỗ coi anh mình là một tay ngốc đặc cán táu ở một số phương diện, chị hào hiệp nhận đưa xe anh về và ghé qua Enskede. Chị đã có ý đưa anh ra bến xe bus ở Varmdovagen, như vậy vào thành phố sẽ không phải lái xe xa nhiều hơn như thế này.

- Sao anh không mua xe cho mình? - Chị nói trong khi thắt dây an toàn. - Vì không như em, anh đi bộ đến chỗ làm việc được và cả năm anh mới cần đến xe một lần. Ngoài ra, sau khi chồng em bắt đầu cho uống rượu mạnh của Skane thì muốn gì anh cũng không thể nào lái xe được. - Anh ấy đang thành ra người Thụy Điển. Mười năm trước thì chay trường.

Trên đường đi họ chuyện trò như mọi anh em thường vẫn chuyện trò. Ngoài một bà cô đằng nội sống dai bền, hai bà dì đằng ngoại sống kém dai bền hơn, hai anh em họ xa và một anh họ xa nữa, Blomkvist và Annika chỉ có nhau là gia đình. Khoảng cách ba tuổi nghĩa là ở cuối cái tuổi mười mấy họ không có nhiều chuyện đồng cảm đồng tình. Nhưng lớn lên họ đã trở nên thân thiết hơn. Annika học luật, Blomkvist cho rằng cô em có nhiều tài hơn anh. Cô thuận buồm xuôi gió qua hết đại học, qua mấy năm ở các tòa án quận rồi trở thành trợ lý của một trong những luật sư tên tuổi nhất ở Thụy Điển. Rồi chị bắt đầu tách ra làm riêng. Annika chuyên về luật gia đình, điều đang dần dần phát triển thành về các quyền bình đẳng. Chị trở thành người bênh vực phụ nữ bị lạm dụng, viết một quyển sách về đề tài này và trở thành một cái tên được kính trọng. Để làm hay hơn chuyện đó, chị đã dính líu về chính trị với đảng Xã hội Dân chủ, điều đẩy Blomkvist tới chỗ trêu chị là người của bộ máy nhà quan. Bản thân Blomkvist thì từ lâu đã quyết định anh không thể vừa là đảng viên mà lại vẫn giữ được uy tín của nghề báo. Anh không tự giác bỏ phiếu bầu cử bao giờ, trong các trường hợp cảm thấy bị buộc tuyệt đối phải bỏ phiếu thì anh không hề nói ra anh đã bầu ai, kể cả với Berger. - Anh nay làm ăn sao? - Annika hỏi trong khi họ băng qua Skurubron.

- Làm ăn tốt. - Vậy thì vấn đề là gì? - Vấn đề nào?

- Mikael, em biết anh mà, cả tối nay đầu óc anh để ở đâu. Blomkvist ngồi im một lúc. - Chuyện này phức tạp. Hiện anh đang có hai vấn đề. Một về một cô gái anh gặp hai năm trước, cô ấy giúp anh trong vụ Wennerstrom, thế rồi chẳng một lời biến mất khỏi đời anh. Hơn một năm nay anh không hề thấy bóng dáng cô ấy, trừ tuần vừa rồi.

Anh kể cô nghe vụ đánh đuổi ở Lundagatan. - Anh có báo cáo với cảnh sát không? - Không.

- Sao không? - Cô ấy đã thành tật giữ chuyện riêng kín như bưng rồi ấy mà. Cô ấy là người bị hành hung. Cô ấy sẽ phải báo cáo. Trong danh sách những ưu tiên của Salander, điều Blomkvist chờ đợi không nằm ở chỗ cao.

- Cứ cứng đầu cứng cổ mãi thôi này. - Annika nói, vỗ nhè nhẹ vào má Blomkvist. - Còn vấn đề thứ hai? - Bọn anh đang làm một chuyện ở Millennium mà chắc rồi sẽ thành tít lớn. Cả tối anh ngồi nghĩ có nên hỏi ý kiến em không. Với cương vị một luật sư, ý anh là vậy. Annika ngạc nhiên liếc anh.

- Hỏi ý em? - Chị kêu lên. - Thế này là một sự mới mẻ đây. - Chuyện là về buôn bán và bạo lực với phụ nữ. Em giải quyết tệ bạo hành với phụ nữ và em là luật sư. Chắc là em không xử lý các vụ về tự do báo chí rồi nhưng anh sẽ thực sự biết ơn nếu em đọc kỹ được cho anh một bản thảo trước khi nó đi nhà in. Có các bài báo cho tạp chí và một quyển sách, cho nên cũng không phải đọc nhiều. Annika im lặng khi rẽ xuống con đường công nghiệp Hammarby và qua cửa cống Sickla. Cô vòng vào các phố khuất ở bên trong song song với Nynasvagen cho tới khi có thể rẽ lên Enskedevagen.

- Mikael, anh biết không, cả đời chỉ có một lần em thật sự điên lên vì anh. - Có thế ư? - Anh nói, ngạc nhiên. - Đó là khi anh bị Wennerstrom đưa ra tòa rồi vào tù vì vu khống. Em tức anh điên lên đến nỗi tưởng như sắp nổ tung ra.

- Tại sao? Anh chỉ làm cho mình anh thành đứa ngố thôi chứ. - Trước đó anh đã nhiều lần làm cho anh thành đứa ngố rồi. Nhưng lần ấy anh cần một luật sư mà cái người duy nhất anh không ngó đến là em. Anh đã ngồi nói chả đâu ra đâu ở tòa án lẫn trên tivi. Em đã tưởng em chết đến nơi rồi cơ đấy. - Chuyện này có những hoàn cảnh đặc biệt. Chả có việc nào em làm được đâu.

- Đúng, nhưng mãi tới sau này, khi Millenium đứng vững trở lại và đánh đổ Wennerstrom, em mới hiểu. Còn trước đó em thất vọng ghê gớm về anh. - Chúng ta không có cách nào thắng được vụ đó. - Anh không hiểu ý em, ông anh ơi. Em hiểu đó là một vụ không có hy vọng. Em đã đọc biên bản xét xử. Ý em là anh đã không tìm em và yêu cầu em giúp. Đại khái như này, cô em, anh cần một luật sư. Em không đến tòa dạo ấy là vì thế đó.

Blomkvist nghĩ lại chuyện đó. - Anh xin lỗi, anh chấp nhận ý em. Lẽ ra anh nên làm thế. - Đúng, anh đã nên như thế.

Blomkvist nghĩ lại chuyện đó. - Năm ấy anh chả làm gì. Anh không thể gặp mặt ai để nói chuyện được cả. Anh chỉ muốn nằm xuống rồi chết đi. - Điều mà anh đã không làm, đúng như vậy.

- Tha lỗi cho anh. Annika Giannini toét miệng cười với anh. - Hay đấy, một lời xin lỗi muộn màng hai năm. OK. Em sẽ hân hạnh đọc kỹ tất cả. Anh có đang gấp không?

- Gấp. Bọn anh phải in sớm. Rẽ trái ở đây. Annika đỗ xe bên kia đường đối lại với tòa nhà mà Svensson và Johansson sống trên đường Bjorneborgsvagen. - Chỉ một phút thôi. - Blomkvist nói rồi rảo bước qua phố đến bấm mã khóa cửa.

Vừa bước vào trong anh thấy ngay là có chuyện. Nghe thấy tiếng người bị kích động vọng lên ở lòng giếng cầu thang, anh chạy ba tầng lầu lên nhà. Chưa tới sàn nhà họ, anh đã nhận thấy tất cả mọi người ở xung quanh căn hộ của họ đang bị chấn động. Năm người hàng xóm đang đứng ở hành lang. Cửa căn hộ khép hờ. - Có chuyện gì thế? - Blomkvist nói, tò mò nhiều hơn là lo ngại. Họ đều im lặng trừng trừng nhìn anh. Ba phụ nữ, hai đàn ông, vẻ đều ở tuổi bảy chục. Một trong số phụ nữ mặc áo ngủ.

- Nghe như có tiếng súng nổ. - Một ông mặc một áo khoác màu nâu nói, ông có vẻ tỉnh táo. - Súng nổ? - Đích thị. Đã có tiếng súng nổ ở trong căn hộ cách đây chừng một phút. Cửa mở đấy.

Khi vào nhà, Blomkvist đẩy mọi người ra, đi đến bấm chuông cửa. - Dag? Mia? Không trả lời.

Thình lình anh thấy cơn lạnh toát chạy dọc theo cổ anh xuống. Anh nhận ra cái mùi: thuốc súng. Rồi anh đến gần cửa phòng khách. Điều đầu tiên anh trông thấy là, Chúa ơi, Svesson nằm phủ phục trong một vũng máu ở bên những chiếc ghế phòng ăn cách anh một mét. Blomkvist nhào đến. Cùng lúc anh lấy di động bấm gọi dịch vụ cấp cứu 112. Họ trả lời lập tức. - Tôi là Mikael Blomkvist. Tôi cần xe cứu thương và cảnh sát.

Anh cho địa chỉ. - Liên quan đến gì vậy? - Một người đàn ông. Anh ta hình như bị bắn vào đầu và đang hôn mê.

Blomkvist cúi xuống thử tìm mạch ở cổ Svensson. Rồi anh thấy một lỗ to tướng ở đằng sau đầu Svensson và nhận ra chắc anh đã giẫm vào óc của Svensson. Anh từ từ rụt tay về. Nay chả còn xe cứu thương nào trên thế giới cứu nổi được Svensson nữa rồi. Lúc ấy anh để ý thấy những mảnh vỡ của một trong các tách cà phê mà Johansson thừa hưởng của bà, những cái tách cô rất sợ bị vỡ. Anh vội đứng phắt dậy nhìn quanh. - Mia. - Anh hét to.

Ông hàng xóm mặc áo khoác nâu đã vào trong gian sảnh ở sau anh. Blomkvist quay sang cửa phòng khách, giơ cao tay lên. - Dừng lại ở đấy. - Anh nói. - Quay ra lại cầu thang.

Ông hàng xóm thoạt nom có vẻ muốn phản đối nhưng nghe lệnh. Blomkvist đứng im chừng mười lăm giây. Rồi anh vòng qua vũng máu, thận trọng bước qua xác Svensson đi sang phòng ngủ. Johansson nằm ngửa ở trên sàn, cạnh chân giường. Không không không nhân danh Chúa. Cô bị bắn vào mặt. Viên đạn đi vào bên dưới quai hàm gần tai trái cô. Đi ra ở thái dương cô, nó tạo thành một vết thương to bằng quả cam và hốc mắt phải của cô sâu hoắm toang hoác. Máu cô chảy ra còn nhiều hơn máu Svensson. Sức mạnh của viên đạn lớn đến mức bức tường trên đầu giường cách xa ba mét cũng đầy những vết máu tung tóe. Blomkvist nhận ra tay mình đang cứng khư nắm chiếc di động vẫn mở liên hệ với đường dây của trung tâm cấp cứu cũng như anh đang nín thở. Anh hít không khí vào phổi và giơ di động lên.

- Chúng tôi cần cảnh sát. Có hai người bị bắn. Tôi nghĩ họ đã chết. Xin nhanh lên cho. Anh nghe thấy tiếng trung tâm cấp cứu nói nhưng không rõ được lời. Anh cảm thấy tai anh có chuyện. Xung quanh anh im lặng hoàn toàn. Cố nói gì, anh cũng không nghe thấy ngay cả tiếng của mình. Anh buông di động trở ra ngoài căn hộ. Ra đến chiếu giữa anh nhận thấy toàn thân anh run rẩy và tim đập mạnh phát đau. Không nói năng anh len ra khỏi đám hàng xóm, bàng hoàng đi đến cầu thang ngồi xuống. Xa xa anh nghe thấy hàng xóm hỏi anh. Chuyện gì xảy ra thế? Họ có bị thương không? Chuyện gì thế vậy? Tiếng của họ như từ trong hầm ngầm vọng ra. Blomkvist thấy mình mụ mị. Anh biết anh đang bị sốc. Anh gục đầu xuống đầu gối. Rồi anh bắt đầu nghĩ. Lạy Chúa, họ đã bị giết. Họ vừa bị bắn chỉ mới đây một ít thôi. Đứa giết họ khéo còn ở trong căn hộ... không, mình sẽ phải nhìn thấy nó. Căn hộ chỉ rộng có năm mươi lăm mét vuông. Anh không giữ nổi cho khỏi run. Svensson nằm phủ phục, Blomkvist không nhìn thấy được mặt anh ấy nhưng hình ảnh mặt Johansson vỡ toang thì không thể xóa đi khỏi võng mạc anh.

Thình lình tai anh lại nghe được tựa như có ai vừa vặn nút tăng âm lượng. Anh đứng vội lên, nhìn ông hàng xóm mặc áo khoác nâu. - Ông. - Anh nói. - Ở lại bảo đảm cho không ai vào nhà. Cảnh sát và xe cứu thương đang đến. Tôi xuống đó đưa họ lên. Blomkvist xuống ba bậc một. Ở tầng trệt anh liếc vào cầu thang gian hầm rượu và đứng sững. Anh đi một bước đến hầm rượu. Giữa chừng cầu thang đi xuống, nằm rõ ở trước mắt là một khẩu súng lục. Blomkvist nghĩ nó nom giống một khẩu Colt - 45, loại vũ khí đã được dùng để ám sát Olof Palmer[6].

Anh nén ý định nhặt khẩu súng mà ra cửa trước tòa nhà đứng ở ngoài trời đêm. Mãi tới khi nghe tiếng còi xe hơi, anh mới nhớ ra em gái vẫn đang chờ mình. Anh đi qua phố. Annika mở miệng toan nói một cái gì nhiếc ông anh chậm chạp. Rồi chị trông thấy thần sắc anh. - Em có trông thấy ai trong khi chờ ở đây không?

Blomkvist hỏi. Giọng anh khản và không tự nhiên. - Không. Người thế nào? Chuyện gì xảy ra thế? Blomkvist im một tí trong khi nhìn quanh tứ phía. Mọi sự đều vẫn yên tĩnh ở đường phố. Anh thò tay vào túi jacket lấy ra bao thuốc nhàu nát còn lại một điếu. Khi châm thuốc anh nghe thấy tiếng còi hú đến gần. Anh xem đồng hồ. 11 giờ 17 phút đêm.

- Đêm nay sẽ dài đây. - Anh nói không nhìn chị trong khi chiếc xe cảnh sát quẹo rẽ vào phố. Những người đến đầu tiên là các sĩ quan Magnusson và Ohlsson. Nynasvagen có chuyện họ đã đến đó nhưng hóa ra lại là báo động lầm. Một xe nhân viên cùng với chánh thanh tra hiện trường Oswald Martensson đã đến theo hai sĩ quan trên. Chánh thanh tra đang ở Skanstull thì tổng đài phát lời gọi tới tất cả các xe cảnh sát ở trong vùng. Đến gần như cùng lúc từ các hướng khác nhau, họ trông thấy một người đàn ông mặc jean và jacket sẫm màu đứng ở giữa đường giơ tay báo hiệu dừng lại. Cùng lúc một phụ nữ ra khỏi chiếc xe đỗ ở cách người đàn ông vài mét. Cả ba người cảnh sát chờ một vài giây. Tổng đài báo có hai người đã bị bắn và một người đang cầm một cái gì ở tay trái. Phải mất vài giây để yên chí đó là một điện thoại di động. Cùng lúc họ ra khỏi xe, chỉnh lại thắt lưng. Martensson đảm nhiệm việc chỉ huy.

- Anh là người gọi báo về vụ nổ súng phải không? Người đàn ông gật đầu. Anh ta xem vẻ run tệ run hại. Anh ta hút thuốc và tay anh lẩy bẩy khi đưa điếu thuốc lên miệng. - Tên anh là gì?

- Mikael Blomkvist. Hai người bị bắn ở trong cao ốc này vừa mới đây thôi. Tên của họ là Dag Svensson và Mia Johansson. Trên tầng bốn. Hàng xóm của họ đang đứng ở ngoài cửa. - Lạy Chúa. - Người đàn bà nói. - Chị là ai? - Martensson hỏi Annika.

- Annika Giannini. Tôi là em gái anh ấy. - Chị nói và chỉ vào Blomkvist. - Hai người sống ở đây? - Không. - Blomkvist nói. - Tôi đến thăm hai người vừa bị bắn. Ăn liên hoan xong, em gái tôi cho tôi đi nhờ xe.

- Anh bảo có hai người bị bắn. Anh có trông thấy chuyện gì xảy ra không? - Không, tôi chỉ phát hiện thấy họ. - Chúng ta hãy lên đó xem. - Martensson nói.

- Khoan. - Blomkvist nói. - Theo hàng xóm thì súng nổ trước khi tôi đến chỉ chừng một hai phút. Tôi bấm gọi trong vòng một phút cho 112 báo đến đây. Từ lúc ấy chưa tới năm phút trôi qua. Nghĩa là người giết họ chắc còn ở trong khu vực. - Vậy anh có thể tả được hắn chứ? - Chúng tôi không trông thấy ai hết. Có thể một bà con hàng xóm đã nhìn thấy cái gì đó.

Martensson ra hiệu cho Magnusson, ông này liền giơ bộ đàm lên thấp giọng nói vào đó. Ông ta quay sang Blomkvist. - Anh có thể chỉ đường cho chúng tôi không? Sau khi họ đã vào bên trong cổng chính của tòa nhà, Blomkvist dừng lại chỉ vào cầu thang xuống hầm rượu. Martensson cúi xuống nhìn khẩu súng. Ông đi xuống hết cầu thang hầm rượu thử mở cửa. Khóa.

- Ohlsson, ở đây và chú ý trông cái này. - Martensson nói. Đám hàng xóm ở bên ngoài căn hộ đã thưa đi. Hai người về nhà mình nhưng người mặc áo khoác nâu vẫn đứng tại trận. Ông có vẻ nhẹ người đi khi trông thấy các sĩ quan mặc đồng phục. - Tôi không có cho ai vào cả. - Ông nói.

- Thế tốt. - Blomkvist và Martensson cùng nói. - Hình như có vết máu ở các bậc thang. - Sĩ quan Magnusson nói. Mọi người nhìn vào các vết chân. Blomkvist nhìn vào đôi giầy lười Ý của mình, anh nói:

- Các vết chân này có lẽ là từ giầy tôi. Tôi đã ở bên trong căn hộ. Có kha khá máu chảy. Martensson nhìn Blomkvist, vẻ xem xét. Ông lấy một cây bút ẩn cửa căn hộ mở ra và thấy nhiều dấu chân máu. - Ở bên phải. Dag Svensson trong phòng khách và Mia Johansson trong buồng ngủ.

Martensson kiểm tra nhanh căn nhà rồi chỉ ít lúc sau đã trở ra. Ông gọi bộ đàm yêu cầu yểm trợ của sĩ quan trực hình sự. Ông nói xong thì toán cứu thương đến. Martensson ngăn họ lại khi họ đi vào. - Hai nạn nhân. Như tôi thấy thì họ hết hy vọng rồi. Một người trong các anh có thể nhòm xem mà không làm rối hiện trường vụ án lên không? Để xác nhận điều này thì không mất lâu la gì. Một bác sĩ quyết định sẽ không đem hai cái xác về bệnh viện để hồi sinh. Họ vô phương cứu chữa rồi. Thình lình thấy quặn ruột, Blomkvist quay sang Martensson:

- Tôi ra ngoài. Tôi cần không khí. - Không may là tôi không thể để anh ra ngoài được. - Tôi chỉ ra ngồi ở cổng bên ngoài cửa chính.

- Tôi có thể xem thẻ căn cước của anh không, xin phiền. Blomkvist lấy ví ra để nó vào tay Martensson. Rồi lẳng lặng ra ngồi ở cổng bên tòa cao ốc, Annika và sĩ quan Ohlsson vẫn đang chờ ở đấy. Chị ngồi xuống cạnh anh. - Mikael, xảy ra chuyện gì thế?

- Hai người mà anh rất yêu, đã bị ám sát. Dag Svensson và Mia Johansson. Bản thảo mà anh muốn em đọc là của anh ấy đấy. Annika biết nay không phải là lúc dồn hỏi anh. Chị quàng vai ôm lấy anh. Nhiều xe cảnh sát nữa đến. Một nhóm con con những người sống về đêm tò mò dừng lại ở hè bên kia đường. Blomkvist nhìn họ trong khi cảnh sát bắt đầu dựng một rào cấm. Một cuộc điều tra án mạng vừa mới bắt đầu. Lúc hai anh em Blomkvist được phép ra ngoài thì đã quá 3 giờ sáng. Họ ngồi một giờ ở trong xe Annika bên ngoài tòa cao ốc ở Enskede chờ công tố viên trực đến mở đầu giai đoạn tiền điều tra. Rồi do Blomkvist là bạn thân của hai nạn nhân và là người đã tìm ra họ cũng như điện thoại gọi cấp cứu cho nên họ được yêu cầu, như họ nói, đi theo cảnh sát đến Kungsholmen để dự cuộc điều tra.

Chờ ở đấy một lúc lâu rồi họ được nữ thanh tra Nyberg ở đồn cảnh sát hỏi. Chị thanh tra cảnh sát tóc vàng nhạt và nom như mười mấy tuổi. Mình đang già đi, Blomkvist nghĩ. Lúc 2 rưỡi anh đã uống cà phê của căng tin cảnh sát, nhiều quá đến nỗi hoàn toàn tỉnh táo và cảm thấy không thoải mái. Anh phải bỏ dở cuộc phỏng vấn để vào toa lét, ở đây anh mệt ghê gớm. Anh luôn thấy hình ảnh khuôn mặt Johansson bồng bềnh ở trên đầu mình. Anh uống ba chén nước, rửa mặt nhiều lần rồi mới quay lại cuộc phỏng vấn. Anh cố tĩnh tâm lại để trả lời mọi câu hỏi của thanh tra Nyberg.

- Dag Svensson và Mia Johansson có kẻ thù không? - Không, theo tôi biết. - Họ có bị đe dọa gì không?

- Nếu có thì tôi cũng không biết là đe dọa gì. - Anh có thể tả quan hệ của họ như thế nào được không? - Mọi vẻ bên ngoài đều cho thấy họ yêu nhau. Dag bảo tôi họ đang định có con sau khi Mia nhận bằng tiến sĩ.

- Họ có dùng ma túy không? - Tôi không biết chắc, nhưng tôi nghĩ là không, và nếu có thì cũng không quá một điếu cần sa ở một bữa tiệc khi họ ăn mừng một cái gì. - Lý do gì khiến anh đến nhà họ muộn thế?

Blomkvist nói rõ công việc cuối cùng làm cho một quyển sách nhưng không cho biết đề tài quyển sách. - Anh có thấy đêm hôm khuya khoắt mà gọi người đến nhà là chuyện bình thường không? - Lần đầu tiên mới có chuyện này.

- Sao anh quen biết họ? - Qua công việc. Câu hỏi đặt ra liên tục khi họ cố dựng lên khung thời gian.

Tiếng súng đã được cả tòa cao ốc nghe thấy. Nó bắn cách nhau không tới năm giây. Hóa ra ông già bảy mươi mặc áo khoác nâu lại là một một thiếu tá pháo binh bờ biển về hưu, hàng xóm gần nhất của họ. Ông đang xem tivi. Sau phát súng thứ hai ông ra lòng giếng cầu thang. Ông bị đau hông cho nên đứng lên phải cần thì giờ. Ông đánh giá mất chừng ba chục giây để ông ra tới chiếu giữa. Cả ông lẫn các hàng xóm khác đều không nhìn thấy ai hết. Theo hàng xóm, phát súng thứ hai nổ chưa đầy hai phút thì Blomkvist đến. Nhận rằng anh và Annika đã mất chừng nửa phút để nhìn quanh đường phố trong khi chị tìm tòa nhà và đậu xe còn anh nói anh sẽ quay lại ngay rồi chạy qua đường và lên gác, vậy thì đã có một khoảng cách từ ba mươi đến bốn chục giây. Trong thời gian đó tên giết người đã rời căn hộ, xuống ba tầng cầu thang - vất vũ khí trên đường - rời tòa cao ốc và biến đi trước khi Annika rẽ xe vào phố.

Trong một lúc lơ mơ, Blomkvist nhận thấy thanh tra Nyberg đang vờn với cái khả năng anh là tên giết người, anh chỉ chạy xuống một tầng cầu thang rồi chờ bà con hàng xóm tụ tập thì quay lại nói mình mới đến hiện trường. Nhưng anh có một chứng cứ ngoại phạm ở cô em gái. Tất cả buổi tối, kể cả cuộc nói chuyện điện thoại với Svensson đều có thể được một tá thành viên gia đình Giannini xác nhận. Cuối cùng Annika phải vào cuộc. Blomkvist đã cho cảnh sát mọi sự giúp đỡ hợp lệ và có thể hiểu được. Rõ ràng anh mệt và đang không được ổn. Chị nói với chị thanh tra rằng mình không chỉ là em mà còn là luật sư của Blomkvist nữa. Đã đến lúc kết thúc chuyện này mà để anh ấy về. Ra đến đường phố, hai anh em đứng lại một lúc ở cạnh xe của Annika.

- Về nhà ngủ lấy một chút đi nha. Blomkvist lắc đầu. - Anh phải đến chỗ Erika. - Anh nói. - Cô ấy cũng biết họ. Anh không thể gọi bảo cô ấy và cũng không muốn cô ấy thức dậy nghe chuyện này qua tin tivi.

Annika ngập ngừng nhưng biết anh mình đúng. - Được, thì đến Saltsjobaden. - Chị nói. - Em đưa anh đi được không?

- Em gái là để làm cái gì khác nữa đây chứ hả? - Nếu em cho anh đi ké đến Nacka anh sẽ đi taxi đi hay chờ xe bus. - Nói quàng. Nhảy lên xe để em lái đi nào.

CHƯƠNG 12 Thứ Năm trước Phục sinh 24 tháng Ba Annika cũng mệt nhoài, Blomkvist cố thuyết phục em gái cho anh xuống Nacka, ở đấy anh sẽ gọi taxi, như vậy tiết kiệm được cho Annika một đoạn đi vòng mất một giờ đến eo biển Lannersta.

Đã hai năm từ khi Blomkvist đến Saltsjobaden. Anh chỉ ở nhà Berger có vài lần. Anh cho rằng đến đó là dấu hiệu mình không chín chắn. Anh không hiểu hôn nhân của Berger với Greger Beckman chính xác ra sao. Anh biết Berger từ đầu những năm 80. Anh dự định sẽ có một quan hệ với chị cho tới khi anh già đến mức không còn thể ra khỏi nổi chiếc xe lăn. Họ đã cắt đứt quan hệ vào cuối những năm 80 khi cả anh lẫn Berger gặp người khác và cưới. Hai bên xa cách lâu hơn một năm. Về phía Blomkvist, một cuộc li hôn đã đưa anh đến chỗ không trung tín. Với Berger thì nó dẫn đến chỗ Beckman đã nhân nhượng rằng nỗi đam mê xác thịt của vợ và Blomkvist nó hiển nhiên mạnh quá đến nỗi nếu anh tin rằng chỉ bằng quy ước không thôi cũng được cho họ rời nhau thì là chả hiểu quái gì đời sất. Anh cũng không muốn mất Berger theo kiểu Blomkvist mất vợ. Khi Berger thừa nhận chị không trung thành, Beckman đã gõ cửa nhà Blomkvist. Blomkvist đang sợ Beckman đến nhưng thay vì cho anh một quả tống, Beckman lại mời Blomkvist ra ngoài uống với nhau cái gì. Họ đã đi qua ba quán bar ở Sodermalm cho tới khi đủ chếnh choáng để có một bữa chuyện trò nghiêm chỉnh, diễn ra trên ghế băng vườn hoa ở Mariatorget vào quanh quẩn lúc chiều tà.

Thoạt tiên Blomkvist nghi ngờ nhưng cuối cùng Beckman đã thuyết phục được anh rằng nếu anh cố tình phá cuộc hôn nhân của anh ta với Berger thì anh ta sẽ tỉnh táo mà quay lại với cái gậy đánh bóng chày, nhưng nếu đây chỉ là thèm muốn xác thịt đơn thuần, là khao khát của tâm hồn và là không có khả năng tự kiềm chế thì OK, chừng nào còn liên quan đến anh. Thế là nhờ ân huệ của Beckman, hai người lại tiếp tục và không phải cố che che giấu giấu. Khi tình tứ thúc giục, Berger chỉ có việc cầm điện thoại lên và bảo chồng chị sẽ qua đêm ở chỗ Blomkvist, và chị làm đều đặn chuyện này ở một mức nhất định. Beckman không thốt ra một lời chê trách nào với Blomkvist. Trái lại, anh lại coi chuyện quan hệ của vợ với Blomkvist là có lợi và anh yêu vợ lại sâu nặng hơn lên vì anh biết anh không thể coi chị là cái thứ tự dưng mà có.

Về phần mình, Blomkvist không bao giờ cảm thấy hoàn toàn thoải mái khi có mặt Beckman - một điều đáng buồn nó nhắc nhở rằng ngay cả những mối quan hệ được giải phóng cũng phải trả giá. Theo lẽ đó, anh chỉ đến Saltsjobaden vài ba dịp khi Berger mở tiệc liên hoan mà nếu anh vắng mặt thì người ta sẽ thấy ngay. Nay anh đang đứng trước tòa biệt thự đàng hoàng của họ. Nén nỗi không vui về việc đem tin dữ đến, anh kiên quyết đặt ngón tay vào chuông cửa lâu chừng hơn nửa phút cho đến khi nghe thấy tiếng chân. Beckman mở cửa, người quấn một chiếc khăn, mặt đầy vẻ cáu kỉnh nhưng khi trông thấy người tình của vợ thì liền đổi ngay sang thành ngạc nhiên. - Chào Greger. - Blomkvist nói.

- Chào Blomkvist. Giờ giấc quỷ gì thế này hả? Beckman tóc vàng và gầy. Ngực anh đầy lông nhưng đầu lại khó có được lấy sợi tóc nào. Anh có bộ râu một tuần chưa cạo và một cái sẹo lồi ở mí mắt phải, kết quả của một tai nạn lái thuyền mấy năm trước. - Mới 5 giờ sáng. - Blomkvist nói. - Anh có thể gọi Berger dậy được không? Tôi cần nói chuyện với cô ấy.

Beckman coi việc Blomkvist thình lình thắng nỗi do dự đến thăm Saltsjobaden - và đứng ở đây vào giờ này - là một điều khác thường Thêm nữa, người này nom như đang rất cần uống, hay ít nhất môt cái giường bất kể nó như thế nào để anh ta ngủ vùi đi lập tức Beckman giữ cửa mở để cho Blomkvist vào. - Xảy chuyện gì? Blomkvist chưa kịp đáp thì Berger hiện ra ở trên đỉnh cầu thang, thắt lại khăn buộc lưng của chiếc áo choàng tắm bằng vải bông màu trắng. Chị dừng lại giữa chừng khi trông thấy Blomkvist ở trong gian sảnh.

- Gì thế? - Dag và Mia. - Blomkvist nói. Cái tin mà anh mang đến lập tức lộ ra ngay ở trên mặt anh.

- Không. - Chị đưa tay lên miệng. - Họ bị ám sát đêm qua. Tôi vừa mới ở đồn cảnh sát đến đây. - Ám sát? - Hai vợ chồng Berger đồng thanh hỏi.

- Ai đó đã vào nhà họ ở Enskede, bắn cả hai. Tôi là người tìm thấy họ. Berger ngồi xuống bậc thang. - Tôi không muốn mới bảnh mắt đã phải cho cô nghe cái tin này. - Blomkvist nói.

6 giờ 59 phút sáng thứ Năm trước Phục sinh, Blomkvist và Berger vào tòa soạn Millennium. Berger đánh thức Malm và Eriksson dậy với cái tin Svensson và Johansson bị giết đêm qua. Sống gần tòa báo hơn, họ đã đến để họp. Máy pha cà phê đang chạy ở trong căn bếp nhỏ. - Chuyện quỷ gì xảy ra thế hả? - Malm sốt ruột. Eriksson bảo anh im rồi tăng âm lượng bản tin 7 giờ sáng.

Hai người, một phụ nữ, một đàn ông đã bị bắn chết khuya đêm qua trong một căn hộ ở Enskede. Cảnh sát nói đây là vụ ám sát kép. Cả hai người chết đều không được cảnh sát biết đến trước đây. Động cơ giết người chưa được rõ. Phóng viên Hanna Olofsson của chúng tôi hiện đang ở hiện trường. Đúng vào trước nửa đêm cảnh sát nhận được một báo cáo về súng nổ trong một tòa nhà chung cư trên đường Bjorneborgsvagen tại Enskede đây. Theo lời một người hàng xóm, đã có mấy tiếng súng nổ ở trong một căn hộ. Động cơ chưa được rõ và không có nghi phạm nào bị bắt vì vụ án mạng. Cảnh sát đã bao quanh ngôi nhà và đang tiến hành điều tra hiện trường vụ án. - Khá cụt lủn. - Eriksson nói, giảm âm lượng xuống. Rồi bắt đầu khóc. Berger quàng lấy vai chị.

- Lạy Chúa. - Malm nói vu vơ. - Ngồi xuống tất cả đi. - Berger nói, giọng kiên quyết. - Mikael… Mikael kể cho mọi người những điều anh biết về câu chuyện đã xảy ra. Khi tả việc tìm thấy Svensson và Johansson ra sao, giọng anh vô hồn, đều đều như của phóng viên đài phát thanh.

- Chúa ơi. - Malm lại nói. - Chuyện điên. Eriksson lại bị xúc động dày vò. Cô lại bắt đầu khóc, chả thiết giấu nước mắt. - Tôi xin lỗi. - Cô nói.

- Tôi cũng cảm thấy như cô mà. - Malm nói. Blomkvist thầm hỏi tại sao mình không thể khóc. Anh chỉ thấy người trống rỗng mênh mang, gần như anh đã bị cho thuốc gây mê. - Điều chúng ta biết sáng nay không nói lên được gì nhiều lắm. - Berger nói. - Chúng ta cần thảo luận hai việc: thứ nhất, chúng ta còn ba tuần nữa thì in sách của Dag; chúng ta có nên cứ in nó không? Chúng ta có thể in nó không? Đó là việc thứ nhất. Việc nữa là một vấn đề tôi và Mikael đã bàn khi đang đi đến đây.

- Chúng ta không biết động cơ của bọn sát nhân. - Blomkvist nói. - Có thể nó liên quan đến đời sống riêng tư của Dag và Mia, hoặc có thể chỉ là một hành vi thuần túy vô nghĩa nhưng chúng ta không thể gạt đi khả năng nó liên quan đến công việc hai người đang làm. Mọi người quanh bàn đều im lặng. Cuối cùng Blomkvist dặng hắng: - Như tôi đã nói, chúng ta sắp in một bài báo nêu ra tên của những người đang hết sức lo ngại bị nhận diện trong mối quan hệ này, Dag bắt đầu đối chất hai tuần trước. Tôi đang nghĩ nếu một đứa trong đám…

- Khoan. - Eriksson nói. - Chúng ta vạch mặt ba viên cảnh sát, ít nhất một làm cho Sapo và một làm ở đội phòng chống tệ nạn. Rồi có mấy luật sư, một công tố viên, một thẩm phán và vài cha phóng viên già bẩn thỉu. Có thể một trong đám đó đã giết hai người để không in được sách ra không? - Tôi không biết trả lời sao chỗ này. - Blomkvist nói. - Bọn chúng tất cả có rất nhiều thứ bị mất nhưng theo tôi, nếu chúng nghĩ giết một nhà báo là có thể dập đi được một bài báo thì chúng thật là ngu không thể nào tin nổi. Nhưng chúng ta cũng vạch mặt cả một số những đứa chăn dắt gái, vậy là dù cho chúng ta có dùng tên giả đi nữa thì bất cứ ai, thậm chí một nửa trong đám biết chuyện thôi, có khó gì cái việc luận ra chúng là ai đâu cơ chứ. Một số trong bọn chúng đã có tiền án tiền sự về tội bạo hành. - OK. - Malm nói. - Nhưng anh đang làm cho bọn giết người thoát khỏi hành quyết. Nếu tôi đọc đúng bài báo của Svensson thì ở đây chúng ta có nói gì đến những kẻ xuất sắc lắm đâu. Chúng liệu có sức giết một lúc hai người rồi lại thoát thân được không.

- Anh phải xuất sắc như thế nào mới bắn được hai phát súng chứ? - Eriksson nói. - Ở đây chúng ta đang đoán về một điều mà thực tế chúng ta không biết đầu đuôi gì hết. - Berger xổ vào. - Nhưng chúng ta phải đặt câu hỏi. Nếu động cơ của bọn sát nhân là xúp bỏ các bài báo của Dag - hay luận án của Mia về vấn đề kia - thì chúng ta phải mắc thiết bị an ninh ở trong tòa soạn. - Và câu hỏi thứ ba. - Eriksson nói. - Chúng ta có nên đến báo cảnh sát các cái tên của bọn kia không? Đêm hôm nọ anh đã bảo gì với cảnh sát, Mikael?

- Tôi có nói việc Dag đang làm nhưng họ không hỏi chi tiết và tôi không đưa ra một cái tên nào. - Chắc chúng ta nên như thế. - Berger nói. - Không hoàn toàn đơn giản như thế đâu. - Blomkvist nói. - Chúng ta có thể cho họ một danh sách các tên nhưng nếu cảnh sát hỏi làm sao chúng ta nắm được thì chúng ta sẽ làm gì? Chúng ta không thể lộ ra bất cứ nguồn tin nào muốn được giữ vô danh. Gì chứ với mấy cô gái mà Mia nói đến thì đúng là phải thế thật.

- Vụ rắc rối đáng sợ đến thế đấy. - Berger nói. - Chúng ta hãy quay về vấn đề cơ bản - có nên in không? Blomkvist giơ tay. - Khoan. Về việc này chúng ta có thể lấy biểu quyết nhưng thế nào tôi lại là người trông nom xuất bản đang phụ trách chuyện này và lần đầu tiên tôi lại nghĩ tôi sẽ tự ra quyết định tất. Câu trả lời là không. Chúng ta không thể đăng bài báo này trong số báo tới. Chúng ta cứ khư khư chiếu theo kế hoạch mà làm tới là vô lối.

Không ai tại đây sẵn sàng cãi lại ý này. - Tôi thực sự muốn đăng, rõ là thế, nhưng chúng ta cần phải viết lại đôi chút. Dag và Mia đã sưu tầm tư liệu và câu chuyện là dựa vào việc Mia có ý định gửi cho cảnh sát một báo cáo vạch mặt những người mà chúng ta sẽ nêu tên. Cô ấy có kiến thức chuyên môn. Chúng ta có được thông tin nào về cái này không? Cửa mở đánh rầm và Cortez đứng ở lối vào.

- Dag và Mia phải không? - Anh hỏi, đứt hết hơi. Tất cả đều gật. - Lạy Chúa, thật là điên.

- Anh nghe chuyện ấy như thế nào? - Blomkvist nói. - Tôi đang trên đường về nhả cùng bạn gái thì nghe được ở radio xe taxi. Cảnh sát đang yêu cầu cho thông tin về tình hình ở đường phố nhà anh chị ấy. Tôi không nhớ ra địa chỉ. Tôi đã phải đi vào. Cortez nom run rẩy đến nỗi Berger phải đứng lên ôm anh một cái rồi bảo ngồi xuống.

- Tôi nghĩ Dag muốn chúng ta đăng bài báo của anh ấy. - Chị nói - Và tôi đồng ý là nên. Quyển sách là dứt khoát in. Nhưng trong hoàn cảnh này, chúng ta cần lui ngày giờ lại. - Vậy thì chúng ta làm gì? - Eriksson nói. - Không phải là chỉ thay có một bài báo mà đây là cả một số báo có chủ đề. Cả một số tạp chí phải làm lại.

Berger yên lặng một lúc rồi chị mỉm nụ cười héo hon đầu tiên trong ngày. - Cô đã định bỏ lễ Phục sinh phải không Malin? - Chị nói. - Tốt, hãy quên nó đi. Đây là việc chúng ta sẽ làm... Malin, cô và tôi - và Christer - sẽ ngồi xuống làm kế hoạch cho một số báo mới không có bài báo của Dag. Chúng ta sẽ xem liệu có thể lấy một ít bài báo định cho số tháng Sáu bù vào chỗ trống được không... Mikael, anh đã có bao nhiêu tài liệu của Dag? - Tổng cộng mười hai chương thì tôi đã có bản thảo xong hẳn của chín chương. Tôi có bản thảo của chương mười và chương mười một. Dag đã nói sẽ gửi email các bản viết xong hẳn cho tôi - tôi sẽ kiểm tra hòm thư - nhưng tôi cũng có một phác thảo của chương mười hai. Đó là phần tóm tắt và kết luận.

- Nhưng từng chương một thì anh và Dag đã bàn nát cả rồi, đúng không? - Đúng, tôi có biết anh ấy định viết gì ở chương cuối cùng, nếu cô định nói cái ấy. - OK, anh sẽ phải ngồi xuống với các bản thảo - của cả bài báo lẫn sách. Em muốn biết đang mất bao nhiêu và liệu chúng ta có viết lại được bất cứ cái gì mà Dag không cố giao nộp không. Anh có thể cho một đánh giá khách quan hôm nay không?

- Có thể. - Blomkvist nói. - Em cũng muốn anh nghĩ cho những điều chúng ta sẽ nói với cảnh sát. Cái gì ở trong giới hạn và chúng ta có cơ phá vỡ đến mức nào thỏa thuận về lòng tin của chúng ta với các nguồn cung cấp tin. Không được anh đồng ý thì không ai ở Millenium được nói bất cứ cái gì với bất cứ ai ở bên ngoài tạp chí hết. - Nghe hay đấy. - Blomkvist nói.

- Các anh chị nghĩ quyển sách của Dag có vẻ là động cơ đến mức nào của vụ án mạng này? - Hay luận án của Mia... tôi không biết. Nhưng chúng ta không thể xúp nó đi. - Không, chúng ta không thể. Chúng ta phải kiên trì.

- Kiên trì cái gì? - Cuộc điều tra. - Điều tra nào.

- Cuộc điều tra của chúng ta, con khỉ. - Berger thình lình cao giọng. - Dag là một nhà báo và làm việc cho Millennium. Nếu anh ấy bị giết vì công việc của anh ấy thì tôi muốn biết câu chuyện ấy. Cho nên chúng ta - với tư cách một kíp biên tập - sẽ phải đào bới xem chuyện gì đã xảy ra. Các anh chị sẽ phải quan tâm đến phần này, tìm ra động cơ của bọn giết người ở trong tất cả tài liệu mà Dag đã đưa cho chúng ta. - Chị quay sang Eriksson. - Malin, nếu hôm nay cô giúp tôi xoay ra được một số mới thì tôi và Christer sẽ làm phác thảo trình bày. Nhưng cô đã làm việc nhiều với Dag và ở các bài báo khác trong số có chủ đề. Tôi muốn cô cùng với Mikael để mắt tới các diễn biến của cuộc điều tra vụ án mạng. Eriksson gật đầu. - Henry, anh có làm việc hôm nay được không?

- Chắc chắn chứ. - Hãy rung chuông báo cho toàn tòa soạn chúng ta và nói với anh chị em là đang có chuyện gì. Rồi đi tới cảnh sát tìm xem cái gì đang xảy ra. Hỏi họ xem liệu sẽ có một cuộc họp báo hay một cái gì đó không. Chúng ta phải đứng ở trên đỉnh cao của tin tức. - Tôi gọi mọi người trước rồi về nhà tắm một cái. Tôi sẽ quay lại trong bốn mươi lăm phút nếu tôi không nhào thẳng đến Kungsholmen.

- Cả ngày hôm nay chúng ta giữ liên hệ với nhau. - Đúng. - Blomkvist nói. - Chúng ta xong chưa? Tôi phải gọi điện một cái. Harriet Vanger đang ăn điểm tâm ở hàng hiên bọc kính của nhà Henrik Vanger ở Hedeby thì di động reo. Chị trả lời mà không nhìn màn hình.

- Chào Harriet. - Blomkvist nói. - Trời đất, tôi nghĩ anh là người không bao giờ dậy trước tám giờ đấy. - Chừng nào may mắn có một cái giường thì tôi không có thế thật. Như đêm qua.

- Đã xảy ra chuyện gì? - Chị không nghe tin tức sao? - Blomkvist nói cho chị nghe các sự kiện đêm qua. - Kinh khủng. Anh chịu đựng ra sao?

- Cảm ơn đã hỏi thăm, tôi đã thấy khá hơn. Nhưng lý do tôi gọi chị là vì chị ở trong ban lãnh đạo của Millennium và cần được thông báo. Tôi nghĩ một vài phóng viên sẽ đủ nhanh phát hiện ra ai tìm thấy Dag và Mia, điều ấy chắc sẽ làm nảy ra những suy diễn và khi rò rỉ ra rằng Dag đang làm một tường trình quy mô lớn cho Millennium thì người ta sẽ đặt ra các câu hỏi. - Và anh nghĩ tôi nên chuẩn bị. Được, vậy thì tôi nên nói gì? - Nói sự thật. Chị được kể cho nghe những gì đã xảy ra. Chị bị choáng về hai vụ án mạng nhưng vì chị không tham gia công việc tòa soạn cho nên chị không thể bình luận về bất cứ suy diễn nào. Cảnh sát có nhiệm vụ điều tra hai vụ án mạng chứ không phải Millennium.

- Cảm ơn đã mách nước. Còn gì tôi có thể làm được nữa không? - Ngay bây giờ thì không. Nhưng nghĩ ra cái gì tôi sẽ cho chị biết. - Cảm ơn anh. Nhưng xin... nhớ báo tin cho tôi.

CHƯƠNG 13 Thứ Năm trước Phục sinh, 24 tháng Ba Trách nhiệm chỉ đạo cuộc điều tra sơ bộ vụ ám sát dính đôi ở Enskede chính thức rơi vào bàn giấy công tố viên Richard Ekstrom hồi 7 giờ sáng thứ Năm trước Phục sinh. Công tố viên trực ban đêm trước, một luật gia tương đối trẻ và ít kinh nghiệm đã nhận ra thấy hai vụ giết người ở Enskede có thể sẽ trở thành một chuyến nên chuyện của thông tin đại chúng. Ông gọi và đánh thức phó công tố viên hạt, ông này lại đánh thức thủ phó cảnh sát hạt. Họ nhất tề quyết định chuyền quả bóng đến cho công tố viên sốt sắng và có kinh nghiệm: Richard Ekstrom.

Ekstrom là một người gầy, năng nổ, cao một mét sáu lăm, bốn mươi hai tuổi, với bộ tóc vàng thưa mỏng và chòm râu dê ở cằm. Ông luôn ăn mặc hoàn hảo và đi giầy gót hơi cao nhỉnh lên. Ông bắt đầu vào nghề bằng làm phó công tố viên ở Uppsala, cho đến khi ông được Bộ Tư pháp tuyển làm điều tra viên, ở Bộ ông đã làm công việc đem luật của Thụy Điển hoà đồng với luật của Liên minh châu u và ông đã hoàn thành quá tốt bổn phận nên chỉ sau một thời gian ông đã được đề bạt làm trưởng phòng. Ông thu hút sự chú ý bằng bản báo cáo của ông về những thiếu sót ở mặt tổ chức trong an ninh pháp lý, trong đó ông đã giải quyết được một vụ nhờ tăng hiệu suất công tác chứ không chiếu theo các yêu cầu bổ sung nhân lực của một số người phụ trách cảnh sát. Sau bốn năm ở Bộ Tư pháp, ông được điều đến cơ quan công tố viên ở Stockholm, ở đây ông xử lý một số vụ án liên quan đến các vụ cướp nổi tiếng dữ dằn và các tội phạm bạo hành Trong cơ quan, ông được coi là một người Xã hội Dân chủ, nhưng thực tế ông không thích thú gì các chuyện chính trị đảng phái. Ngay khi ông bắt đầu gây được chú ý trong truyền thông đại chúng, những vị quyền cao chức trọng đã bắt đầu để mắt tới ông. Rõ ràng ông là một ứng viên cho chức vụ cao hơn và nhờ việc người ta cho rằng ông có liên hệ đảng phái, ông đã có một mạng lưới tiếp xúc rộng rãi trong các nhóm chính trị và cảnh sát. Trong lực lượng cảnh sát, những người bênh vực rằng cách tốt nhất để xúc tiến pháp luật và trật tự là tuyển thêm người đã không ủng hộ các cuộc điều tra của ông. Mặt khác ông trội hơn người ở chỗ không sợ bẩn tay khi đưa một vụ án ra xử. Nghe viên sĩ quan trực hình sự kể lại ngắn gọn các sự kiện ở Enskede, Ekstrom lập tức kết luận đây là một vụ án nhất định sẽ khuấy động giới truyền thông đại chúng. Hai nạn nhân là một nhà tội phạm học và một nhà báo - người sau làm cái việc mà Ekstrom ghét hay yêu tuỳ ở tình hình.

Ông có một hội đàm ngắn gọn qua điện thoại với trưởng cảnh sát hạt. 7 giờ 15, ông nhấc điện thoại đánh thức thanh tra hình sự Jan Bublanski, được các đồng nghiệp gọi là Sĩ quan Bong bóng. Bublanski được nghỉ trong tuần lễ Phục sinh do ông đã có cả một núi giờ làm thêm cộp lại từ năm ngoái, nhưng ông đã được yêu cầu thôi nghỉ mà chạy ngay lập tức đến trụ sở cảnh sát làm cuộc điều tra về vụ giết hai người ở Enskede. Bublanski năm mươi hai tuổi và từ năm hai mươi ba tuổi đã ở trong lực lượng. Ông đã qua sáu năm trên xe tuần tra và phục vụ trong hai phòng vũ khí cũng như đột nhập ăn trộm trước khi được huấn luyện bổ túc rồi chuyển đến Phòng tội phạm bạo hành ở cảnh sát Hình sự Hạt. Tổng cộng trong mười năm qua, ông đã tham gia điều tra ba mươi ba vụ án mạng hay giết người. Chịu trách nhiệm mười bảy vụ, trong số đó, ông đã giải quyết mười bốn vụ, còn hai vụ coi như khép lại, điều có nghĩa là cảnh sát biết kẻ giết người là ai nhưng không đủ bằng chứng để đưa hắn ra toà. Trong một vụ tồn đọng, nay đã là sáu năm, Bublanski và các đồng nghiệp đã thất bại. Vụ này dính đến một người nghiện rượu và quậy phá nổi tiếng bị đâm chết tại nhà ông ta ở Bergshama. Hiện trường vụ án là một ác mộng về các dấu tay và vết tích ADN mà qua nhiều năm vài tá người say rượu hay người bị đánh tơi bời đã để lại trong căn nhà. Bublanski và các đồng nghiệp tin chắc rằng có thể tìm ra kẻ giết người ở trong mạng lưới tài giỏi của cảnh sát về các cha say rượu và nghiện ma tuý nhưng mặc dù họ lùng sục sâu rộng đến đâu thì kẻ nào đó kia vẫn cứ lẩn tránh được cảnh sát. Theo tin tức lộ ra thì cuộc điều tra của họ đã bị rút gọn lại vào chỉ có chuyện đâm người mà thôi. Thống kê của Bublanski lý thú ở mặt số lượng vụ án ông đã giải quyết và ông được các bạn đồng nghiệp đánh giá cao. Nhưng họ cũng coi ông có chút gì kỳ quặc, một phần tại ông là Do Thái. Vào một số ngày lễ lớn nào đó, người ta thấy ông đội một chiếc mũ ôm sát sọ, đi lại trong các hành lang của trụ sở cảnh sát. Việc đó đã thành cơ hội cho một uỷ viên cảnh sát bình phẩm, ông này vừa mới về hưu liền cho ngay ý kiến là ở trong trụ sở cảnh sát, đội cái mũ kiểu ấy nó không hợp, không hợp cũng như một cảnh sát viên đi làm mà lại đội khăn vậy. Về chuyện này về sau không có bàn tán thêm nữa. Một nhà báo nghe thấy lời bình phẩm đã đặt câu hỏi dữ đến mức vị uỷ viên kia vội núp vào trong trụ sở.

Bublanski thuộc vào hội đoàn tôn giáo Soder và ăn rau xanh nếu như thực phẩm ăn kiêng không sẵn. Nhưng ông không chính thống đến nỗi không chịu làm việc trong dịp Sabbath. Bublanski cũng nhận thấy hai vụ giết người ở Enskede sẽ không phải là một cuộc điều tra thường tình. Ngay sau 8 giờ khi ông vừa ló mặt, Ekstrom đã kéo ông ra một chỗ. - Xem vẻ thì chuyện này tệ hại đây. - Ekstrom nói. - Hai người bị bắn là một nhà báo và bạn gái của anh ta, một nhà tội phạm học. Và chưa hết. Người phát hiện ra họ lại cũng là một nhà báo. Bublanski gật đầu. Cuối cùng bảo đám là vụ này sẽ được giới truyền thông đại chúng theo dõi sát.

- Và nhón vào vết thương một tí muối nữa đây, nhà báo tìm thấy hai người là Mikael Blomkvistở Millennium. - Ú. - Bublanski thốt lên. - Nổi tiếng từ lần om xòm quanh vụ Wennerstrom.

- Chúng ta biết gì về động cơ không? - Đến nay thì chưa. Chúng tôi cũng không biết các nạn nhân. Có vẻ họ là một đôi làm việc tận tụy. Người phụ nữ sắp nhận bằng tiến sĩ trong vài tuần nữa. Vụ này được coi là ưu tiên hàng đầu. Bublanski luôn đặt việc giết người vào ưu tiên hàng đầu.

- Chúng ta đang lập một nhóm. Chúng ta phải làm nhanh và tôi bảo đảm là anh sẽ có mọi nguồn tin anh cần. Anh đã có Faste và Andersson. Anh sẽ có Holmberg. Anh ta đang theo vụ án mạng ở Rinkeby nhưng hình như người làm chuyện này đã bỏ ra nước ngoài. Anh có thể theo yêu cầu mon men tới Cảnh sát Hình sự Quốc gia. - Tôi muốn Sonja Modig. - Có phải cái người tre trẻ be bé đấy không?

Bublanski nhướng lông mày ngạc nhiên. - Cô ấy ba mươi chín, cũng chạc anh, ngoài ra, cô ấy sắc sảo có thừa. - OK, anh muốn nhóm có ai thì anh tự quyết định nhưng hãy làm gấp lên. Sếp đang gõ đấy.

Bublanski coi đây là ngoa ngoắt. Vào giờ này sếp còn đang ăn điểm tâm. Cuộc điều tra chính thức bắt đầu với một cuộc họp ngay trước 9 giờ, khi thanh tra Bublanski tập hợp quân của ông vào một phòng họp trụ sở cảnh sát hạt. Ông quan sát đội ngũ, gần như không hài lòng với thành phần của nó. Modig là người ông tín nhiệm nhất. Chị có mười hai năm kinh nghiệm, bốn năm trong đó ở Phòng Tội phạm Bạo hành, tại đấy chị đã dính vào mấy vụ điều tra do Bublanski chỉ huy. Chị đòi hỏi cao và có phương pháp nhưng Bublanski rất sớm đã quan sát thấy ở chị cái nét mà ông coi là có giá trị nhất trong điều tra tinh vi. Chị có óc tưởng tượng và khả năng liên kết sự việc. Trong ít nhất hai vụ án phức tạp, Modig đã phát hiện ra những quan hệ đặc biệt và không thể ngờ mà mọi người khác bỏ qua, và chính những cái đó đã dẫn đến mở được đột phá. Chị cũng có đầu óc hài hước tươi trẻ và Bublanski tán thưởng điểm này.

Ông thích có Jerker Holmberg ở trong nhóm ông. Holmberg năm mươi nhăm, người gốc gác ở Angermanland. Ông là một người chắc nịch, khá chất phác, không có chút óc tưởng tượng nào của Modig nhưng theo con mắt Bublanski, trong toàn bộ lực lượng cảnh sát Thụy Điển ông có lẽ là điều tra viên tốt nhất tại hiện trường gây án. Nhiều năm qua họ đã làm việc cùng nhau trong nhiều cuộc điều tra và Bublanski đinh ninh rằng nếu có một cái gì đáng được tìm thấy ở hiện trường gây án thì rồi cũng lại đến tay Holmberg. Nhiệm vụ trước mắt của ông là chỉ huy công việc ở trong căn hộ tại Enskede. Curt Andersson ít được biết đến. Anh là một sĩ quan ít nói, thân hình vạm vỡ với một túm tóc vàng ngắn ngủn khiến từ xa nom như hói. Anh ba mươi tám và mới từ Huddinge về phòng này, anh đã ở Huddinge bảy năm xử lý với các tội phạm băng nhóm. Anh nổi tiếng là dễ xung, cứng rắn, điều có lẽ là uyển ngữ cho việc anh có thể dùng các phương pháp không đúng hẳn như sách vở nói. Mười năm trước anh còn bị lên án thô bạo nhưng một cuộc điều tra đã gỡ được cho anh mọi tội nợ. Tháng Mười 1999, anh đã lái xe cùng một đồng nghiệp lên Alby để bắt một tên ma cà bông về hỏi cung. Người này đã nhẵn mặt với cảnh sát, trong vài năm đúng là hắn đã khủng bố hàng xóm láng giềng trong toà chung cư. Bây giờ sau một lời mách lẻo, hắn sắp bị giữ để chất vấn liên quan đến vụ trấn lột một cửa hàng video ở Norsborg. Khi Andersson và người đồng nghiệp chẹn hắn lại, tên ma cà bông đã rút dao ra thay vì yên ắng đi theo. Viên sĩ quan kia bị mấy vết thương ở bàn tay rồi ngón tay cái trái của ông bị phạt đứt trước khi tên lưu manh để ý đến Andersson, người mà lần đầu tiên trong nghề buộc phải rút súng công vụ ra. Anh bắn ba phát. Phát đầu để cảnh cáo, phát thứ hai nhằm thật vào người kia nhưng trượt không dễ vì khoảng cách chưa đến ba mét - và phát thứ ba trúng vào đúng giữa ngực hắn, làm vỡ động mạch chủ. Người này xuất huyết và chết trong dăm bảy phút. Cuộc điều tra tất phải có cuối cùng đã gỡ được cho Andersson mọi lỗi lầm nhưng không phải không mang lại cho anh tiếng tăm về cái sự cứng rắn quá đáng.

Thoạt đầu Bublanski cũng có nghi Andersson nhưng sau sáu tháng, ông không gặp điều gì khiến cho ông phải chỉ trích hay nguyền rủa. Trái lại, Bublanski bắt đầu có một sự kính trọng nhất định với cốt cách điềm đạm của Andersson. Thành viên cuối cùng của nhóm, Hans Faste, bốn mươi bảy tuổi, mười lăm năm thâm niên trong các tội phạm bạo hành và là lý do chính làm cho Bublanski không được thoả mãn hoàn toàn với nhóm công tác. Faste có một mặt cộng và cũng có một mặt trừ. Mặt cộng là ông có nhiều kinh nghiệm - kể cả ở điều tra phức tạp nữa. Mặt trừ là con người này tự tôn duy ngã và có tính châm biếm ác độc đụng vào thần kinh của bất cứ người bình thường nào, tật này đã làm cho Bublanski phải thật tình khó chịu. Faste có hai ba nét mà Bublanski đơn giản không thể tha thứ, nhưng khi được canh chừng ngặt thì ông ta là một thám tử giỏi. Ngoài ra, ông đã trở thành một kiểu sư phụ mách nước cho Andersson, người xem vẻ như không phản đối các cung cách om sòm của ông ta. Họ thường hay làm việc cùng với nhau. Thanh tra Nyberg của phòng tội phạm hình sự đã được mời đến dự họp để thuật lại với họ chuyện chị phỏng vấn nhà báo Blomkvist hồi đêm. Chánh thanh tra bậc trên Martensson cũng có mặt để báo cáo về những gì đã xảy ra ở hiện trường gây án. Cả hai đều mệt và đều bồn chồn muốn về nhà ngủ nhưng Nyberg còn có thể mang ra các tấm ảnh về toà cao ốc, truyền chúng cho từng người ở trong nhóm xem.

Nửa giờ sau, họ đã có một khúc các sự kiện rõ ràng. Bublanski nói: - Hãy ghi nhớ trong đầu là giám định pháp y của vụ án mạng vẫn đang tiến hành... Một người không được biết đã vào căn hộ ở Enskede mà không có một hàng xóm hay chứng nhân nào để ý thấy rồi giết cặp nam nữ Dag Svensson và Mia Johansson. - Chúng ta cũng chưa biết. - Nyberg nói. - Liệu khẩu súng tìm thấy có phải là khẩu súng gây án không, nhưng nó hiện đang ở phòng Khám nghiệm Pháp y Quốc gia và nó là ưu tiên hàng đầu ở đó. Chúng ta đã tìm được một mảnh đạn viên đạn xuyên vào người Svensson còn tương đối nguyên vẹn ở trên tường phòng ngủ. Nhưng viên đạn quật ngã Johansson thì bị vỡ vụn đến mức tôi không hy vọng nó sẽ giúp được nhiều nhặn gì.

- Cảm ơn về thông tin này. Colt Magnum là một kiểu súng của cao bồi đã bị chính thức cấm dứt khoát. Chúng ta có lấy được con số xêri của súng không? - Chưa, - Martensson nói. - Tôi đã gửi khẩu súng và mảnh đạn đến phòng Khám nghiệm Pháp y Quốc gia qua nhân viên trực tiếp từ hiện trường gây án đưa đi. Chuyện đó họ trông nom thì tốt hơn tôi tự làm lấy bất cứ phân tích nào. - Thế tốt. Tôi chưa có thì giờ đến hiện trường gây án nhưng các anh chị hai người đã ở đó. Các anh chị nghĩ sao?

Nyberg nhường cho bạn đồng nghiệp nhiều tuổi hơn nói thay. - Trước hết, chúng tôi nghĩ người bắn đến có một mình. Thứ hai, trước sau đây chỉ là một vụ hành quyết. Tôi có cảm tưởng người nào đó giết Svensson và Johansson là phải có lý do rất đích đáng và hắn đã làm chính xác hành động giết đó. - Nói thế là anh căn cứ vào cái gì?

- Căn hộ ở gần và chật. Không có dấu vết trấn lột hay hành hung nào đại loại ở đó. Và chỉ nổ hai phát súng. Cả hai đều trúng mục tiêu đã định sẵn ở đầu. Vậy đây là một người biết cách cầm súng. - Cho tôi rõ ra đi. - Nếu chúng ta nhìn vào sơ đồ phác thảo của căn hộ... cái bản mà chúng ta có thể căn cứ vào đó mà xây lại ấy, thì chúng tôi đoán người giết là đàn ông, Svensson đã bị bắn gần - có thể là ngay sát sạt. Có những vết cháy ở chỗ đạn đi vào đầu. Chúng tôi đoán anh ấy bị bắn trước. Svensson đã ngã đè lên bàn ăn. Người bắn có thể đã đứng trong gian sảnh hay ở ngay lối cửa vào phòng khách.

- Theo các nhân chứng, những người sống ở cùng tầng gác, thì hai phát súng bắn cách nhau một vài tích tắc. Mia Johansson bị bắn ở khoảng cách xa hơn. Chắc chị ấy đang đứng ở cửa vào phòng ngủ và toan bỏ chạy. Viên đạn trúng vào dưới tai trái chị ấy và ra ở ngay bên trên mắt phải. Sức va đập hất chị ấy lên giường, ở chỗ chị ấy được tìm thấy. Chị ấy va phải chân giường rồi tụt xuống sàn. - Một người đã quen dùng súng nên chỉ một phát. - Faste nói. - Hơn thế nữa: không có vết chân trong phòng ngủ, tức là tên giết người đã không vào xem chị ấy chết hay chưa. Hắn biết hắn bắn trúng và rời luôn khỏi căn hộ. Vậy là hai phát súng, hai cái xác rồi ra. Chúng ta phải chờ pháp y nhưng tôi đoán là tên giết người dùng đạn săn. Chết tức thì. Vết thương ở cả hai đều rất to.

Cả nhóm im lặng suy nghĩ về tình hình tóm tắt này. Đây là một ý kiến mà chả ai trong họ cần phải mách bảo. Có hai loại đạn: đạn cứng, bọc thép hoàn toàn xuyên thẳng qua người, gây ra tổn hại tương đối nhỏ, và đạn mềm khi đập vào thân người thì vỡ toang ra, gây nên tổn hại lớn. Có một khác biệt lớn giữa việc bắn trúng một người bằng một viên đạn với đường kính chín li và một viên đạn toè nở ra trong một đường kính hai ba phân hay hơn nữa. Loại đạn sau gọi là đạn săn, mục đích của nó là làm cho chảy nhiều máu. Khi săn nai sừng tấm thì nó được coi là nhân đạo hơn do chỗ mục đích là hạ con mồi càng nhanh, càng ít đau càng tốt. Nhưng luật quốc tế cấm dùng đạn săn trong chiến tranh vì người lính bị trúng đạn này thì gần như cầm bằng chết, bất kể viên đạn vào đâu trên người. Theo tính toán của mình, hai năm trước, cảnh sát Thụy Điển đã đưa vào kho vũ khí của cảnh sát loại đạn săn rỗng mình. Chưa rõ chính xác vì sao lại thế. Nhưng khá rõ ràng là nếu người biểu tình Hannes Westberg bị bắn vào bụng trong lần bạo động chống Tổ chức Thương Mại Thế giới WTO tại Goteborg năm 2001 mà bị bắn bằng đạn săn chẳng hạn thì ông ta sẽ không sống sót. - Vậy rành rành mục đích là để giết. - Andersson nói.

Anh đang nói đến hai vụ án mạng ở Enskede nhưng cũng là lên tiếng góp ý kiến vào cuộc thảo luận đang diễn ra ở quanh bàn. Nyberg và Martensson tán thành. - Vậy chúng ta có cái khung thời gian chưa chắc đã là đúng này đây. - Bublanski nói.

- Đúng thế. Ngay sau khi nổ súng, tên giết người lập tức rời căn hộ, xuống cầu thang, vất khẩu súng rồi biến vào trong đêm. Một ít sau đó - có thể chỉ là chuyện giây lát - Blomkvist và cô em lái xe đến và đỗ ở bên ngoài. Có khả năng tên giết người rời đi qua lối tầng hầm. Có một cái cửa bên mở ra sân sau và qua một thảm cỏ ra đường phố chạy song song ở bên. Nhưng hung thủ phải có chìa khoá cửa tầng hầm. - Có dấu hiệu nào về tên giết người rời đi bằng lối ấy không? - Không.

- Vậy thì thôi mô tả đi. - Modig nói. - Nhưng sao hắn lại để rớt khẩu súng? Nếu hắn mang theo - hay ra xa nhà một ít mới ném đi - thì chúng ta sẽ phải mất thì giờ tìm. Đây là một câu hỏi không ai trả lời được. - Chúng ta nên nghĩ thế nào về Blomkvist? - Faste nói.

- Anh ta bị choáng là tất nhiên. - Martensson nói. - Nhưng anh ta hành động nhạy bén. Anh ta xem vẻ tỉnh táo và tôi nghĩ anh ta là đáng tin. Em gái anh ta, một luật sư, xác nhận cuộc gọi điện thoại và lái xe đến đấy. Tôi nghĩ anh ta không liên quan. - Anh ấy là một tên tuổi trong làng báo. - Modig nói. - Vậy chuyện này sẽ thành món om sòm của truyền thông đại chúng đây. - Bublanski nói. - Chúng ta càng có lý do gói chuyện này lại càng nhanh càng tốt. OK… Jerker, anh sẽ làm việc ở hiện trường gây án dĩ nhiên, cả với hàng xóm. Faste, anh và Curt điều tra các nạn nhân. Họ là ai, họ đang làm gì, ai ở trong số bạn bè của họ, ai có thể có động cơ giết họ? Sonja, cô và tôi sẽ đọc hết lời khai của các nhân chứng từ đêm hôm ấy. Rồi cô sẽ dựng lên lịch công việc mà Svensson và Johansson đang làm suốt cái ngày hôm trước hôm họ bị giết. Chiều nay 2 rưỡi chúng ta gặp nhau ở đây.

Blomkvist bắt đầu ngày làm việc ở bàn giấy của Svensson. Anh ngồi lặng một lúc lâu, tựa như không có hứng làm việc. Svensson có máy tính xách tay và lúc đầu anh làm việc phần lớn ở nhà. Anh quen bỏ ra một tuần hai ngày ở toà soạn, các tuần gần đây thì nhiều hơn. Ở toà báo anh được dùng một PowerMac G3 cũ, một máy tính để trên bàn làm việc của anh mà bất cứ ai trong toà soạn cũng đều dùng được. Blomkvist mở nó và tìm thấy nhiều tài liệu Svensson đang làm. Đầu tiên anh dùng nó để tìm Net nhưng cũng có những thư mục anh đã sao từ máy tính nhỏ của anh sang. Anh cũng có một bản sao dự trữ đầy đủ trên hai đĩa mà anh cất trong ngăn kéo có khoá. Thường thường ngày nào anh cũng sao lưu tư liệu mới và được cập nhật nhưng ít ngày gần đây anh không ở toà soạn nên bản sao mới nhất là từ đêm Chủ nhật. Bỏ mất ba ngày. Blomkvist sao ổ đĩa Zip rồi cất vào trong két an toàn ở toà soạn. Rồi anh bỏ ra bốn mươi lăm phút đọc hết nội dung của đĩa gốc. Nó gồm khoảng ba mươi thư mục còn thư mục con thì không đếm xuể. Bốn năm tìm hiểu của Svensson về buôn bán phụ nữ. Anh đọc tên các tài liệu và tìm những cái có thể có những dữ liệu nhạy cảm nhất - tên các nguồn tin mà Svensson đang bảo vệ. Rõ ràng anh ấy đã rất cẩn thận với các nguồn của mình - tất cả các tư liệu này đều nằm trong một thư mục mang tên . Thư mục chứa 134 tài liệu, phần lớn khá là nhỏ. Blomkvist tô đen tất cả các tài liệu rồi xoá chúng. Anh kéo chúng vào biểu tượng của chương trình Burn, điều không chỉ đơn giản xoá bỏ dữ liệu mà còn dập nát từng byte từng byte một.

Rồi Blomkvist truy cập thư điện tử của Svensson. Anh ta đã cho tạp chí địa chỉ thư điện tử của anh ta, địa chỉ này dùng cả ở cơ quan lẫn ở máy tính nhỏ của anh ta ở nhà. Anh ta có mật khẩu riêng nhưng không thành vấn đề vì với quyền của người quản trị mạng, Blomkvist vào được toàn thể máy chủ của thư điện tử. Anh tải xuống một bản sao thư điện tử của Svensson và chuyển nó sang đĩa CD. Cuối cùng anh chất lên thành cả một núi giấy làm bằng các thứ tài liệu tham khảo, ghi chép, cắt dán báo chí, biên bản xét xử của toà án, và mọi thư tín mà Svensson đã tích lại. Anh chơi chắc ăn, sao lại tất cả những gì nom quan trọng. Lên tới 2.000 trang và lấy mất của anh ba giờ đồng hồ. Anh để sang một bên tất cả các tài liệu có thể bằng một cách nào đó gắn tới một nguồn tin cậy. Đó là một đống khoảng bốn chục trang, chủ yếu là những ghi chép từ hai tập giấy A4 mà Svensson khoá lại ở trong bàn làm việc của mình. Blomkvist để những tài liệu này vào trong một phong bì rồi mang đến buồng giấy của anh. Rồi anh mang tất cả các tài liệu khác vốn là một phần trong dự án của Svensson đến bàn làm việc của anh.

Xong xuôi anh thở một hơi dài rồi đi xuống cửa hàng 7 - Eleven mua tách cà phê và một miếng pizza. Anh đã lầm cho rằng cảnh sát sẽ đến bất chợt lúc nào để lục soát bàn làm việc của Svensson. Ngay sau 10 giờ sáng, Bublanski đã có một đột phá bất ngờ trong điều tra khi Lennart Granlund ở Phòng Khám nghiệm Pháp y Quốc gia ở Linkoping gọi ông. - Đây là về vụ giết hai người ở Enskede.

- Sớm thế ư? - Chúng tôi nhận được vũ khí sáng nay và tôi chưa phân tích xong hẳn nhưng tôi có vài thông tin có thể làm anh thú vị. - Tốt. Nói xem các anh đã mò ra đến đâu rồi.

- Khẩu súng là một Colt.45 Magnum, được sản xuất ở Hoa Kỳ năm 1981. Chúng tôi có vân tay và có thể cả ADN - nhưng phân tích này sẽ mất một ít thời gian. Chúng tôi cũng xem đến các viên đạn bắn vào hai người kia. Không lạ là chúng đều do cùng một khẩu súng bắn ra. Chuyện thường là thế khi chúng tôi tìm thấy một khẩu súng ở lòng giếng cầu thang tại hiện trường gây án. Các viên đạn bị vỡ ra tệ hại nhưng chúng tôi có một mẩu để đem ra so sánh được. Xem ra nhiều phần đây là vũ khí đã giết hai người kia. - Một vũ khí bất hợp pháp, tôi cho là vậy. Anh có số xêri của súng không? - Khẩu súng hoàn toàn hợp pháp. Nó thuộc về một luật sư, Nils Bjurman và mua năm 1983. Ông ta là thành viên câu lạc bộ bắn súng của cảnh sát. Ông ta sống ở đường Upplandsgatan gần Odenplan.

- Anh đang nói chuyện trời biển gì thế? - Chúng tôi cũng tìm thấy, như tôi đã nhắc tới, một số dấu vết in trên khẩu súng. Dấu vết của ít nhất hai người khác nhau. Chúng tôi có thể chờ đợi kết quả nói rằng dấu vết của một bên là thuộc về Bjurman, khi mà cho đến nay khẩu súng vẫn chưa được báo cáo là bị ăn cắp hay bán đi - nhưng chúng tôi chưa có thông tin về chỗ này. - A ha, nói cách khác là chúng ta đã có một đầu mối.

- Về dấu vết của bên thứ hai, chúng tôi đã tìm trúng ra nó ở trong sổ đăng ký. Dấu của ngón tay cái và ngón tay trỏ bên phải. - Của ai? - Một phụ nữ sinh ngày 30 tháng Tư năm 1978. Bị bắt vì đánh người ở Gamla Stan năm 1995, khi ấy đã lấy vân tay.

- Có tên không? - Có. Tên cô ta là Lisbeth Salander. Bublanski viết tên này lại cùng với một số bảo hiểm xã hội mà Granlund cho ông.

Khi Blomkvist quay lại với công việc sau bữa ăn trưa muộn mằn, anh đi thẳng vào buồng giấy của mình, đóng cửa lại, tỏ cho thấy rõ là anh không muốn bị quấy rầy. Anh không có thì giờ xử lý mọi thông tin ngoại vi trong các ghi chép và thư điện tử của Svensson. Anh cần ngồi xuống đọc kỹ hết quyển sách và các bài báo với con mắt hoàn toàn mới, cần ghi nhớ trong đầu rằng nay tác giả đã chết, không còn có thể trả lời cho bất cứ câu hỏi gay go nào mà anh có thể cần đặt ra. Anh cần quyết định xem liệu vẫn có xuất bản quyển sách không. Và anh phải cả quyết xem trong các tài liệu có một cái gì đó có thể gợi đến một động cơ giết người không. Anh mở máy tính và bắt tay vào việc. Bublanski gọi Ekstrom, ngắn gọn bảo ông những gì đã tiến triển ở Phòng Khám nghiệm Pháp y Quốc gia. Đã quyết định là Bublanski và Modig sẽ gọi cho Luật sư Bjurman. Gọi là để có thể chuyện trò hay thẩm vấn hay thậm chí cả bắt giữ nữa, Faste và Andersson sẽ dò tìm tung tích Lisbeth Salander và yêu cầu cô giải thích tại sao lại có vân tay cô ở khẩu súng gây án. Lúc đầu việc tìm Bjurman không khó. Địa chỉ của ông ta có ghi trong danh sách thuế, sổ đăng ký vũ khí và kho dữ liệu cấp giấy phép sử dụng xe; có cả ở trong danh bạ điện thoại. Bublanski và Modig lái xe đến Oderplan, toan đi vào tòa cao ốc trên đường Upplandsgatan thì một thanh niên ở trong ra đúng lúc họ đi tới. Họ bấm chuông cửa nhà Bjurman nhưng không ai trả lời. Họ lái xe đến cơ quan ông ở St Eriksplan nhưng cũng không kết quả nốt.

- Có thể ông ta ở tòa án. - Modig nói. - Có thể đã leo máy bay sang Brazil sau khi bắn hai người ở Enskede. - Bublanski nói. Modig liếc bạn đồng nghiệp. Cô thích ở bên ông. Chẳng phải cô có điều gì để chống lại việc tán tỉnh ông nhưng vướng nỗi cô lại là mẹ của hai đứa con và hôn nhân của cả cô lẫn Bublanski đều hạnh phúc. Trên biển đề tên bằng đồng ở tầng gác của Bjurman, họ nhận thấy các hàng xóm gần nhất của ông là một nha sĩ, bác sĩ Norman, một công ty tên là N - một công ty tên là N - Tham vấn và Rune Hakansson, một luật sư.

Họ bắt đầu với Hakansson. - Chào ông, tên tôi là Modig và đây là thanh tra Bublanski. Chúng tôi là cảnh sát và có công chuyện với Nils Erik Bjurman, bạn đồng nghiệp của ông ở cạnh đấy. Ông có biết có thể tìm thấy ông ấy ở đâu không? Hakansson lắc đầu.

- Gần đây tôi không hay trông thấy ông ấy nhiều. Hai năm trước ông ấy ốm nặng, ít nhiều đã thôi hành nghề. Cứ khoảng chừng hai tháng thì tôi thấy ông ấy một lần. - Ốm nặng? - Bublanski nói. - Cái này tôi không chắc. Ông ấy luôn làm việc quên mình thế rồi đổ bệnh, ung thư, tôi đồ chừng là vậy. Tôi ít biết ông ấy.

- Ông nghĩ thôi hay là biết ông ấy bị ung thư? - Modig nói. - À... Không, tôi không được chắc. Ông ấy có một thư ký, Britt Karlsson, hay Nilsson, đại khái gì đó như vậy. Một phụ nữ già hơn. Ông ấy để bà ấy đi và bà ấy bảo tôi là ông ấy ốm. Đó là hồi mùa xuân 2003. Tôi không trông thấy ông ấy cho mãi đến tháng Mười hai năm ấy. Nom ông ấy già đi đến mười tuổi, hốc hác, tóc hoa râm. Cái này là tự tôi kết luận. Họ trở lại căn hộ. Vẫn không trả lời. Bublanski lấy di động ra bấm số di động của Bjurman. Ông được lời nhắn: Lúc này không liên hệ được với thuê bao mà bạn gọi. Xin thử gọi lại. Ông thử số máy nhà. Ở lối cửa họ nghe thấy bên kia cửa tiếng chuông réo âm âm rồi máy trả lời cạch một cái và yêu cầu người gọi để lại lời nhắn.

Là 1 giờ chiều. - Cà phê chứ? - Tôi cần một burger.

Ở nhà hàng Burger King trên đường Odenplan, Modig có một bánh Whopper còn Bublanski thì một burger rau. Công tố viên Ekstrom triệu tập họp lúc 2 giờ tại bàn họp trong buồng giấy của ông. Bublanski và Modig ngồi bên nhau ở cạnh tường gần cửa sổ. Andersson đến muộn hai phút, ngồi đối diện với họ. Holmberg vào với một khay cà phê đựng trong các cốc giấy. Ông vừa tạt qua thăm Enskede và có ý quay về muộn vào hồi chiều khi đã làm xong các công việc kỹ thuật. - Faste đâu? - Ekstrom hỏi.

- Anh ấy đang làm việc với công ty phúc lợi xã hội, năm phút trước anh ấy mới gọi bảo anh ấy bị muộn chút chút. - Svensson nói. - Thế nào thì cũng cứ bắt đầu đi. Chúng ta đã có được gì? - Ekstrom mở đầu chẳng khách sáo. Ông chỉ vào Bublanski trước. - Chúng tôi tìm Bjurman, người có đăng ký sở hữu cái chắc là vũ khí gây án. Ông ta không ở nhà cũng không ở cơ quan. Theo một luật sư khác cũng ở trong tòa nhà ấy thì hai năm trước ông ta bị bệnh, ít nhiều đã thôi hành nghề.

Modig nói: - Bjurman năm mươi sáu tuổi, không có tên trong sổ đăng ký tiền án. Ông ta chủ yếu là luật sư về kinh doanh. Tôi chưa có thì giờ tìm hiểu lai lịch ông ấy sâu hơn. - Nhưng ông ta lại sở hữu khẩu súng dùng ở Enskede.

- Đúng. Ông ta có giấy phép và ông ta là thành viên câu lạc bộ bắn súng của cảnh sát. - Bublanski nói. - Tôi đã nói chuyện về vũ khí với Gunnarsson - ông ta là chủ tịch câu lạc bộ và biết rõ Bjurman. Bjurman tham gia năm 1978 và từ 1984 đến 1992 thì làm thủ quỹ. Gunnarson tả Bjurman là một tay bắn súng ngắn xuất sắc, bình tĩnh, tập trung và không có chất gì khác lạ. - Một dân nghiền súng à? - Gunnarsson nghĩ Bjurman thích sinh hoạt câu lạc bộ hơn là bắn súng. Ông ta thích ganh đua nhưng ông ta không nổi bật, ít ra thì cũng không phải là một tay cuồng súng. Năm 1983 ông ta tham gia giải vô địch Thụy Điển, xếp thứ mười ba. Mười năm qua ông ta ít bắn hơn và chỉ quay lại câu lạc bộ vì các cuộc họp thường niên đại loại.

- Ông ta còn sở hữu vũ khí gì khác không? - Từ ngày tham gia câu lạc bộ bắn súng, ông ta có giấy phép cho bốn súng ngắn. Cộng với khẩu Colt, ông ta có một Bereta, một Smith & Wesson và một khẩu để bắn thi của Rapid chế tạo. Ba khẩu này mười năm trước đã bán lại trong câu lạc bộ, giấy phép đã chuyển cho các thành viên khác. - Thế chúng ta không biết ông ta ở đâu.

- Đúng thế. Nhưng chúng ta mới chỉ tìm ông ta từ 10 giờ sáng hôm nay thôi. Mà ông ta thì có thể đi dạo ở công viên Djurgarden hay quay lại bệnh viện. Vừa lúc ấy, Faste ập vào. Ông như đứt hết hơi. - Xin lỗi, tôi muộn. Tôi có thể nhảy ngay vào được không?

Ekstrom ra hiệu “thì cứ làm đi”. - Lisbeth Salander là một tính cách rất lý thú. Cả sáng nay tôi đã ở Sở Phúc lợi xã hội và Sở Giám hộ. Ông cởi jacket ra treo lên lưng ghế mình rồi ngồi xuống giở một quyển sổ tay. - Sở Giám hộ hả? - Ekstrom nói, cau mặt.

- Đây là một phụ nữ rất quậy. - Faste nói. - Cô ta bị tuyên bố bất lực không tự cai quản được bản thân do đó bị đặt trong chế độ giám hộ. Đoán xem ai là người bảo hộ cô ấy. - Ông ngừng lại cho lời mình có thêm tác động. - Nils Bjurman, người sở hữu khẩu súng đã được dùng ở Enskede. Tuyên bố này chắc chắn là có tác động như Faste lường trước, ông bỏ hơn mười lăm phút nói vắn gọn cho cả nhóm nghe những điều ông biết về Salander. - Tóm lại. - Ekstrom nói khi Faste trình bày xong. - Trên cái vũ khí chắc là đã gây án kia, chúng ta có dấu vân tay của một phụ nữ mà vào tuổi mười mấy đã ra ra vào vào các cơ sở tâm thần, người được biết là gái điếm, người bị tòa án quận tuyên bố không tự cai quản được bản thân, người được liệt vào hồ sơ lý lịch là có những xu hướng bạo lực. Chúng tôi đang thắc mắc cô ta làm cái quỷ gì trên các đường phố như thế chứ.

- Cô ấy có xu hướng bạo lực từ khi học tiểu học cơ. - Faste nói. - Cô ấy có vẻ bị tâm thần thật. - Nhưng cho đến nay chúng ta chưa thấy cô ấy có mối liên hệ nào với hai người bị giết ở Enskede kia. - Ekstrom gõ đầu ngón tay xuống mặt bàn. - Dẫu sao giải quyết vụ án mạng kép này có thể cũng không phải là khó lắm. Chúng ta có một địa chỉ nào của Salander không? - Ở đường Lundagatan tại Sodermalm. Sở thuế cho hay cô ấy có thu nhập đều kỳ ở An ninh Milton.

- Thế nhân danh Chúa nào mà cô ấy lại làm việc ở đấy thế? - Tôi không biết. Trong nhiều năm thu nhập này vẫn cứ nhỏ thế. - Có thể cô ấy làm nhân viên tạp vụ quét dọn hay gì đó.

- Hừm. - Ekstrom nói. Chúng ta phải kiểm tra ra chỗ này. Ngay bây giờ chúng ta phải tìm cô ấy. - Chúng ta phải mò dần ra chi tiết. - Bublanski nói. - Nhưng hiện chúng ta đang có một nghi can. Hans, anh và Curt xuống Lundagatan bắt thóp Salander. Hãy cẩn thận - chúng ta không biết cô ấy có còn vũ khí gì nữa không đây, và chúng ta thực sự không biết cô ấy nguy hiểm như thế nào. - OK.

- Bong bóng. - Ekstrom nói. - Sếp của An ninh Milton là Dragan, trong một vụ án ít năm trước đây tôi đã gặp ông ấy. Hãy đến nói chuyện kín đáo với ông ấy về Lisbeth Salander. Anh gặp ông ấy trước khi xong công việc hôm nay thì tốt hơn. Bublanski ngán ngẩm ra mặt, một phần vì Ekstrom lôi tên “húy” của ông ra, một phần vì đã diễn đạt yêu cầu của mình như một mệnh lệnh. - Modig, ông nói, cứ tìm Bjurman nha. Gõ cửa tất cả các nhà hàng xóm. Tôi nghĩ tìm ông này cũng là quan trọng.

- OK. - Chúng ta phải tìm ra mối liên quan giữa Salander và cặp nam nữ kia. Và chúng ta phải biết khi xảy ra vụ án mạng thì cô ta đang ở đâu tại Enskede. Jerker, kiếm lấy vài bức ảnh của cô ấy và kiểm tra mọi người đang sống ở chung cư ấy. Lấy vài cảnh sát đồng phục giúp anh. Bublanski ngừng lại gãi gãi gáy.

- Chết thật, chỉ cần một tí teo may mắn thôi là đêm nay chúng ta gói lại xong vụ rắc rối này - tôi nghĩ vụ này sẽ là một vụ dài, kéo lê thê đây. - Một việc nữa. - Ekstrom nói. - Báo đài họ đang ép chúng ta. Tôi đã hứa với họ họp báo lúc 3 giờ chiều nay. Tôi có thể xoay xở tại cuộc họp miễn là có một ai đó ở tòa báo giúp tôi. Tôi đoán một số nhà báo cũng sẽ gọi trực tiếp cho anh. Chúng ta sẽ không nói gì hết về Salander và Bjurman chừng nào còn phải giấu. Armansky đã tính về nhà sớm. Là thứ Năm trước Phục sinh, vợ chồng ông đã định đến căn nhà nhỏ mùa hè ở Blido qua cuối tuần và lễ Phục sinh. Ông đã đóng cặp xách lại và mặc áo ngoài vào thì máy ở tiếp tân ri ri kêu và nói có thanh tra hình sự Jan Bublanski tìm ông.

Armansky không biết Bublanski nhưng việc một sĩ quan cảnh sát cao cấp đến cơ quan cũng đủ khiến cho ông treo áo lên cây mắc mũ áo. Ông không thích gặp bất cứ ai hết nhưng An ninh Milton không thể cho phép lờ cảnh sát. Ông gặp Bublanski ở gần thang máy trong hành lang. - Cảm ơn đã bỏ thì giờ ra gặp tôi. - Bublanski nói. - Sếp tôi - công tố viên Ekstrom - xin gửi lời chào ông. Họ bắt tay nhau.

- Ekstrom à, tôi đã làm việc với ông ấy trong một vài lần. Ông có muốn dùng cà phê? Armansky dừng lại ở chỗ máy cà phê, bấm nút lấy hai tách rồi mời Bublanski vào buồng giấy, dành cho chiếc ghế dễ chịu nhất ở bên cửa sổ. - Armansky... ông là người Nga? - Bublanski nói. - Tên tôi cũng là “ski” tận cùng.

- Họ của tôi đến từ Armenia. Còn họ của ông? - Ba Lan. - Tôi giúp gì được ông đây?

Bublanski lấy sổ tay ra. - Tôi đang điều tra vụ giết hai người ở Enskede. Tôi cho là ông đã nghe tin hôm nay. Armansky khẽ gật một cái.

- Ekstrom nói ông kín đáo. - Ở địa vị của tôi, cộng tác với cảnh sát thì có lợi. Tôi có thể giữ được bí mật, nếu đó là điều ông nghĩ. - Tốt. Chúng tôi đang tìm một người đã làm cho công ty của ông một dạo. Lisbeth Salander. Ông biết cô ấy?

Armansky cảm thấy một tảng xi măng đang hình thành ở trong bụng mình, vẻ mặt ông không thay đổi. - Sao ông lại tìm cô Salander? - Chúng ta hãy nói chúng tôi có lý do để coi cô ấy là một người cần quan tâm trong cuộc điều tra.

Tảng xi măng trong bụng Armansky nở to ra. Nó gần như làm cho ông thấy đau đớn. Từ ngày đầu gặp Salander ông đã có một linh cảm mạnh mẽ rằng đời cô đang ở trên một quỹ đạo hướng tới tai họa. Nhưng ông luôn hình dung cô là nạn nhân chứ không phải kẻ xâm phạm. Ông vẫn không lộ ra cho thấy cảm xúc nào. - Vậy là ông nghi Lisbeth Salander về vụ giết hai người ở Enskede. Tôi hiểu như thế có được đúng không? Ngập ngừng một chút rồi Bublanski gật.

- Ông có thể nói gì về cô ta với tôi không? - Ông muốn biết điều gì? - Trước hết, làm sao tìm được ra cô ta.

- Cô ấy sống ở Lundagatan. Tôi sẽ nhòm xem địa chỉ chính xác. Tôi có số máy di động của cô ấy. - Địa chỉ thì chúng tôi có biết. Số máy di động sẽ được việc hơn. Armansky ra bàn làm việc, đọc con số lên và Bublanski ghi lại.

- Cô ấy làm việc cho ông? - Cô ấy có công việc của cô ấy. Từ 1998 đến khoảng một năm rưỡỉ trước đây, thỉnh thoảng tôi giao cho cô ấy những việc tự do. - Cô ấy đã làm những việc gì?

- Nghiên cứu điều tra. Bublanski ngước mắt lên khỏi sổ tay. - Nghiên cứu điều tra? - Ông nói.

- Nói chính xác hơn là những điều tra về cá nhân. - Xin dừng lại một tí... chúng ta vẫn đang nói đến cô gái ấy đấy chứ? Con người Lisbeth Salander mà chúng tôi đang tìm đây chưa học hết phổ thông và bị tuyên bố chính thức là không có khả năng, bất lực trong việc tự trông nom lấy bản thân. - Từ nay trở đi họ không nói “không có khả năng” nữa. - Armansky nói bình thản.

- Tôi chả cần quái gì từ đấy đến nay họ nói thế nào. Cô gái mà chúng tôi tìm đây có một biên bản ghi nhận rằng cô ấy là một cá nhân rất phá quấy và thiên về bạo hành. Trong hồ sơ của Sở Phúc lợi xã hội về cô ấy có nói hồi cuối những năm 90 cô ấy là gái điếm. Trong các biên bản về cô ấy không có bất cứ cái gì cho thấy cô ấy có thể làm nổi công việc văn phòng. - Hồ sơ là một đằng. Con người ta là một cái khác. - Ông muốn nói là cô ấy có tư cách làm các việc điều tra cá nhân cho An ninh Milton?

- Không chỉ thế. Cô ấy là điều tra viên giỏi nhất, hơn xa mọi điều tra viên mà tôi từng có. Bublanski đặt bút xuống cau mày. - Nghe như ông... coi trọng cô ấy.

Armansky nhìn tay mình. Câu hỏi đánh dấu một ngã ba ở trên đường. Ông luôn luôn sợ sớm muộn Salander sẽ đi tới chỗ nước sôi lửa bỏng, nhưng ông không thể hình dung nổi cô lại dính vào một vụ giết hai người ở Enskede - với tư cách hung thủ hay bằng một cách nào khác. Nhưng ông biết gì về đời tư của cô ấy chứ nhi? Armansky nghĩ tới lần cô đến cơ quan gặp ông mới đây, lần ấy cô giải thích mập mờ rằng cô có đủ tiền để sống và không cần việc làm. Điều khôn ngoan nhất phải làm lúc này là tách ông, và trên hết An ninh Milton, ra khỏi mọi liên hệ vớỉ Salander. Nhưng thế thì chắc Salander sẽ là người cô đơn nhất mà ông biết. - Tôi kính trọng tài năng của cô ấy. Ông không tìm thấy các cái đó ở trong kết quả học hành hay ghi nhận về cá nhân.

- Vậy ông biết về lai lịch cô ấy. - Biết cô ấy phải chịu chế độ giám hộ và cô ấy được nuôi dậy khá lôi thôi thì có, vâng. - Và ông vẫn tin cô ấy.

- Chính xác ra đó là lý do tại sao tôi tin cô ấy. - Xin giải thích cho. - Người giám hộ trước kia của cô ấy, Holger Palmgren là luật sư của An ninh Milton. Ông nhận lấy trường hợp của Salander khi cô ấy còn ở tuổi mười mấy và ông đã thuyết phục tôi cho cô ấy một việc làm. Ban đầu tôi dùng cô ấy làm công văn thư từ bưu phẩm đi đến và trông coi máy sao chụp, những việc đại loại như thế. Nhưng hóa ra cô ấy có những tài năng không thể tin nổi. Và ông có thể quên bất cứ báo cáo nào nói cô ấy là điếm đi. Đó là trò vớ vẩn. Ở vào tuổi mười mấy của mình, Lisbeth đã có một thời kỳ khó khăn và rõ là đã có lúc hơi man dại một chút - nhưng cái này không giống với chống phá pháp luật. Làm điếm chắc là cái việc cuối cùng trên đời này mà cô ấy phải quay đầu vào.

- Người giám hộ hiện thời của cô ấy là một luật sư tên là Nils Bjurman. - Tôi chưa gặp ông ta bao giờ. Hai năm trước, Palmgren bị xuất huyết não. Ngay sau khi xảy ra chuyện này Lisbeth cắt, không làm việc với tôi nữa. Việc cuối cùng cô ấy làm là vào tháng Mười, một năm rưỡi trước đây. - Tại sao ông thôi mướn cô ấy?

- Đâu phải tôi chọn. Cô ấy hủy hợp đồng rồi biến đi nước ngoài. Không một lời giải thích. - Biến ra nước ngoài. - Cô ấy đã đi hơn một năm.

- Cái ấy không thể đúng được. Trong suốt năm ngoái Bjurman vẫn gửi báo cáo hàng tháng về cô ấy cơ mà. Trên Kungsholmen, chúng tôi có bản sao các báo cáo ấy. Armansky nhún vai mỉm cười. - Ông thấy cô ấy lần cuối cùng vào lúc nào?

- Đầu tháng Hai. Cô ấy vọt ở đâu ra đến chào thăm xã giao tôi. Cả năm ngoái cô ấy ở nước ngoài, du lịch đến châu Á và vùng Caribbean - Xin lỗi ông, tôi có hơi bị sa lầy ở đây. Tôi có cảm tưởng cô Lisbeth Salander này là một cô gái có bệnh tâm thần chưa học hành đến nơi đến chốn và bị giám hộ. Bây giờ ông bảo ông tin cô ấy là một điều tra viên khác thường, là cô ấy có công việc riêng của cô ấy, là cô ấy kiếm ra đủ tiền để nghỉ làm cả năm và đi du lịch quanh thế giới, tất cả cái đó đều là không với người giám hộ ở bên. Chỗ này nghe thấy đáng báo động. Một cái gì đó không ăn nhập ở đây. - Có một chút gì đó không ăn nhập với cô Salander.

- Tôi có thể hỏi ý kiến bao trùm của ông về cô ấy là gì không? Armansky nghĩ một lúc. Cuối cùng nói: - Cô ấy là người dễ cáu nhất, kiên định nhất mà tôi từng gặp trong đời.

- Kiên định? - Cô ấy không làm bất cứ cái gì mà cô ấy không thích làm. Salander bỏ ngoài tai tất cả những gí người khác nói về cô ấy. Cô ấy có năng khiếu ghê gớm. Và cô ấy không giống bất cứ một ai mà tôi đã từng gặp. - Cô ấy có bị mất cân bằng không?

- Ông định nghĩa không cân bằng là thế nào? - Cô ấy có thể lì lợm giết hai người được không? Armansky lặng lẽ một lúc lâu.

- Tôi xin lỗi, tôi không trả lời câu hỏi này được. Tôi theo thuyết hoài nghi. Tôi tin rằng ai cũng có trong hắn cái chất lì lợm để giết kẻ khác. Trong cơn giận dữ hay thù hận, hay ít nhất để tự vệ. - Trong trường hợp nào ông cũng coi thường tính khả dĩ. - Nếu như không có lý do chính đáng Lisbeth Salander sẽ không làm bất cứ một điều gì cả. Nếu cô ấy giết một ai đó thì cô ấy phải cảm thấy có một lý do rất chính đáng để làm việc ấy. Tôi có thể hỏi … ông nghi cô ấy dính dáng đến vụ giết hai người này là dựa trên cơ sở nào?

Bublanski bắt gặp mắt Armansky nhìn mình. - Chúng ta có thể giữ bí mật được điều này không? - Tuyệt đối.

- Khẩu súng là của người giám hộ cô ấy. Có vân tay cô ấy ở trên khẩu súng đó. Armansky nghiến răng lại. Đây là chứng cớ rất gián tiếp. - Tôi mới nghe radio nói đến vụ giết này. Nó là về chuyện gì? Ma túy?

- Cô ấy có dính phải ma túy không? - Tôi không biết cái đó. Nhưng như tôi đã nói, hồi mười mấy tuổi cô ấy đã qua những ngày tháng tồi tệ, đã bị bắt vài lần vì say rượu. Các biên bản về cô ấy sẽ cho ông biết cô ấy có dính vào ma túy hay không. - Chúng tôi không có động cơ của vụ giết hai người này. Hai người này làm việc tận tình chu đáo. Chị ấy là một nhà tội phạm học, sắp sửa nhận bằng tiến sĩ. Anh ấy là một nhà báo. Dag Svensson và Mia Johansson. Hai cái tên này có nói lên được điều gì không?

Armansky lắc. - Chúng tôi đang tìm mối quan hệ giữa hai người và Lisbeth Salander. - Tôi chưa nghe đến tên họ bao giờ.

Bublanski đứng lên. - Cảm ơn nhiều về thời gian ông dành cho tôi. Chuyện chúng ta vừa nói là hấp dẫn đấy. Tôi không biết nhờ đó tôi đã khôn lên được bao nhiêu nhưng tôi hy vọng tất cả những chuyện này chúng ta giữ với nhau thôi. - Dĩ nhiên.

- Nếu cần tôi sẽ quay lại với ông. Và dĩ nhiên nếu cần tiếp xúc với Salander. - Chắc chắn thế. Họ bắt tay. Đã ra đến cửa, Bublanski lại đứng lại.

- Tình cờ ông có biết ai mà Salander cùng làm chung không? Bạn bè, chỗ quen biết...? Armansky lắc đầu. - Tôi chả biết tí nào về đời tư của cô ấy. Trừ người giám hộ già có một ý nghĩa nào đó với cô ấy. Holger Palmgren. Ông ấy đang ở nhà điều dưỡng tại Ersta. Từ khi trở về có thể Salander đã tiếp xúc với ông ấy.

- Khi làm việc ở đây cô ấy có khách bao giờ không? Liệu có biên bản nào về chuyện ấy không? - Không. Cô ấy làm việc chủ yếu ở nhà và chỉ đến để nộp báo cáo. Trừ một ít ngoại lệ, cô ấy không bao giờ gặp khách hàng. Có thể... Một ý nghĩ chợt làm cho Armansky dừng lại.

- Sao? - Có thể cô ấy tiếp xúc chi có đúng một người, một nhà báo cô ấy quen hai năm trước. Anh ấy đã tìm cô ấy khi cô ấy ở nước ngoài. - Một nhà báo?

- Tên anh ấy là Mikael Blomkvist. Ông có nhớ vụ Wennerstrom không? Bublanski từ từ đi vào lại buồng giấy của Armansky. - Chính Mikael Blomkvist đã phát hiện ra hai người ở Enskede kia. Chúng tôi chỉ mới lập ra một liên hệ giữa Salander với các nạn nhân của vụ án mạng.

Armansky lại cảm thấy cái đau chắc nịch của tảng xi măng ở trong bụng ông. CHƯƠNG 14 Thứ Năm trước Phục sinh, 24 tháng Ba

Modig đã nửa giờ cố tiếp xúc với Bjurman qua di động của ông. Lần nào chị cũng nghe nói là không liên lạc được với chủ máy. 3 rưỡi chiều chị lái xe đến Odenplan, bấm chuông cửa. Một lần nữa, không trả lời. Chị bỏ thêm hai mươi phút nữa bấm chuông các căn hộ khác trong chung cư để xem liệu có hàng xóm nào biết Bjurman hiện ở đâu không. Mười chín căn hộ thì mười một không có ai ở nhà. Trong ngày rõ ràng lúc này không phải là lúc gõ cửa, huống hồ lại vào cuối tuần kèm lễ Phục sinh nữa thì chả mong sẽ được gì tốt hơn. Trong tám căn hộ có người, ai cũng sẵn sàng giúp. Năm người biết Bjurman là ai - một ông lịch sự, xã giao, nói năng tử tế trên tầng sáu. Không ai cho được một thông tin gì về chỗ ở của ông ta. Chị đã xoay xở biết được Bjurman có thể đang đến thăm một trong những hàng xóm gần gũi nhất của ông ta, một nhà kinh doanh tên là Sjoman. Nhưng cũng chả có ai trả lời ở cửa nhà này.

Nản lòng, Modig lấy di động ra gọi lại một lần nữa vào máy trả lời của Bjurman. Chị cho tên chị, để lại số di động của chị và đề nghị ông liên hệ với chị càng nhanh càng tốt. Chị quay về cửa nhà Bjurman, viết giấy nhắn đề nghị ông gọi cho chị. Chị cũng lấy danh thiếp ra bỏ vào hòm thư. Lúc đậy nắp hòm thư lại thì chị nghe thấy tiếng điện thoại réo ở trong căn hộ. Ghé sát cửa chị chăm chú nghe thấy nó réo bốn hồi. Chị nghe máy trả lời cạch một tiếng nhưng chị không nghe thấy lời nhắn nào. Chị đậy lại nắp hòm thư rồi nhìn ra cửa. Chị không thể nói chính xác xung lực nào đã khiến chị giơ tay sờ vào tay nắm cửa và chị hết sức ngạc nhiên thấy cửa không khóa. Chị đẩy cửa nhòm vào trong gian sảnh.

- Xin chào. - Chị thận trọng gọi rồi nghe ngóng. Im như tờ. Chị bước một chân vào gian sảnh rồi ngập ngừng. Chị cầm chắc không tìm được ra cớ để đi vào cũng như không có quyền vào căn hộ, cho dù cửa không khóa. Chị nhìn sang trái, liếc vào phòng khách. Vừa định bụng quay ra thì nhác trông lên bàn ở gian sảnh. Nhìn thấy một hộp đựng súng Colt Magnum. Chị thình lình cảm thấy rất bất an. Chị mở jacket lấy súng công vụ ra, điều trước đây hiếm khi chị làm.

Chị gạt chốt an toàn và chĩa súng xuống sàn khi đi vào phòng khách, ngó nhìn trong đó. Không thấy gì trước mắt nhưng chị cứ thấy thấp thỏm hơn lên. Chị lui ra nhòm vào bếp. Trống không. Chị đi xuôi hành lang và đẩy cửa phòng ngủ. Bjurman trần truồng nằm gục trên giường. Ông quỳ xuống sàn tựa như đang đọc kinh. Ngay ở ngoài cửa Modig cũng có thể nói là ông đã chết. Một nửa trán ông bị một viên đạn bắn từ ót thổi tung đi.

Modig đóng cửa căn hộ lại ở đằng sau mình. Chị vẫn giữ khẩu súng công vụ ở trong tay khi bấm di động gọi thanh tra Bublanski. Không liên hệ được với ông. Chị gọi cho công tố viên Ekstrom ngay sau đó. Chị ghi lại thời gian. 4 giờ 18 phút. Faste nhìn cửa vào tòa nhà trên đường Lundagatan. Ông nhìn Andersson rồi nhìn đồng hồ. 4 giờ 10.

Sau khi được người quản gia cho mã số vào, họ đã ở trong tòa nhà, họ ghé tai vào cửa có biển tên đề “Salander + Wu”. Họ không nghe thấy âm thanh nào trong căn hộ, và cũng chẳng ai đáp lại tiếng chuông. Họ quay ra xe đỗ ở một chỗ có thể theo dõi được cửa nhà. Ở trên xe qua điện thoại họ được cho biết cái người ở Stockholm mà gần đây mới điền thêm tên vào hợp đồng thuê căn hộ trên đường Lundagatan là Miriam Wu, sinh năm 1974, trước kia sống ở St. Eriksplan.

Họ có một ảnh hộ chiếu của Salander dán trên radio xe. Faste nói hẳn ra miệng rằng cô nom như con điếm. - Mẹ kiếp, điếm lúc nào nom cũng bệ rạc hơn đi. Nhót phải ả này ông sẽ thất vọng phải biết. Andersson nín thinh.

Lúc 4 giờ 20, Bublanski gọi họ bảo ông đang trên đường từ chỗ Armansky đến tòa soạn Millennium. Ông yêu cầu Faste và Andersson theo dõi tiếp ở Lundagatan. Họ cần đem Salander đến thẩm vấn nhưng họ nên biết rằng công tố viên không nghĩ cô ta có thể dính dáng đến vụ giết hai người ở Enskede đâu. - Được thôi. - Faste nói. - Theo Bong bóng thì công tố viên muốn có lời thú tội trước đã rồi có bắt ai mới bắt. Andersson không nói gì. Họ theo dõi lờ phờ những người qua lại trong khu vực.

4 giờ 40, công tố viên Ekstrom gọi di động của Faste. - Có chuyện đấy. Chúng ta tìm thấy Bjurman bị bắn trong nhà ông ta. Chết ít ra cũng đã hai mươi tư tiếng đồng hồ. Faste ngồi ngay ngắn lên.

- Nghe rõ. Chúng tôi sẽ làm gì? - Tôi sắp ra lệnh báo động về Salander. Cô ta bị truy nã là nghi phạm trong ba vụ giết người. Chúng ta sẽ gửi lệnh báo động đi cả nước. Chúng ta cần coi cô ta là nguy hiểm và rất có thể là có vũ khí. - Nghe rõ.

- Tôi đang điều một xe nhiều chỗ đến Lundagatan. Anh em sẽ vào căn hộ và canh ở đấy. - Hiểu. - Các anh có tiếp xúc được với Bublanski không?

- Ông ấy ở Millennium. - Và hình như tắt di động. Anh có thể thử gọi báo cho ông ấy biết không? Faste và Andersson nhìn nhau.

- Vấn đề là chúng ta làm gì nếu cô ta lòi mặt ra. - Andersson nói. - Nếu có một mình và xem tình hình tốt thì tóm luôn. Cô gái này điên như quỷ và rõ ràng là đang trong cơn hăng giết đây. Có thể có nhiều vũ khí ở trong căn hộ. Blomkvist mệt muốn chết khi anh đặt chồng các trang bản thảo lên bàn làm việc của Berger rồi buông mình xuống chiếc ghế bên cửa sổ nhìn ra Gorgatan. Anh đã bỏ cả chiều ra cố quyết định xem họ cần làm gì với quyển sách chưa xong của Svensson.

Svensson mới chỉ chết vài ba giờ mà người xuất bản đã phân vân làm gì với công trình anh để lại. Một người ngoài cuộc có thể nghi như thế là trắng trợn và không tình nghĩa. Nhưng Blomkvist không nhìn theo kiểu ấy. Anh cảm thấy anh gần như đang ở trong trạng thái không trọng lượng. Đây là một cảm giác mà mọi phóng viên và biên tập viên báo chí đều biết rõ, chính nó đã đóng góp vào những lúc khủng hoảng trực tiếp. Khi người khác buồn phiền thì người làm báo trở nên hữu hiệu. Mặc dù các thành viên của nhóm Millennium đang ở đây buổi sáng thứ Năm trước Phục sinh này đều bị chấn động, đầu óc nghề nghiệp vẫn thắng thế để khơi dòng mạnh mẽ cho mọi người bắt tay vào việc. Với Blomkvist thì chuyện này chả phải nói. Anh và Svensson là hai người cùng một tạng, nếu họ đổi vai trò cho nhau thì Svensson cũng làm giống như anh mà thôi. Anh sẽ tự hỏi nên làm gì cho Blomkvist. Svensson để lại di sản là một bản thảo với một câu chuyện bùng nổ. Anh ấy đã làm việc trong bốn năm, đã để hết tâm trí vào một nhiệm vụ mà nay anh ấy sẽ chẳng bao giờ hoàn thành.

Và anh đã chọn làm việc với Millennium. Tính theo thang bậc của vụ ám sát Olof Palmer thì vụ giết Dag và Mia không là một tổn thất tầm cỡ quốc gia, cuộc điều tra sẽ không được cả nước đau buồn theo dõi. Nhưng với những người làm ở Millennium thì cú sốc có thể lại lớn hơn - nó ảnh hưởng đến cá nhân họ - và Svensson đã có một mạng lưới tiếp xúc rộng rãi trong giới truyền thông đại chúng, mạng lưới ấy đang sắp yêu cầu trả lời cho các câu hỏi của họ. Nhưng nay hoàn tất quyển sách của Svensson là nhiệm vụ của Blomkvist và Berger, cũng như trả lời các câu hỏi: ai giết hai người? Và tại sao?

- Tôi có thể xây dựng lại quyển sách chưa xong. - Blomkvist nói. - Malin và tôi phải làm tiếp từng dòng từng dòng các chương chưa in rồi xem chỗ nào vẫn cần phải làm thêm. Với phần lớn công việc này, chúng tôi chỉ cần làm theo các ghi chép của Dag nhưng ở chương bốn và chương năm thì thực sự có vấn đề vì chúng dựa phần lớn vào các phỏng vấn của Mia. Dag đã không điền rõ nguồn là ai nhưng trừ vài ngoại lệ tôi nghĩ chúng ta vẫn có thể dùng các tham chiếu ở trong luận án của cô ấy làm nguồn thứ nhất được. - Về chương cuối cùng thì sao? - Dag đã từng trình bày sơ sơ với tôi, hai chúng tôi đã bàn đi bàn lại nhiều lần đến độ những gì anh ấy muốn nói ra thì tôi cũng đều ít nhiều nắm được chính xác. Tôi đề nghị chúng ta đem bản tóm tắt xuống làm lời cuối sách, ở đấy tôi có thể giải thích lập luận của anh ấy.

- Khá hay, nhưng tôi không muốn tán thành làm thế. Chúng ta không thể cài lời lẽ vào miệng anh ấy được. - Làm thế đâu có nguy hiểm gì. Tôi sẽ viết chương cuối như là một suy nghĩ cá nhân và ký tên tôi. Tôi sẽ thuật lại anh ấy đã đi đến chỗ viết và nghiên cứu về quyển sách như thế nào, cũng nói cả anh ấy là loại người làm sao. Tôi sẽ nhắc lại điều mà ít nhất anh ấy đã nói tới trong cả chục lần trò chuyện mấy tháng qua làm kết luận. Có nhiều cái trong bản thảo của anh ấy tôi có thể trích dẫn. Tôi nghĩ tôi có thể làm cho nó ra tấm ra món. - Hơn bao giờ hết em muốn in quyển sách. - Berger nói.

Blomkvist hiểu chính xác điều chị muốn nói. Berger để kính đọc xuống bàn làm việc rồi lắc đầu. Chị đứng lên rót hai tách cà phê ở phích rồi đến ngồi xuống trước mặt Blomkvist - Christer và em đã phác những nét đại cương về số báo thay thế. Chúng em đã lấy hai bài báo được đánh dấu dành cho số báo sau số báo này và sẽ đem các tài liệu của người viết tự do lấp vào chỗ bi hụt. Nhưng nó sẽ là cái này một tí cái kia một tí linh tinh, không có trọng điểm thực sự nào.

Họ ngồi im một lúc. - Anh có nghe tin không? - Berger hỏi. - Không. Anh biết họ sẽ nói gì.

- Nó thành ra bài chính của mọi đài phát thanh. Bài báo hàng hai là một cuộc vận động chính trị của đảng Trung lập. - Như thế có nghĩa là ở đất nước này tuyệt đối không có chuyện gì khác xảy ra cả. - Cảnh sát chưa tung tên của họ ra. Họ được tả là “một đôi tận tụy”. Không ai nói người phát hiện ra họ là anh.

- Anh cược là cảnh sát sẽ làm tất cả để cho họ có thể giữ im được, ít ra cái đó cũng có lợi cho chúng ta. - Sao cảnh sát lại muốn im thế? - Vì cơ bản các thám tử ghét chuyện bị truyền thông đại chúng làm om sòm. Anh đoán một lúc nào đó vào tối nay hay sớm mai sẽ có cái gì đó rò rỉ ra.

- Trẻ thế này mà cay độc thế hả? - Chúng mình chả còn trẻ nữa rồi, Erika. Anh đã nghĩ như thế khi họ chất vấn anh đêm qua. Cô thanh tra cảnh sát nom như vẫn đang đi học. Berger gượng cười. Đêm qua chị đã ngủ được mấy giờ nhưng chị đang bắt đầu thấy căng thẳng, vẫn chuyện ấy thôi, không lâu la nữa chị sẽ là Tổng biên tập của một trong những tờ báo lớn nhất Thụy Điển. Mà không - không phải là lúc nói chuyện ấy với Blomkvist.

- Lúc nãy Henry gọi đến. Người trông nom cuộc điều tra sơ bộ tên là Ekstrom chiều nay sẽ có cuộc họp báo. - Richard Ekstrom? - Đúng, anh biết ông ta?

- Bồi bếp chính trị. Om sòm có đóng dấu bảo lãnh về thông tin đại chúng. Chuyện này sẽ được quảng cáo lùm xùm đây. - Được, ông ta nói cảnh sát đang lần theo một số đầu mối và hy vọng giải quyết sớm vụ này. Có thế nào thì ông ta mới nói như thế. Nhưng có vẻ hiện trường đang đầy ắp phóng viên. Blomkvist dụi mắt.

- Anh không bỏ đi được hình ảnh xác Mia ra khỏi đầu. Khổ, anh vừa mới quen biết họ. - Một thằng điên... - Anh không biết. Suốt cả hôm nay anh nghĩ đến chuyện đó.

- Là chuyện gì? - Mia bị bắn ở bên cạnh. Anh trông thấy vết thương ở bên cạnh gáy cô ấy và viên đạn thì ra ở trán. Dag bị bắn trước mặt. Viên đạn vào trán anh ấy rồi ra đằng ót. Trông những viên đạn này thì chỉ thấy là hai phát súng. Nó không có vẻ là hành động của một thằng ngu đơn độc nào đó. Berger tư lự nhìn Blomkvist.

- Vậy đó là thế nào? - Nếu đây không phải là bắn giết bừa thì phải là có một động cơ. Anh càng nghĩ về chỗ này lại càng cảm thấy tập bản thảo có thể cung cấp ra được một động cơ nghe thích hợp đấy. - Blomkvist trỏ vào chồng bản thảo trên bàn làm việc của Berger. Chị nhìn theo mắt anh. Rồi họ nhìn nhau. - Có thể không phải do tự bản thân quyển sách. Có thể Dag và Mia đã chõ mũi vào quá nhiều và cố... anh không biết... có thể một người nào đó thấy bị đe dọa. - Bèn thuê một kẻ hạ thủ. Mikael - đấy là chất liệu trong điện ảnh Mỹ. Quyển sách này viết về những kẻ bóc lột, những kẻ lợi dụng. Nó lôi ra tên của các sĩ quan cảnh sát, chính trị gia và nhà báo... Vậy anh nghĩ là có một kẻ trong đám này đã giết Dag và Mia?

- Anh không biết, Erika. Nhưng chúng ta bảo nhau là trong ba tuần nữa sẽ in bản tường thuật dữ dằn nhất từng xuất bản Thụy Điển xưa nay. Lúc ấy Eriksson gõ cửa và thò đầu vào. Một thanh tra Bublanski nào đó muốn nói chuyện với Blomkvist. Bublanski bắt tay Berger và Blomkvist rồi ngồi xuống chiếc ghế thứ ba ở cái bàn bên cửa sổ. Ông quan sát Blomkvist và thấy một người đàn ông mắt hõm lại với một bộ râu một ngày chưa cạo.

- Đã có tiến triển gì chưa? - Blomkvist nói. - Có thể. Tôi biết anh đêm qua đã phát hiện ra hai người nọ ở Enskede rồi gọi cảnh sát. Blomkvist mệt mỏi gật đầu.

- Tôi biết anh đã kể chuyện anh cho thám tử trực đêm ấy nhưng tôi nghĩ nếu như có thể thì anh làm rõ thêm ra một số chi tiết cho tôi. - Ông muốn biết gì đây? - Sao anh đi xe đến gặp Svensson và Johansson quá khuya vào đêm như thế?

- Chuyện này không phải là chi tiết mà là cả một cuốn tiểu thuyết. - Blomkvist nói với một nụ cười mệt. - Tôi dự bữa ăn tối liên hoan ở nhà em gái tôi - cô ấy sống ở một khu đô thị mới tại Staker. Dag Svensson gọi vào di động của tôi, nói anh ấy sẽ không có thì giờ đến tòa soạn ngày thứ Năm - là hôm nay đây - như chúng tôi đã hẹn trước. Anh ấy phải nộp một số ảnh cho trưởng ban mỹ thuật của chúng tôi. Anh ấy đưa ra lý do là anh ấy và Mia đã quyết định đánh xe lên nhà bố mẹ cô ấy để qua cuối tuần và họ muốn đi sớm vào buổi sáng. Anh ấy hỏi anh ấy quẳng chúng ở chỗ tôi vào buổi sáng chứ không như đã định trước thì có ổn không. Tôi nói vì tôi ở rất gần nên trên đường từ chỗ em gái về nhà, tôi có thể tạt qua lấy các bức ảnh ấy được. - Thế là anh đi xe đến Enskede lấy các bức ảnh. - Vâng.

- Về vụ giết hai người kia, anh có nghĩ đến một động cơ nào đó không? Blomkvist và Berger liếc nhau, không ai nói gì. - Động cơ là gì đây? - Bublanski muốn biết.

- Hôm nay chúng tôi đã bàn về chuyện này và chúng tôi hơi bị bất đồng. Thực sự không phải bất đồng - chỉ là chúng tôi không chắc chắn. Chúng tôi mới là suy luận. - Báo cho tôi với đi. Blomkvist nói rõ cho ông về đề tài quyển sách của Svensson, anh và Berger đang bàn liệu nó có thể dính dáng gì với vụ giết hai người không. Bublanski ngồi im một lúc, tiếp nhận cái tin.

- Vậy là Svensson sắp tố các sĩ quan cảnh sát ra. Ông không thích chút nào câu chuyện lại quay sang thế này, ông hình dung ra “cái lõng cảnh sát” rồi sẽ có thể lởn vởn tới lui trên các báo đài và mọi kiểu lập luận về mưu mô thông đồng sẽ lại nổi lên. - Không. - Blomkvist nói. - Anh ấy tố đám tội phạm, trong đó một số ít tình cờ lại là sĩ quan cảnh sát. Cũng có cả một hai người trong nghề của tôi, gọi là nhà báo.

- Và anh định đăng những thông tin ấy lên bây giờ? Blomkvist quay sang nhìn Berger, chị nói: - Không, chúng tôi để cả ngày làm số báo mới. Chúng tôi chắc sẽ xuất bản quyển sách của Svensson nhưng chỉ làm chuyện này khi nào chúng tôi biết chính xác điều gì đã xảy ra. Trong ánh sáng của điều xảy ra đó, quyển sách sẽ được làm lại toàn bộ. Chúng tôi sẽ không làm gì để phá cuộc điều tra vụ giết hai người bạn của chúng tôi đâu, nếu đó là điều ông quan ngại.

- Tôi cần xem chút chút bàn làm việc của Svensson nhưng do đây là tòa soạn của một tạp chí nên mở một cuộc tìm kiếm toàn diện thì có thể sẽ thành một chuyện nhạy cảm. - Ông sẽ tìm thấy tất cả tài liệu của Dag ở trong máy tính xách tay của anh ấy. - Berger nói. - Tôi đã lục lọi hết bàn làm việc của anh ấy. - Blomkvist nói. - Tôi đã lấy một ít tư liệu cho biết trực tiếp các nguồn tin vẫn muốn giấu tên. Ông được tự do xem xét mọi thứ khác, tôi cũng đã để ở trên bàn làm việc lời dặn không được đụng đến hay dịch chuyển bất cứ thứ gì đi. Vấn đề là vì cần phải giữ kín tuyệt đối nội dung của quyển sách cho tới khi xuất bản. Chúng tôi cần tránh hết sức để không cho quyển sách bị truyền đi trong lực lượng cảnh sát và do chỗ chúng tôi sắp đưa một hay hai nhân viên cảnh sát ra trước pháp luật, thì càng lại cần phải giữ như thế hơn.

Khỉ thật, Bublanski nghĩ. Sao sáng nay mình lại không đến thẳng ngay đây chứ? Nhưng ông chỉ gật và thay đổi mánh. - OK. Có một người có liên quan đến vụ giết hai người mà chúng tôi muốn hỏi. Tôi tin rằng anh biết người này. Tôi muốn nghe anh nói gì đó về người phụ nữ có tên là Lisbeth Salander. Trong thoáng một giây Blomkvist nom giống một dấu chấm hỏi ảo. Bublanski nhận thấy Berger nhìn soi vào người đồng nghiệp của chị.

- Ông đang nói cái quái gì vậy? - Anh biết Lisbeth Salander chứ? - Vâng, tôi biết cô ấy.

- Sao anh biết cô ấy? - Tại sao ông hỏi? Bublanski cáu trông thấy nhưng ông chỉ nói:

- Tôi muốn phỏng vấn cô ấy vì có liên quan đến vụ giết hai người. Sao anh biết cô ấy? - Nhưng... cái này vô lý. Lisbeth Salander không có bất cứ quan hệ nào với Dag Svensson và Mia Johansson. - Đó là điều chúng tôi sẽ xác lập trong quá trình điều tra. - Bublanski kiên nhẫn nói. - Nhưng tôi vẫn hỏi sao anh biết Lisbeth Salander?

Blomkvist vỗ vỗ mớ râu trên cằm rồi dụi mắt trong khi các ý nghĩ quần đảo trong đầu anh. Cuối cùng anh nhìn vào mắt Bublanski. - Hai năm trước tôi thuê cô ấy làm cho một ít điều tra về một dự án khác hoàn toàn. - Dự án ấy là gì?

- Tôi xin lỗi, nhưng ông phải tin lời tôi: cái đó không liên quan chút nào hết với Dag Svensson và Mia Johansson cả. Và cũng đã kết thúc. Đã xong và thành bụi bặm rồi. Bublanski không thích kiểu ai đó nói có những vấn đề không được bàn đến ngay cả ở trong một cuộc điều tra án mạng nhưng ông chọn dành chuyện này cho lúc nào thích hợp. - Lần cuối cùng anh thấy Salander là lúc nào?

Blomkvist ngừng một lúc rồi nói. - Đây, là thế này. Mùa thu hai năm trước, tôi gặp cô ấy. Quan hệ chấm dứt vào quãng Noel năm ấy. Rồi cô ấy biến khỏi thành phố. Hơn một năm tôi không gặp cô ấy cho tới tuần trước. Berger nhướng lông mày. Bublanski ngờ ngợ nhưng với chị, đây là tin mới.

- Anh gặp cô ấy ở đâu? Blomkvist hít một hơi dài rồi thuật vắn tắt lại các sự việc ở Lundagatan. Bublanski càng nghe càng ngạc nhiên, không chắc được có bao nhiêu phần là bịa ở trong chuyện của Blomkvist. - Vậy là anh không nói chuyện với cô ấy.

- Không, cô ấy biến mất ở mạn trên của đường Lundagatan. Tôi chờ một lúc lâu nhưng cô ấy không quay lại. Tôi viết cho cô ấy một cái thư yêu cầu liên hệ với tôi. - Và anh hoàn toàn chắc chắn rằng giữa cô ấy và hai người ở Enskede không có liên hệ gì. - Cái này tôi chắc chắn.

- Anh có thể tả người đàn ông anh trông thấy đánh đuổi cô ấy không? - Chi tiết thì không. Hắn đánh, cô ấy chống đỡ và chạy. Tôi nhìn thấy hắn ở cách chừng bốn mươi lăm mét. Đêm khuya và trời tối om. - Anh có bị say xỉn không?

- Tôi có hơi ngà ngà nhưng tôi không say ngã ra. Người đàn ông tóc vàng nhạt và túm đuôi ngựa. Hắn mặc jacket dài sẫm màu. Bụng bự. Khi leo lên cầu thang ở Lundagatan tôi chỉ nhìn thấy hắn ở đằn lưng nhưng hắn quay lại rồi tới tấp đánh tôi. Tôi nhớ hình như mắt hắn mỏng, hai mắt xanh díu lại gần nhau. - Sao anh không bảo em sớm chuyện này? Blomkvist nhún vai.

- Vướng vào giữa nghỉ cuối tuần và em thì đi Goteborg tham gia chương trình hội thảo chết tiệt kia. Em đi thứ Hai, thứ Ba chúng ta chỉ gặp nhau có một lúc ngắn. Mà chuyện này xem ra không quan trọng lắm. - Nhưng xét đến việc xảy ra ở Enskede... thì anh không báo cáo với cảnh sát cái đó... là lạ đấy. - Tại sao tôi phải nói với cảnh sát việc ấy? Khác nào như nói tôi nên nhắc tới việc một tháng trước tôi bắt được một thằng móc túi định lột tôi tại Ga Trung tâm trong đường xe điện ngầm. Ở giữa việc xảy ra ở Lundagatan với việc xảy ra ở Enskede, tuyệt đối không thể tưởng tượng được ra là có quan hệ gì.

- Nhưng anh không báo cáo với cảnh sát vụ đánh đuổi người ở Lundagatan? - Không. - Blomkvist ngừng lại. - Lisbeth Salander là người rất kín đáo. Tôi đã toan đến cảnh sát nhưng lại quyết định đó là việc cô ấy làm nếu cô ấy muốn. Và tôi muốn nói chuyện với cô ấy trước đã. - Và anh đã không làm.

- Tôi đã không nói chuyện với cô ấy từ ngay hôm sau Noel một năm trước đây. - Quan hệ của anh - nếu chữ quan hệ dùng là đúng - đã chấm dứt như thế nào? Mắt Blomkvist tối lại.

- Tôi không biết. Cô ấy cắt quan hệ với tôi - thực tế xảy ra chỉ trong một đêm. - Đã có cái gì giữa hai người? - Không, nếu như ông muốn nói là cãi cọ hay một cái gì đại loại. Hôm nay là bạn tốt, hôm sau cô ấy đã không trả lời điện thoại rồi. Rồi cô ấy tiêu tan trong không khí, ra khỏi cuộc đời tôi.

Bublanski ngẫm nghĩ lời giải thích của Blomkvist. Nghe nó trung thực và việc Armansky miêu tả chuyện cô ấy biến đi khỏi An ninh Milton cũng với những lời lẽ tương tự đã cho câu nói của Blomkvist có thêm trọng lượng. Rõ ràng mùa đông năm trước đã có một cái gì đó xảy ra với Salander. Ông quay sang Berger. - Chị cũng có biết Salander? - Tôi có gặp cô ấy một lần. Ông có thể bảo chúng tôi tại sao liên quan đến Enskede mà ông lại hỏi về cô ấy không?

Bublanski lắc đầu: - Cô ấy dính líu đến hiện trường gây án. Tôi chỉ nói được có thế thôi. Nhưng phải công nhận là càng nghe về Lisbeth Salander tôi lại càng ngạc nhiên. Cô ấy là loại người như thế nào chứ? - Về mặt nào? - Blomkvist nói.

- Anh sẽ miêu tả cô ấy ra sao đây nào? - Nói về nghề nghiệp - một trong những người phát hiện sự việc giỏi nhất mà tôi từng giáp mặt. Berger liếc Blomkvist và cắn môi dưới. Bublanski đinh ninh trong ván chơi ghép hình này đang có một miếng bị mất và họ có biết một cái gì đó nhưng họ không muốn nói với ông.

- Còn về đời tư? Blomkvist ngừng một lúc lâu rồi mới nói. - Cô ấy là một người rất cô độc và kỳ quặc, về xã hội thì hướng nội. Không thích nói về bản thân. Đồng thời là người có ý chí mạnh mẽ. Cô ấy có đạo đức.

- Đạo đức? - Vâng. Các tiêu chuẩn đạo đức của riêng cô ấy. Ông không thể bảo cô ấy làm một cái gì trái với ý cô ấy. Như lời cô ấy thì sự việc là hoặc đúng hoặc sai, tạm nói như vậy. Blomkvist cũng lại tả cô gái với những lời lẽ hệt như của Armansky. Biết cô gái, hai người đàn ông có cùng một đánh giá.

- Anh có biết Dragan Armansky không? - Chúng tôi có gặp nhau vài lần. Năm ngoái tôi có đưa ông ấy ra ngoài uống bia một lần khi cố tìm xem Lisbeth đã đi đâu. - Và anh bảo cô ấy là một điều tra viên giỏi?

- Giỏi nhất. Bublanski gõ ngón tay lên bàn và nhìn xuống dòng người đi dưới Gorgatan. Ông cảm thấy bị giằng xé lạ lùng. Các biên bản tâm thần mà Faste lấy được từ Sở Giám hộ đều nói Salander là một người bị rối loạn đầu óc nặng và có khả năng bạo hành, người mà ở mọi ý đồ cũng như mục đích đều có khuyết tật về tâm thần. Điều mà Armansky và Blomkvist nói với ông thì lại vẽ nên một chân dung rất khác với chân dung mà các chuyên gia y tế đã dựng lên qua mấy năm nghiên cứu. Cả hai người đều thừa nhận Salander là người kỳ dị, nhưng cả hai đều coi trọng cô về mặt nghề nghiệp. Blomkvist còn nói anh “vẫn gặp cô” trong một thời kỳ - điều này chỉ ra một quan hệ tính dục.

Bublanski nghĩ những quy tắc nào đã được áp dụng cho những cá nhân bị tuyên bố là bất lực không tự quản nổi mình. Liệu Blomkvist có thể đã dính líu vào một hình thức lạm dụng nào đó bằng cách khai thác một người đang ở trong địa vị lệ thuộc không? - Và anh cảm thấy như thế nào về sự bất lợi về xã hội của cô ấy? - Bất lợi nào?

- Chế độ giám hộ và các vấn đề tâm thần của cô ấy. - Chế độ giám hộ? - Những vấn đề tâm thần nào chứ? - Berger nói.

Bublanski ngạc nhiên hết nhìn Blomkvist lại nhìn Berger. Họ không biết. Họ thực sự không biết. Thình lình Bublanski thấy cáu cả Armansky lẫn Blomkvist, và đặc biệt Berger với bộ quần áo sang trọng cũng như buồng giấy hợp thời trang của chị nhìn xuống Gorgotan. Chị ta ngồi đây bảo mọi người nghĩ thế này thế kia. Nhưng ông chĩa sự khó chịu của ông vào Blomkvist. - Tôi không hiểu anh và Armansky đã sai ở chỗ nào nữa.

- Thế có nghĩa là quỷ quái gì thế nhỉ? - Từ khi ở tuổi mười mấy Lisbeth Salander đã ra vào xoành xoạch các cơ sở tâm thần. Một bản đánh giá tâm thần và một phán xét của tòa án quận đã quyết định là cô ấy vẫn chưa thể tự trông nom được bản thân. Cô ấy bị tuyên bố bất lực. Cô ấy có xu hướng bạo lực, điều này đã được đưa vào hồ sơ, và cô ấy đã từng bị rắc rối với nhà chức trách trong suốt đời cô ấy. Còn nay thì cô ấy là nghi can số một trong một cuộc điều tra án mạng. Thế mà anh và Armansky nói về cô ấy cứ tựa hồ cô ấy là công chúa vậy. Blomkvist ngồi im, nhìn chăm chú Bublanski.

- Tôi sẽ nói theo cách khác. - Bublanski nói. - Chúng tôi đang tìm một liên hệ giữa Salander và hai người bị giết ở Enskede. Quay ra thì anh không chỉ có phát hiện ra các nạn nhân mà còn là mối liên hệ. Anh có gì để nói về chỗ này không? Blomkvist ngả vào lưng ghế, nhắm mắt lại, cố làm rõ ra đầu đuôi xuôi ngược của tình hình này. Salander bị nghi là giết Svensson và Johansson ư? Điều này là không thể đúng được. Là vô lý. Cô ấy có thể giết người không? Thình lình bằng con mắt của lý trí, Blomkvist nhìn thấy vẻ mặt của cô khi đuổi theo Martin Vanger với cây gậy đánh golf hai năm trước đây. Cô có thể giết hắn, điều đó là không còn một chút nghi ngờ nào nữa. Nhưng cô đã không giết vì cô còn phải cứu cái mạng của ta. Anh bất giác giơ tay lên gáy, nơi đã từng có cái nút thòng lọng của Vanger. Nhưng Svensson và Johansson... điều này xét về lôgic thì không thể có được bất cứ một cái lẽ nào hết. Anh biết Bublanski đang quan sát ngặt anh. Như Armansky, anh phải có một lựa chọn. Sớm muộn rồi anh cũng phải quyết định đứng ở góc nào của vũ đài nếu như Salander bị kết tội giết người. Có tội hay không có tội đây?

Anh chưa kịp nói gì thì chuông điện thoại bàn làm việc của Berger réo. Chị cầm máy lên, nghe rồi đưa máy cho Bublanski. - Có người tên là Faste muốn nói với ông. Bublanski cầm máy nghe chăm chú. Blomkvist và Berger có thể trông thấy vẻ mặt ông thay đổi.

- Họ vào lúc nào? Im lặng. - Địa chỉ lần này lại là gì? Lundagatan. Số? OK. Tôi ở gần đấy, tôi đi xe đến ngay.

Bublanski đứng lên. - Xin lỗi nhưng tôi phải cắt đột ngột cuộc chuyện trò này. Phát hiện ra người giám hộ của Salander bị bắn chết. Cô ấy nay bị chính thức kết tội vắng mặt về ba án mạng. Berger há miệng ra. Blomkvist nom như thể bị sét đánh.

Xét về chiến thuật, việc chiếm giữ một căn hộ ở Lundagatan không phải là chuyện rắc rối. Faste và Andersson tì người lên đầu mũi xe hơi tiếp tục theo dõi trong khi nhóm vũ trang với vũ khí yểm hộ chiếm lấy cầu thang và kiểm soát tòa nhà cũng như mảnh sân sau. Nhóm cảnh sát nhanh chóng xác nhận Faste và Andersson đã biết. Không ai trả lời khi họ bấm chuông. Faste nhìn xuôi xuống đường Lundagatan, nó bị chặn từ đường Zinkensdam đến Nhà thờ Hogalid trước sự khó chịu của hành khách đi trên xe bus số 66.

Một xe bus đã bị kẹt vào bên trong dây chăng cấm đường ở trên đồi, không thể tới lui. Cuối cùng Faste đi đến ra lệnh một cảnh sát tuần tra đứng sang bên và để cho chiếc xe đi qua. Một số lớn dân hiếu kỳ đang ở trên Lundagatan thượng nhìn xuống cảnh rối loạn. - Phải có cách nào đơn giản hơn chứ. - Faste nói. - Đơn giản hơn cái gì? - Andersson hỏi.

- Đơn giản hơn việc mỗi khi cần hót đi một đứa ma cô tép riu thì lại phái cảnh sát vũ trang đến. Andersson kìm lại, không bình luận. - Dẫu sao cô ả cũng chỉ cao có mét rưỡi và nặng khoảng bốn chục ký.

Đã quyết định không cần phá cửa bằng búa tạ. Bublanski đến với đám họ trong khi chờ một thợ khóa tới khoan khóa ra rồi ông bước sang bên để cho quân đội vào trong nhà. Mất chừng tám giây để chiếm lĩnh lấy bốn mươi bảy mét vuông và xác nhận rằng Salander không có giấu gì hết ở dưới gầm giường, trong buồng tắm hay trong tủ quần áo. Rồi ông nhận được thông báo đã dọn dẹp sạch sẽ hết để mấy người các ông đi vào. Ba thám tử tò mò nhìn quanh căn hộ được giữ gìn chu đáo và trang bị đồ đạc có thị hiếu. Đồ nội thất đơn giản, các ghế bếp được sơn các màu pastel phấn màu khác nhau. Có những bức ảnh trắng đen hấp dẫn đóng khung treo trên tường. Trong gian sảnh là một ngăn giá với một đầu nghe CD và một bộ sưu tập lớn CD. Mọi thứ từ hard rock đến nhạc kịch opera. Tất cả nom đều rất nghệ. Trang nhã. Có gu. Andersson kiểm soát gian bếp và không tìm thấy cái gì khác sự thường. Anh xem hết một chồng báo và kiểm tra đỉnh quầy, tủ li, ngăn đá trong tủ lạnh.

Faste mở tủ quần áo và ngăn kéo cái hòm trong phòng ngủ. Ông huýt sáo khi tìm thấy một bộ còng số tám và một số đồ chơi tính dục. Trong tủ quần áo ông tìm thấy vài áo quần bằng cao su mỏng, mẹ ông mà nhìn thấy chắc phải lúng túng. - Đã có một bữa tiệc ở đây. - Faste nói ra miệng, cầm lên một chiếc váy bằng da sơn mà theo nhãn thì là do “Thời trang Domino” thiết kế - tức là bất kể cái gì cũng có. Bublanski nhìn vào bàn làm việc trong gian sảnh, ông tìm thấy ở đấy một chồng nhỏ thư chưa bóc gửi cho Salander. Ông xem hết cả chồng và thấy đấy là những biên lai và những bản xác nhận thu gửi tiền của ngân hàng và một thư cá nhân. Đó là của Mikael Blomkvist. Cho tới nay, chuyện của Blomkvist thế là đứng vững. Rồi ông cúi xuống nhặt lên một bưu phẩm trên thảm chùi chân mà cảnh sát vũ trang xéo lên đã để lại dấu chân. Nó gồm có một tạp chí, Võ Thái chuyên nghiệp, báo tự do Tin tức Sodermalm và ba phong bì gửi cho Miriam Wu.

Một mối nghi ngờ thấp thỏm làm cho Bublanski sởn người lên. Ông vào buồng tắm, mở tủ thuốc. Ông tìm thấy một nửa hộp thuốc giảm đau Paracetamol và nửa tuýp Citodon - paracetamol cộng với codeine. Citodon là thuốc mua theo đơn. Có một bàn chải răng ở trong tủ thuốc. - Faste, tại sao lại đề Salander - Wu ở cửa? - Ông nói. - Không biết.

- OK, tớ thử nói thế này xem - tại sao lại có bưu phẩm cho Miriam Wu ở trên thảm chùi chân và tại sao ở trong tủ thuốc lại có một tuýp Citodon mua theo đơn kê cho Miriam Wu? Tại sao lại chỉ có một bàn chải răng? Và tại sao - khi cậu tính đến chuyện, theo như thông tin của chúng ta, Lisbeth Salander chỉ cao bằng hai cánh tay giang ngang ra thế này thôi - thì cái quần da mà cậu cầm lên kia nó lại vừa với một người phải là cao ít nhất mét bảy? Một lúc im lặng ngắn ngủi, bối rối trong căn hộ. Và rồi Andersson phá vỡ nó. - Hời. - Anh nói.

CHƯƠNG 15 Thứ Năm trước Phục sinh, 24 tháng Ba Malm cảm thấy kiệt quệ, thảm hại khi cuối cùng anh về nhà sau một ngày công tác ngoài kế hoạch. Ngửi thấy mùi thơm của thứ gia vị gì đó ở trong bếp anh đi vào ôm lấy anh bạn tình.

- Thấy sao? - Arnold Magnusson hỏi. - Như cái đùm cứt. - Suốt ngày mình nghe tin về chuyện đó. Họ vẫn chưa đưa những cái tên ra. Nhưng nghe hầm hè thế đếch nào ấy.

- Đúng là hầm hè thế đếch thật. Dag làm việc cho chúng ta. Cậu ấy là bạn và mình rất thích cậu ấy. Tớ không biết bạn gái cậu ấy nhưng cả Blomkvist và Berger đều biết. Malm nhìn quanh khắp bếp. Hai người mới dọn đến căn hộ trên đường Allhelgonagatan ba tháng trước. Nó chợt cho ra cảm giác như là một thế giới khác vậy. Điện thoại réo. Họ nhìn nhau và quyết định lờ đi. Rồi máy trả lời chạy và họ nghe thấy một tiếng nói quen thuộc.

- Christer, có đấy không? Cầm máy lên. Berger gọi bảo anh rằng cảnh sát hiện đang lùng tìm điều tra viên trước kia của Blomkvist, nghi can số một trong vụ giết Svensson và Johansson. Malm nhận cái tin cứ thấy như không có thật.

Cortez lỡ mất cảnh rối loạn trên đường Lundagatan vì lý do đơn giản là suốt thời gian ấy anh đứng ở bên ngoài văn phòng báo chí của cảnh sát ở Kungsholmen, nơi cuộc họp báo đầu hồi chiều không phát đi một tin nào. Anh mệt, đói và ngán ngẩm vì bị những người mà anh cố tiếp xúc không đoái đến. Mãi tới 6 giờ, khi cuộc đột nhập căn hộ của Salander xong xuôi, anh mới hóng được một tin đồn rằng trong điều tra, cảnh sát đã có một nghi can. Cái tin này là của một đồng nghiệp ở một tờ báo chiều cho hay. Nhưng Cortez đã sớm xoay xở tìm ra được số di động của công tố viên Ekstrom. Anh tự giới thiệu và đặt câu hỏi về ai, như thế nào và tại sao. - Ông bảo ông ở tờ báo nào đấy nhỉ? - Ekstrom nói.

- Tạp chí Millennium. Tôi có biết một trong hai nạn nhân. Tôi được biết cảnh sát đang tìm một người đặc biệt. Ông có thể xác nhận cho điều này không? - Hiện nay tôi không thể bình luận. - Ông có thể nói khi nào ông cung cấp được cho một vài thông tin cụ thể đây?

- Có thể muồn muộn tối nay chúng tôi lại có một cuộc họp báo nữa. Nghe thấy Ekstrom có ý mập mờ. Cortez kéo kéo chiếc khuyên vàng ở dái tai anh. - Họp báo là dành cho các phóng viên báo ngày có thời hạn cuối cùng ngay trước mắt. Tôi làm cho một nguyệt san và biết cuộc điều tra đã tiến triển đến đâu là lợi ích riêng đặc biệt của chúng tôi.

- Tôi không giúp ông được. Ông cũng phải kiên nhẫn như mọi người thôi. - Theo nguồn của tôi thì một phụ nữ đang bị truy tìm để thẩm vấn. - Chính lúc này tôi không thể bình luận.

- Ông có thể xác nhận là đang truy tìm một phụ nữ không? - Tôi sẽ không xác nhận hay phủ nhận một cái gì hết. Chào tạm biệt. Holmberg đứng ở cửa phòng ngủ ngắm nhìn vũng máu to tướng ở trên sàn, nơi đã tìm thấy Johansson. Ông quay lại và có thể thấy một vũng máu tương tự ở chỗ Svensson đã nằm. Ông suy nghĩ về lượng máu mất nhiều. Nhiều hơn so với các vụ bắn giết mà ông quen tìm thấy. Thanh tra bậc trên Martensson đã đánh giá đúng rằng kẻ giết người dùng đạn săn. Máu đông lại thành một mảng màu đen và nâu rỉ sắt phủ lên sàn nhiều đến nỗi nhân viên xe cứu thương và nhóm kỹ thuật đi qua đó đã để lại vết chân ở trong khắp căn hộ. Holmberg đi đôi giầy thể thao có các đường vạch bằng chất dẻo màu xanh ở trên.

Cuộc điều tra hiện trường gây án, theo ông, nay đã thực thụ bắt đầu. Xác hai nạn nhân đã được mang đi. Holmberg tự ở lại sau khi hai kỹ thuật viên cuối cùng đã chào ngủ ngon và rời đi. Họ đã chụp ảnh các nạn nhân và đo các vết máu bắn lên tường, bàn về “các vùng phân bố vết máu” và “tốc độ của các giọt máu”. Holmberg không chú ý nhiều đến chuyện xem xét kỹ thuật. Các phát hiện của kỹ thuật tại hiện trường gây án sẽ được gộp vào một biên bản, biên bản này sẽ vạch ra chi tiết về chỗ tên sát nhân đứng so với các nạn nhân, khoảng cách thế nào, thứ tự trước sau của hai phát súng, những dấu vân tay nào cần chú ý. Nhưng với Holmberg thì tất cả chả đáng gì quan tâm. Xem xét kỹ thuật có nói ra được tí nào đâu về ai là kẻ sát nhân hay có động cơ nào có thể để cho hắn hay mụ ta - bây giờ nghi can số một là một phụ nữ - phải giết những hai người. Đó là những câu hỏi hiện ông đang thử trả lời. Holmberg vào phòng ngủ. Ông để chiếc vali nhỏ đã cũ lên một cái ghế, lấy ra máy ghi âm, máy chụp ảnh số và sổ tay. Đầu tiên ông lục soát kỹ cái tủ ngăn kéo ở sau cửa phòng ngủ. Hai ngăn kéo trên đựng quần áo lót, áo cổ chui của phụ nữ và một hộp tư trang. Ông bày từng thứ lên giường rồi xem kỹ hộp tư trang. Ông nghĩ ở trong đó không có món gì giá trị lớn. Ông tìm thấy ở ngăn kéo dưới cùng hai album ảnh và hai cặp ba dây đựng các giấy tờ về chi dùng nội trợ. Ông cho máy ghi âm chạy. - Thủ tục tịch biên với căn hộ Bjorneborgsvagen 8B. Phòng ngủ, tủ ngăn kéo, ngăn kéo dưới của bàn làm việc. Hai album ảnh đóng gáy, khổ giấy A4. Một cặp ba dây có xương sống kẹp màu đen đề chữ “nội trợ” và một cặp ba dây có xương sống kẹp màu lơ đề chữ “giấy tờ tài chính” trong có thông tin về một vụ thế chấp và vay nợ vì căn hộ. Một hộp nhỏ đựng các thư viết tay, bưu thiếp và các món đồ cá nhân.

Ông mang các đồ đạc ra gian sảnh để chúng vào một vali nhỏ. Ông tiếp tục xem ngăn kéo của các bàn ở bên chiếc giường đôi không tìm thấy cái gì lý thú. Ông mở các tủ quần áo, xem xét hết các áo quần, sờ vào từng cái túi và vào trong từng chiếc giầy để tìm lấy một vật gì để quên hay giấu đi rồi quay sang để ý tới các giá đựng ở trên nóc các tủ áo quần. Ông mở các hộp và các vật cất giữ nho nhỏ. Thỉnh thoảng ông tìm thấy các giấy tờ hay các thứ mà vì những lý do khác nhau ông sẽ cho tất cả vào trong danh sách kiểm kê các đồ vật tịch biên. Có một bàn làm việc ở một góc phòng ngủ. Đó là một bàn giấy gia đình rất nhỏ với một máy tính để bàn Compaq và một bộ phận điều khiển từ xa đã cũ. Dưới bàn làm việc là một tủ hồ sơ hai ngăn kéo, trên sàn cạnh bàn làm việc là một bộ giá thấp đựng đồ đạc. Holmberg biết chắc sẽ tìm thấy trong cái văn phòng gia đình nho nhỏ này những cái quan trọng - chừng nào có một cái gì đó để mà tìm thấy - cho nên ông dành đến lúc cuối cùng mới lục soát chiếc bàn làm việc. Do đó ông vào phòng khách tiếp tục kiểm soát hiện trường gây án. Ông mở chiếc tủ có mặt kính xem từng cái bát, từng ngăn kéo, từng ngăn giá. Rồi quay sang chú ý tới chiếc tủ sách to ở dọc tường phía ngoài và tường buồng tắm. Ông lấy một chiềc ghế dựa rồi bắt đầu từ nóc tủ sách, kiểm tra xem trên đó có giấu cái gì. Rồi ông lần xuống từng ngăn giá một, nhặt nhạnh ra thành những chồng sách và xem hết chúng, cũng như kiểm tra xem có gì cất giấu cái gì ở đằng sau các quyển sách trên ngăn giá kia không. Bốn mươi lăm phút sau, ông để các quyển sách cuối cùng về kệ trên ngăn giá. Trên bàn ở phòng khách là một chồng sách gọn gẽ. Ông mở máy ghi âm. - Ở tủ sách trong phòng khách. Một quyển sách của Mikael Blomkvist, Chủ ngân hàng của mafia. Một quyển sách bằng tiếng Đức với đầu đề là Der Staat und die Autonomen, Nhà nước và chế độ tự trị, một quyển sách bằng tiếng Thụy Điển với đầu đề Chủ nghĩa khủng bố cách mạng và một quyển sách tiếng Anh Thánh chiến Hồi giáo.

Ông lấy quyển sách của Blomkvist vì tác giả của nó đã xuất hiện ở vòng điều tra sơ bộ. Ba tác phẩm cuối cùng kia thì có lẽ kém nổi hơn. Holmberg không biết các nạn nhân có liên quan gì đến một hình thức hoạt động chính trị nào đó không - hay Svensson và Johansson có thực sự liên quan tới chính trị không - hay các quyển sách chỉ là chỉ dẫn về một quan tâm chung chung về chính trị, điều vốn là một phần của công việc báo chí hay nghiên cứu học thuật của họ. Mặt khác, nếu ở trong một căn hộ đã có hai xác chết được tìm thấy mà lại có cả những sách về khủng bố nữa thì sự việc này ông cần phải ghi nhận. Ông để các quyển sách vào trong vali nhỏ cùng các thứ khác. Rồi ông xem kỹ các ngăn kéo của một bàn làm việc kiểu cổ. Trên mặt bàn có một đầu nghe đĩa nhạc, các ngăn kéo thì đựng một số lượng lớn các đĩa CD. Holmberg để nửa giờ ra mở các hộp đĩa CD, kiểm tra xem đĩa bên trong có khớp với bao bì không. Ông tìm thấy khoảng mười cái đĩa không có nhãn và chắc là được sao lại tại nhà hay là những đĩa sang lậu; Ông cho các cái đĩa không nhãn vào đầu nghe CD để xem chúng có chứa cái gì khác ngoài âm nhạc không. Ông xem xét chiếc giá tivi ở gần cửa phòng ngủ nhất, ở đấy có một bộ sưu tập lớn các băng video. Ông thử mở một vài băng và thấy chúng có vẻ là đủ thứ từ phim hành động đến hổ lốn mọi loại chương trình tin tức và phóng sự thu từ các chương trình truyền hình Các sự thật lạnh lùng, Kẻ trong cuộc cho đến Theo dõi nhiệm vụ giao phó. Ông cho thêm ba mươi sáu băng video nữa vào bản kiểm kê. Đoạn ông vào bếp, mở phích cà phê, nghỉ giải lao một lúc ngắn rồi lại tiếp tục công việc lục tìm. Trong bếp, ông nhặt ra một số bình, hũ và lọ thuốc ở một ngăn tủ li. Chúng cũng được ông cho vào một túi nhựa để đưa vào vật liệu bị tịch biên. Ông nhặt các thức ăn ở trong chạn và tủ lạnh ra rồi mở từng hũ, từng gói cà phê, từng chai dùng dở. Trong một chậu hoa trên bậu cửa sổ, ông tìm thấy 1.220 curon cùng với vài hóa đơn. Ông không thấy gì ở buồng tắm nhưng ông quan sát thấy sọt quần áo giặt đầy phè. Ông xem hết từng chiếc quần chiếc áo. Ông lấy các áo khoác ở trong một chiếc tủ tại gian sảnh ra moi tìm từng cái túi một.

Ông tìm thấy ví của Svensson ở trong túi trong của một jacket thể thao và cho luôn nó vào bản kiểm kê các thứ bị tịch biên. Svensson có một thẻ thành viên của hệ thống phòng tập thể thao Friski & Svettis, một thẻ ATM ngân hàng Handelsbanken và chưa tới bốn trăm curon tiền lẻ. Ông tìm thấy túi xách tay của Johansson và đã bỏ cả ra năm phút xem nội dung của nó. Cô cũng có một thẻ vào Friski & Svettis, một thẻ ATM, một thẻ khách hàng quen của siêu thị Konsum và một thẻ thành viên của một cái gì có tên là Câu lạc bộ Chân trời, với một quả địa cầu làm logo. Có khoảng 2.500 curon tiền mặt, một khoản tiền tương đối lớn nhưng không phải là vô lý, vì lẽ họ sắp lên đường đi khỏi Stockholm để nghỉ cuối tuần. Có tiền ở trong ví của cả hai người đã làm giảm đi khả năng là cái chết của họ có liên quan đến trấn lột. - Trong túi xách tay của Johansson tìm thấy ở trên ngăn giá bên trên mắc treo áo khoác tại gian sảnh. Một nhật ký đút túi ProPlan, một sổ địa chỉ riêng và một sổ tay gáy da màu đen. Holmberg lại nghỉ giải lao uống cà phê và nhận thấy để tạo nên một sự thay đổi thì cho đến nay ông vẫn không tìm ra một cái gì làm cho bối rối hay riêng tư thầm kín trong căn nhà của cặp Svensson - Johansson - không có các phụ tùng trợ giúp tính dục, không có quần áo lót khiêu dâm, không có các ngăn kéo đầy băng video gợi dục, không có các điếu marijuana, một kiểu cần sa, hay bất cứ dấu vết nào hết về các chất phi pháp khác. Xem vẻ họ là một cặp bình thường, có thể có phần nào cù lần hơn mức trung bình (xét từ một quan điểm của cảnh sát).

Cuối cùng ông quay lại phòng ngủ, ngồi vào bàn làm việc, mở ngăn kéo trên cùng. Ông thấy ngay ở trong bàn làm việc và ngăn giá cạnh nó là các nguồn tư liệu phong phú và tài liệu tham khảo cho luận án Yêu thương từ nước Nga của Johansson. Các tài liệu được sắp xếp ngăn nắp, giống như hồ sơ của cảnh sát và ông đã có đôi lúc say sưa đọc một vài đoạn tài liệu. Mia Johansson cũng đủ khả năng để vào lực lượng cảnh sát được đây, ông tự bảo thầm. Một phần của giá sách chỉ đầy có một nửa và hình như đựng tài liệu thuộc về Svensson, chủ yếu là các bài báo cắt dán của chính anh ta và những bài báo cắt dán về các vấn đề mà anh ta quan tâm. Holmberg để một lúc xem kỹ máy tính, thấy nó chứa gần năm gigabytes, mọi cái từ phần mềm đến thư từ rồi ông tải các bài báo và các tệp PDF xuống. Chắc chắn là ông không thể đọc hết được tất cả trong một buổi tối. Ông cho thêm máy tính, các đĩa CD tương ứng cùng một ổ Zip với khoảng ba chục đĩa vào danh mục các đồ tịch biên. Rồi ông ngồi nghiền ngẫm một lúc. Như ông thấy, máy tính chứa các tài liệu làm việc của Johansson. Svensson, một nhà báo, máy tính lẽ ra phải là công cụ quan trọng nhất thì ngay cả thư điện tử cũng không có ở trên màn hình máy tính của anh ta. Vậy thì anh ta phải có một máy tính nữa ở chỗ khác. Holmberg đứng lên đi quanh khắp căn hộ, suy nghĩ. Trong gian sảnh có một ba lô đen với mấy quyển sổ tay của Svensson và một ngăn trống để đựng máy tính. Ông không tìm thấy một máy tính xách tay nào ở đâu hết. Ông cầm các chìa khóa đi xuống sân tìm xe của Johansson rồi phòng kho của họ ở dưới tầng hầm. Cũng không máy tính nốt.

Con chó này nó kỳ lạ là nó không sủa, anh bạn Watson thân mến ạ.[7] Ông kết luận rằng ít nhất đang bị mất một máy tính. Bublanski và Faste gặp Ekstrom ở văn phòng ông ta vào hồi 6 giờ chiều, ngay sau khi họ ở Lundagatan về. Sau khi được triệu về, Andersson đã lại được phái đến Đại học Stockholm để phỏng vấn người hướng dẫn luận án tiến sĩ của Johansson. Holmberg vẫn ở Odenplan. Từ lúc Bublanski được chỉ định phụ trách lãnh đạo nhóm điều tra, mười giờ đồng hồ đã trôi qua và tính từ lúc bắt đầu săn tìm Salander thì bảy giờ.

- Ai là Miriam Wu? - Ekstrom hỏi. - Chúng tôi chưa biết được nhiều về cô này. Cô ấy không có biên bản phạm tội. Nhiệm vụ sáng mai của Faste sẽ là tìm cô ta trước tiên. Theo như chúng tôi thấy được thì không có dấu hiệu Salander sống ở Lundagatan. Nói một cái này thôi, tất cả áo quần trong tủ đều không phải là cỡ người cô ta. - Cũng không phải là áo quần điển hình của ông. - Faste nói.

- Nghĩa là thế nào? - Ekstrom nói. - Được, thì cứ nói là không phải kiểu quần áo ông mua trong Ngày của Mẹ. - Ở giai đoạn hiện nay chúng ta không biết gì về người phụ nữ tên Wu. - Bublanski nói.

- Trời ơi, ông cần phải biết bao nhiêu về cô ta? Cô ta có hẳn một tủ đầy quần áo lố lăng. - Faste nói. - Lố lăng ư? - Ekstrom hỏi. - Da đen, da thuộc, áo nịt, dây trói, đồ chơi tính dục... đủ cả trong ngăn kéo, mà áng chừng không rẻ đâu nhé.

- Anh muốn nói Miriam Wu là điếm ư? - Đến giờ chúng ta vẫn chưa biết gì về Wu cả. - Bublanski nói gắt giọng hơn đôi chút. - Một trong các báo cáo phúc lợi xã hội của Salander cho thấy vài năm trước cô ta có dính dáng đến mại dâm. - Ekstrom nói.

- Không có biên bản nào của cảnh sát khớp với các báo cáo phúc lợi này. - Bublanski nói. - Đã có một việc ở Tantolunden khi cô ta mười sáu, mười bảy tuổi; cô ta đi cùng với một người đàn ông già khú. Sau đó cùng năm ấy cô ta bị bắt vì say rượu ở nơi công cộng. Lại với một ông già khú. - Anh muốn nói chúng ta không nên quá vội kết luận. - Ekstrom nói. - OK. Nhưng tôi chột dạ là luận án của Johansson viết về buôn bán phụ nữ và mại dâm, vậy thì có khả năng trong công việc cô đã tiếp xúc với Salander và cô nàng Wu này đã khiêu khích họ cách nào đó và có thể cái đó phần nào đã thành ra động cơ giết người. - Có thể Johansson đã liên hệ với người giám hộ của Salander rồi bắt đầu cuộc truy hỏi xả láng. - Faste nói.

- Cái đó có thể. - Bublanski nói. - Nhưng điều tra sẽ phải có tư liệu về chỗ này. Việc quan trọng hiện nay là tìm Salander. Rõ ràng là cô ta không còn ở Lundagatan nữa rồi. Cái đó cũng có nghĩa là chúng ta phải tìm ra Wu để hiểu tại sao cô ta lại đến ở trong căn hộ đó cũng như quan hệ của cô ta với Salander là thế nào. - Nhưng chúng ta tìm như thế nào ra Salander?

- Cô ta ra ngoài sống ở đâu đó. Vấn đề là địa chỉ duy nhất cô ta có thì lại ở Lundagatan. Trong hồ sơ không thấy ghi có thay đổi địa chỉ. - Ông quên mất cô ta đã được nhận vào trại thiếu niên tâm thần Thánh Stefan và sống với nhiều gia đình nhận nuôi khác nhau. - Tôi không quên. - Bublanski soạn lại giấy tờ. - Khi mườỉ lăm tuổi cô ta có ba gia đình nhận nuôi. Không được hay ho. Ngay từ trước lúc mười sáu tuổi cho tới mười tám, cô ta sống với một cặp vợ chồng ở Hagersten, Fredrick và Monika Gullberg. Andersson sẽ đi gặp họ tối nay sau khi xong việc ở trường đại học.

- Chúng ta họp báo như thế nào đây nhỉ? - Faste nói. Vào hồi 7 giờ tối hôm ấy, không khí ở văn phòng Berger nặng và u ám. Blomkvist ngồi im và gần như bất động từ khi thanh tra Bublanski rời đi. Eriksson đạp xe đến Lundagatan để xem ở đó đang diễn ra chuyện gì. Cô cho hay hình như không có ai bị bắt và xe cộ đang lưu thông lại. Cortez gọi về nói cảnh sát hiện đang tìm một phụ nữ thứ hai không có tên. Berger bảo anh tên người phụ nữ. Berger và Eriksson bàn kỹ những việc cần làm nhưng tình hình trước mắt đang phức tạp ra do chỗ Blomkvist và Berger biết vai trò Salander đã đóng ở khúc kết của vụ Wennerstrom - với bản lĩnh tin tặc thuộc cỡ thượng thặng, cô đã là nguồn tin bí mật của Blomkvist. Eriksson không biết chuyện đó và chưa hề nghe nhắc đến tên Salander. Cho nên câu chuyện thỉnh thoảng rơi vào những lúc lặng thinh bí ẩn.

- Tôi về nhà đây. - Blomkvist nói, hấp tấp đứng lên. - Mệt quá tôi không nghĩ được gì ra hồn. Tôi phải ngủ chút chút. Ngày mai là thứ Sáu Tốt lành, tôi định ngủ và xem kỹ hết giấy tờ. Malin, cô có làm qua được cả lễ Phục sinh không? - Tôi có được chọn cách nào khác không đây? - Không. Chúng ta sẽ bắt đầu vào trưa thứ Bảy. Chúng ta có thể làm ở chỗ tôi chứ không ở tòa soạn được không?

- Như thế tốt đấy. - Tôi nghĩ sáng hôm ấy chúng ta sẽ quyết định sửa lại cách tiếp cận. Nay không còn chỉ là việc cố tìm xem bản thuật trình của Svensson có một cái gì đó liên quan đến các vụ giết người kia không. Đây là việc tìm ra từ các dữ liệu xem ai đã giết Dag và Mia. Eriksson nghĩ không biết họ sắp phải xoay xở thế nào đây nhưng cô không nói gì cả. Blomkvist vẫy tay chào tạm biệt hai người, rồi bỏ đi không một lời.

7 giờ 15, thanh tra Bublanski lưỡng lự đi theo công tố viên Ekstrom lên bục trong trung tâm báo chí của cảnh sát. Bublanski tuyệt đối chả có thú vị gì việc đứng trước ánh đèn của một tá những máy ảnh, máy quay phim. Ông gần như đã bị hoảng vì là trung tâm chú ý như thế. Ông sẽ không bao giờ quên hay khoái việc nhìn thấy chính mình trên tivi. Đằng này Ekstrom đi lại thoải mái, chỉnh lại kính đeo, mượn một vẻ mặt nghiêm chỉnh phù hợp. Ông để các phóng viên chụp ảnh rồi giơ tay yêu cầu im lặng. - Tôi xin hoan nghênh tất cả các bạn tại cuộc họp báo có phần nào sắp xếp vội vàng liên quan đến các vụ án mạng khuya đêm hôm qua. Chúng tôi có một số thông tin nữa chia sẻ với các bạn. Tôi là công tố viên Richard Ekstrom và đây là thanh tra hình sự Jan Bublanski của Cảnh sát hình sự hạt, đội Tội phạm Bạo hành hiện đang chỉ đạo cuộc điều tra. Tôi có một bản tuyên bố cần đọc rồi sau sẽ đến phần các bạn đặt câu hỏi.

Ekstrom nhìn các nhà báo dự họp. Các vụ án mạng ở Enskede là tin lớn và càng ngày càng lớn ra. Ông khoái chí nhận thấy các chương trình thời sự Aktuellt, Rapport và TV 4 đều có mặt, ông cũng nhận ra các phóng viên của hãng tin TT cùng các báo sáng báo chiều. Cũng có một số một ít phóng viên ông hoàn toàn không nhận ra được. - Như các bạn biết, đêm qua hai người ở Enskede đã bị giết. Vũ khí đã được tìm thấy ở hiện trường gây án, một khẩu Colt.45 Magnum. Hôm nay Phòng Khám nghiệm Pháp y Quốc gia đã xác lập rằng khẩu súng ấy là vũ khí giết người. Người sở hữu khẩu súng đã được nhận diện và hôm nay chúng tôi đang đi lùng tìm người này. Ekstrom dừng lại tạo hiệu quả.

- Hồi 4 giờ 15 chiều nay đã tìm thấy người sở hữu khẩu súng chết trong một căn hộ gần Odenplan. Ông ta bị bắn. Tin rằng ông ta chết vào lúc giết hai người Enskede. Cảnh sát - đến đây Ekstrom giơ tay về phía Bublanski - có lý do để tin rằng cùng một người chịu trách nhiệm về tất cả ba vụ giết. Tiếng râm ran liền nổi lên trong đám phóng viên. Một số họ bắt đầu thấp giọng nói vào di động. - Các ông đã bắt được nghi phạm rồi chứ? - Phóng viên của Đài phát thanh Thụy Điển hỏi to.

Ekstrom cao giọng: - Nếu các vị không cắt ngang tuyên bố của tôi thì chúng ta sẽ đi đến chuyện đó. Tối nay một người có liên quan tới ba vụ án mạng này đã được nêu tên và cảnh sát muốn thẩm vấn. - Xin ông cho chúng tôi tên hắn có được không?

- Không phải hắn mà là thị. Cảnh sát đang tìm một phụ nữ hai mươi sáu tuổi có liên quan với người sở hữu khẩu súng, người phụ nữ này chúng tôi biết là đã ở hiện trường của các vụ án mạng tại Enskede. Bublanski cau mày và nom ủ rũ. Họ đang đến cái điểm ở trong lịch nghị sự mà ông và Ekstrom bất đồng với nhau, đó là vấn đề có nên nêu tên nghi phạm của họ ra không. Ekstrom vẫn giữ ý kiến là theo các tư liệu sẵn có thì Salander là một phụ nữ mắc bệnh tâm thần, dễ dàng dùng bạo lực và có vẻ như một cái gì đó đã khiến cơn điên giết người bật ra ở cô ta. Không có bảo đảm nào rằng cơn bạo hành này đã chấm dứt, do đó vì lợi ích công cộng cần phải nêu tên cô ta ra và bắt giữ cô ta càng nhanh càng tốt.

Bublanski kiên trì rằng trước khi nhóm điều tra dứt khoát bắt tay làm theo cách tiếp cận của họ thì có lý do để ít nhất chờ xem kết xét nghiệm kỹ thuật với căn hộ của Bjurman là thế nào cái đã. Nhưng Ekstrom đã thắng. Ekstrom giơ tay lên cắt đứt tiếng lao xao của đám phóng viên dự họp. Việc tiết lộ một phụ nữ đang được tìm kiếm vì ba vụ án mạng đã nổ ra như một quả bom. Ông đưa micro cho Bublanski; ông này dặng hắng hai lần, chỉnh lại kính và nhìn chằm chằm vào tờ giấy có viết những lời lẽ họ đã tán thành. - Cảnh sát đang tìm kiếm một phụ nữ 26 tuổi có tên Lisbeth Salander. Sẽ phân phát đi một bức ảnh của cô ta lấy từ cơ quan hộ chiếu. Chúng tôi không biết cô ta hiện đang ở đâu nhưng chúng tôi tin rằng cô ta đang ở quanh Stockholm. Cảnh sát mong muốn được dân chúng giúp đỡ tìm ra càng nhanh càng tốt người phụ nữ này. Lisbeth Salander cao một mét rưỡi với một thân hình gầy bé.

Ông căng thẳng hít vào một hơi dài. Ông cảm thấy ẩm ướt ở nách. - Lisbeth Salander trước kia đã được chăm nom ở một bệnh viện tâm thần và được coi như nguy hiểm cho bản thân cũng như cho công cộng. Chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng chúng tôi không cả quyết nói cô ta là kẻ giết người, nhưng nhiều hoàn cảnh phối hợp lại đã đòi chúng tôi phải thẩm vấn cô ta tức khắc để nắm chắc được cô ta đã biết những gì về các vụ án mạng ở Enskede và Odenplan. - Các ông không xoay được bằng hai cách đó đâu. - Một phóng viên của một tờ báo chiều hét to. - Hoặc cô ta là nghi phạm giết người hoặc không.

Bublanski nhìn Ekstrom với con mắt bất lực. - Cảnh sát đang điều tra trên một trận tuyến rộng và dĩ nhiên chúng tôi có xem xét nhiều kịch bản. Nhưng có lý do để nghi người phụ nữ mà chúng tôi đã nêu tên và cảnh sát thấy cực kỳ cần kíp bắt tạm giam cô ta. Qua chứng cứ pháp y, cô ta là nghi phạm nổi lên trong cuộc điều tra tại hiện trường gây án. - Loại chứng cứ nào? - Trong phòng họp đông đúc một người lập tức hỏi.

- Chúng tôi sẽ không đi vào chứng cứ pháp y. Mấy phóng viên liền lên tiếng luôn. Ekstrom giơ tay chỉ vào một phóng viên của tờ Dagens Eko. Trước kia ông đã có làm việc với anh ta và ông coi anh ta là khách quan. - Thanh tra Bublanski nói cô Salander đã ở bệnh viện tâm thần. Tại sao lại thế?

- Người phụ nữ này có một... thời kỳ nuôi dạy bị rắc rối và trong nhiều năm đã gặp phải một số vấn đề. Cô ta đã chịu chế độ giám hộ và người sở hữu vũ khí là người giám hộ cô ta. - Ông ta là ai? - Người bị bắn tại nhà mình ở Odenplan. Lúc này chúng tôi còn giữ kín tên ông ta, cho tới khi nhận ra được người nhà gần gũi của ông ta.

- Cô ta có những động cơ gì trong ba vụ án mạng này? Bublanski cầm lấy micro. Ông nói: - Chúng tôi không suy luận về động cơ có thể có.

- Cô ta đã có tiền án tiền sự chưa? - Rồi. Lúc đó một phóng viên hỏi, giọng ông ta sâu trầm, rành mạch nổi bật lên trên đám đông:

- Cô ta có nguy hiểm cho cộng đồng không? Ekstrom ngập ngừng một lúc. Rồi ông nói: - Chúng tôi có những báo cáo cho hay ở trong những tình thế căng thẳng, có thể coi cô ta là sẵn sàng dùng đến bạo lực. Chúng tôi đưa ra tuyên bố này vì chúng tôi muốn tiếp xúc được với cô ta càng sớm càng tốt.

Bublanski cắn môi dưới. Lúc 9 giờ tối, thanh tra hình sự Sonja Modig vẫn còn ở trong căn hộ của luật sư Bjurman. Chị đã điện thoại về giải thích tình hình với chồng. Sau mười một năm kết hôn, anh đã chấp nhận rằng công việc của chị sẽ không bao giờ là từ 9 giờ sáng đến 5 giờ chiều. Đang ngồi ở bàn làm việc của Bjurman đọc hết các giấy tờ tìm thấy trong các ngăn kéo thì nghe thấy tiếng gõ vào rầm cửa, quay lại chị thấy sĩ quan Bong bóng giữ thăng bằng hai tách cà phê ở trên quyển sổ tay trong tay kia một túi xanh bánh quế cuộn mua tại kiốt gần đó. Mệt mỏi, chị vẫy ông vào. - Cái gì cô không muốn tôi đụng vào nào? - Bublanski nói.

- Kỹ thuật viên đã xong ở đây. Họ đang làm việc ở trong bếp và buồng ngủ. Cái xác vẫn còn đó. Bublanski kéo ghế đến ngồi xuống. Modig mở túi lấy ra một cuộn bánh. - Cảm ơn. Tôi đang bị tụt caffeine đến mức tưởng chừng chết đến nơi mất đây.

Họ yên lặng nhâm nhi bánh. Modig liếm ngón tay nói: - Tôi nghe nói ở Lundagatan công việc không hay lắm.

- Chả có ai ở đấy. Có những thư chưa mở của Salander nhưng một ai đó tên Miriam Wu sống ở đó. Chúng ta cũng chưa tìm ra người này. - Cô ta là ai? - Thực sự không biết. Faste đang xem về lai lịch cô ta. Cô ta được cho thêm vào hợp đồng thuê nhà cỡ một tháng trước nhưng có vẻ người sống ở căn hộ này lại chính là cô ta. Tôi nghĩ Salander đã chuyển đi mà không báo thay đổi địa chỉ.

- Có lẽ cô ta đã có bài bản tất cả mọi chuyện ấy. - Gì cơ? Ba vụ án mạng ấy ư? - Bublanski chán nản lắc đầu. Chuyện này quay ra thành rối gớm ghê đến như thế này cơ chứ. Ekstrom khăng khăng đòi họp báo và nay chúng ta đang bị truyền thông đại chúng túm lấy gáy. Cô có tìm ra cái gì không? - Không kể cái xác, anh định bảo thế phải không? Bọn này tìm thấy cái hộp súng Magnum rỗng không. Đang kiểm tra dấu vân tay. Bjurman có một hồ sơ với các bản sao báo cáo hàng tháng của ông ta về Salander mà ông ta gửi cho Sở Giám hộ. Nếu tin được các báo cáo này thì Salander là một thiên thần nhỏ nhắn, ngoan nhất hạng.

- Lại được cả ông này nữa. - Bublanski nói. - Ông ta lại làm sao? - Lại một người ngưỡng mộ Salander nữa.

Bublanski vắn tắt lại những gì ông đã biết qua Armansky và Blomkvist. Modig nghe không cắt ngang. Ông nói xong thì chị lùa ngón tay vào tóc và dụi mắt. - Nghe thấy hết sức ấm ớ. Bublanski mắm môi dưới lại. Modig liếc ông và phải cố nhịn cười. Với những đường nét không đều đặn, bộ mặt ông nom gần như dữ tướng. Nhưng khi ông bối rối hay không chắc chắn về một điều gì thì vẻ mặt ông lại thành ra ảo não. Những lúc này chị hay nghĩ đến ông là sĩ quan Bong bóng. Chị không bao giờ dùng biệt hiệu này trước mặt ông và không biết ai đã tương nó ra. Nhưng nó hợp với ông hoàn toàn.

- Chúng ta chắc chắn đến đâu? - Công tố viên có vẻ chắc chắn. Một lệnh truy nã toàn quốc Salander được phát đi tối nay. - Bublanski nói. - Cô ta cả năm ngoái ở nước ngoài, có thể cô ta lại cố bỏ đi nữa. - Nhưng chúng ta thì chắc chắn đến đâu?

Ông nhún vai. - Người mà chúng ta nhòm ngó thì ít chắc chắn hơn nhiều. - Vân tay cô ta ở trên khẩu súng giết người tại Enskede. Người giám hộ cô ta bị giết. Không cố đi đón đầu sự việc, tôi cũng đoán là chính khẩu súng đó đã được dùng đến ở đây. Ngày mai chúng ta sẽ biết thôi - mấy tay kỹ thuật viên đã tìm thấy một mảnh đạn khá nguyên vẹn ở khung giường.

- Tốt. - Có vài kẹp đạn cho súng lục ở ngăn kéo dưới cùng của bàn là việc. Đạn có lõi urani và đầu mạ vàng. - Rất hay.

- Chúng ta có nhiều giấy tờ nói Salander không ổn định. Bjurman là người giám hộ của cô ta và ông ta sở hữu khẩu súng ấy. - Hừm... m... m. - Ông lại nói. - Nghe ông có vẻ chưa chịu.

- Tôi chưa hiểu rõ được về Salander. Giấy tờ nói một đằng nhưng Armansky và Blomkvist nói một đằng khác. Theo giấy tờ cô ta là người bị cận tâm thần dạng tiệm tiến. Theo hai người đã làm việc với Salander thì cô ấy là một điều tra viên giỏi. Đây là chỗ trái ngược nhau lớn. Chúng ta không có động cơ gì cho Bjurman và không có gì cho thấy cô ấy biết hai người bị giết ở Enskede. - Một dân ngớ ngẩn tâm thần thì cần đến bao nhiêu động cơ? - Tôi chưa vào trong phòng ngủ. Nom nó ra sao?

- Tôi thấy cái xác gục lên giường. Ông ta quỳ trên sàn như đang cầu kinh. Ông ta trần truồng. Bị bắn vào sau gáy. - Một phát, y như ở Enskede? - Như tôi thấy thì thế đấy. Nếu Salander bắn ông ta thì có vẻ cô ấy đã bắt ông ta quỳ xuống rồi cô ấy mới bắn. Viên đạn xuyên qua đầu ra đằng mặt.

- Vậy là như hành quyết ấy. - Chính thế. - Tôi nghĩ... có người sẽ nghe thấy tiếng súng.

- Buồng ngủ của ông ta trông xuống một cái sân sau nhà, hàng xóm trên dưới nhà ông ta đều nghỉ lễ ở ngoài cả. Cửa sổ đóng. Ngoài ra cô ấy dùng một cái gối để giảm tiếng súng đi. - Khôn thế. Vừa lúc ấy Gunnar Samuelsson ở Pháp y thò đầu vào.

- Chào, Bong bóng. - Ông nói rồi quay sang người đồng nghiệp. - Modig, chúng tôi nghĩ để cái xác nằm ngửa mà khiêng đi. Có một thứ cô nên nhòm một cái. Họ cùng sang phòng ngủ. Xác Bjurman đã được đặt lên trên cáng có bánh xe, sắp được đưa tới bác sĩ bệnh lý học. Về nguyên nhân cái chết, không có gì phải nghi ngờ cả. Ngang trán ông ta là một vết thương có chiều rộng mười phân, phần lớn sọ đeo lủng lẳng vào một mảng da. Xem máu bắn tung tóe qua giường lên bức tường đã thấy được tất cả. Mặt mũi Bublanski ủ dột cau có.

- Anh bảo chúng tôi xem cái gì đây? - Modig nói. Samuelsson nhấc tấm chất dẻo phủ trên nửa dưới người Bjurman lên. Bublanski đeo kính vào, khi ông và Modig bước lại gần hơn để đọc những chữ xăm trên bụng Bjurman. Chữ không đều và vụng về - rõ ràng người viết nó là một nghệ sĩ xăm mới vào nghề nhưng nội dung thì không còn gì rõ ràng hơn được nữa: TÔI LÀ MỘT CON LỢN BẠO DM, MỘT ĐỨA SA ĐỌA, MỘT ĐỨA HIẾP DM. Bublanski và Modig nhìn nhau kinh ngạc.

- Có thể chúng ta đang chứng kiến động cơ đây, đúng không? - Cuối cùng Modig nói. Blomkvist mua một mì pasta ăn liền ở 7 - Eleven trên đường anh về nhà và để hộp giấy vào lò vi sóng trong khi anh cởi quần áo đứng dưới vòi hoa sen ba phút. Anh lấy dĩa ăn đứng, ngay ở trong hộp giấy. Anh đói nhưng không muốn ăn; anh chính là muốn đem nó càng nhanh càng tốt đến bàn ăn. Ăn xong, anh mở một chai bia Vestyn Pilsner và uống ngay vào chai. Không bật đèn anh đứng hơn hai mươi phút bên cửa sổ nhìn ra Gamla Stan trong khi cố thôi suy nghĩ.

Hai mươi tư giờ trước đây anh ở nhà em gái thì Svensson gọi vào di động của anh. Anh ta và Johansson lúc ấy đang còn sống. Blomkvist đã không ngủ ba mươi sáu giờ liền và khi anh bỏ không ngủ một đêm thì ngày giờ trôi đi lê thê với biết bao day dứt ân hận. Và anh biết anh sẽ không thể ngủ nổi nếu như còn nghĩ đến những điều anh chứng kiến. Có cảm tưởng các hình ảnh ở Enskede đã cắm rễ mãi mãi trong đầu óc anh. Cuối cùng anh tắt di động, bò vào trong chăn. 11 giờ anh vẫn thức. Anh dậy pha chút cà phê. Anh mở nhạc nghe Debbie Harry hát “Maria”. Anh quấn chăn vào người ngồi trong sofa phòng khách uống cà phê trong khi lo lắng về Salander.

Anh thực sự biết gì về cô? Gần như không. Cô có một trí nhớ của máy ảnh và cô là một tin tặc thượng thừa. Anh biết cô là một phụ nữ kỳ lạ, hướng nội không thích nói về mình và tuyệt đối không có chút tin cậy nào hết đối với nhà chức trách. Cô có thể hung bạo ghê gớm. Anh sống sót nhờ thế.

Nhưng anh đã không hiểu rằng cô đã bị tuyên bố không thể tự quản lấy bản thân hay đã chịu chế độ giám hộ hay đã qua một phần của tuổi mười mấy ở trong một bệnh viện tâm thần. Anh cần phải chọn đứng về phía ai. Đôi khi giữa đêm anh quyết định anh sẽ không chấp nhận cảnh sát tuyên bố cô đã giết Svensson và Johansson. Ít nhất anh nợ cô một cơ hội giải thích cho cô trước khi anh thông qua phán xét.

Anh không rõ mình thiếp đi lúc nào, nhưng lúc 4 giờ rưỡi, anh thức dậy trong chiếc sofa. Anh loạng choạng vào phòng ngủ và lập tức lăn ra ngủ tiếp. CHƯƠNG 16 Thứ Sáu tốt lành, 25 tháng Ba

Thứ Bảy Phục sinh, 26 tháng Ba Eriksson ngả lưng vào sofa của Blomkvist. Quen như vẫn làm ở nhà, cô gác chân lên bàn cà phê nhưng vội rụt lại. Blomkvist cười. - OK thôi. - Anh nói. - Cứ như ở nhà đi mà.

Cô nhe răng cười và lại gác lên. Blomkvist đã mang các bản sao viết lách của Svensson ở tòa soạn Millennium về nhà anh. Anh bày tài liệu của Svensson lên sàn phòng khách. Anh và Eriksson đã bỏ tám giờ đồng hồ xem kỹ hết các thư điện tử, ghi chép, những mẩu chú thích trong sổ tay và trên hết tất cả bản đánh máy của quyển sách. Sáng thứ Bảy Annika Giannini đến thăm ông anh. Chị mang báo chiều của hôm trước đến với những đầu đề đập vào mắt và một bức ảnh hộ chiếu to tướng của Salander ở trang nhất. Người ta đọc thấy:

BỊ TRUY NÃ VÌ BA ÁN MẠNG

Tờ khác chọn đầu đề giật gân hơn: CẢNH SÁT SĂN LÙNG KẺ MẮC BỆNH TM THẦN

GIẾT NGƯỜI HÀNG LOẠT Họ chuyện trò với nhau một giờ đồng hồ, Blomkvist đã giải thích với em gái quan hệ của anh với Salander và tại sao anh không tin cô lại là thủ phạm. Cuối cùng anh hỏi chị có thể xét đến việc thay mặt cho Salander nếu hay khi nào cô ấy bị bắt không. - Em đã thay mặt cho nhiều phụ nữ trong các loại án bạo hành và lạm dụng nhưng em thực sự không phải là luật sư bảo vệ hình sự. - Chị nói.

- Em là luật sư sắc sảo nhất mà anh biết và Lisbeth thì sắp sửa cần đến một người cô ấy tin cậy được. Anh nghĩ cuối cùng cô ấy sẽ nhận em. Annika nghĩ một lúc rồi lưỡng lự bằng lòng rằng nếu đã đến cơ sự ấy thì ít nhất chị sẽ có một cuộc bàn bạc với Salander trước đã. 1 giờ trưa thứ Bảy, thanh tra Modig gọi hỏi chị có thể đến lấy cái túi khoác vai của Salander không. Cảnh sát chắc đã mở đọc thư anh gửi đến địa chỉ Salander ở Lundagatan.

Chỉ sau hai chục phút Modig đã đến, Blomkvist bảo chị ngồi với Eriksson ở bàn trong phòng khách. Anh vào bếp lấy cái túi ở trên giá gần lò vi sóng xuống. Anh ngập ngừng một lúc rồi mở túi lấy chiếc búa và bình xịt Mace ra. Chứng cứ nắm được. Bình xịt Mace là một vũ khí bất hợp pháp, có nó là một vi phạm đáng trừng trị. Chiếc búa sẽ chỉ ủng hộ những ai tin vào xu hướng bạo lực của Salander mà thôi. Cái đó không cần thiết, Blomkvist nghĩ. Anh mời Modig cà phê.

- Tôi có thể hỏi ông vài câu được không? - Thanh tra nói. - Xin cứ hỏi. - Trong thư ông viết cho Salander mà bạn đồng nghiệp của tôi tìm thấy ở Lundagatan, ông viết ông chịu ơn cô ấy. Chính xác ra ông muốn nói điều gì ở đây?

- Lisbeth Salander đã có một ân huệ lớn với tôi. - Loại ân huệ nào vậy? - Đây là một ân huệ thuần túy giữa cô ấy và tôi, mà tôi không định nói ra.

Modig nhìn anh chăm chú. - Đây là một điều tra về án mạng mà chúng tôi đang tiến hành ở đây. - Và tôi hy vọng chị sẽ bắt được tên khốn nạn giết Dag và Mia kia càng sớm càng tốt.

- Ông không nghĩ Salander là người giết sao? - Không, tôi không nghĩ vậy. - Trong trường hợp này thì ông cho ai là người đã bắn các bạn ông?

- Tôi không biết. Ít nhất thì cũng chưa biết. Con mắt anh vững vàng như niềm tin của anh. Modig bất chợt mỉm cười. Chị biết anh đã được đặt nhái cho biệt hiệu Kalle Blomkvist, tên của viên thám tử trong sách của Astrid Lindgren. Nay chị hiểu ra tại sao. - Nhưng ông có ý tìm ra mà?

- Nếu có thể. Chị có thể nói thế với thanh tra Bublanski. - Tôi sẽ nói. Và nếu Salander tiếp xúc với ông, tôi hy vọng ông cũng sẽ cho chúng tôi biết. - Tôi không chờ đợi cô ấy liên hệ với tôi để thú thật cô ấy đã là thủ phạm giết người, nhưng nếu cô ấy liên hệ thì tôi sẽ làm hết sức để thuyết phục cô ấy gặp cảnh sát. Trong trường hợp đó, tôi sẽ hết sức ủng hộ cô ấy bằng bất cứ cách nào - cô ấy sẽ cần một người bạn.

- Mà nếu cô ấy nói cô ấy không phạm tội? - Thế thì tôi hy vọng cô ấy sẽ rọi được vài ánh sáng vào câu chuyện đã xảy ra. - Thưa ông Blomkvist, cái này hoàn toàn chỉ là giữa chúng ta và không có sao lục, tôi hy vọng ông hiểu được rằng cần phải bắt Lisbeth Salander. Ông chớ làm điều gì ngớ ngẩn nếu như cô ấy tiếp xúc với ông. Nếu cô ấy chịu trách nhiệm về các vụ giết người kia mà ông lầm thì sẽ cực kỳ nguy hiểm cho ông.

Blomkvist gật. - Tôi hy vọng chúng tôi không cần phải cho người kiểm soát ông. Dĩ nhiên ông biết giúp đỡ một người chạy trốn là phi pháp. Trợ giúp và xúi giục người đang bị truy nã vì giết người là một vi phạm nghiêm trọng. - Về phần tôi, tôi hy vọng chị bớt cho chút thì giờ lưu ý tới khả năng Salander vô can với các vụ giết người kia.

- Chúng tôi sẽ lưu ý. Câu nữa. Ông tình cờ có biết máy tính Svensson dùng là loại nào không? - Anh ấy có một chiếc Mac iBook 500 mua lại, màu trắng, màn hình 35 phân. Giống như của tôi nhưng màn hình lớn hơn. Blomkvist chỉ vào máy tính của anh ở trên bàn gần hai người.

- Ông có biết anh ấy để nó ở đâu không? - Thường mang nó đi trong môt ba lô màu đen. Tôi cho là nó ở trong nhà anh ấy. - Không. Có thể ở tòa soạn báo không?

- Không. Tôi đã xem kỹ bàn làm việc của anh ấy và không thấy. Hai người ngồi im lặng một lúc. Cuối cùng Blomkvist nói: - Tôi nghĩ rằng có thể nó đã bị mất rồi.

Blomkvist và Eriksson làm một danh sách những người về lý thuyết có khả năng có động cơ giết Svensson. Blomkvist viết từng tên lên một tờ giấy to rồi đính lên trên tường phòng khách nhà anh. Tất cả đều đã ở trong sách và đều là đàn ông, hoặc chăn dắt gái hoặc ma cô. Đến 8 giờ tối hôm ấy, họ có được ba mươi bảy tên, trong đó ba chục đã được nhận diện. Bảy đứa mang bí danh trong văn bản của Svensson. Hai mươi mốt đứa được nhận diện là chăn dắt gái từng thỉnh thoảng lợi dụng cô này cô kia. Vấn đề thực tiễn - xét từ quan điểm có xuất bản sách hay không - là nhiều phát ngôn đã dựa trên những thông tin mà chỉ Svensson và Johansson có. Một nhà văn biết ít về một đề tài thì không tránh khỏi sẽ vì bản thân mình mà phải kiểm tra thông tin. Họ cho rằng có thể xuất bản 80 phần trăm quyển sách hiện có mà không gặp vấn đề gì lớn nhưng 20 phần trăm còn lại thì sẽ phải mất công nâng lên đặt xuống nhiều rồi mới dám xuất bản. Họ không nghi ngờ nội dung của chúng không chính xác, đây chỉ là vì họ chưa quen làm cái công việc đầy chi tiết lắt nhắt ở đằng sau các phát hiện bùng nổ nhất của quyển sách. Nếu Svensson vẫn còn sống họ có thể in như không quyển sách - anh ta và Johansson có thể dễ dàng giải quyết và bác bỏ bất cứ phản đối nào. Blomkvist nhìn ra cửa sổ, Đêm đã xuống và mưa. Anh hỏi Eriksson có muốn uống cà phê nữa không. Cô không.

- Chúng ta giữ được bản thảo. - Cô nói. - Nhưng chúng ta vẫn chưa tiến gần hơn lên chút nào trong việc ghim ra tên của kẻ đã giết Dag và Mia. - Cái tên ấy đang ở trên bức tường này đây. - Blomkvist nói. - Có thể là một người không liên quan gì đến quyển sách. Hay đó có thể là cô bạn gái của anh.

- Lisbeth. - Blomkvist nói. Eriksson liếc trộm anh một cái. Cô làm việc ở Millennium đã mười tám tháng. Cô nhảy vào đúng giữa cơn rối loạn của vụ Wennerstrom. Sau nhiều năm phụ động, Millennium là vị trí đầu tiên cô làm việc chính thức. Làm ở Millennium là một vị thế. Cô có mối liên hệ gắn bó với Berger và nhân viên tòa soạn nhưng cô luôn cảm thấy không được dễ chịu khi ở bên Blomkvist. Cô không biết rõ vì sao, nhưng trong tất cả nhân sự ở Millennium, cô thấy riêng Blomkvist là người giữ ý và khó gần nhất. Suốt năm ngoái anh đến tòa soạn muộn, hay ngồi một mình trong buồng giấy của anh hay buồng giấy của Berger. Anh thường ở ngoài và trong ít tháng đầu tiên ở tòa soạn, cô hình như thấy anh trên chiếc sofa nào đó tại trường quay của đài truyền hình nhiều hơn là ở ngoài đời thật. Anh không khuyến khích chuyện trò lặt vặt và qua lời bình luận của anh em tòa soạn thì xem vẻ anh đã có thay đổi. Anh tĩnh lặng hơn và khó nói chuyện hơn.

- Tôi đang cố lần mò tìm ra tại sao Dag và Mia lại bị bắn, tôi cần phải biết về Salander nhiều hơn nữa, tôi thực sự không biết bắt đầu từ đâu, nếu... Cô bỏ lửng giữa chừng. Blomkvist nhìn cô. Cuối cùng anh ngồi xuống ghế đối diện thẳng với cô, chân đặt ở cạnh chân cô. - Cô có thích làm ở Millennium không? - Anh nói, phân vân. - Tôi muốn nói là cô làm với chúng tôi đến nay đã một năm rưỡi nhưng tôi chạy ngoài quá nhiều nên chúng ta không có dịp biết về nhau.

- Tôi rất thích làm ở đây. - Cô nói. - Anh có vui vẻ với tôi không? - Erika và tôi luôn nói là chúng tôi chưa bao giờ có một trợ lý tòa soạn sáng giá như cô. Chúng tôi nghĩ cô là một phát hiện thực sự. Và xin lỗi là trước đây đã không nói điều đó nhiều với cô. Eriksson mỉm cười hài lòng. Được. Nhà báo lớn Blomkvist khen là ân huệ cực kỳ.

- Nhưng điều tôi đang thực sự hỏi bây giờ không phải là thế. - Cô nói. - Cô đang nghĩ về mối liên hệ của Salander với Millennium chứ gì? - Anh không nói gì hết còn Erika thì khá kín miệng về cô ta.

Blomkvist bắt gặp mắt cô. Anh và Berger có thể tin cậy cô hoàn toàn nhưng có những điều anh không thể đụng đến. - Tôi đồng ý với cô. - Anh nói. - Nếu chúng ta sẽ đào sâu vào các vụ án mạng thì cô sẽ còn cần nhiều thông tin hơn. Tôi là nguồn tin đầu tiên và cũng là mối liên hệ giữa Lisbeth với Dag và Mia. Cô cứ làm tới và hỏi tôi, tôi sẽ cố hết sức trả lời. Không được, tôi sẽ bảo. - Tại sao lại phải bí mật dữ như thế? Lisbeth Salander là ai và trước hết cô ta có gì dính dáng với Millennium không?

- Chuyện là thế này. Hai năm trước tôi thuê cô ấy điều tra một việc cực kỳ phức tạp. vấn đề là thế. Tôi không thể bảo cô là cô ấy đã làm gì cho tôi. Erika biết nhưng chị ấy đã cam kết long trọng giữ tuyệt mật chuyện đó nên không thể nói ra. - Hai năm trước… thế là trước khi anh đập vỡ Wennerstrom. Tôi có nên cho rằng việc cô ấy điều tra là có liên quan đến vụ này không? - Không, cô không nên cho là như thế. Tôi sẽ không phủ nhận hay khẳng định điểm này. Nhưng tôi có thể bảo cô rằng tôi thuê Lisbeth cho một dự án gần như hoàn toàn khác hẳn và cô ấy đã làm xuất sắc việc đó.

- OK, đó là lúc, như tôi nghe nói, anh sống chẳng khác một ẩn tu ở Hedestad. Và trên bản đồ của truyền thông đại chúng mùa hè năm ấy Hedestad cũng đã thực sự bị điểm danh, không thoát khỏi. Harriet lại lộ diện sau khi được cho là đã chết. Khá kỳ lạ, chúng ta ở Millennium mà không viết qua lấy một chữ về việc chị ấy sống lại. - Lý do không viết là vì chị ấy ở trong ban quản trị của tạp chí. Chúng ta để cho phần còn lại của truyền thông đại chúng soi xét kỹ chị ấy. Và hễ còn liên quan đến Salander thì cô hãy tin lời tôi khi tôi nói rằng cái việc cô ấy làm cho tôi trong dự án đầu tiên là tuyệt đối không dính dáng gì đến việc xảy ra ở Enskede sất cả. - Tôi tin lời anh.

- Hãy cho tôi khuyên cô một điều. Đừng suy đoán, đừng vội kết luận, hãy nhận cho rằng cô ấy đã làm việc cho tôi và tôi thì không thể và sẽ không thể bàn đến những gì dính líu đến việc ấy. Việc cô ấy làm cho tôi không phải là chuyện này. Trong thời gian đó cô ấy đã cứu mạng tôi. Ở nghĩa đen. Eriksson ngước mắt lên ngạc nhiên. Ở Millennium cô chưa nghe thấy ai nói đến chuyện này bao giờ. - Thế là anh biết cô ấy khá rõ đấy nhỉ.

- Rõ như bất cứ ai được biết Lisbeth Salander, tôi cho là vậy. - Blomkvist nói. - Cô ấy là người co vào mình nhất mà tôi từng thấy. Anh đứng phắt dậy, nhìn vào đêm tối, cuối cùng anh nói: - Tôi không biết cô có muốn uống cà phê nữa không, còn tôi thì đi làm cho mình một vodka với nước chanh đây.

- Thế thì một cà phê nữa là không hay bằng đấy. Armansky qua cuối tuần Phục sinh ở căn nhà nhỏ của ông trên đảo Blido, nghĩ về Salander. Các con ông đã trưởng thành, chúng chọn không nghỉ lễ cùng bố mẹ. Ritva, bà vợ đã ba mươi lăm năm của ông, để ý thấy đôi khi ông để đầu óc ở tận đẩu đâu. Ông rút vào suy ngẫm im lặng và trả lời lơ mơ những khi bà nói với ông. Hàng ngày ông lái xe đến cửa hàng gần nhất mua báo. Ông sẽ ngồi bên cửa sổ ngoài hiên đọc về việc săn lùng Salander. Armansky thất vọng vì mình đã xét đoán Salander sai đến đáng sợ. Ông đã biết cô từng bị những vấn đề tâm thần trong vài năm. Cái ý cho rằng cô có thể hung bạo và làm bị thương nghiêm trọng ai đó đe dọa cô không làm ông ngạc nhiên. Cái ý cô tiến công người giám hộ - người mà cô chắc chắn coi là can thiệp vào công việc của cô - thì có thể hiểu được ở một mức độ lý trí nào đó. Bất cứ toan tính nào định kiểm soát đời cô đều bị cô xem là khiêu khích và có khả năng thù nghịch.

Mặt khác, trong đời mình ông không thể hiểu được điều gì đã đẩy cô đến chỗ bắn chết hai người rõ ràng không quen biết gì cô, theo như mọi thông tin mà ông có. Armansky vẫn cứ chờ cảnh sát xác lập ra mối liên hệ giữa Salander và cặp nam nữ ở Enskede, rằng một hay cả hai người đó đã có liên quan gì với cô hay một trong hai người đã khiêu khích cơn hung bạo của cô. Nhưng báo chí không nói gì đến một liên hệ như thế; thay vì vậy họ lại suy luận rằng chắc một kiểu cơn cớ nào đó đã nổi lên ở cô gái mắc bệnh tâm thần này. Ông đã hai lần điện thoại cho thanh tra Bublanski hỏi về các bước phát triển nhưng ngay cả ông lãnh đạo cuộc điều tra cũng không cho ông được một quan hệ nào ở giữa Salander và hai người kia. Nhưng không có gì gợi ý ra cho thấy Salander đã biết hay đã từng nghe nói đến Svensson và Johansson. Nếu khẩu súng không có dấu vân tay của cô, và nếu đã không có mối liên hệ chắc nịch với Bjurman, nạn nhân đầu tiên, thì cảnh sát sẽ còn phải loay hoay lần mò trong bóng tối.

Eriksson xẹt vào buồng tắm nhà Blomkvist rồi quay lại chiếc sofa. - Vậy hãy tóm tắt lại. - Cô nói. - Nhiệm vụ là tìm ra xem Salander có giết Dag và Mia như cảnh sát tuyên bố hay không. Bắt đầu từ đâu đây nhỉ? - Nhìn nó như một việc khai quật ầy. Chúng ta không phải làm cái việc điều tra của cảnh sát. Nhưng chúng ta phải đứng trên đỉnh cao của những điều mà cảnh sát đã phát hiện ra và phải moi ra ở họ những cái họ biết. Nó sẽ giống như một công việc nào đó khác, trừ một điều là chúng ta không tất yếu phải in ra tất cả những gì chúng ta đã phát hiện.

- Nhưng nếu Salander giết thì giữa cô ấy với Dag và Mia sẽ phải có một kết nối có ý nghĩa. Mà kết nối ấy cho đến nay là anh. - Trong thực tế tôi không có kết nối gì cả. Hơn một năm nay tôi không trò chuyện với Salander. Làm sao cô ấy biết được là có hai người ấy, tôi không có một... Blomkvist thình lình dừng lại. Lisbeth Salander: tin tặc thượng thừa đẳng cấp thế giới. Chợt lóe lên trong anh rằng máy tính iBook của anh chứa đầy thư từ của anh với Svensson cũng như các phiên bản khác nhau của quyển sách cùng một hồ sơ lưu luận án của Johansson. Anh không biết Salander có kiểm tra máy tính của anh không, nhưng giả định biết anh quen Svensson thì cô ấy có thể có lý do nào để mà bắn anh ta và Johansson kia chứ? Trái lại - việc Svensson đang làm là một tường trình về bạo hành với phụ nữ, vậy thì chắc Salander sẽ bằng mọi cách khuyến khích hai người mới phải chứ. Nếu Blomkvist biết được Salander chút nào.

- Trông anh như đang nghĩ đến chuyện gì. - Eriksson nói. Anh không định nói với cô về thiên tài của Salander ở lĩnh vực máy tính. - Không, chỉ là tôi mệt rồi nghĩ lảng sang chuyện khác mất.

- Thôi được, cô Lisbeth của anh không chỉ bị nghi là đã giết Dag và Mia mà còn cả người giám hộ của cô ấy nữa, trong trường hợp này, mối quan hệ lại rõ ra như ban ngày. Anh biết gì về người giám hộ này? - Không tí nào cả. Tôi chưa nghe thấy tên ông ta; tôi cũng không biết cả việc cô ấy có người giám hộ. - Nhưng cũng không nên bỏ qua khả năng một người khác đã giết Dag và Mia. Cho là một ai đó giết Dag và Mia vì chuyện của hai người thì trong chuyện giết người giám hộ của Salander lại chằng một chút lý do nào hết.

- Tôi biết thế và đầu óc tôi loay hoay phát đau lên về chỗ đó. Nhưng ít nhất tôi có thể hình dung ra một kịch bản trong đó người ở ngoài cuộc có thể ám sát Dag và Mia cũng như người giám hộ của Salander. - Là gì vậy? - Cứ cho là Dag và Mia bị giết vì họ đã bám lẵng nhẵng lấy việc buôn bán tính dục, cứ cho là không biết thế nào Salander lại dính líu vào như một bên thứ ba đi. Nếu Bjurman là người giám hộ của Salander thì có cơ cô ấy đã tâm sự với ông ta do đó ông ta trở thành một nhân chứng hay người biết được điều gì đó, và rồi chính nó đã dẫn tới việc ông ta bị giết.

- Tôi hiểu ý anh. - Eriksson nói. - Nhưng anh không có mảy may chứng cứ nào hết cho lập luận này. - Đúng, không mảy may. - Vậy anh nghĩ sao? Cô ấy có là thủ phạm không?

- Nếu cô hỏi tôi cô ấy có gan giết người không, thì tôi trả lời là có. Salander có những cơn cớ hung dữ. Tôi đã thấy cô ấy hành động khi... - Khi cô ấy cứu mạng anh? Blomkvist nhìn cô.

- Tôi không nói cụ thể được với cô. Nhưng có một người sắp giết tôi và sắp giết đến nơi thật. Cô ấy đã đến và đánh hắn không thương tiếc bằng một cây gậy đánh golf. - Và anh không nói tí nào về chuyện đó với cảnh sát? - Tuyệt đối không. Và chuyện này là chỉ giữa cô với tôi thôi. Mắt anh sắc lại nhìn cô. - Malin, tôi phải tin được cô trong chuyện này.

- Tôi sẽ không nói với ai chuyện chúng ta bàn đây. Ngay cả với Anton. Anh không chỉ là sếp của tôi - tôi cũng mến anh và tôi không muốn làm điều gì khiến anh bị tổn thương. - Tôi xin lỗi. - Thôi đừng lỗi với liếc gì.

Anh cười thành tiếng rồi lại nghiêm trang: - Tôi cầm chắc nếu cần để bảo vệ tôi thì cô ấy cũng giết người kia luôn. Nhưng đồng thời tôi cũng tin rằng cô ấy khá là biết điều. Tóm lại, kỳ lạ nhưng hoàn toàn có tình có lý như kế hoạch cô ấy đặt ra. Cô ấy đã làm một việc hung dữ ghê gớm vì đó là sự cần thiết chứ không phải vì cô ấy thích thế. Phải bị đe dọa hay khiêu khích quá quắt lắm thì cô ấy mới có thể giết người được. Anh nghĩ một lúc. Eriksson kiên nhẫn nhìn anh.

- Tôi không thể nói thay cho ông luật sư. Tôi không biết tí nào về ông ta. Nhưng chuyện cô ấy bị Dag và Mia đe dọa thì tôi không thể tưởng tượng ra nổi một chút nào. Tôi không tin lại có thể có chuyện ấy. Họ ngồi im lặng một lúc lâu. Eriksson nhìn đồng hồ, thấy đã 9 rưỡi. - Muộn rồi. Tôi phải về nhà.

- Hôm nay là một ngày dài. Ngày mai chúng ta lại ngồi uống nhâm nhi. Không, cứ để tách đĩa đấy, tôi sẽ dọn. Đêm thứ Bảy trước Phục sinh, Armansky nằm thức, nghe Ritva ngủ. Ông không thể hiểu được tấn bi kịch. Cuối cùng ông đứng lên, xỏ dép lê, mặc áo khoác đi vào phòng khách. Trời lạnh, ông cho ít củi vào trong lò sưởi bằng đá ong, mở một chai bia rồi ngồi nhìn vào vùng nước tối om của con kênh Furusund. Ta biết những gì?

Salander gan lì và bốc đồng không thể lường trước. Chỗ này thì không nghi ngờ gì rồi. Một chuyện gì đó đã xảy ra trong mùa xuân năm 2003, khi cô thôi làm việc cho ông và biến mất trong chuyến ra nước ngoài dài cả một năm nghỉ phép. Blomkvist có phần nào dây vào việc ra đi đột ngột của cô - nhưng anh ta cũng không biết điều gì đã xảy ra với cô nốt. Cô đã về và đến thăm ông. Nói đã “hoàn toàn độc lập về tài chính”. Nói thế có thể ngụ ý rằng cô đã có đủ để sống trong một thời gian.

Cô đã đều đặn đến thăm Palmgren. Cô đã không tiếp xúc Blomkvist. Cô đã bắn ba người, hai người rõ ràng là cô không quen biết. Cái này vô lý. Armansky uống một ngụm bia và châm một điếu xì gà nhỏ. Lương tâm ông bứt rứt và cái đó khiến tâm trạng ông ngổn ngang. Khi Bublanski đến gặp ông, Armansky đã không ngập ngừng cho ông ta hết thông tin mà ông có để có thể bắt được Salander. Cần phải bắt cô - và bắt càng sớm càng tốt - điều ấy ông không nghi ngờ. Nhưng về chỗ đó, ông tự cảm thấy tồi tệ vì rõ ràng ông đã đánh giá thấp cô đến nỗi có thể nuốt ngon ơ lời cảnh sát buộc tội cô mà không vặn hỏi gì cả. Armansky là một người thực tế. Nếu cảnh sát bảo ông rằng một người bị nghi là giết người thì nhiều cơ đó là đúng. Vậy thì Salander là thủ phạm.

Nhưng hình như cảnh sát lại không tính đến việc cô có thể tự bào chữa rằng hành động của cô là chính đáng - hay có thể có những hoàn cảnh giảm khinh hay một giải thích hợp tình hợp lý nào đó cho việc cô nổi khùng lên. Cảnh sát sẽ cứ phải tìm cô để chứng minh rằng cô đã bắn chứ không đào sâu vào thế giới tâm thần của cô. Nếu tìm ra được động cơ khiến cô phạm tội thì họ sẽ thỏa mãn nhưng sẵn sàng vẽ ra chuyến đi giết chóc của cô là do khùng điên thì họ thất bại, không làm được. Ông lắc đầu. Ông không thể chấp nhận cái ý coi cô là kẻ sát nhân điên loạn giết người hàng loạt. Salander không bao giờ làm điều gì trái với ý chí của cô hay làm mà không suy nghĩ thấu đáo đến hậu quả. Kỳ dị - đúng. Điên thì không. Vậy là đã có một giải thích, bất kể xem chừng nó khó có thể là hiểu với những ai không biết cô gái.

Khoảng 2 giờ sáng, ông có một quyết định. CHƯƠNG 17 Chủ nhật Phục sinh, 27 tháng Ba

Thứ Ba, 29 tháng Ba Sáng Chủ nhật Armansky dậy sớm sau nhiều giờ trằn trọc suốt. Ông rón rén xuống thang, không đánh thứ Ritva dậy, tự pha cà phê và làm bánh sandwich. Rồi mở máy tính xách tay. Ông mở mẫu báo cáo mà An ninh Milton dùng cho các cuộc điều tra cá nhân. Ông đánh máy hết các điều mà ông nghĩ ra được về nhân cách của Salander. 9 giờ Ritva xuống rót cà phê cho bà. Bà nghĩ ông đang làm việc gì khác kia. Ông trả lời lấy lệ và cứ viết tiếp. Suốt ngày hôm ấy, ông làm một cái việc trời ơi.

Blomkvist hóa ra lại lầm, chắc là tại vì cuối tuần Phục sinh và trụ sở cảnh sát thì vẫn còn tương đối trống vắng. Phải tới sáng Chủ nhật Phục sinh các báo đài mới phát hiện ra chính anh đã tìm thấy Svensson và Johansson. Người đầu tiên gọi là một phóng viên của tờ Aftonbladet, một bạn lâu ngày. - Chào, Blomkvist, Nicklasson đây. - Chào, Nicklasson.

- Vậy cậu tìm ra cặp nam nữ ở Enskede đấy à? Blomkvist xác nhận đúng. - Nguồn của tớ nói họ làm cho Millennium.

- Nguồn của cậu vừa đúng vừa sai. Dag làm phóng viên tự do cho Millennium còn Mia Johansson thì không làm cho chúng tớ. - Ô, chàng trai. Chuyện này quỷ thật đấy nhỉ, cậu phải công nhận như thế đi. - Tớ biết. - Blomkvist nói mệt mỏi.

- Tại sao các cậu không cho ra một tuyên bố? - Dag là đồng nghiệp và là bạn. Bọn tớ nghĩ ít nhất trước khi bọn mình đưa ra một tin bài nào thì tốt hơn cả là báo họ hàng của cậu ấy và Mia trước chuyện đã xảy ra. Blomkvist biết câu này của mình sẽ không bị trích dẫn.

- Có lý đấy. Dag đang làm chuyện gì? - Một chuyện chúng tớ đặt. - Về gì?

- Các cậu đang định cho kiểu tin giật gân nào ở Aftonbladet đấy? - Vậy nó là tin giật gân à? - Thôi dẹp đi, Nicklasson.

- Ô, thôi, Blomman. Cậu nghĩ các vụ án mạng có liên quan tới cái Dag đang viết đấy chứ? - Cậu gọi tớ là Blomman lần nữa là tớ đặt máy không chuyện trò gì với cậu cho tới hết năm đấy. - Được, tớ xin lỗi. Cậu có nghĩ Dag bị giết là vì cậu ấy làm việc như một nhà báo điều tra không?

- Tớ không hiểu tại sao Dag lại bị giết. - Cái cậu ấy viết có cái gì liên quan đến Lisbeth Salander không? - Không. Không bất cứ cái gì.

- Dag có biết cái đứa rồ ấy không? - Tớ không biết. - Dag đã viết một lô những bài báo về tội phạm máy tính mới đây. Kiểu cậu ấy viết cho Millennium có là thế không?

Mày có thôi đi không đấy hả? Blomkvist nghĩ. Anh đang sắp bảo Nicklasson ngậm mỏ lại thì anh chợt ngồi thẳng dậy ở trên giường. Anh vừa nảy hai ý lớn. Nicklasson bắt đầu nói một cái gì đó khác. - Giữ máy, Nicklasson. Im ở đấy. Tớ quay lại ngay. Blomkvist đứng lên, lấy tay bịt đằng ống nói lại. Anh thình lình ở trên một hành tinh hoàn toàn khác.

Ngay từ khi xảy ra các vụ án mạng, Blomkvist đã cào bới đầu óc để tìm ra cách liên hệ với Salander. Có một cơ may - cơ may khá tốt - là bất kể ở đâu cô cũng sẽ đọc những cái anh nói trên báo về cô. Nếu anh phủ nhận có biết cô, cô sẽ hiểu thành ra rằng anh đã bỏ cô hay phản cô. Nếu anh bảo vệ cô thì người khác sẽ hiểu thành ra rằng anh biết nhiều hơn là anh nói về các vụ án mạng. Nhưng nếu chỉ tuyên bố theo cách đúng đắn thì anh sẽ có thể khích Salander tìm tới anh. - Xin lỗi, tớ đây. Cậu vừa nói gì nhỉ? - Có phải Dag đang viết về tội phạm máy tính không?

- Nếu cậu muốn nhẻm một miếng ra trò của tớ thì tớ cho đấy. - Nhè ra đi. - Với điều kiện cậu trích nguyên văn từng lời của tớ.

- Không thế thì sẽ khác như thế nào chứ? - Tớ không trả lời cậu. - Vậy cậu muốn nói gì?

- Tớ sẽ email cho cậu mười lăm phút nữa. - Cái gì? - Mở xem thư điện tử của cậu đi. - Blomkvist nói và đặt máy. Anh ra bàn làm việc bật máy tính iBook. Anh mở Word, ngồi tập trung hai phút rồi bắt đầu viết:

Tổng biên tập Millennium Erika Berger rất bàng hoàng vì vụ giết Dag Svensson, nhà báo tự do cũng là đồng nghiệp của bà. Bà hy vọng các vụ án mạng sẽ sớm được giải quyết. Chính người phụ trách xuất bản của Millennium, Mikael Blomkvist đã phát hiện ra Dag Svensson và bạn gái của anh bị giết hồi khuya đêm thứ Tư. “Dag Svensson là nhà báo có biệt tài và là một người mà tôi rất mến. Anh đã đề xuất nhiều ý tưởng cho các bài báo. Trong nhiều việc làm, anh đang tiến hành một điều tra quan trọng vào toàn bộ vấn đề tin tặc trên máy tính”, Mikael Blomkvist nói với Aftonbladet. Cả Blomkvist lẫn Berger đều không suy đoán ai có thể là thủ phạm của các vụ giết người hay động cơ nào nằm sau chúng.

Blomkvist nhấc điện thoại gọi Berger. - Chào, Erika, em vừa được Aftonbladet phỏng vấn đấy nhá. - Nói coi.

Anh đọc chị nghe lời trích. - Sao ra thế? - Đúng từng chữ. Dag là người đã mười năm viết tự do và một trong các chuyên đề của anh ấy là an ninh máy tính. Anh đã thảo luận chuyện này với anh ấy nhiều lần và chúng ta đã tính đăng một bài của anh ấy về chuyện này khi nào anh ấy làm xong câu chuyện buôn bán phụ nữ. Em có biết ai khác quan tâm đến tin tặc không?

Berger hiểu ra anh đang thử làm trò gì. - Thông minh, Mikael. Rất thông minh. OK. Làm đi. Một phút sau Nicklasson gọi bảo đã nhận được email của Blomkvist.

- Không phải là một miếng nhẻm ngon lắm đâu. - Cậu chỉ được tất cả có thế thôi, hơn bất cứ tờ báo nào khác rồi. Cậu đăng toàn bộ lời trích hoặc chẳng có gì hết. Trong khi gửi email cho Nicklasson, Blomkvist đã quay lại với chiếc iBook. Nghỉ ngơi một phút rồi anh viết:

Lisbeth thân mến, Tôi đang viết thư này và để lưu vào ổ cứng của tôi, biết rằng sớm muộn cô cũng sẽ đọc nó. Tôi nhớ cách cô xâm nhập ổ cứng của Wennerstrom hai năm trước và ngỡ rằng chắc cô cũng đã sục vào máy của tôi. Rõ ràng là nay cô không muốn còn liên quan gì nữa với tôi. Tôi không có ý hỏi tại sao và cô cũng không cần giải thích.

Các sự kiện vài hôm vừa qua đã gắn chúng ta lại với nhau dù cô có thích như thế hay không. Cảnh sát đang nói cô đã giết hai người mà tôi rất yêu mến. Tôi là người đã phát hiện ra Dag và Mia vài phút sau khi họ bị bắn. Tôi không nghĩ là cô bắn họ. Chắn chắn là tôi hy vọng như thế. Cảnh sát nói cô là kẻ sát nhân bị bệnh tâm thần như thể có nghĩa là tôi đánh giá cô sai hoàn toàn, trong mấy năm vừa rồi cô đã thay đổi khác với tất cả hiểu biết của tôi. Và nếu cô không là kẻ giết người thì cảnh sát đã săn lùng sai người. Trong tình hình này, chắc là tôi nên giục cô tự mình đi đến gặp cảnh sát nhưng tôi ngờ rằng tôi đã tốn hơi. Sớm muộn người ta sẽ tìm ra cô và lúc đó co sẽ cần đến một người bạn. Cô có thể không muốn còn liên quan gì với tôi nhưng tôi có cô em gái tên là Annika Giannini, một luật sư. Giỏi nhất. Em tôi muốn thay mặt cô nếu cô tiếp xúc với nó. Cô có thể tin em gái tôi. Do Millennium bị liên đới, chúng tôi đã bắt đầu điều tra xem tại sao Dag và Mia lại bị giết. Việc tôi đang làm hiện nay là ghép lại thành một danh sách những người có lý do muốn bắt Dag im lặng. Tôi không biết đường mình đi có đúng hay không nhưng tôi đang làm kiểm tra mỗi lần một tên người ở trong bản danh sách.

Một vấn đề với tôi là tôi không hiểu tại sao Nils Bjurman lại khớp lọt vào bức tranh. Trong tư liệu của Dag không có bất cứ chỗ nào nói đến ông ta và tôi cũng không mò ra được mối quan hệ nào giữa ông ta với Dag và Mia. Hãy giúp tôi, làm ơn. Mối liên hệ là gì đây? Mikael.

T.B. Cô nên kiếm một ảnh hộ chiếu mới. Cái kia làm cho cô oan uổng đấy. Anh đặt tên cho tư liệu là “Sally”. Rồi anh lập một thư mục có tên , cho nó một biểu tượng ở trên màn hình nền của chiếc iBook. Sáng thứ Ba Armansky mở một cuộc họp ở buồng giấy ông tại An ninh Milton. Ông triệu ba người đến.

Johan Fraklund, cựu thanh tra hình sự ở cảnh sát Solna, là trưởng đơn vị tác chiếc của Milton. Ông chịu trách nhiệm bao quát về đặt kế hoạch và phân tích. Tuyển chọn ông mười năm trước, Armansky đã đi tới chỗ coi trọng ông, người hiện đang vào tuổi sáu chục, như là một trong những tài sản đáng giá nhất của công ty. Armansky cũng gọi Sonny Bohman và Niklas Hedstrom đến. Bohman trước đây cũng là cảnh sát viên. Ông được huấn luyện ở đội ứng phó vũ trang Norrmalm những năm 80 rồi chuyển đến đội Tội phạm Bạo hành, ở đây ông đã chỉ đạo hơn một chục cuộc điều tra quan trọng. Trong thời gian đầu những năm 90, tên bắn lén “Người Laser” hoành hành, Bohman đã là một trong những diễn viên chủ yếu và năm 1997, ông chỉ chịu chuyển đến Milton sau một phen bị thuyết phục dài dài và lời mời với đồng lương cao hơn nhiều trông thấy. Niklas Hedstrom được xem như lính mới. Anh được huấn luyện ở Học viện Cảnh sát nhưng ngay trước cuộc thi mãn khóa thì được biết anh bị khuyết tật bẩm sinh về tim. Như vậy không chỉ đòi phải giải phẫu cơ bản mà cũng còn có nghĩa là sự nghiệp cảnh sát của anh chấm dứt.

Fraklund, từng là người đương thời với bố của Hedstrom, đã gợi ý với Armansky rằng các ông sẽ cho Hedstrom một cơ hội. Do có một chỗ trống trong đơn vị phân tích, Armansky tán thành tuyển người và không bao giờ ông có lý do để ân hận chuyện đó. Hedstrom đã làm được năm năm cho Milton. Anh có thể thiếu kinh nghiệm dã chiến nhưng nổi bật lên là có vốn liếng trí tuệ sắc sảo. - Xin chào tất cả, các ông hãy ngồi xuống đọc cái này đi. - Armansky nói. Ông đưa ra ba cặp hồ sơ với cỡ năm chục trang sao chụp các bài báo cắt dán về cuộc săn lùng Salander, cùng với ba trang tóm tắt của Armansky về lai lịch của cô. Đọc xong trước, Hedstrom đặt cặp hồ sơ xuống bàn. Armansky chờ cho hai người kia đọc xong nốt.

- Tôi cho rằng các vị đều có xem các đầu đề báo chí cuối tuần vừa rồi. - Lisbeth Salander. - Fraklund u uẩn nói. Bohman lắc đầu. Hedstrom nhìn vào khoảng không, mặt không để lộ ra vẻ gì nhưng mỉm cười buồn.

Armansky nhìn cả ba dò hỏi, ông nói: - Một trong các nhân viên của chúng ta. Các ông đã biết cô ấy rõ ra sao khi cô ấy làm ở đây. - Tôi đã thử một lần đùa cô ấy một chút. - Hedstrom nói, lại thoáng mỉm cười. - Không còn ra thế nào cả. Tôi tưởng cô ấy sắp cắn đứt đầu tôi ra đến nơi mất. Cô ấy bẳn tính vào loại nhất hạng, với cô ấy tôi hiếm khi nói đến mười câu.

- Tôi thấy cô ấy kỳ lạ mà lại nghiêm túc cơ chứ. - Fraklund nói. Bohman nhún vui: - Tôi gọi cô ấy là điên mười mươi, điên mê mết và khi cùng làm với cô ấy thì ta bị đau thực sự. Tôi thừa nhận cô ấy khó hiểu chứ không phải rồ khùng như quỷ thế kia.

- Cô ấy có cách làm việc của cô ấy. - Armansky nói. - Cô ấy không dễ bị nắm. Nhưng tôi tin cô ấy vì cô ấy là điều tra viên giỏi nhất tôi từng gặp. Lần nào kết quả cô ấy cho ra cũng vượt quá mức chờ đợi. - Tôi không hiểu chuyện đó. - Fraklund nói. - Tôi không hình dung ra nổi tại sao có tài đến mức khó tin như thế mà cô ấy đồng thời lại là một người thua thiệt trong xã hội. - Câu trả lời dĩ nhiên nằm trong não trạng cô ấy. - Armansky nói, tay vỗ vỗ vào một trong mấy cặp hồ sơ. - Cô ấy bị tuyên bố bất lực, không thể tự cai quản lấy bản thân.

- Tôi chả thấy tí đầu mối nào ở chỗ này. - Hedstrom nói. - Ý tôi là ở trên lưng cô ấy không có đeo một dấu hiệu nào bảo rằng cô ấy là đứa dở người. - Không. - Armansky nói. - Tôi không nói vì tôi nghĩ cô ấy thế nào thì cứ là thế rồi không cần bêu thêm cho cái gì nữa. Ai cũng đáng có một cơ hội. - Và kết quả của cái thí nghiệm nhạt nhẽo ấy là câu chuyện xảy ra ở Enskede mà chúng ta thấy. - Bohman nói.

- Có thể. - Armansky nói. Ở trước mắt ba người chuyên nghiệp trong nghề lúc này đang nhìn ông dò xét, ông không muốn để lộ ra chỗ yếu của ông đối với Salander. Trong chuyện trò giọng họ trung lập nhưng Armansky biết trong thực tế cả ba, cũng như các nhân viên khác ở An ninh Milton đều ghét Salander. Ông không muốn tỏ ra yếu đuối hay bối rối. Quan trọng là đặt ra vấn đề bằng một cách nó tạo nên một mức độ nhiệt tình và đầu óc chuyên nghiệp. - Tôi quyết định lần đầu tiên sử dụng một số nguồn lực của Milton vào một vấn đề thuần túy nội bộ. - Ông nói. - Khoản chi tiêu này chắc chắn là lớn cho ngân quỹ nhưng tôi nghĩ trút cho hai ông, Bohman và Hedstrom, khỏi những nhiệm vụ hiện tại. Hai ông được phân công làm công việc “xác lập sự thật” về Lisbeth Salander, chỗ này có thể tôi diễn đạt có đôi chút bị mơ hồ.

Cả hai đều ngờ vực nhìn ông. - Tôi muốn ông, Fraklund, lãnh đạo và bám sát cuộc điều tra. Tôi muốn biết chuyện gì đã xảy ra và cái gì đã dẫn dụ Salander đến chỗ giết người giám hộ cũng như cặp nam nữ ở Enskede. Phải có một giải thích hợp lý. - Xin thứ lỗi, nghe như là công việc của cảnh sát thì phải. - Fraklund nói.

- Không sao. - Armansky nói. - Nhưng chúng ta có một lợi thế nào đó so với cảnh sát. Chúng ta biết Salander và chúng ta tỏ tường cách hoạt động của cô ấy. - Được, nếu ông nói thế. - Bohman nói, giọng không được chắc chắn. - Tôi tin là không một ai ở công ty đây mà lại hiểu được tí gì về những gì đã diễn ra trong cái đầu con con của cô ấy. - Cái đó không sao. - Armansky nói. - Salander đã làm việc cho Milton. Theo tôi, chúng ta có trách nhiệm xác lập sự thật.

- Salander đã không làm cho chúng ta trong... bao nhiêu nhỉ, gần hai năm. - Fraklund nói. - Tôi không thấy chúng ta có trách nhiệm gì về những cái cô ấy có thể đã làm. Tôi cũng nghĩ cảnh sát sẽ không tán thưởng nếu chúng ta can thiệp vào điều tra của họ. - Trái lại. - Armansky nói. - Đây là quân át chủ bài của họ, họ phải chơi tốt đấy. - Sao lại thế chứ? - Bohman nói.

- Hôm qua tôi có nói chuyện lâu với người chỉ đạo cuộc điều tra sơ bộ, công tố viên Ekstrom và thanh tra hình sự Bublanski, người phụ trách điều tra. Ekstrom đang bị sức ép. Đây không phải chuyện đám cướp băng nhóm gangster thịt nhau mà là sự kiện mang tiềm lực truyền thông đại chúng to lớn trong đó một luật gia, một nhà tội phạm học và một nhà báo - như ta thấy - đã bị giết. Tôi đã giải thích do nghi can số một là một cựu nhân viên của An ninh Milton nên chúng tôi đã quyết định tự tiến hành điều tra lấy cho chúng tôi. - Ngừng lại cho câu này bập được sâu vào, rồi Armansky nói tiếp. - Ekstrom và tôi đã đồng ý ngay lúc này việc quan trọng là cần càng nhanh càng tốt bắt tạm giam Salander - trước khi cô ấy có thể tác hại đến bản thân hay người khác. Do chúng ta hiểu Salander nhiều hơn cảnh sát cho nên chúng ta có thể đóng góp vào cuộc điều tra. Ekstrom và tôi đã đi tới thỏa thuận rằng hai ông. - Ông chỉ vào Bohman và Hedstrom. - Sẽ được điều đến Kungsholmen giúp đỡ nhóm của Bublanski. Cả ba nhân viên của ông cùng sửng sốt. - Xin lỗi được hỏi một câu đơn giản thôi… nhưng chúng tôi chỉ là dân sự. - Bohman nói. - Cảnh sát có thực sự muốn chúng tôi tham gia một cuộc điều tra án mạng y như ông vừa nói không?

- Các ông sẽ làm việc dưới quyền Bublanski nhưng các ông cũng báo cáo cả với tôi. Các ông được tham gia hoàn toàn vào cuộc điều tra. Tất cả tư liệu chúng ta có và các ông tìm ra đều sẽ đưa đến cho Bublanski. Với cảnh sát như thế là nhóm của họ được tăng cường mà không phải phí tổn gì. Và chả ai trong hai ông “chỉ là dân sự” đâu. Hai ông, Fraklund và Bohman làm việc cho cảnh sát còn lâu hơn là làm việc ở đây, mà anh, Hedstrom lại còn học ở Học viện Cảnh sát nữa cơ mà. - Nhưng thế trái nguyên tắc… - Không hề. Cảnh sát thường đưa cố vấn dân sự vào các cuộc điều tra, hoặc là bác sĩ tâm lý trong các vụ án tính dục hay các phiên dịch viên nếu như có dính líu đến người nước ngoài. Các ông sẽ tham gia đơn giản như là cố vấn dân sự có hiểu biết đặc biệt về nghi can số một.

Fraklund thong thả gật đầu: - OK, Milton tham gia điều tra của cảnh sát và cố bắt Salander. Còn gì khác nữa không? - À, có. Chừng nào còn liên quan đến Milton thì chừng ấy nhiệm vụ của các ông là xác định sự thật. Không có gì khác. Tôi muốn biết Salander có bắn ba người kia không, và nếu có thì tại sao.

- Có nghi ngờ gì về tội của cô ấy không? - Hedstrom hỏi. - Chứng cứ hiện trường mà cảnh sát nắm được đã đủ tai họa cho cô ấy lắm rồi. Nhưng tôi muốn biết liệu còn có một phía khác nào nữa của câu chuyện không - liệu có một kẻ đồng phạm mà chúng ta không biết, một người mà có thể là kẻ thực sự cầm súng, hay liệu có còn những hoàn cảnh nào khác mà chúng ta chưa biết hay không. - Trong một vụ án mạng bắn chết ba người mà tìm các tình tiết giảm nhẹ sẽ khó đấy. - Fraklund nói. - Nếu đó là điều chúng ta tìm kiếm thì chúng ta cần phải giả định cô ấy có khả năng vô tội. Mà tôi thì không tin cái đó.

- Tôi cũng vậy. - Armansky nói. - Nhưng nhiệm vụ của các ông là yểm trợ cảnh sát bằng mọi cách và giúp họ bắt cô ấy trong thời gian ngắn nhất có thể. - Kinh phí đâu? - Fraklund nói. - Mở rồi. Tôi muốn được cập nhật đều đặn về chi phí ra sao và nếu nó tuột khỏi tay thì chúng ta sẽ đóng nó lại. Nhưng hãy cứ cho là các ông sẽ làm việc đó ít nhất trong một tuần, bắt đầu hôm nay. Và do chỗ ở đây tôi là người hiểu Salander nhất nên tôi sẽ là một trong số những người mà các ông phỏng vấn.

Modig lao vội dọc hành lang vào phòng họp đúng lúc các bạn đồng nghiệp đã yên vị. Chị ngồi cạnh Bublanski, ông đã triệu tập toàn nhóm, gồm cả người chỉ đạo cuộc điều tra sơ bộ, về dự. Faste nhìn kháy chị rồi lại chú ý tới việc mở đầu; ông là người yêu cầu họp. Ông đã lục lọi kỹ qua hết các năm đối chiếu giữa giấy tờ phúc lợi xã hội và Salander - việc mà ông gọi là “lõng bệnh lý tâm thần” - và chắc ông đã cố thu thập được một nắm tư liệu ra trò. Faste dặng hắng rồi quay sang người ở bên phải ông. - Đây là bác sĩ Peter Teleborian, bác sĩ trưởng khoa ở bệnh viện tâm thần Thánh Stefan. Ông đã có nhã ý xuống Stockholm tham dự cuộc điều tra và nói với chúng ta những gì ông biết về Lisbeth Salander.

Modig quan sát bác sĩ Teleborian. Ông ta thấp lùn, tóc nâu quăn, kính gọng sắt và một bộ râu dê con con. Ông ăn mặc tùy tiện với jacket nhung kẻ màu be, quần jean, và sơ mi kẻ dọc xanh nhạt cài khuy ở cổ. Nét mặt ông sắc cạnh và nom vẻ như chàng trai trẻ trung. Modig đã mấy lần chạm mặt ông nhưng chưa nói chuyện với ông bao giờ. Ông đã lên lớp giảng về những nhiễu loạn tâm thần khi chị đang ở học kỳ cuối cùng của học viện cảnh sát. Và một lần khác ở một lớp học mà ông nói về người mắc bệnh tâm thần và ứng xử có mang bệnh lý tâm thần của thanh niên. Chị cũng đã dự phiên xét xử một kẻ hiếp dâm hàng loạt mà Teleborian được triệu đến làm nhân chứng chuyên môn. Từng tham gia các cuộc thảo luận công cộng trong nhiều năm, Teleborian là một trong những bác sĩ tâm thần nổi tiếng nhất ở Thụy Điển. Ông dựng nên tên tuổi của mình khi chỉ trích gay gắt việc cắt giảm ngân sách trong sự nghiệp chăm sóc tâm thần dẫn tới các bệnh viện tâm thần bị đóng cửa. Những người rõ ràng cần chăm sóc đã bị bỏ rơi ngoài đường phố, bị buộc phải trở thành những trường hợp nhận phúc lợi vô gia cư. Từ cuộc ám sát bà Bộ trưởng Ngoại giao Anna Lindt, bác sĩ Teleborian đã là thành viên của một ban chính phủ báo cáo về sự đi xuống của việc chăm sóc tâm thần. Teleborian gật đầu chào cả nhóm rồi rót nước khoáng vào một cốc nhựa. - Chúng ta hãy xem liệu rồi tôi có đóng góp được cái gì không đây. - Ông thận trọng mở đầu. - Trong những trường hợp như thế này, tôi ghét các tiên đoán của tôi cứ nhất định phải là đúng.

- Các tiên đoán? - Bublanski nói. - Vâng. Đó là tôi châm biếm. Tối hôm có vụ án mạng ở Enskede, tôi đang thảo luận trên tivi về bom định giờ, nó đang cứ tích tắc gần như khắp mọi nơi trong xã hội chúng ta. Cái này đáng sợ chứ. Ngay lúc đó tôi không nghĩ đặc biệt đến Salander nhưng tôi đưa ra một số thí dụ - dĩ nhiên với tên giả - của những người bệnh hoàn toàn đơn giản là phải nhập viện chứ không được tự do ở trên đường phố chúng ta. Tôi đã ước đoán riêng trong năm ấy thôi cảnh sát sẽ phải giải quyết năm sáu vụ án mạng hay giết chóc mà kẻ sát nhân nằm trong số lượng nho nhỏ các người bệnh này. - Và ông nghĩ Salander là ở trong số những người tàng tàng ấy? - Faste hỏi.

- “Tàng tàng” không phải là thuật ngữ chúng tôi dùng. Vâng, không nghi ngờ gì nữa cô ấy chính là một trong những cá nhân hay lên cơn lên cớ mà nếu như trách nhiệm rơi vào tôi thì tôi sẽ không để cho lang thang ngoài xã hội. - Ông nói là cần nhốt cô ấy lại để cho khỏi gây nên tội ác ư? - Modig nói. - Điều đó thực sự không phù hợp với các nguyên tắc về một xã hội cai trị bằng pháp quyền. Faste cau có, nhìn chị với con mắt bẩn thỉu. Modig thầm hỏi tại sao Faste luôn có vẻ đối địch với chị đến thế.

- Chị hoàn toàn đúng. - Teleborian nói, tình cờ cứu chị. - Điều đó không tương hợp với một xã hội dựa trên pháp quyền, ít nhất không ở cái dạng hiện nay. Đây là một hành vi làm cho cân bằng sự kính trọng cá nhân với sự kính trọng các nạn nhân tiềm ẩn, cái cân bằng mà một người bệnh tâm thần có thể bỏ được bệnh theo gương đó. Mỗi trường hợp lại một khác, mỗi người bệnh lại cần điều trị trên một cơ sở cá nhân. Không tránh được ở lĩnh vực tâm thần chúng tôi cũng đã phạm phải những sai lầm để rồi đã đem thả ra những người không nên cho đi lại ngoài đường phố. - Thôi, tôi nghĩ chúng ta không cần đi sâu vào các chính sách xã hội ở đây. - Bublanski thận trọng nói. - Dĩ nhiên. - Teleborian nói. - Chúng ta đang giải quyết một vụ đặc biệt. Nhưng xin để cho tôi nói rằng điều quan trọng với tất cả các vị là hiểu Lisbeth Salander là một người bệnh cần trông nom, chẳng khác bất cứ người bệnh đau răng hay đau tim nào cũng đều cần trông nom vậy. Cô ấy có thể sẽ khỏe mạnh nếu như cô ấy đã nhận được sự trông nom mà cô ấy cần đến trong lúc còn có thể điều trị.

- Vậy ông không phải là bác sĩ của cô ấy. - Faste nói. - Tôi ở trong số những người liên quan đến trường hợp của Lisbeth Salander. Lúc mới vào tuổi mười mấy cô ấy là người bệnh của tôi và tôi là một trong các bác sĩ đánh giá cô ấy trước khi quyết định cho giám hộ Salander lúc cô ấy bước sang tuổi mười tám. - Ông có thể cho chúng tôi đôi chút lai lịch của cô ấy không? - Bublanski nói. - Cái gì khiến cô ấy giết hai người mà cô ấy không quen biết, và cái gì làm cho cô ấy giết người giám hộ của cô ấy?

Bác sĩ Teleborian cười thành tiếng. - Không, tôi không bảo ông cái đó được, tôi đã không theo dõi sự phát triển của cô ấy trong mấy năm rồi, tôi không biết hiện nay bệnh tâm thần của cô ấy đang ở giai đoạn nào. Nhưng tôi có thể không mảy may nghi ngờ mà bảo ông rằng cô ấy có quen biết cặp nam nữ ở Enskede đấy. - Cái gì làm cho ông chắc chắn như vậy? - Faste nói.

- Một trong những thiếu sót trong điều trị cho Lisbeth Salander là không hội chẩn toàn diện được cho cô ấy. Đó là do cô ấy không tiếp thu điều trị. Cô ấy luôn từ chối trả lời hay không chịu tham gia vào bất cứ liệu pháp nào. - Vậy nên cô ấy có bệnh hay không, ông không biết? - Modig nói. - Ý tôi nói là nếu như đã không có bất cứ hội chẩn nào cho cô ấy. - Xin nhìn chuyện này theo cách này. - Bác sĩ Teleborian nói. - Ngay lúc Lisbeth Salander sắp vào tuổi mười ba thì tôi nhận cô ấy. Cô ấy có bệnh tâm thần, rõ ràng để lộ ra ứng xử kiểu bị ám ảnh và bị tâm thần phân lập. Sau khi nhập viện ở Thánh Stefan, cô ấy là bệnh nhân của tôi trong hai năm. Lý do cho cô ấy nhập viện là suốt tuổi ấu thơ cô ấy đã tỏ ra có ứng xử hung bạo quá đỗi với các bạn học, thầy cô và người quen biết. Người ta báo cáo cô ấy đã hành hung lặp đi lặp lại nhiều lần. Theo chúng tôi biết, thì trong mỗi trường hợp, bạo lực đều hướng vào những người thuộc về nhóm của riêng mình, tức là chống lại những người cô ấy biết là đã nói hay làm cái gì đó mà cô ấy coi là một lăng mạ. Không có trường hợp nào cô ấy tấn công người lạ. Vì thế tôi tin là giữa cô ấy với cặp nạn nhân ở Enskede là có liên quan với nhau.

- Trừ lần hành hung trong đường xe điện ngầm khi cô ấy mười bảy tuổi. - Faste nói. - À, lần đó cô ấy là người bị tấn công và cô ấy tự vệ. - Teleborian nói. - Nên nói rõ là chống lại một kẻ xúc phạm tính dục. Nhưng đây cũng là gương ứng xử tốt của cô ấy. Cô ấy có thể bỏ đi hay tìm chỗ ẩn nấp trong hành khách trên toa xe. Đằng này cô ấy lại đáp trả bằng phản công có tình tiết nặng thêm. Khi cảm thấy bị uy hiếp cô ấy phản ứng lại bằng bạo hành quá đáng. - Vậy vấn đề thực sự của cô ấy là gì đây? - Bublanski nói.

- Như tôi nói, chúng tôi đã không hội chẩn thực sự được cho cô ấy. Tôi có thể nói là do bị tâm thần phân lập cô ấy cứ chung chiêng liên tục trên bờ vực của bệnh tâm thần. Cô ấy thiếu sự đồng cảm và ở nhiều mặt có thể miêu tả là một người có bệnh lý xa lánh xã hội. Thật thà mà nói, bắt đầu từ mười tám tuổi cô ấy đã phấn đấu rất giỏi. Mặc dù bị giám hộ mà suốt tám năm hoạt động trong xã hội cô ấy không có làm một điều gì khiến cảnh sát phải lập biên bản hay bắt giam. Nhưng dự đoán bệnh của cô ấy… - Dự đoán bệnh của cô ấy sao? - Trong tất cả thời gian này, cô ấy không được điều trị tí nào. Toi đoán hiện căn bệnh mà chúng tôi có thể điều trị và chữa khỏi mười năm trước đang là một phần cố định trong nhân cách cô ấy. Tôi nhìn trước thấy rằng nếu có bị bắt thì cô ấy sẽ cần được điều trị chứ không phải là nhận một bản án tù.

- Vậy tại cái quỷ gì mà tòa án quận lại cho cô ấy được tự do chuyển sang bên xã hội? - Faste nói. - Có lẽ nên nhìn chỗ này như là sự việc tình cờ gặp nhau. Cô ấy có một luật sư, một luật sư hùng biện, nhưng chuyện này cũng là kết quả của các chính sách tự do hóa hiện hành và các cắt giảm ngân sách. Khi một bác sĩ pháp y hỏi ý kiến, tôi đã phản đối quyết định cho cô ấy sang bên xã hội. Nhưng tôi đã chả còn gì để nói nữa về chuyện này. - Nhưng kiểu tiên đoán bệnh này nhiều phần chỉ là đoán mò hoàn toàn, ông có nghĩ thế không? - Modig nói. - Ông thực sự không biết được những gì xảy ra với cô ấy từ năm cô ấy mười tám tuổi rồi mà.

- Đây là dựa trên kinh nghiệm nghề nghiệp của tôi, còn hơn cả phỏng đoán. - Cô ấy có là người tự hủy hoại mình không? - Bà muốn nói tôi có thể miêu tả cô ấy đã làm cái chuyện tự sát chứ gì? Không, tôi ngờ chuyện đó. Cô ấy là người mắc bệnh tâm thần thuộc loại có ý thức cá nhân rất rõ. Về cô ấy thì tất cả là như thế thôi. Mọi người ở xung quanh đều không quan trọng với cô ấy.

- Ông nói cô ấy có thể phản ứng đến mức quá quắt. - Faste nói. - Nói cách khác, chúng ta có nên coi cô ấy là nguy hiểm không? Teleborian nhìn Faste hồi lâu. Rồi ông cúi xuống xoa xoa trán. - Ông không biết rằng nói chính xác về phản ứng của một người nó như thế nào là khó khăn à. Tôi không muốn Lisbeth Salander bị khổ khi ông bắt cô ấy… nhưng có, vâng, nếu bắt cô ấy thì tôi sẽ cố tin chắc chắn rằng ông đã làm vô cùng thận trọng. Nguy cơ rất hiện thực là nếu có vũ khí thì cô ấy có thể sử dụng vũ khí.

CHƯƠNG 18 Thứ Ba, 29 tháng Ba Thứ Tư, 30 tháng Ba

Ba cuộc điều tra đồng hành vào vụ giết hai người ở Enskede đã được xới lên. Cuộc điều tra của thanh tra Bong bóng hưởng lợi thế của nhà chức trách. Ngoài mặt, giải pháp nom như đang trong tầm tay; họ có một nghi can và một vũ khí gây án dính líu đến nghi can. Họ có một móc nối vững chắc với nạn nhân đầu tiên còn với hai nạn nhân khác thì qua Blomkvist họ có một móc nối kém chặt chẽ hơn nhưng là có thể được. Bây giờ cơ bản với Bublanski là tìm Salander rồi đưa cô ta vào một xà lim trong nhà tù Kronoberg. Điều tra của Armansky về hình thức lệ thuộc vào điều tra của cảnh sát nhưng ông có lịch nghị sự riêng. Mục tiêu của ông là thấy ra các lợi ích của Salander - để phát hiện ra sự thật và tốt nhất là sự thật ở dạng của một hoàn cảnh giảm khinh khả dĩ thuyết phục được. Điều tra của Millennium thì khó khăn. Tờ tạp chí rõ ràng thiếu các nguồn lực của cảnh sát và tổ chức của Armansky. Nhưng không giống như cảnh sát, trước hết Blomkvist không chú ý dựng ra một kịch bản hợp lý về việc vì sao Salander lại đã có thể xuống tận Enskede để giết hai người trong số bạn bè của anh. Trong cả cuối tuần Phục sinh anh đã cả quyết là đơn giản không tin vào điều này. Nếu Salander dính líu như thế nào đó vào vụ án mạng thì chắc phải có những cơ sở hoàn toàn khác với những cơ sở mà cảnh sát gợi ý ra - cầm súng là một ai đó khác hay một cái gì đó đã xảy ra và vượt khỏi sự kiểm soát của Salander.

Hedstrom không nói năng trong suốt cuốc taxi từ Slussen đến Lungsholmen. Cuối cùng gã ngớ ra và hoàn toàn không tin rằng mình lại đi làm một cuộc điều tra đích thị là của cảnh sát. Gã liếc Bohman đang đọc lại giấy giới thiệu của Armansky. Rồi thình lình gã tự mỉm cười với mình. Nhiệm vụ này đã đem lại cho gã cơ hội mới tinh để thực hiện một tham vọng mà cả Armansky lẫn Bohman đều không biết gì hết. Gã sắp có cơ may tự tay nắm được thóp của Salander. Gã hết lòng hy vọng mình có thể giúp tóm được cô gái. Trên hết, gã hy vọng là cô gái sẽ bị tuyên án tù chung thân. Chuyện Salander không được ưa thích ở Milton thì ai cũng rõ. Phần lớn nhân viên không có liên quan gì đến cô đều nghĩ cô là cái nợ. Nhưng không ai biết Hedstrom hận ghét cô sâu sắc đến thế nào.

Cuộc đời đã không công bằng với Hedstrom. Gã đẹp trai, gã đang ở tuổi sung sức nhất và cũng thông minh nữa. Nhưng gã đã bị khước từ mất khả năng trở thành điều mà gã mong mỏi - một cảnh sát viên. Cái gót Achilles của gã là một cái lỗ cực kỳ bé ở màng ngoài tim, nó gây nên tiếng rì rầm của quả tim và nó có nghĩa là vách tâm thất đã sinh chuyện. Hedstrom đã phẫu thuật, vấn đề đã được sửa chữa, nhưng có một khuyết tật ở tim thì có nghĩa là mãi mãi gã sẽ bị tước bỏ mất một chỗ trong lực lượng cảnh sát. Gã bị gạt xuống hàng hai. Khi được dịp may làm việc với An ninh Milton, gã đã chấp nhận nhưng không hề phấn khởi chút nào. Milton là bãi rác của các dân hết thời - sĩ quan cảnh sát quá già, không còn thích hợp với công việc nữa. Hedstrom cũng bị cảnh sát đẩy đi - nhưng trong trường hợp gã thì không phải do lỗi của bản thân. Khi khởi sự ở Milton, một trong những nhiệm vụ đầu tiên và cũng thực sự là một phần rèn luyện của Hedstrom là làm với đơn vị tác chiến về phân tích công việc bảo vệ cá nhân cho một nữ ca sĩ già nổi tiếng. Một tay ngưỡng mộ quá phấn khích đã làm cho bà khiếp sợ, tay này tình cờ cũng lại là một bệnh nhân tâm thần đang lênh phênh tự do. Nữ ca sĩ sống một mình ở một biệt thự tại Sodertorn, Milton đã bố trí thiết bị kiểm soát và báo động cho một vệ sĩ đến hiện trường. Một đêm, kẻ ngưỡng mộ dở dở ương ương đã cố đột nhập. Người vệ sĩ dễ dàng bắt được hắn ta và hắn đã nhanh chóng bị kết án đe dọa phi pháp cùng xộc vào nhà người khác và bị đưa về bệnh viện tâm thần.

Trong hai tuần Hedstrom đều đặn đến toàn biệt thự ở Sodertorn cùng với các nhân viên khác của Milton. Gã nghĩ nữ ca sĩ là một ả già lập dị muốn chơi trội, khi gã phớt lờ mồi chài của mụ thì mụ chỉ dành cho gã cái nhìn ngơ ngác. Mụ nên biết ơn rằng đã có một kẻ ngưỡng mộ còn ít nhiều nhớ đến mụ. Hedstrom ghét cái cách Milton vồ lấy lệnh của mụ mà chấp hành. Nhưng dĩ nhiên gã nghĩ sao thì biết vậy chứ không có nói ra. Một buổi chiều, trước khi kẻ đột nhập bị bắt, nữ ca sĩ và hai nhân viên của Milton đang ở bên bể bơi và Hedstrom ở trong nhà chụp ảnh những cửa sổ và cửa ra vào có thể cần gia cố. Gã đi từng phòng một, khi đến phòng ngủ gã không cưỡng nổi được cơn cám dỗ mở bàn làm việc của bà ta ra. Gã tìm thấy một tá album ảnh từ thời bà còn là một ngôi sao lớn, những năm 70, 80 đi lưu diễn khắp thế giới. Gã cũng tìm thấy một hộp với một số bức ảnh rất riêng tư của nữ ca sĩ. Những bức ảnh tương đối hồn nhiên nhưng với đôi chút tưởng tượng, người ta có thể coi chúng là các “nghiên cứu khiêu dâm”. Chúa ơi, sao con bò cái này nó lại ngu si thế chứ hả? Hedstrom ăn cắp năm bức có cơ gây lôi thôi nhất, những bức rõ ràng do vài ba người tình hay quý mến bà chụp. Gã chụp ngay tại chỗ các bức ảnh đó và để lại như cũ các bản gốc. Gã chờ vài tháng mới bán chúng cho một tờ báo lá cải khổ nhỏ của Anh. Gã được trả 9.000 bảng Anh và các bức ảnh đã làm rộ lên những đầu đề giật gân.

Hedstrom vẫn không biết làm sao Salander lại mò ra chuyện này, nhưng sau khi các bức ảnh lên báo, cô đã đến thăm gã. Cô biết Hedstrom là người đã bán chúng. Nếu gã còn làm lại trò ấy nữa, cô sẽ vạch nó ra với Armansky. Cô có thể vạch ra tức khắc nếu cô có tang chứng nhưng rõ là cô không có. Từ hôm ấy gã cảm thấy bị cô theo dõi. Mỗi lần quay đầu lại, gã đều nhìn thấy đôi mắt một mí ti hí của cô. Hedstrom cảm thấy căng thẳng và suy sụp. Cách duy nhất để trả miếng là phá uy tín của cô bằng cách góp phần vào những lời ong tiếng ve về cô ở trong căng tin. Nhưng cả việc ấy cũng không kết quả lắm. Hedstrom không dám để cho mình bị chú ý do chỗ cô đã được Armansky che chở vì một vài lý do không rõ nào đó. Gã nghĩ cô đã nắm gáy được ông giám đốc công ty bằng kiểu nào hay có thể lão đã bí mật tình tang với nó. Nhưng dù không ai ở Milton đặc biệt mê mết Salander thì tất cả nhân viên lại đều hết sức kính trọng Armansky và vì vậy họ chấp nhận sự có mặt kỳ lạ của cô. Hedstrom đã cảm thấy vô cùng nhẹ người khi vai trò của cô bắt đầu giảm đi rồi cuối cùng cô gần như thôi làm việc ở Milton. Bây giờ một cơ hội tự dưng đến để cho gã san bằng đi món nợ cũ. Mà lại không sợ rủi ro gì. Cô có thể kết tội gã thế nào tùy thích - chả còn ai tin cô. Ngay cả Armansky cũng sẽ không nghe một câu nào của một kẻ sát nhân bệnh hoạn.

Bublanski trông thấy Faste ở trong thang máy đi ra cùng với Bohman và Hedstrom ở An ninh Milton. Faste đã được phái xuống đưa các bạn đồng nghiệp mới này lên qua hàng rào an ninh. Bublanski hoàn toàn không thích thú việc cho người bên ngoài tham dự một cuộc điều tra án mạng nhưng quyết định đã được đặt ra ở trên đầu ông… và quỷ quái thế chứ, Bohman lại là một sĩ quan cảnh sát thực thụ với nhiều dặm đường đã đi trước ông, Hedstrom đã tốt nghiệp học viện cảnh sát và như vậy thì không thể là một thằng ngu đặc được rồi. Bublanski chỉ vào phòng họp. Cuộc săn lùng Salander đã vào ngày thứ sáu và đã đến lúc cần có một đánh giá cơ bản. Công tố viên Ekstrom không dự họp. Nhóm gồm có các thanh tra hình sự Modig, Faste, Andersson và Holmberg, bốn sĩ quan tăng cường từ đơn vị nghiên cứu điều tra của Cảnh sát Hình sự Quốc gia. Mở đầu, Bublanski giới thiệu các đồng nghiệp mới từ An ninh Milton và hỏi có ai trong họ muốn nói gì không. Bohman dặng hắng. - Tôi mới đến tòa nhà này một lúc nhưng một số các bạn đã biết tôi và biết tôi trong nhiều năm là sĩ quan cảnh sát trước khi tôi đổi sang khu vực tư nhân. Lý do chúng tôi ở đây là vì Salander đã làm việc cho Milton mấy năm và chúng tôi cảm thấy một chừng mực nào đó có trách nhiệm. Việc của chúng tôi được miêu tả là cố gắng hỗ trợ quá trình bắt cô ta. Chúng tôi có thể góp đôi điều hiểu biết cá nhân về cô ta nhưng chúng tôi đến đây không phải là để làm rối cuộc điều tra lên hay cố ngáng cản các bạn bằng cách này cách nọ.

- Để cùng làm việc thì hãy bảo chúng tôi xem cô ấy là thế nào? - Faste nói. - Cô ấy đúng không phải là người mà ông có thiện cảm được. - Hedstrom nói. Gã dừng lại khi Bublanski giơ tay. - Chúng ta sẽ có dịp nói chi tiết trong hội nghị. Nhưng chúng ta hãy lần lượt làm từng thứ và đến đâu thì dứt điểm ở đấy. Sau cuộc họp này chúng ta sẽ phải đến công tố viên Ekstrom ký một bản tuyên bố về bảo mật. Nào Sonja hãy bắt đầu.

- Đáng nản. Sau các vụ án mạng vài giờ chúng ta đã đột phá và nhận diện được Salander. Chúng ta đã tìm ra chỗ cô ấy ở - hay ít nhất là chỗ mà chúng ta nghĩ rằng cô ấy ở. Rồi thì không một dấu vết nữa. Chúng ta đã nhận được ba chục người gọi đến nghĩ rằng họ trông thấy cô gái nhưng cho đến nay thì thấy rõ đều là báo động hoắng cả. Cô ta hình như đã tan ra thành mây khói. - Có một chút hơi khó tin ở chỗ này. Cô ấy nom khá là khác người, xăm mình xăm mẩy thì thực sự đâu có đến nỗi khó tìm ra như thế. - Andersson nói. - Cảnh sát ở Uppsala hôm qua sau một cảnh báo đã đến cùng với vũ khí của họ mang theo. Họ quây một cậu bé mười bốn tuổi lại vì cậu ta nom rất giống Salander rồi làm cho cậu bé sợ mất mật. Bố mẹ cậu ta hoàn toàn sững sờ.

- Tìm một người nom giống một thiếu niên mười bốn tuổi là một điều bất lợi rồi. Cô ta có thể hòa lẫn vào trong bất cứ đám đông mười mấy tuổi nào. - Nhưng cô ta đang được chú ý trên các phương tiện thông tin thì chắc rồi một ai đó cũng sẽ nhìn thấy cái gì đó thôi. - Andersson nói. - Họ đang đăng ảnh cô ta trên tờ Người được truy nã nhất ở Thụy Điển tuần này, vậy có thể sẽ dẫn đến một cái gì đó mới. - Xem vẻ khó đấy vì cô ấy đã leo lên trang nhất của các báo trong nước hết cả rồi còn gì. - Faste nói.

- Như vậy gợi ý cho chúng ta là nên thay đổi cách tiếp cận. - Bublanski nói. - Có đồng phạm cô ấy có thể đã lỏn ra nước ngoài, nhưng chắc chắn hơn thì cô ấy đã ẩn núp. Bohman giơ tay. Bublanski gật đầu. - Theo những nét đại cương chúng ta có về cô ấy thì cô ấy có tính khí tự phá phách. Mặt khác cô ấy là một nhà chiến lược thận trọng tự đặt lấy kế hoạch cho mọi hành động của mình. Cô ấy không làm gì mà không phân tích hậu quả. Ít nhất thì đó là điều Dragan Armansky nghĩ về cô ấy.

- Bác sĩ tâm thần một dạo của cô ấy cũng xác nhận như thế. Nhưng chúng ta hãy thôi chuyện xem xét tính cách đi một lúc nhỉ. - Bublanski nói. - Sớm muộn thế nào cô ấy cũng phải đi lại xê dịch. Jerker, nguồn lực mà cô ấy có là kiểu gì? - Đây là một món rối, các vị có thể bù đầu lên với nó đây. - Holmberg nói. - Cô ấy có một tài khoản ngân hàng ở Handelsbanken trong mấy năm. Đó là thu nhập mà cô ta khai. Hay đúng hơn, cái thu nhập mà người giám hộ của cô ấy, Nils Bjurman khai. Một năm trước tài khoản ước khoảng 100.000 curon. Mùa thu 2003, cô ấy rút hết ra. - Mùa thu 2003 cô ấy cần tiền mặt. Lúc đó cô ấy thôi làm việc cho Milton. - Bohman nói.

- Có thể. Trong chừng hai tuần tài khoản là không. Rồi cô ấy lại đưa từng ấy trở lại về tài khoản. - Cô ấy ngỡ cần tiền cho một việc gì đó nhưng rồi không tiêu đến nên gửi lại chăng? - Có thể. Tháng Chạp 2003, cô ấy dùng tài khoản để thanh toán một số biên lại hóa đơn, bao gồm cả tiền cô ấy chi trả trước trong một năm. Tài khoản tụt xuống còn 70.000 curon. Sau đó tài khoản không bị đụng đến trong một năm, trừ có gửi thêm vào khoảng 9.000 curon. Tôi đã kiểm tra - đây là di sản của mẹ mà cô ấy được hưởng. Tháng Ba năm ấy, cô ấy lấy khoản tiền đó ra - chính xác là 9.312 curon - và đó là lần duy nhất cô ấy đụng đến tài khoản.

- Thế thì sống bằng cái quỷ gì chứ? - Nghe đây. Tháng Giêng năm ấy cô ấy mở một tài khoản mới. Món này ở ngân hàng Svenska Enskilkda Banken. Cô ấy gửi hai triệu curon vào. - Tiền ở đâu ra vậy? - Modig nói.

- Tiền này do một ngân hàng ở quần đảo Channel chuyển đến. Im lặng buông xuống gian phòng họp, sau một lúc Modig nói: - Tôi chả hiểu gì hết.

- Vậy đây là tiền cô ấy chưa khai? - Bublanski hỏi. - Không khai, nhưng về danh nghĩa sang năm cô ấy mới cần khai. Lý thú là trong báo cáo của Bjurman về tài sản của cô ấy không thấy ghi nhận món tiền này, mà hàng tháng ông ấy vẫn gửi báo cáo này đi. - Vậy là hoặc ông ta biết hay không biết chuyện đó thì cả hai đang cùng nhau chơi một trò gian. Jerker, chúng ta có những gì về pháp y ở đây nhỉ?

- Tôi có một báo cáo của người chỉ đạo cuộc điều tra sơ bộ tối qua. Chúng ta được biết thế này: Một: chúng ta có thể cột Salander vào cả hai hiện trường gây án. Chúng ta tìm thấy dấu vân tay của cô ấy trên vũ khí gây án và trên mảnh của một tách cà phê vỡ ở Enskede. Chúng ta đang chờ kết quả từ mọi mẫu ADN thu thập được nhưng về việc cô ấy đã ở trong căn hộ thì chả còn nghi ngờ gì cả. Hai: chúng ta có dấu vân tay của cô ấy trên cái hộp tìm thấy ở nhà Bjurman, cái hộp đựng vừa khẩu súng. Ba: cuối cùng chúng ta có một nhân chứng có thể đặt cô ấy vào địa điểm của vụ giết hai người ở Enskede. Chủ một cửa hàng góc phố gọi điện thoại nói dứt khoát là Salander đã ở cửa hàng của ông cái đêm xảy ra án mạng. Cô ta đã mua một bao Marlboro Nhẹ. - Và sau bao nhiêu ngày chúng ta xin thông tin, ông ta mới tương ra ư? - Ông ấy vẫn nghỉ lễ như mọi người khác. Dù sao. - Holmberg chỉ tay vào bản đồ. - Cửa hàng góc phố ở đây, cách hiện trường gây án chừng hai trăm mét. Cô ấy đến đúng lúc ông ta đóng cửa hàng, 10 giờ tối. Theo ông ta tả thì hoàn toàn là cô ấy rồi.

- Hình xăm trên cổ? - Andersson nói. - Chỗ này ông ấy hơi lơ mơ. Ông ấy nghĩ có hình xăm, nhưng ông ấy dứt khoát thấy mí mắt cô ấy có lỗ đeo khoen. - Còn gì khác không?

- Về mặt chứng cứ kỹ thuật thì không nhiều. Nhưng đứng vững. - Faste, tình hình căn hộ ở Lundagatan thế nào? - Chúng tôi đã có dấu vân tay Salander nhưng chúng tôi nghĩ cô ấy không sống ở đấy. Chúng tôi đã lục tung tất cả chỗ ấy lên và hình như Miriam Wu sống ở đó. Tên cô này gần đây hồi tháng Hai năm nay mới được cho thêm vào hợp đồng thuê nhà.

- Chúng ta biết gì về cô này? - Không có biên bản tiền án tiền sự. Được biết là đồng tính ái nữ. Cô ta xuất hiện ở các buổi diễn và tương tự đại loại Liên hoan Tự hào Đồng tính ái. Hình như đang học xã hội học và là chủ sở hữu một phần của Thời trang Domino, một cửa hàng tính dục ở Tegnergatan. - Cửa hàng tính dục? - Modig nhướng lông mày lên hỏi.

Đã một lần chị mua vài thứ lụa là đăng ten ở đây cho vừa ý chồng. Nhưng chị không muốn để lộ chuyện đó ra với cánh đàn ông trong phòng họp. - À, họ bán các thứ còng tay và dụng cụ, quần áo của gái làng chơi, đại khái thế. Có roi da không? - Không phải cửa hàng tính dục mà là cửa hàng thời trang cho những người thích quần áo lót khêu gợi.

- Cũng sa đọa như nhau cả thôi. - Tiếp tục đi. - Bublanski cáu kỉnh nói. - Có dấu hiệu nào của cô Wu không? - Không một tăm hơi.

- Có thể đã phới với Salander rồi. - Modig nói. - Hay là Salander cũng đã xơi cô ta rồi. - Faste nói. - Có thể Salander muốn thanh lọc hết các chỗ quen biết. - Wu là người đồng tính ái nữ. Chúng ta có nên kết luận hai người này cặp bồ với nhau không?

- Tôi nghĩ có thể kết luận là đã có quan hệ tính dục. - Andersson nói. - Thứ nhất chúng ta thấy dấu vân tay của Salander ở trên giường và xung quanh giường tại căn hộ. Chúng tôi cũng tìm thấy dấu vân tay của cô ấy trên cái còng số tám. - Vậy thì cô ấy sẽ thú cái còng tôi đã sẵn sàng cho cô ấy đây. - Faste nói. Modig làu bàu. - Tiếp tục. - Bublanski bảo Andersson.

- Chúng tôi nghe mách là có người trông thấy Miriam Wu hôn một cô gái ở Kvarnen, nghe tả thì hợp với Salander. Khoảng hai tuần trước đây. Người báo tin cho hay anh ta biết Salander là ai và trước kia có gặp nhau tuy cả năm ngoái anh ta không trông thấy cô ta. Tôi không có thì giờ kiểm lại kỹ với nhóm nhưng chiều nay tôi sẽ làm chuyện đó. - Trong sổ phúc lợi xã hội của cô ấy không ghi chuyện cô ấy là dân đồng tính ái nữ. Hồi còn mười mấy tuổi cô ấy đã có mấy lần bỏ các nhà trông nom cô ấy để đến các quan bar dụ đàn ông. Cảnh sát ghi nhận cô ấy đã mấy lần đi với những đàn ông già hơn. - Cái này mà không phải là điếm thì là cái khỉ chứ?

- Chúng ta biết gì về những người cô ấy quen biết? Curt? - Khó mà biết được chút gì. Từ khi mười tám tuổi cô ấy không còn vấp phải cảnh sát nữa rồi. Cô ấy biết Dragan Armansky và Mikael Blomkvist, chúng tôi biết thế. Và cô ấy biết Miriam Wu, dĩ nhiên. Cũng nguồn tin mách chúng ta chuyện cô ấy và Wu ở Kvarnen còn nói cô ấy trước kia có một thời gian hay tụ bạ với một đám con gái. Một kiểu băng nhóm con gái lấy tên là Những Ngón tay Ma quỷ. - Những Ngón tay Ma quỷ. Là cái gì vậy? - Bublanski hỏi.

- Một cái gì hình như huyền bí thì phải. Họ tụ tập lại rồi náo thiên náo địa. - Đừng có lại bảo tôi Salander cũng là một loại Quỷ dữ Satan chết giấp nữa đấy. - Bublanski nói. - Truyền thông đại chúng sắp hóa cuồng cả rồi đây. - Nhưng Quỷ Satan đồng tính ái nữ, - Faste nói, giọng đỡ đần.

- Hans, anh đã được xem các hình ảnh phụ nữ Trung cổ. - Modig nói. - Còn Những Ngón tay Ma quỷ thì tôi cũng đã có nghe. - Cô đã nghe à? - Bublanski nói. - Nó là một băng nhạc rock nữ cuối những năm 90. Không có siêu sao nhưng họ cũng đã nổi tiếng một dạo.

- Vậy là những Quỷ Satan đồng tính ái nữ nghiền nhạc rock. - Faste nói. - OK. Thôi nhăng nhít đủ rồi đấy. - Bublanski nói. - Hans, anh và Curt kiểm tra xem ai đã ở trong Những Ngón tay Ma quỷ rồi nói chuyện với họ. Salander còn có bạn bè nào khác không? - Không nhiều, trừ người giám hộ cũ của cô ấy, Holger Palmgren. Ông ấy đang điều dưỡng lâu dài sau một cú đột quỵ và có vẻ khá không ổn. Thật ra, tôi không thể nói tôi đã phong thanh được gì về một nhóm bạn nào như thế. Về chuyện này, chúng ta vẫn không biết Salander đang sống ở đâu, chúng ta cũng không thấy quyển ghi địa chỉ của cô ấy.

- Chẳng có ai đi đâu mà cứ như ma không để lại dấu vết thế này. Chúng ta nghĩ sao về Mikael Blomkvist? - Chúng ta không trực tiếp theo dõi anh ta nhưng trong dịp nghỉ lễ chúng ta đã đôi hồi kiểm tra anh ta. - Faste nói. - Phòng trường hợp bất ngờ Salander vọt ra, lý do như vậy. Thứ Năm anh ta đi làm rồi về nhà và hình như suốt cuối tuần không ra khỏi nhà. - Tôi không thấy được anh ta có liên quan gì đến các vụ án mạng. - Modig nói. - Chuyện anh ta khai là vững vàng đấy, anh ta có thể kể lại từng phút một cái đêm hôm ấy cơ mà.

- Nhưng anh ta biết Salander. Anh ta là mối dây liên hệ giữa cặp nam nữ ở Enskede kia và Salander. Ngoài ra chúng ta có lời anh ta khai về chuyện một người đàn ông tấn công Salander một tuần trước khi xảy ra vụ án mạng. Chúng ta hãy thử hiểu các cái đó là thế nào đi nhỉ? - Bublanski nói. - Trừ việc Blomkvist là nhân chứng duy nhất của vụ tấn công ra chứ? - Faste nói. - Ông nghĩ Blomkvist tưởng tượng ra chuyện hay là nói dối à?

- Không biết. Nhưng tôi nghe nó cứ như là chuyện con gà trống với con bò giái vậy. Một người hoàn toàn trưởng thành mà sao lại không bảo vệ được một cô gái bé chỉ có bốn chục ký cơ chứ? - Tại sao Blomkvist lại nói dối? - Để làm rối các ý nghĩ của chúng ta về Salander lên ư?

- Nhưng chả điều gì có ý nghĩa thực sự. Blomkvist giả định là các bạn của anh ta bị giết vì quyển sách mà Svensson đang viết. - Mách qué. - Faste nói. - Chỉ là Salander. Tại sao một người nào đó lại giết người giám hộ của mình, để bắt Dag Svensson câm miệng. Và đó có thể là ai khác nữa… hay là cảnh sát viên? - Nếu Blomkvist công khai đưa giả thiết của anh ta ra thì sẽ có ngay một đống các lý sự về chuyện cảnh sát thông đồng này nọ đây. - Andersson nói.

Tất cả bàn họp đều lầm rầm tỏ ý tán thành. - Được. - Modig nói. - Tại sao cô ta bắn Bjurman? - Và hình xăm có nghĩa gì đây? - Bublanski nói, chỉ tay vào bức ảnh chụp bụng dưới của Bjurman.

TÔI LÀ MỘT CON LỢN BẠO DM, MỘT ĐỨA SA ĐỌA, MỘT ĐỨA HIẾP DM. - Báo cáo của chuyên gia bệnh lý học nói sao? - Bohman nói. - Hình xăm có từ một đến ba năm. Người ta đo lượng máu chảy ở bên trong da mà biết. - Modig nói.

- Ta có thể loại đi cái khả năng rằng chức ấy phong cho Bjurman là xứng kỳ danh. - Quanh ta đầy trò điên khùng nhưng cái này thì sẽ không thành nổi mô típ chuẩn cho đám hăng hái xăm mình đâu. Modig ngoay ngoáy ngón tay trỏ.

- Chuyên gia bệnh lý học nói hình xăm ấy nom kinh khiếp, kinh khiếp thì ngay tôi cũng thấy. Vậy thì ắt nó là do một tay nghiệp dư chính cống làm. Kim vào nhiều chỗ nông sâu không đều và lại là một mảng xăm rất to ở trên một nơi nhạy cảm của cơ thể. Nói tóm lại là làm rất đau, so ngang được với một trận hành hung có tình tiết nặng. - Trừ việc Bjurman không bao giờ báo cáo với cảnh sát chuyện này. - Faste nói. - Nếu có ai xăm cho tôi như thế thì tôi cũng không báo cáo. - Andersson nói.

- Một điều nữa. - Modig nói. - Điều này có thể sẽ củng cố cho lời sám hối, như ta thấy, ở hình xăm. - Chị mở hồ sơ những bức ảnh in sao chuyển cho mọi người. - Đây là vài cái mẫu tôi in sao từ thư mục ở trên ổ cứng của Bjurman ra. Chúng được tải ở Internet xuống. Máy tính của ông ta chứa khoảng hai nghìn bức ảnh đều một tính chất này. Faste huýt sáo cầm lấy ảnh một phụ nữ bị trói trong tư thế thô lỗ và không thoải mái. - Đây có thể là món gì đó cho Thời trang Domino hay Những Ngón tay Ma quỷ đây. - Faste nói.

Bublanski khó chịu ra hiệu cho Faste im đi. - Chúng ta hãy giả thử hiểu cái này nó là thế nào đi chứ? - Giả định vết xăm đã được hai năm. - Bublanski nói. - Nó đã được làm quanh quẩn thời gian Bjurman ốm. Không có y bạ nào nói ông ta có bệnh gì, ngoài huyết áp cao. Vậy chúng ta có thể cho là đã có một móc nối.

- Salander đã thay đổi trong năm này. - Bohman nói. - Cô ta thôi làm việc cho Milton mà không báo trước, tôi hiểu là thế, rồi ra nước ngoài. - Chúng ta có nên cho rằng ở đây cũng có một móc nối không? Thông tin ở hình xăm nói trắng ra rằng Bjurman đã cưỡng hiếp một ai đó. Salander có thể đã là nạn nhân. Và đó là động cơ của vụ án mạng. - Dĩ nhiên còn có các cách diễn giải khác nữa. - Faste nói. - Tôi có thể hình dung ra một kịch bản trong đó Salander và cô gái Trung Quốc làm một loại dịch vụ đi cặp nào đó với dụng ý. Là một cha hám bạo hành gái, Bjurman có thể đã thoát được nạn bị đám con gái ranh chúng quất roi da vào người. Bằng cách nào đó, ông ta có thể đã bị lệ thuộc vào Salander và mọi sự rắc rối ra.

- Nhưng nói như thế thì vẫn không giải thích được vụ án mạng ở Enskede. - Nếu Svensson và Johansson sắp vạch chuyện buôn bán tính dục ra thì họ có thể đã vấp phải Salander và Wu. Động cơ của ông cho việc Salander gây án là thế đấy. - Cho đến nay điều này là suy đoán dở ẹc nhất. - Modig nói.

Cuộc họp kéo thêm một giờ nữa, cũng có bàn đến việc máy tính của Svensson bị mất. Khi nghỉ ăn trưa, họ đều nản. Cuộc điều tra lại mang nhiều dấu hỏi hơn trước. Vừa tới buồng giấy của mình, Berger liền gọi ngay Magnus Borsgjo, Tổng biên tập tờ Svenska Morgon - Posten. - Tôi thích thú đấy.

- Tôi đã nghĩ chị sẽ thích thú. - Tôi có ý ngay sau lễ Phục sinh sẽ để ông biết. Nhưng như ông biết đấy, ở đây chúng tôi đã bị rối tung rối mù lên. - Vụ giết Dag Svensson. Tôi rất buồn. Chuyện ghê gớm.

- Thế thì ông sẽ hiểu cho là nay không phải lúc tôi tuyên bố bỏ đi. Ông im lặng một lúc. - Chúng tôi có một vấn đề vào phút chót. - Borsgjo nói. - Lần trước chúng ta nói với nhau là công việc sẽ bắt đầu vào ngày 1 tháng Tám. Nhưng tình hình là Tổng biên tập của chúng tôi, Hakan Morander, người mà chị sẽ thay thì lại đang rất gay về sức khỏe. Tim ông ta có vấn đề, bác sẽ đề nghị ông ta phải ngừng làm việc ngay. Vì thế ông ấy định về hưu vào ngày 1 tháng Bảy này. Trước đây tôi nghĩ ông ta sẽ cứ ở lại đến mùa thu và chị thì có thể làm việc cặp với ông ta qua tháng Tám sang tháng Chín. Nhưng tình cảnh xoay ra như bây giờ thì chúng tôi đang khủng hoảng. Erika, chúng tôi sẽ phải cần chị bắt đầu từ ngày 1 tháng Năm, và chắc chắn không thể muộn được quá ngày 15 tháng Năm.

- Chúa ơi, chỉ còn ít tuần nữa thôi ư? - Chị vẫn hứng thú chứ? - Vâng, dĩ nhiên… nhưng như thế có nghĩa là tôi chỉ còn một tháng để thu xếp xong xuôi công việc ở Millennium đây.

- Tôi biết, tôi xin lỗi đã phải làm như thế, Erika, nhưng tôi cần thúc gấp chị. Với một tạp chí chỉ có năm, sáu nhân viên thì một tháng có thể cũng là đủ để sắp xếp xong được công việc. - Nhưng như thế cũng có nghĩa là đang giữa hồi nó khủng hoảng thì tôi bỏ. - Thế nào thì chị cũng cần phải bỏ đó thôi. Chúng tôi đang làm mọi cái để nhấc thời hạn chị lên đường được sớm hơn ít tuần.

- Tôi sẽ làm thế với điều kiện. - Xin cho biết. - Tôi sẽ phải ở lại trong ban lãnh đạo của Millennium.

- Như thế có lẽ không hợp. Dĩ nhiên Millennium bé hơn, ngoài ra chỉ là nguyệt san nhưng về danh nghĩa thì chúng ta cạnh tranh với nhau kia mà. - Điều đó là không thể tránh được. Tôi sẽ không liên quan gì đến công việc biên tập của Millennium nhưng tôi sẽ không bán cổ phần kinh doanh của tôi ở đó. Cho nên tôi phải ở lại ban lãnh đạo. - OK. Chúng ta chắc sẽ giải quyết được chỗ này.

Họ đồng ý họp với ban lãnh đạo của ông trong tuần đầu tiên của tháng Tư để thanh toán dứt điểm các chi tiết và dựng hợp đồng. Blomkvist có cảm giác déjà vu, “đã từng biết” khi anh nghiên cứu danh sách các nghi can mà anh và Eriksson đã lập nên trong hai ngày cuối tuần. Ba mươi bảy cái tên, tất cả đều là những người mà tên tuổi đã được Svensson đưa ra làm chứng cứ vững chắc trong quyển sách của anh. Trong số này hai mươi mốt người là các tay chăn dắt gái mà anh đã nhận diện được. Blomkvist nhớ lại chuyện anh lên đường lùng tìm tên giết người ở Hedestad hai năm trước như thế nào rồi do đó phát hiện ra một loạt gần như tới năm chục nghi can.

10 giờ sáng thứ Ba, Blomkvist gọi Eriksson vào buồng giấy của anh ở Millennium. Anh đóng cửa lại khi chị đã vào. Họ ngồi uống cà phê một lúc. Rồi anh đưa cho chị bản danh sách. - Chúng ta nên làm gì? - Eriksson nói. - Trước hết chúng ta nên đưa danh sách này cho Erika - có thể mười phút nữa. Rồi chúng ta soát lại từng người một. Nếu như có thể, mà thậm chí còn chắc chắn nữa, thì một trong những người này có quan hệ với ba vụ giết người.

- Và làm sao chúng ta soát được ra chúng? - Tôi nghĩ là tập trung vào hai mươi mốt tên chăn dắt gái. Chúng có nhiều cái để mất hơn là bọn khác. Tôi nghĩ là hãy đi theo dấu chân của Dag, gặp từng đứa một. - Còn tôi làm gì?

- Hai việc. Thứ nhất, trong này có bảy người chưa nhận diện được: hai tên chăn dắt gái và năm đứa khác cũng trong nghề. Nhiệm vụ của cô trong hai ngày tới là cố nhận diện ra chúng. Một số cái tên đã có ở trong luận án của Mia; có thể có những cách đối chiếu giúp cô tìm ra tên thật của chúng. Thứ hai, chúng ta biết rất ít về Nils Bjurman, người giám hộ của Salander. Trong các giấy tờ này có một sơ yếu lý lịch nhưng tôi đoán một nửa của nó là bịa. - Vậy tôi phải truy cho ra lai lịch của ông ta. - Đúng thế. Càng nhiều càng tốt.

Harriet Vanger gọi Blomkvist lúc 5 giờ chiều. - Anh nói chuyện được không? - Một chút thôi nhá.

- Cô gái mà cảnh sát đang tìm… cũng là cô gái đã giúp anh dò ra tôi đấy phải không? Harriet Vanger và Salander chưa gặp nhau. - Đúng đấy. - Blomkvist nói. - Tôi xin lỗi bận quá không gọi được để cập nhật tình hình cho chị. Nhưng đúng là cô ấy đấy.

- Thế thì có nghĩa làm sao nhỉ? - Liên quan gì đến chị không ấy hả? Không, tôi hy vọng thế. - Nhưng cô ấy biết hết về tôi và những gì đã xảy ra.

- Đúng, cô ấy biết hết những gì đã xảy ra. Đằng đầu dây Harriet im lặng. - Harriet, tôi nghĩ cô ấy không làm chuyện kia đâu. Tôi đang cố thuyết phục là cô ấy vô tội trong các vụ án mạng kia. Tôi tin cô ấy.

- Nếu tôi tin những gì báo chí nói thì… - Chị đừng tin những gì báo chí nói. Chừng nào liên quan đến chị thì hoàn toàn đơn giản thôi mà: cô ấy cam đoan im lặng. Tôi tin cô ấy sẽ giữ lời cho đến chết. Qua những cái tôi biết về cô ấy, tôi biết cô ấy là người cực kỳ có nguyên tắc. - Là nếu cô ấy không gây ra các vụ kia?

- Tôi không biết, Harriet. Tôi đang làm mọi cái thuộc thẩm quyền tôi để tìm hiểu chuyện gì đã xảy ra thực sự. Và chị đừng có lo. - Tôi không lo nhưng tôi muốn chuẩn bị đón chuyện xấu nhất. Anh chống đỡ ra sao, Mikael? - Tàm tạm. Chúng tôi đang xoay như chong chóng đây.

- Mikael… ngay lúc này tôi đang ở Stockholm. Mai tôi bay đi Úc - tôi đi chừng một tháng. - Tôi hiểu. - Tôi ở khách sạn.

- Harriet, tôi không rõ. Tôi cảm thấy tôi bị dàn mỏng dính ra thật rồi. Đêm nay tôi phải làm việc và tôi không làm bạn đồng hành tốt lắm được đâu. - Anh không cần phải là bạn đồng hành tốt. Cứ đến và nhàn nhã một lúc đi. Mikael về nhà lúc 1 giờ sáng. Anh mệt và cảm thấy như đang muốn tung hê mọi cái mà đi ngủ nhưng anh lại mở iBook xem thư điện tử. Không có thư mới nào đáng nói.

Mở thư mục anh thấy một dữ liệu mới. Nó có tên [Gửi MikBlom], cạnh cái tệp mà anh gọi là [Gửi Sally]. Anh gần như bị một cú sốc về thể xác khi thấy dữ liệu này trên máy tính của mình. Cô ấy ở đây. Salander đang ở trong máy tính của mình. Có thể liên hệ ngay với cô ấy bây giờ chăng? Anh nháy chuột hai cái. Anh không tin chắc vào điều anh chờ đợi. Một bức thư. Một câu trả lời. Một thanh minh vô tội. Một lời giải thích. Phản hồi của Salander ngắn đến nỗi phát cáu. Nó chỉ là một từ bốn chữ cái: Zala.

Mikael nhìn chằm chằm vào cái tên. Hai giờ trước khi bị giết, gọi điện thoại cho anh, Svensson đã nhắc đến Zala. Cô ấy định nói gì đây? Phải chăng Zala là mối dây giữa Bjurman với Dag và Mia? Bằng cách nào? Tại sao? Hắn là ai? Mà sao Salander lại biết cái đó? Cô ấy dính líu vào như thế nào? Anh mở xem đặc tính tư liệu, thấy cái thư mới được viết trước đó chưa tới mười lăm phút. Rồi anh tủm tỉm cười. Máy tính cho thấy Mikael Blomkvist là tác giả của tư liệu mới. Salander đã tạo tư liệu này ở ngay trong máy tính của anh bằng chương trình Word đã được cấp phép của anh. Như thế tốt hơn email, không để lại địa chỉ Internet có thể bị dò ra, tuy Blomkvist tin chắc chắn rằng muốn sao thì sao cũng không dò được ra nổi Salander. Và không còn nghi ngờ gì nữa, Salander đã đánh “giáp lá cà” - chữ của cô - máy tính của anh rồi.

Anh đứng bên cửa sổ nhìn sang Tòa Thị chính. Anh không rũ bỏ được cái cảm giác bị Salander theo dõi mọi lúc mọi nơi, gần như cô đang ở trong buồn trừng trừng nhìn anh qua màn hình máy tính. Dĩ nhiên cô có thể ở bất cứ đâu trên thế giới nhưng anh ngờ rằng cô đang ở rất gần. Đâu đó ở Sodermalm. Trong bán kính hai chục dặm cách nơi anh đang ở. Anh ngồi xuống soạn một tư liệu Word mới mà anh đặt tên là [Sally - 2]. Anh viết một thư cô đọng: Lisbeth,

Cô là kẻ phá quấy đáng ghét. Zala là đồ quái quỷ gì? Hắn là mối liên hệ ư? Cô có biết ai giết Dag và Mia không? Nếu biết thì bảo tôi để chúng ta có thể giải quyết cái mớ rắc rối này mà còn đi ngủ chứ. Mikael -----

Cô ấy hiện đang ở trong máy tính của Blomkvist. Hồi âm đến trong vòng một phút. Một tư liệu mới hiện ra trong thư mục trên màn hình nền của anh, lần này tên là [Kalle Blomkvist]. Là nhà báo thì anh hãy tìm lấy đi chứ. -----

Blomkvist cau mày. Cô ấy đang trêu anh, dùng cái biệt hiệu cô biết là anh nguyền rủa nó. Nhưng cô không giúp anh tẹo nào. Anh viết tư liệu [Sally - 3] rồi đặt nó ở màn hình nền. Lisbeth, Nhà báo tìm ra chuyện nhờ hỏi những người biết chuyện. Tôi đang hỏi cô. Cô có biết tại sao Dag và Mia bị giết và ai giết họ không? Nếu biết xin bảo tôi. Cho tôi một cái gì để đi tiếp đi.

Mikael. ----- Anh bồn chồn chờ hồi âm khác trong mấy tiếng. 4 giờ sáng anh bỏ cuộc, đi ngủ.

CHƯƠNG 19 Thứ Tư, 30 tháng Ba Thứ Sáu, 1 tháng Tư

Blomkvist bỏ ngày thứ Tư ra rà soát kỹ bài viết của Svensson, tìm mọi chỗ nói đến Zala. Như Salander trước đó, anh cũng phát hiện ra thư mục ở trong máy tính của Svensson rồi đọc ba tư liệu [Irina P], [Sandstrom] và [Zala]. Cũng như Salander anh phát hiện ra Svensson có một nguồn tin cảnh sát tên là Gulbrandsen. Anh dò ông ta tới Cảnh sát Hình sự ở Sodertalje nhưng khi anh gọi thì người ta nói Gulbrandsen đang đi ra ngoài không ở sở, thứ Hai tới đây mới trở về. Anh có thể thấy Svensson đã bỏ rất nhiều thì giờ vào Irina P. Qua biên bản mổ tử thi, anh biết được rằng người phụ nữ đã bị giết chậm rãi, tàn ác. Vụ giết xảy ra vào cuối tháng Hai. Kẻ sát nhân là ai, cảnh sát không có đầu mối nhưng do cô là gái điếm nên họ cho rằng đó là một trong các khách hàng của cô. Blomkvist tự hỏi tại sao Svensson lại để Irina vào trong thư mục . Rõ ràng anh đã gắn Zala vào với Irina nhưng trong bài viết không có chỗ nào nói tới việc đó. Có lẽ anh để sau sẽ tìm mối quan hệ này.

Tư liệu [Zala] giống như những ghi chép viết rập rạp. Zala (nếu hắn có thật) xem vẻ gần như một bóng ma trong thế giới tội phạm. Có vẻ như hoàn toàn không tin được là có hắn thật nhưng bài viết lại không nhắc đến nguồn tin. Anh đóng tư liệu lại, gãi đầu. Giải quyết các vụ án mạng này té ra là một việc làm khó hơn anh tưởng rất nhiều. Anh cũng không thể tránh khỏi bị các nghi vấn bủa vây suốt. Không có điều nào nói dứt khoát với anh rằng Salander không gây án. Tất cả những gì anh cần đi tiếp là linh tính của anh, nó làm cho việc ngờ Salander gây án trở nên vô lý. Anh biết cô không thiếu tiền. Cô đã khai thác bản lĩnh tin tặc để khoắng lấy món tiền vài tỉ curon nhưng Salander không biết là anh biết. Trừ lần anh buộc phải nói rõ tài năng của cô trên trận địa máy tính với Berger ra, anh chưa bao giờ phản bội các bí mật của cô cho người bên ngoài.

Anh hết sức không muốn tin Salander là thủ phạm của các vụ án mạng. Anh sẽ không bao giờ có thể trả được cô món nợ của anh. Bằng việc nộp ngon ơ đầu của Wennerstrom cho các anh, cô không chỉ giữ mạng sống của anh mà còn cứu sự nghiệp chuyên môn của anh và có thể của cả chính Millennium nữa. Anh cảm thấy mình rất trung thành với cô gái. Cô phạm tội hay không, anh vẫn sẽ cố làm mọi thứ để giúp cô, nếu như cuối cùng cô bị bắt. Nhưng ở cô có quá nhiều điều anh không biết. Những đánh giá tâm thần, việc cô phải vào một trong những bệnh viện tâm thần được coi trọng nhất của đất nước, việc cô từng bị tuyên bố không thể tự cai quản bản thân, tất cả thiên về xác nhận có một cái gì đó không ổn ở cô. Trưởng khoa ở bệnh viện tâm thần Thánh Stefan ở Uppsala, bác sĩ Peter Teleborian đã được các báo trích dẫn rộng khắp. Ông không tuyên bố đặc biệt gì về Salander, như chờ đợi, mà lại bình luận về sự suy sụp của chế độ chăm sóc sức khỏe tâm thần trong nước. Teleborian không chỉ nổi tiếng và được kính trọng ở Thụy Điển mà còn ở cả thế giới. Trong khi thuyết phục chu đáo và gửi tình cảm của mình tới các nạn nhân cùng với gia đình họ, ông vẫn tỏ ra lo lắng nhất đến hạnh phúc của Salander.

Blomkvist nghĩ liệu anh có nên tiếp xúc với bác sĩ Teleborian không, liệu anh có thể giúp bằng một cách nào đó không. Nhưng anh kìm lại. Một khi cô gái bị bắt, anh sẽ có nhiều thì giờ giúp cô. Cuối cùng anh vào căn bếp nhỏ rót cà phê vào một cái cốc có logo đảng Thống nhất Ôn hòa rồi đi vào gặp Berger. - Anh có một danh sách dài những má mì chăn dắt gái và ma cô cần hỏi. - Anh nói. Chị lo ngại nhìn anh.

- Chắc anh phải mất một hai tuần kiểm tra tất cả những người trong danh sách này. Họ ở rải rác từ Strangnas đến Norrkoping. Anh cần một xe hơi. Chị mở ví lấy chìa khóa chiếc BMW của mình ra. - Thật sự được chứ?

- Dĩ nhiên được. Em hiếm khi lái xe đi làm cũng như lái xe ra khỏi Saltsjobaden. Nếu cần em lấy xe của Greger. - Cảm ơn. - Tuy vậy, một điều kiện.

- Gì vậy? - Một số trong đám này là những tay ác ôn ghê gớm. Nếu anh đi để lên án bọn ma cô giết Dag và Mia thì em muốn anh mang cái này đi với anh và luôn giữ nó trong túi áo jacket. Chị để bình xịt Mace lên bàn làm việc.

- Đâu ra mà em có cái này? - Em mua ở Mỹ năm ngoái. Ban đêm đi loanh quanh một mình mà không có vũ khí gì thì em khốn to à. - Bị tóm với một vũ khí bất hợp pháp thì anh cũng sẽ phải khép tội không biết đến bao nhiêu à.

- Còn hơn em viết cáo phó anh. Mikael... Em không chắc anh có biết điều này không chứ có lúc em thật thà lo cho anh đấy. - Anh biết. - Anh hay liều mà lại đầu bò đầu bướu, đã quyết định thì dù ngốc nghếch cũng không thể bỏ được.

Blomkvist mỉm cười cầm lấy bình Mace trên bàn làm việc của Erika. - Cảm ơn đã lo lắng. Nhưng anh không cần nó. - Mikael, em bắt anh phải lấy nó đi.

- Tốt thôi. Nhưng anh cũng đã sẵn sàng đề phòng cả rồi. Anh cho tay vào túi áo lôi ra một bình xịt. Đó là bình Mace anh lấy ở trong túi của Salander và mang theo người từ đó. Bublanski gõ lên cánh cửa để ngỏ vào buồng giấy của Modig rồi ngồi xuống ghế khách ở bên bàn làm việc của chị.

- Máy tính của Dag Svensson. - Ông nói. - Tôi cũng đang nghĩ đến chuyện đó. - Chị nói. - Tôi có lên bảng thời gian về ngày cuối cùng của Svensson và Johansson. Vẫn còn vài khoảng trống nhưng hôm ấy Svensson không đến tòa soạn Millennium. Nhưng anh ấy lại vào trung tâm thị trấn và vào quãng 4 giờ chiều thì vồ phải một bạn học cũ. Đây là cuộc gặp tình cờ ở một quán cà phê trên đường Drottninggatan. Người bạn nói cái máy tính dứt khoát ở trong ba lô của Svensson. Anh ta trông thấy và còn bình luận về nó mà. Và 11 giờ đêm hôm đó - lúc cảnh sát đến nhà anh ấy - thì chiếc máy tính đi đâu mất. - Đúng.

- Từ đấy ta nên suy ra sao đây? - Có thể anh ấy dừng lại ở một chỗ nào khác rồi vì sao đó bỏ lại hay quên mất máy tính. - Sao lại có thể như thế?

- Rất không thể. Nhưng anh ấy có thể để nó ở đâu để chữa. Rồi có khả năng anh ấy có một chỗ làm việc khác mà chúng ta không biết. Thí dụ anh ấy đã có lần thuê một bàn làm việc ở văn phòng các cây viết tự do gần St Erikplan. Rồi dĩ nhiên có khả năng tên giết người đã lấy chiếc máy tính đi. - Theo Armansky thì Salander rất giỏi máy tính. - Chính xác. - Modig nói, gật đầu.

- Hừm. Lý lẽ của Blomkvist là Svensson và Johansson bị giết vì cuộc điều tra mà hai người đang làm. Toàn bộ điều tra ấy ở trong máy tính này. - Chúng ta hơi lẹt đẹt ở đằng sau. Ba nạn nhân bị giết đã tạo nên quá nhiều tiểu tiết mà chúng ta không bắt kịp, thế nhưng chúng ta chưa thực sự tìm kiếm thích đáng chỗ làm việc của Svensson ở Millennitim. - Tôi đã nói chuyện với Erika Berger sáng hôm nay. Chị ấy nói ngạc nhiên vì chúng ta chưa đến ngó một cái vào những gì anh ấy để lại.

- Chúng ta mải tập trung vào săn tìm Salander. Cho đến nay chúng ta vẫn chưa biết gì về động cơ. Ông có thể... - Tôi đã hẹn gặp Berger ở Millennium sáng mai rồi. - Cảm ơn.

Thứ Năm Blomkvist đang nói chuyện với Eriksson trong buồng giấy thì điện thoại reo ở đâu đó trong tòa soạn. Qua lối cửa anh nhác thấy Cortez đi ra trả lời. Và chợt anh nhận ra đó là điện thoại ở bàn làm việc của Svensson. Anh nhảy dựng lên. - Ngừng, không đụng đến điện thoại ấy! - Anh hét. Tay Cortez đã đặt lên máy. Blomkvist chạy vội qua gian phòng. Cái công ty ma anh dựng lên ấy tên nó là cái quỷ gì thế nhỉ?

- Chương trình điều tra Thị trường, Mikael nghe đây. Tôi giúp được gì cho bạn? - Ờ, chào... tên tôi là Gunnar Bjorck. Tôi nhận được thư nói tôi trúng một điện thoại di động. - Chúc mừng. - Blomkvist nói. - Là một Sony Ericsson, mô đen mới nhất.

- Và không phải trả tiền? - Đúng thế, được tặng không. Muốn nhận giải thưởng ông chỉ cần cho phỏng vấn. Chúng tôi nghiên cứu về điều tra thị trường và phân tích sâu cho nhiều công ty khác nhau. Chỉ cần mất một giờ trả lời các câu hỏi. Sau đó tên ông lại được đưa vào một chuyến rút thăm nữa và ông có cơ may trúng 100.000 curon. - Tôi hiểu. Tôi có thể trả lời qua điện thoại được không?

- Không may là không được. Mục hỏi này dính dấp cả đến xem và nhận diện các logo của công ty. Chúng tôi cũng sẽ hỏi ông thích những kiểu hình ảnh quảng cáo nào và chúng tôi đưa cho ông những lựa chọn khác nhau. Chúng tôi sẽ phải cử một nhân viên của chúng tôi đến. - Tôi hiểu... thế tại sao tôi lại được chọn? - Mỗi năm chúng tôi làm kiểu điều tra này vài lần. Ngay bây giờ chúng tôi tập trung vào một số người thành đạt ở trong nhóm tuổi của ông. Chúng tôi rút tình cờ ra những con số bảo hiểm xã hội ở trong nhóm người này.

Cuối cùng Bjorck bằng lòng gặp. Ông ta bảo ông ta đang nghỉ ốm và hiện dưỡng bệnh tại một căn nhà nhỏ nghỉ hè ở trên mạn Smadalaro. Ông ta bảo cách đi đến đó. Họ bằng lòng gặp nhau sáng thứ Sáu. - ĐƯỢC! - đặt máy xuống, Blomkvist kêu to lên. Anh đấm tay vào không khí. Eriksson và Cortez bối rối liếc nhìn nhau. Paolo Roberto hạ cánh xuống sân bay Arlanda 11 giờ rưỡi sáng thứ Năm. Phần lớn chuyến bay từ New York ông ngủ và thế là được một lần ông không thấy mệt vì bay.

Ông đã ở Mỹ một tháng nói về quyền Anh, xem các trận đấu biểu diễn, tìm ý cho một sản phẩm ông đang dự định bán cho Tivi Strix. Đáng buồn, ông tự chấp nhận với mình, ông đã cho xếp xó sự nghiệp chuyên môn của ông, một phần vì gia đình nhẹ nhàng thuyết phục và cũng vì ông đã cảm thấy tuổi tác. Giữ cho mình mẩy khỏe mạnh không thành vấn đề lắm, việc này ông vẫn tập tành bền bỉ ít nhất một lần một tuần. Ông vẫn là một tên tuổi trong làng quyền Anh thế giới và ông trông đợi vẫn làm việc trong lĩnh vực thể thao theo một khả năng nào đó trong thời gian còn lại trên đời của ông. Ông thu nhặt hành lý trên băng chuyền hàng ở Hải quan. Ông bị giữ lại và sắp bị lôi ra thì một sĩ quan hải quan nhận ra ông. - Chào, Paolo. Trong va li anh tất cả là găng đấm box, đúng không? Anh là vũ khí chết người đấy, anh bạn.

Đang đi qua gian sảnh của khách đến để tới thang máy xuống chuyến Tốc hành Arlanda thì ông đứng sững lại, ngẩn ra vì bộ mặt Salander ở trên bảng dán báo chiều. Dẫu sao thì có lẽ ông cũng đã nếm mùi mệt mỏi vì chuyến bay. Ông đọc lại đề báo: SĂN LÙNG LISBETH

SALANDER Ông xem sang bảng dán báo khác. ĐẶC BIỆT!

TRUY TÌM BỆNH NHN TM THẦN GIẾT BA NGƯỜI Ông mua cả báo chiều lẫn báo sáng rồi đi đến một quán cà phê. Ông đọc báo, mỗi lúc một ngạc nhiên dữ lên hơn.

11 giờ đêm thứ Năm, khi Blomkvist về đến nhà ở Bellmansgatan, anh vừa mệt vừa thất vọng. Anh đã tính có một đêm ở nhà sớm sủa để ngủ bù nhưng anh không cưỡng lại nổi cơn cám dỗ bật máy tính lên xem email. Không có gì lý thú lắm ở đấy nhưng anh mở thư mục . Mạch đập của anh nhanh vội lên khi anh thấy một tư liệu mới có tên [MB2], anh nhấp chuột hai cái. Công tố viên E. đang rỉ tin cho truyền thông đại chúng. Hỏi ông ta sao không cho rỉ bản báo cáo cũ của cảnh sát ra. -----

Blomkvist suy nghĩ về lời nhắn, cụt hứng. Báo cáo cũ nào của cảnh sát? Sao tin nhắn nào cô ta cũng viết như câu đố vậy? Anh tạo một tư liệu mới gọi là [Bí ẩn]. Chào, Salander. Tôi mệt không thở ra hơi và sau các vụ án mạng tôi chạy miết không nghỉ. Tôi thấy không thích chơi trò đoán mò. Có thể cô không cho ra một cái khỉ gì cả nhưng tôi muốn biết ai giết các bạn tôi. M Anh chờ ở bàn làm việc. Một phút sau hồi âm đến.

Nếu là tôi thì anh làm gì? ----- Anh hồi âm bằng [Bí ẩn 3].

Lisbeth, nếu như họ nói là đúng, rằng cô đã thật sự vuợt ra khỏi ngưỡng thì có lẽ cô nên nhờ bác sĩ Peter Teleborian giúp cô. Nhưng tôi không tin là cô giết Dag và Mia. Tôi hy vọng và cầu xin điều tôi nghĩ là đúng. Dag và Mia đang sắp xuất bản tường trình của họ về buôn bán tính dục. Tôi nhận thấy việc đó có thể là lý do cho các vụ án mạng. Nhưng tôi không có gì để mà đi tiếp. Tôi không biết có gì không phải giữa chúng ta, nhưng cô và tôi đã có lần bàn về tình bạn. Tôi nói tình bạn là dựa trên hai điều - tôn trọng và tin cậy. Dù không thích tôi, cô vẫn có thể dựa vào tôi và tin tôi. Tôi không chia sẻ bí mật của cô với ai hết. Ngay cả chuyện gì xảy ra với hàng tỉ của Wennerstrom. Tin tôi đi. Năm mươi phút sau, Blomkvist gần như đã sắp hết hy vọng thì tệp tin [Bí ẩn 4] hiện ra.

Tôi sẽ nghĩ chuyện này. ----- Blomkvist nhẹ người thở phào. Anh thấy một tia hy vọng le lói. Hồi âm nói sao thì có nghĩa là đúng như thế. Cô ấy sẽ nghĩ về chuyện này. Từ khi không một lời giải thích cô biến ra khỏi đời anh thì đây là lần đầu tiên cô đưa ra một triển vọng giao tiếp lại chút nào đó với anh. Anh viết [Bí ẩn 5].

OK. Tôi chờ. Nhưng xin đừng để lâu quá. ----- Thanh tra Faste đang ở đường Langholmsgatan gần Vasterbron trên đường đi làm thì điện thoại gọi. Cảnh sát không có nhân lực để kiểm soát hai mươi tư trên hai mươi tư giờ căn hộ ở Lundagatan cho nên đã bố trí một ông hàng xóm, một cảnh sát về hưu để mắt giúp cho vào đấy.

- Cô gái Trung Quốc vừa đến đấy. - Ông ta đã báo. Faste khó mà tìm ra chỗ nào thích hợp hơn ở đây. Ông phá luật, quặt qua con lươn xe bus ở Heleneborsgatan chính ngay trước Vasterbron rồi lái xuôi Hogalidsgatan xuống Lundagatan. Chưa tới hai phút sau khi được gọi, ông đã đến nơi và rảo cẳng qua đường vào thẳng tòa nhà ở đằng sau. Miriam Wu vẫn còn đứng ở cửa căn hộ nhìn trừng trừng vào ổ khóa bị khoan thủng và băng dính của cảnh sát dán ngang cánh cửa, thì nghe thấy tiếng chân trên cầu thang đằng sau cô. Cô quay lại thấy một người lực lưỡng đang chăm chú nhìn cô. Cảm thấy ông ta thù nghịch, cô vất túi xuống, chuẩn bị nếu cần thì giở món bốc Thái ra.

- Cô là Miriam Wu phải không? - Ông ta hỏi. Cô ngạc nhiên thấy ông đưa thẻ cảnh sát ra. - Vâng, cô nói. Có chuyện gì ở đây thế?

- Tuần qua cô ở đâu? - Tôi đi vắng. Xảy chuyện gì chứ? Nhà bị phá khóa đột nhập ư? - Tôi phải yêu cầu cô đi với tôi đến Kungsholmen. - Ông ta nói, đặt một tay lên vai cô.

Bublanski và Modig nhìn kỹ Miriam Wu đi theo Faste vào phòng thẩm vấn. Cô cáu ra mạt. - Mời ngồi. Tôi là thanh tra hình sự Jan Bublanski, đây là đồng nghiệp của tôi, thanh tra Sonja Modig. Tôi xin lỗi đã phải đưa cô đến như thế này nhưng chúng tôi cần cô trả lời cho một số câu hỏi. - OK. Nhưng tại sao lại thế? Tay này ít lời.

Cô ngoéo ngón tay cái về Faste. - Chúng tôi đã tìm cô mất một ít thời gian. Cò có thể nói cô đã ở đâu không? - Vâng, được chứ. Nhưng tôi không thấy như ông, chuyện dính đến tôi thì không hề lại là việc của các ông mà.

Bublanski nhướng lông mày lên. - Tôi về nhà thì thấy cửa bị phá mở ra và băng dính cảnh sát dán ngang rồi một tay vai u thịt bắp hùng hổ kéo tôi xuống đây. Tôi có thể được giải thích không đây? - Cô không thích đàn ông à? - Faste nói.

Miriam ngạc nhiên quay lại nhìn ông trợn trừng. Bublanski giận dữ nhìn ông. - Tuần qua cô không đọc báo ư? Cô có ra nước ngoài không? - Không, tôi không đọc báo nào cả. Tôi đến Paris thăm bố mẹ. Hai tuần. Tôi vừa ở Ga Trung tâm về.

- Cô đi xe lửa? - Tôi không thích bay. - Cô cũng không xem bản tin nào hay báo chí hôm nay?

- Tôi xuống ga rồi đi xe điện ngầm về đây. Bublanski nghĩ một lát. Sáng nay trên bản tin không có gì về Salander. Ông đứng lên ra khỏi phòng. Khi quay lại ông cầm tờ Aftonbladet số phát hành Phục sinh với ảnh Salander ở trang nhất. Miriam Wu gần như bị roi quất.

Blomkvist theo lời Bjorck dặn đi đến căn nhà nhỏ ở Smadalaro. Đỗ xe anh đã thấy “căn nhà nhỏ” là một ngôi nhà một gia đình hiện đại nom như có người ở quanh năm. Nó trông ra cảnh biển hướng về vũng nhỏ Jungfrufjarden. Anh đi bộ theo lối rải sỏi lên nhà rồi bấm chuông. Bjorck dễ nhận ra nhờ tấm ảnh hộ chiếu mà Svensson đã cho vào tệp tin của anh. - Chào. - Blomkvist nói. - Chào, ông đã tìm ra chỗ.

- Cảm ơn đã mách đường. - Vào đi. Chúng ta có thể ngồi ở trong bếp. Bjorck nom khỏe mạnh nhưng đi hơi tập tễnh.

- Tôi đang nghỉ phép ốm. - Hắn nói. - Không nghiêm trọng chứ, tôi hy vọng thế. - Tôi chờ mổ cái đĩa cột sống bị trật. Ông thích cà phê không?

- Không, cảm ơn. Blomkvist nói rồi ngồi xuống bàn bếp, mở va li nhỏ ra. Anh lấy ra một danh mục. Bjorck ngồi xuống đối diện anh. - Trông ông quen quen. Chúng ta trước đây đã gặp nhau ở đâu chưa?

- Tôi nghĩ là không. - Blomkvist nói. - Tôi chắc chắn là đã thấy ông ở đâu đó trước đây. - Có thể là ở trên báo.

- Ông nói tên ông là gì nhỉ? - Mikael Blomkvist. Tôi là nhà báo. Tôi làm ở tạp chí Millennium. Bjorck nom lấn bấn. Thế là hiểu rồi. Kalle Blomkoist. Vụ Wennerstrom. Nhưng hắn vẫn không thấy chỗ liên can.

- Millennium à? Tôi không biết thế ra ông có nghiên cứu thị trường. - Thỉnh thoảng làm một hồi. Bắt đầu tôi muốn xin ông xem ba tấm ảnh này và nói ông thích tấm nào nhất. Blomkvist để ba tấm ảnh ba cô gái lên bàn. Một tấm là tải ở một địa chỉ khiêu dâm của Internet xuống. Hai tấm kia là ảnh hộ chiếu phóng to.

Bjorck biến sắc, mặt nhợt đi như một tử thi. - Tôi không hiểu. - Không? Đây là Lidia Komarova, mười sáu tuổi, người Minsk. Tấm này là Myang So Chin, tên thường gọi là Jo-Jo, người Thái Lan. Hai mươi lăm tuổi. Và mới nhất chúng tôi có Yelena Barasova, người Tallinn. Ông đã mua dâm của ba người này, vậy tôi hỏi: ông thích ai nhất ở đây. Hãy coi đây là tôi đang nghiên cứu thị trường.

- Tóm lại, cô nói cô quen Salander ba năm nay. Không cần lấy tiền thuê nhà, cô ấy ký trao nhà cho cô mùa xuân này rồi chuyển đi đâu đó. Mỗi lần cô ấy đến với cô, làm tình với cô, thế mà cô không biết cô ấy ở đâu và cô ấy sống thế nào. Cô chờ tôi tin cô hay sao? Miriam Wu quắc mắt lên nhìn ông. - Ông tin hay không tôi cũng chả coi là cứt gì. Tôi không làm gì phi pháp, còn tôi sống thế nào, tôi ngủ với ai thì là việc của riêng tôi, không dính gì hết đến công chuyện của các ông bà hay ai đó khác nha.

Bublanski thở dài. Sáng nay khi được tin Miriam Wu xuất hiện, ông thấy nhẹ hẳn người. Cuối cùng đã đột phá. Nhưng thông tin ông lấy được ở cô chả làm sáng thêm được điều gì. Thực tế, đây là điều lạ lùng nhất. Mà vấn đề là ông lại tin cô ta. Cô trả lời rõ ràng, dễ hiểu, không chút ngập ngừng. Cô kể ra những chỗ và ngày giờ gặp Salander cũng như chuyện vì sao cô dọn đến Lundagatan chính xác đến nỗi Bublanski và Modig cả hai đều cảm thấy chắc chắn rằng câu chuyện kỳ quặc này tất phải là thật. Nghe chất vấn, Faste mỗi lúc lại một cáu lên nhưng ông cố nín thinh. Ông nghĩ cho đến nay Bublanski đã quá khoan hồng với cô gái Trung Quốc vốn chẳng qua chỉ là một con điếm ngạo mạn, lấp liếm để tránh trả lời duy nhất các câu hỏi quan trọng. Cụ thể là cái con điếm lố lăng Salander kia nó hiện đang ẩn ở cái hỏa ngục nào? Nhưng Wu không biết Salander ở đâu. Cô ta không biết Salander làm nghề ngỗng gì. Cô không nghe đến An ninh Milton bao giờ. Cô không nghe đến Dag Svensson và Mia Johansson bao giờ, do đó không thể cho ra được tí thông tin nào có thể giúp ích. Cô mù tịt việc Salander từng bị giám hộ hay hồi mười mấy tuổi đã từng vướng đến pháp luật hay lý lịch có đầy những đánh giá về tâm thần.

Mặt khác, cô có ý xác nhận cô và Salander đã đi Kvarnen hôn một cái rồi về nhà ở Lundagatan và sáng hôm sau chia tay nhau sớm. Sau đó ít lâu Wu đi xe lửa đến Paris, lỡ mất các tít trên báo chí Thụy Điển. Ngoài việc đến gặp chớp nhoáng trả chìa khóa xe, từ buổi tối ở Kvarnen đó, cô không gặp Salander. - Chìa khóa xe? - Bublanski nói. - Salander không có xe mà. Wu nói Salander có một Honda màu mận chín đỗ ở bên ngoài chung cư. Bublanski đứng lên nhìn Modig.

- Cô có thể hỏi giúp tôi được không? - Ông nói và ra khỏi phòng. Ông phải tìm Holmberg bảo ông ta phanh phui xem xét một chiếc Honda màu mận chín đỗ ở bên trên đường Lundagntan. Và ông cần một mình để suy nghĩ. Gunnar Bjorck, phó đội trưởng đội di cư của Cảnh sát An ninh, hiện nghỉ ốm, ngồi xám ngoét như con ma trong gian bếp nhìn ra cảnh quan đẹp đẽ của Jungfrufgarden. Blomkvist nhìn hắn với con mắt trung lập, kiên nhẫn. Đến nay anh chắc chắn hắn không dính đến các vụ án mạng. Do Svensson chưa cố đối mặt hắn, Bjorck không biết hắn sắp sửa bị vạch ra, tên và ảnh của hắn sẽ đăng trên Millennium và trong một quyển sách.

Bjorck đã cho một thông tin có giá trị. Hắn biết Nils Bjurman. Họ gặp nhau ở câu lạc bộ bắn súng, Bjorck từng là thành viên tích cực ở đây trong hai mươi tám năm. Có một dạo hắn còn cùng với Bjurman ở trong ban quản trị câu lạc bộ. Họ không là bạn thân nhưng cùng chơi bời và thỉnh thoảng có ăn tối với nhau. Không, hắn không thấy Bjurman đã mấy tháng rồi. Lần cuối cùng vồ phải nhau là mùa hè trước, khi cả hai cùng uống ở một quán bar. Hắn buồn là Bjurman bị giết - à bởi con bé mắc bệnh tâm thần nhưng hắn sẽ không đi dự tang lễ. Blomkvist bận tâm về trùng hợp này nhưng dần dần hết câu hỏi. Bjurman chắc phải quen biết cả trăm con người trong đời sống nghề nghiệp cũng như xã hội của hắn ta. Với hắn, việc một ai đó hắn tình cờ biết mà lại đi vào tài liệu của Svensson là chuyện lạ xét về thống kê cũng như về xác suất. Bản thân Blomkvist cũng tình cờ quen một nhà báo và hắn cũng xuất hiện trong quyển sách.

Đã đến lúc kết thúc câu chuyện. Bjorck đã trải qua tất cả các giai đoạn Blomkvist lường sẵn. Trước tiên phủ nhận, rồi - khi được thấy một phần tư liệu - giận dữ, đe dọa, toan hối lộ và, mau thôi, bào chữa thanh minh. Anh đã giả điếc với tất cả các cơn cớ của Bjorck. - Ông hại đời tôi nếu in cái trò đó ra. - Bjorck nói. - Vâng.

- Và ông sẽ cho in thật. - Tuyệt đối thật. - Tại sao? Ông có thể cho tôi nghỉ chút không. Tôi không khỏe.

- Thú vị là ông đã lấy lòng tốt của con người ra làm một lý lẽ để bàn. - Thương cảm thì chả có mất mát gì đâu mà. - Ông nói chỗ này đúng. Khi ông rên rỉ tôi hại đời ông thì ông đã thích thú phá hủy đời các thiếu nữ bằng gây tội ác với họ. Chúng tôi có thể chứng minh ba người trong số họ. Chúa biết còn có bao nhiêu cô gái như thế nữa. Vậy lúc ấy lòng thương cảm của ông ở đâu?

Anh nhặt giấy tờ cho vào va li nhỏ. - Tôi tìm được đường đi ra. Đến cửa anh quay lại Bjorck.

- Ông có nghe nói đến một người tên là Zala không? Bjorck trừng trừng nhìn anh. Hắn còn hoảng hốt nên không nghe rõ câu anh hỏi. Rồi mắt hắn trợn thao láo lên. Zala!

Không thể được. Bjurman! Sao lại như thế được không?

Thấy Bjorck đổi thần sắc, Blomkvist quay lại bàn. - Tại sao ông hỏi Zala? - Bjorck nói. Hắn nom vẻ bị choáng. - Tôi quan tâm đến ông ta. - Blomkvist nói.

Blomkvist gần như thấy được các bánh răng đang chuyển động trong đầu Bjorck. Một lúc sau, Bjorck túm lấy bao thuốc lá ở bậu cửa sổ. Từ khi Blomkvist vào nhà, đây là điếu đầu tiên hắn châm. - Nếu tôi biết gì đó về Zala thì tôi được gì ở ông? - Để còn xem điều ông biết là gì đã.

Bjorck nghĩ về chỗ này. Cảm xúc và ý nghĩ nháo nhào trong đầu hắn. Cái quỷ gì mà Blomkvist lại biết được về Zalachenko như thế chứ? - Cái tên này tôi nghe thấy đã lâu rồi. - Cuối cùng Bjorck nói.

- Vậy ông biết ông ta là ai? - Tôi không nói thế. Ông tìm cái gì? - Tên ông ta ở trong danh sách những người mà Svensson điều tra.

- Tôi được gì ở ông? - Được gì là được thế nào? - Nếu tôi đưa ông đến được Zala… Ông có bỏ tôi ra khỏi báo cáo của ông không?

Blomkvist từ từ ngồi xuống. Sau vụ Hedestad anh đã quyết định không còn mặc cả mặc lẽ giải quyết một chuyện nào khác nữa. Anh cũng không có ý thương lượng với Bjorck, bất kể chuyện gì xảy ra, hắn cũng sẽ phải bị tù mọt gông. Nhưng anh nhận thấy anh có thể thương lượng với Bjorck rồi bỏ kệ hắn mà không sợ tai tiếng. Anh không cảm thấy có lỗi. Bjorck là một cảnh sát phạm tội. Nếu anh biết tên của kẻ sát nhân thì việc của anh là can thiệp vào - chứ không phải dùng thông tin để giữ lấy cái mạng anh. Bjorck có thể đang hy vọng thoát thân nếu hắn chìa ra thông tin về một tội phạm khác. Blomkvist cho tay vào túi áo jacket, bật máy ghi âm mà anh đã cho tắt đi trước khi anh đứng lên rời khỏi bàn. Và lấy ra một khăn tay. - Ta hãy nghe cái này. - Anh nói. Modig nổi nóng với Faste nhưng chị không lộ ra mặt những điều chị nghĩ về ông ta. Cuộc chất vấn Miriam Wu, tiếp tục sau khi Bublanski ra khỏi phòng, chỉ là làm như sách vở.

Modig cũng ngạc nhiên. Chị không bao giờ ưa Faste và cái kiểu đàn ông đàn ang hiên ngang của ông ta nhưng chị vẫn coi ông là một sĩ quan cảnh sát có tài. Cái tài đó hôm nay thiếu vắng lộ liễu. Rõ ràng Faste cảm thấy người phụ nữ đẹp, thông minh và đồng tính ái nữ này đe dọa mình. Cũng rõ ràng là Wu biết Faste cáu nên càng không khoan nhượng chọc tức. - Thế ông thấy cái dây trói người của tôi ở trong ngăn kéo ư? Ông mơ tưởng lăng nhăng về nó thế nào. Miriam cười điệu một cái là lạ. Faste cảm thấy như mình sắp nổ toang ra.

- Im miệng đi mà trả lời câu hỏi. - Ông hỏi tôi đã bao giờ đ. với Salander bằng cái dây trói ấy chưa. Tôi trả lời đó đéo phải là việc của ông. Modig giơ tay lên:

- 11 giờ 12 rồi, thẩm vấn Miriam Wu dừng ở đây đã. Chị tắt máy ghi âm. - Cô có muốn ở lai đây không, Miriam? - Modig quay sang Faste. - Tôi muốn nói với anh một chút.

Miriam cười dịu dàng khi Faste tục tĩu nhìn cô rồi ông lừ khà lừ khừ theo Modig ra hành lang. Modig quay ngoắt lại, nhìn vào mắt Faste, mũi chị gần như sát vào mũi ông ta. - Bublanski phân công tôi thẩm vấn. Ông hỗ trợ tôi cái kiểu của khỉ gì vậy? - Ô, dẹp cái giọng bà tướng ấy đi. Cái thẽm xoăn tít ấy nó ngoắt ngoéo như rắn ấy.

- Trong cách chọn ví von của ông nó có chút nào cái chất biểu tượng của Freud không đấy? - Cái gì? - Quên nó đi. Đi tìm Curt mà thách đấu cờ ca rô hay đi đến câu lạc bộ mà bắn súng hay làm bất cứ cái gì ông muốn. Miễn là ở ngoài cuộc thẩm vấn này, thế thôi.

- Modig, chị làm cái con khỉ gì thế chứ? - Vì ông phá cuộc thẩm vấn của tôi. - Bà lên cơn với nó đến nỗi chỉ muốn riêng bà chất vấn nó đấy à?

Chưa kịp kiềm chế thì bàn tay Modig đã vung lên tát một cái vào giữa mặt Faste. Ngay lập tức chị ân hận nhưng đã quá muộn. Chị liếc xuôi ngược hành lang, và ơn Chúa, không có ai chứng kiến. Thoạt tiên Faste có vẻ ngạc nhiên. Rồi ông cười khinh bỉ, vắt jacket lên vai đi. Modig suýt gọi ông lại để xin lỗi nhưng lại quyết định không. Chị chờ hẳn một phút cho người lắng dịu xuống. Rồi chị lấy hai tách cà phê ở máy bán tự động đem về phòng thẩm vấn. Họ ngồi im lặng uống cà phê. Cuối cùng Modig ngẩng nhìn Miriam Wu.

- Tôi xin lỗi. Có lẽ đây là buổi thẩm vấn tồi tệ nhất từng được tiến hành ở trụ sở cảnh sát này. - Ông ta nom vẻ là một cha ghê gớm khó hợp tác. Để tôi đoán xem nha: ông ta lưỡng tính ái, đã li hôn. Và trong giờ giải lao cà phê cà pháo thì là đầu têu của các chuyện đùa nhảm về đồng tính ái nam. - Ông ta là... di vật của một cái gì đó. Tôi chỉ có thể nói được như vậy.

- Chị thì không? - Ít nhất tôi không phải là một kẻ sợ người. - Tôi ủng hộ chị cả hai tay đấy.

- Miriam, tôi... chúng tôi, tất cả chúng tôi trong mười hôm nay đều làm việc suốt cả đêm lẫn ngày. Chúng tôi mệt và bực mình rồi. Chúng tôi đang cố mò ra đáy của vụ giết hai người ở Enskede cũng như một vụ kinh khủng khác nữa ở gần Odenplan. Bạn cô, Lisbeth Salander có liên can đến địa điểm xảy ra án mạng. Chúng tôi đã có chứng cứ pháp y. Báo động trên cả nước đã được đặt ra vì cô ta. Xin hiểu cho rằng chúng tôi với bất cứ giá nào cũng phải bắt được cô ta để cô ta không làm hại được cho ai khác nữa hay thậm chí cho bản thân chính cô ta. - Tôi biết Lisbeth Salander. Cô ấy không giết ai cả. - Cô không tin cái đó hay cô không muốn tin đây? Miriam, chúng tôi không hề vô cớ mà lại đi báo động trong cả nước vì một ai đó. Nhưng tôi có thể nói với cô nhiều đến mức này: sếp của tôi, thanh tra hình sự Jan Bublanski không tin là cô ấy phạm tội. Chúng tôi đã thảo luận về khả năng cô ấy có một đồng phạm hoặc thế nào đó không biết, cô ấy đã bị kéo vào trong tất cả chuyện này trái lại với ý muốn của cô ấy. Nhưng chúng tôi phải tìm thấy cô ấy. Cô tin cô ấy vô tội, Miriam, nhưng nếu cô sai thì xảy ra cái gì đây? Cô tự nói ra cô cũng không hiểu cô ấy nhiều lắm mà.

- Tôi không biết tin vào cái gì. - Vậy hãy giúp chúng tôi tìm ra sự thật. - Tôi có bị bắt vì gì đó không?

- Không. - Lúc muốn tôi có thể rời khỏi đây được không? - Về danh nghĩa, được.

- Thế về không danh nghĩa? - Cô sẽ cứ là một dấu hỏi trong mắt chúng tôi. Miriam Wu cân nhắc lời Modig.

- Bắt đầu đi nào. Hễ hỏi mà làm tôi cáu là tôi không có trả lời đâu đấy. Modig lại mở máy ghi âm. CHƯƠNG 20

Thứ Sáu, 1 tháng Tư Chủ nhật, 3 tháng Tư Miriam Wu ở lại một giờ nữa với Modig. Đến cuối buổi thẩm vấn. Bublanski bước vào phòng, ngồi nghe không nói một lời. Miriam Wu lễ độ nhận ra ông nhưng vẫn chỉ nói tiếp với Modig.

Cuối cùng Modig ngước nhìn Bublanski. Hỏi ông còn hỏi gì nửa không. Bublanski lắc đầu. - Tôi tuyên bố buổi thẩm vấn Miriam Wu kết thúc. Lúc này là 1 giờ 09 phút chiều. Modig tắt máy ghi âm.

- Tôi biết là có một chuyện nhỏ với thanh tra hình sự Faste. - Bublanski nói. - Ông ấy khó tập trung suy nghĩ. - Modig nói. - Ông ấy ngu. - Miriam Wu bồi thêm.

- Thanh tra hình sự Faste thật sự đã làm nhiều việc hay nhưng tốt nhất có lẽ không nên chọn ông ta thẩm vấn phụ nữ trẻ. - Bublanski nói, nhìn vào mắt Miriam Wu. - Tôi không nên giao cho ông ấy việc này. Tôi xin lỗi. Miriam Wu nom ngạc nhiên. - Xin lỗi thì tôi nhận. Thoạt tiên tôi cũng không thân thiện tí nào cả với ông nữa đấy.

Bublanski phẩy tay. - Tôi có thể hỏi cô vài cái vặt nữa không? Không mở máy ghi âm. - Cứ hỏi.

- Càng nghe nói về Lisbeth Salander tôi càng rối đầu. Hình ảnh tôi hình dung được từ những người biết cô ấy với hình ảnh tôi lấy ra từ tư liệu của Sở Phúc lợi xã hội và các cơ sở điều trị tâm thần không giống nhau. - Thế ư? - Xin trả lời cho tôi vài câu thẳng thắn.

- Được. - Theo kết luận của bản đánh giá tâm thần thì khi mười tám tuổi Salander bị trì độn trí tuệ. - Nói bậy nói bạ. Salander chắc chắn thông minh hơn bất cứ ai mà tôi biết.

- Cô ấy không tốt nghiệp trường phổ thông và chả có ngay cả giấy chứng nhận biết đọc biết viết nữa. - Lisbeth đọc và viết cả một đống giỏi hơn tôi. Cô ấy đôi khi ngồi nghí ngoáy viết công thức số học. Số học thuần túy ấy cơ. Tôi chả hiểu đầu cua tai nheo gì về loại toán ấy. - Toán?

- Trò tiêu khiển riêng cô ấy chơi. - Trò tiêu khiển riêng? - Một số những kiểu phương trình gì đó. Tôi chả hiểu các biểu tượng có nghĩa là gì nữa cơ.

Bublanski thở dài. - Sau khi cô ấy mười bảy tuổi, bị đưa từ Tantolunden đến, các cơ quan xã hội viết báo cáo nói cô ấy kiếm sống bằng bán dâm một dạo. - Lisbeth là gái điếm? Cứt! Tôi không biết cô ấy làm gì nhưng thấy cô ấy làm việc ở cái công ty an ninh kia. Tôi không ngạc nhiên chút nào.

- Cô ấy làm gì để sống? - Tôi không biết. - Cô ấy có đồng tính ái nữ không?

- Không. Lisbeth làm tình với tôi nhưng như thế không có nghĩa là một đứa ô môi. Tôi nghĩ cô ấy cũng không biết thực chất tính dục của mình là gì nữa. Tôi đoán cô ấy cả đồng tính lẫn dị tính. - Hai cô dùng còng tay và cái trò kia là ra làm sao? Phải chăng Salander thiên về bạo dâm hoặc cô thử tả cô ấy xem sao? - Ông hiểu lầm tất cả các đồ chơi tính dục kia mất rồi. Chúng tôi đôi lúc có thể dùng còng tay để chơi trò sắm vai nhân vật nhưng cái ấy không dính gì đến bạo dâm hay bạo hành gì hết. Đấy là trò chơi vui.

- Cô ấy có hung bạo với cô không? - Không. Trong cuộc chơi tôi luôn là đứa áp đặt. - OK. Thế đủ rồi. Nhân thể tôi cử một người đến làm khóa mới cho. Anh ta sẽ ở đấy cho tới khi cô có ổ khóa mới.

Miriam Wu cười ngọt ngào. Bất đồng quan trọng đầu tiên về cuộc điều tra là kết quả của buổi họp chiều vào hồi 3 giờ. Bublanski cho tin mới nhất rồi nói rõ ông thấy họ cần mở rộng tầm kiểm tra. - Từ hôm thứ nhất chúng ta đã tập trung tất cả năng lượng vào việc tìm Lisbeth Salander. Cô ta hẳn hoi là nghi phạm đầu bảng - cái này dựa trên chứng cứ - nhưng hình ảnh chúng ta có về cô ta đều bị những ai biết cô ta phủ nhận hết. Armansky, Blomkvist rồi Miriam Wu đều phản đối hình ảnh cô ta là một kẻ tâm thần giết người. Qua đó tôi muốn chúng ta mở rộng suy nghĩ ra một chút, tính đến kẻ giết người thứ hai và khả năng Salander có thể có một tòng phạm hay đơn giản cô ta chỉ là có mặt khi súng nổ mà thôi.

Lời bình của Bublanski đã làm nổ ra một cuộc tranh luận dữ dội, trong đó ông bị Faste cũng như Bohman ở An ninh Milton phản đối mạnh nhất. Bohman nhắc nhóm điều tra rằng lời giải thích đơn giản nhất thường lại là lời giải thích đúng nhất. - Dĩ nhiên có thể là Salander đã không hành động một mình nhưng chúng ta lại thiếu chứng cứ pháp y về bất cứ một kẻ tòng phạm nào. - Chúng ta có thể cứ luôn luôn theo các đầu mối của Bublanski ở trong nội bộ cảnh sát. - Faste nói chua.

Trong tranh luận Bublanski được mỗi Modig ủng hộ. Andersson và Holmberg chỉ làm người quan sát trung lập và riêng biệt. Hedstrom ở Milton thì im như hến trong suốt buổi tranh luận. Cuối cùng công tố viên Ekstrom giơ tay. - Bublanski, như tôi hiểu, thì ông không muốn loại Salander ra khỏi cuộc điều tra. - Không, dĩ nhiên là không. Chúng ta có dấu tay cô ấy mà. Nhưng cho đến nay chúng ta không thấy được động cơ. Tôi muốn chúng ta nghĩ theo nhiều tuyến khác nhau. Có thể có nhiều người dính líu vào không? Có thể là vẫn có liên quan đến quyển sách về buôn bán tính dục mà Svensson viết kia không? Blomkvist chắc chắn đúng khi nói mấy người bị nêu tên trong quyển sách đã có một động cơ để giết.

- Ông định tiến hành như thế nào? - Ekstrom hỏi. - Tôi muốn hai người bắt đầu nhìn đến các kẻ giết người ngoài Salander ra. Sonja và Niklas có thể làm cùng với nhau. - Tôi á? - Hedstrom ngạc nhiên nói.

Bublanski chọn Hedstrom vì gã là người trẻ nhất ở đây và có vẻ có khả năng suy nghĩ độc lập. - Anh sẽ làm việc với Modig. Đi sâu kỹ vào các cái chúng ta đã biết cho đến nay và cố tìm ra những gì chúng ta đã để sót. Faste, ông, Andersson và Bohman tiếp tục săn lùng Salander. Đấy là ưu tiên số một của chúng ta. - Còn tôi làm gì? - Holmberg nói.

- Tập trung vào luật sư Bjurman. Khám xét lại nhà ông ta. Xem lại để phòng xa có thứ gì ta để sót. Hỏi gì nữa không? Chả ai hỏi gì. - OK. Chúng ta giữ kín việc Miriam Wu đã khai. Có thể cô ấy còn nói nữa với chúng ta, tôi không muốn báo đài nhảy bổ vào cô ấy.

Ekstrom đồng ý nên làm theo kế hoạch của Bublanski. - Tốt. - Hedstrom nói, nhìn Modig. - Bà là thám tử, bà bảo tôi chúng ta sẽ làm gì? Họ đang ở hành lang bên ngoài phòng họp.

- Tôi nghĩ chúng ta nên nói chuyện lần nữa với Blomkvist. - Chị nói. - Nhưng trước hết tôi phải bàn với Bublanski một vài việc. Ngày mai và Chủ nhật tôi nghỉ. Nghĩa là đến sáng thứ Hai chúng ta mới bắt đầu. Bỏ hai ngày cuối tuần ra xem kỹ lại tài liệu về vụ án. Họ chia tay nhau. Modig đi vào buồng giấy Bublanski. - Ông có rảnh một chút không? - Chị nói.

- Ngồi đi. - Cáu với Faste quá, tôi sợ đã không giữ được bình tĩnh. - Ông ấy nói cô đã thực sự bạt tai ông ấy.

- Ông ấy nói tôi muốn ở với Wu một mình vì tôi lên cơn với cô ấy. - Tôi mong cô không nói với tôi câu ấy. Nhưng chắc chắn nói thế là coi như quấy rối tính dục rồi. Cô có muốn nộp đơn khiếu nại không? - Tôi đã tát ông ấy. Thế là đủ rồi.

- Cô bị khiêu khích vượt quá sức chịu đựng. - Quả có thế. - Faste có vấn đề với các phụ nữ mạnh mẽ.

- Tôi thấy điều ấy. - Cô là phụ nữ mạnh mẽ và là sĩ quan tốt. - Cảm ơn.

- Nhưng tôi thích là cô không đánh ai trong cơ quan nữa. - Tôi không như thế nữa đâu. Tôi không có cơ hội xem kỹ lại bàn làm việc của Svensson ở Millennium hôm nay. - Chúng ta sẵn sàng miễn cái việc ấy. Hãy về nhà và thoải mái nghỉ cuối tuần.

Hedstrom dừng lại ở Ga Trung tâm, uống cà phê ở quán Café George. Gã cảm thấy thực sự nản. Cả tuần gã chờ tin Salander bị bắt. Nếu cô ta chống lại, may ra một chút thì có thể có một sĩ quan nào đó sẽ bắn cô ta. Đó là một ý hoắng có sức hấp dẫn. Nhưng Salander vẫn tự do. Không chỉ thế mà Bublanski vẫn chập chờn với cái ý có thể cô ta không giết người. Không phải là một phát triển tích cực. Dưới quyền Bohman đã đủ tồi tệ rồi - tay này là một trong những người đáng ớn nhất và ít tưởng tượng nhất ở Milton - nhưng nay Hedstrom đang làm phó cho thanh tra Modig và chị ta là người nghi vấn nhất vào Salander. Chị ta chắc là người có thể gieo hồ nghi vào đầu của Bublanski. Gã nghĩ liệu Sĩ quan Bong bóng nổi tiếng này đã có diễn một cái gì đó với con đĩ ấy không. Cái đó chả làm gã ngạc nhiên. Ông ta có vẻ như bị ả này úm. Trong các sĩ quan ở nhóm điều tra, chỉ có Faste còn có đủ độ lạnh để nghĩ sao nói vậy.

Hedstrom suy nghĩ lung. Sáng ấy gã và Bohman đã có một hội ý nhanh ở Milton với Armansky và Fraklund. Một tuần điều tra quay ra thành số không và Armansky thất vọng rằng không ai tìm ra nổi một bối cảnh nào khả dĩ làm cho sáng tỏ được các vụ án mạng. Fraklund gợi ý Milton nên nghĩ lại chủ trương tham gia - có những nhiệm vụ khác cấp thiết cho Bohman và Hedstrom hơn là đi làm không công cho cảnh sát. Armansky quyết định Bohman và Hedstrom ở lại thêm một tuần nữa. Hết hạn đó mà không có kết quả thì sẽ lui quân. Nói cách khác, cho đến lúc cánh cửa cho Hedstrom tham gia cuộc điều tra đóng sầm lại thì gã chỉ còn có một tuần. Gã không chắc mình sẽ làm gì đây.

Một lúc sau Hedstrom lấy di động ra gọi Tony Scala, một nhà báo tự do chuyên viết các cái ba láp có thật cho các tạp chí đàn ông. Hedstrom gặp ông ta vài ba lần. Gã bảo ông ta gã có dăm cái tin về cuộc điều tra mấy vụ án mạng ở Enskede. Scala cắn câu luôn: đây có thể là tin giật gân cho một tạp chí lớn. Họ hẹn nhau một giờ nữa đến uống cà phê ở quán Café Avena trên đường Kungsgatan. Scala béo. Béo ra béo. - Nếu ông muốn thông tin của tôi thì có hai tiền đề. - Hedstrom nói

- Oẹ ra. - Thứ nhất không nói đến An ninh Milton trong bài báo. Vai trò của chúng tôi chỉ là cố vấn thôi. - Tuy biết rằng Salander đã làm việc ở Milton thì vẫn cứ đáng là tin.

- Dẹp cái ấy đi mà nhồi lấy cái này này. - Hedstrom xua xua tay. - Đấy không phải là tin. - Nếu ông nói thế. - Thứ hai, ông phải cho bài báo nói vẹo nói vọ thế nào đó để nghe như là một phụ nữ xì ra thông tin này.

- Sao thế hả? - Để tránh nghi ngờ vào tôi. - Được. Vậy ông có cái gì?

- Cô bạn đồng tính ái nữ của Salander đã lộ diện. - OK, tuyệt. Con ranh mà nó ký chuyển nhà ở Lundagatan cho đấy phải không? Cái con biến đi mất ấy hả? - Miriam Wu. Cái này với ông có đáng cái gì không?

- Ông tin cái ấy thì tốt hơn. Cô ta ở đâu? - Ở nước ngoài. Cô ấy nói chưa nghe nói đến các vụ án mạng. - Cô ấy có bị nghi chút nào không?

- Không. Muốn gì thì vẫn chưa. Thẩm vấn cô ấy hôm nay rồi và đã thả ba giờ trước đây. - Tôi hiểu. Ông có tin chuyện cô ấy không? - Tôi nghĩ cô ấy nói dối hơn Cuội. Cô ấy có biết cái gì đó.

- Món này tuyệt, Niklas. - Ông kiểm tra lấy nha. Chúng ta đây là đang nói đến một cô gái cùng vào S&M[8] với Salander. - Ông biết đúng cái ấy là thật chứ?

- Khi thẩm vấn cô ấy nhận mà. Khi khám nhà chúng tôi tìm thấy còng tay, roi da, quần áo da và tất cả bộ sậu. Roi da thì hơi ngoa. Đúng, đây là toàn nói dối cả nhưng con đĩ Trung Quốc này thì chắc chắn là có chơi roi da chứ còn gì nữa. - Ông đùa đấy ư? - Scala nói. Paolo Roberto là người cuối cùng rời đi. Ông ăn chiều trong thư viện, đọc từng dòng những cái viết về chuyện lùng bắt Salander.

Đi ra đường Sveavagen ông thấy nản và bối rối. Và đói. Ông vào nhà McDonald’s, gọi burger rồi ngồi xuống một góc bàn. Lisbeth Salander giết những ba mạng. Ông khó có thể tin chuyện đó. Không phải là cô gái kỳ lạ này. Nhưng ông làm được gì cho chuyện đó? Và nếu làm được thì làm gì? Miriam Wu về Lundagatan bằng taxi, cô thong thả ghi nhận sự tàn phá của căn nhà cô mới trang trí. Tủ li, tủ quần áo, các hộp đựng đồ và các ngăn kéo bàn làm việc đều trống toang hoác. Có những vệt bột lấy dấu tay ở mọi bề mặt. Các đồ chơi tính dục của riêng cô chất đống ở trên giường. Nhưng như mắt cô thấy thì họ không lấy đi cái gì.

Cô mở máy pha cà phê và lắc lắc đầu. Lisbeth, mày đã dính vào cái đéo gì đây thế hả Lisbeth? Cô lấy di động ra gọi số Salander nhưng được tin nhắn không liên lạc được với chủ thuê bao. Cô ngồi một lúc lâu ở bàn bếp, cố tìm ra cái gì thật, cái gì không. Salander mà cô biết thì không là kẻ sát nhân mắc bệnh tâm thần nhưng mặt khác cô cũng không hiểu rõ Salander lắm. Salander hăng ở trên giường, đúng thế, nhưng hễ tính khí mà thay đổi là lại lạnh như tiền ngay. Cô tự hứa chưa gặp chưa nghe Salander giải thích thì cô không quyết định gì cả. Cảm thấy muốn khóc, cô bỏ ra hai giờ dọn dẹp.

7 giờ chiều căn hộ nom ít nhiều đã lại ở được. Cô tắm gương sen rồi mặc một váy ngủ bằng lụa phương đông đen vàng vào bếp thì nghe thấy chuông cửa. Cô mở ra thấy một người đàn ông đặc biệt béo, râu ria không cạo. - Chào Miriam, tôi là Tony Scala. Nhà báo. Tôi hỏi cô vài câu được không? Một tay chụp ảnh đứng cạnh ông ta chụp lòe luôn một cái vào giữa mặt cô.

Miriam Wu tính cho một cú đá vô lê rồi một cùi chỏ vào mũi nhưng cô kịp tỉnh trí nhận ra như thế chỉ cho họ có thêm những ảnh thuộc loại ảnh họ đang kiếm mà thôi. - Cô có ra nước ngoài với Lisbeth Salander không nhỉ? Cô biết cô ta ở đâu không? Miriam Wu đóng cửa lại bằng cái khóa mới lắp. Scala đẩy mở hộp thư ra.

- Sớm muộn cô cũng sẽ phải nói chuyện với báo chí, Miriam. Tôi có thể giúp cô. Cô nắm quả đấm lại, nện xuống các ngón tay của Scala. Cô nghe thấy tiếng rên rỉ đau đớn. Rồi cô khóa trái cửa, lên giường nằm, nhắm mắt lại. Lisbeth, tìm ra mày là tao vặn ngược cổ mày đi. Sau khi đến Smadalaro, Blomkvist bỏ buổi chiều ra đi thăm một người nữa trong số các tên Svensson đã nêu ra. Cho tới tuần ấy, anh đã giập đi sáu trong số ba mươi bảy cái tên. Người cuối cùng là một thẩm phán về hưu sống ở Tumba; ông ta đã chủ tọa mấy vụ xử liên quan đến bán dâm.

Được gợi cho nhớ lại, con người đã tàn tạ này không hề tính chuyện phủ nhận, đe dọa hay xin khoan dung. Trái lại, hắn nồng nhiệt nhận đã chơi nhiều gái điếm từ Đông u đến. Không, hắn không thấy một tí teo ân hận nào sất. Bán dâm là một nghề đáng kính còn việc hắn làm khách của các cô gái thì hắn coi là làm ơn làm phúc cho các cô. Vào khoảng 10 giờ tối, đang lái qua Liljeholmen thì Blomkvist được Eriksson gọi, cô nói: - Chào, anh có đọc trang mạng của Morgon - Posten không?

- Không, họ có gì? - Bạn gái của Salander đã về nhà hôm nay? - Cái gì? Ai cơ?

- Cô ô môi Miriam Wu sống ở căn hộ đường Lundagatan ấy. Wu, Blomkvist nghĩ. “Salander - Wu” ở cái biển đề tên. - Cảm ơn. Tôi đang trên đường về đây.

Wu tháo dây điện thoại bàn ở căn hộ rồi tắt di động. 7 rưỡi tối hôm ấy, tin cô về nhà xuất hiện trên trang mạng của một tờ báo sáng. Ngay sau đó Aftonbladet gọi rồi ba phút sau là Expressen. Tờ Aktuellt đăng chuyện cô mà không nêu tên nhưng vào khoảng 9 giờ, mười sáu phóng viên không ít hơn đã cố moi lấy bình luận của cô. Hai lần chuông cửa réo. Cô không mở và tắt hết đèn trong nhà. Cô muốn đập vỡ mũi tay phóng viên nào sắp đến quấy nhiễu. Cuối cùng cô gọi di động cho một bạn gái sống ở mạn dưới Hornstull, nơi có thể đi bộ tới được, hỏi muốn đến qua đêm với cô ấy được không. Cô lẻn ra khỏi cửa chính trên đường Lundagatan chưa tới năm phút thì Blomkvist đỗ xe ở bên ngoài rồi bấm chuông cửa nhà cô.

Thứ Bảy, vừa 10 giờ sáng, Bublanski đã gọi Modig. Chị ngủ tới 9 giờ rồi chơi với các con cho đến khi chồng chị đưa chúng đi mua vé vui chơi thứ Bảy. - Cô đọc báo hôm nay chưa? - Không, chưa. Tôi mới dậy được một giờ và bận với lũ trẻ. Xảy ra chuyện gì?

- Ai đó trong nhóm điều tra xì tin ra cho báo chí. - Chúng ta đã biết chuyện này cả rồi. Ai đó mấy hôm trước đã xì biên bản tâm thần ra đấy. - Ekstrom xì.

- Thế ư? - Dĩ nhiên. Tuy đời nào ông ta nhận. Ông ấy đang cố tạo chú ý đến mình vì như thế có lợi cho ông ấy. Nhưng lần này thì không phải. Một tay viết tự do tên là Tony Scala đã nói chuyện với ai đó, nguời này kể mọi thứ về Miriam Wu, trong đó có những chi tiết đã được nói đến trong cuộc thẩm vấn hôm qua. Đấy là những cái chúng ta muốn giữ kín nhưng Ekstrom lại xì ra. - Chết tiệt.

- Tay phóng viên không nêu tên ai. Nói nguồn tin là một người có một “vị trí trung tâm trong điều tra”. - Láo. - Modig nói. - Bài báo gọi nguồn tin là “chị ta”.

Modig im lặng một lúc. Chị là người phụ nữ duy nhất trong nhóm điều tra. - Bublanski, tôi không nói một câu nào với một nhà báo nào hết. Ra khỏi Sở, tôi không bàn với ai hết về cuộc điều tra. Ngay cả với chồng tôi. - Tôi không nghi cô rỉ tin chút nào cả. Không may là công tố viên Ekstrom thì nghi. Và Faste, đang làm việc cuối tuần, đã lại xiên xẹo giấm ớt vào.

Modig cảm thấy mệt nhoài. - Vậy bây giờ thì là chuyện gì? - Ekstrom đòi cô thôi điều tra trong khi rà soát tội để lộ tin.

- Tội gì? Vớ vẩn. Làm sao mà bảo tôi chứng minh... - Cô chả phải chứng minh gì cả. Ai kết tội thì hãy đem chứng cứ ra đi. - Tôi biết nhưng... chết tiệt. Chuyện này phải mất bao lâu?

- Sắp xong rồi. - Sao? - Thì tôi vừa hỏi cô đó. Cô bảo cô không để rò rỉ tin. Vậy là điều tra xong và tôi làm báo cáo. 9 giờ sáng thứ Hai tôi gặp cô ở văn phòng Ekstrom và tôi sẽ trả lời các câu hỏi.

- Cảm ơn, Bublanski. - Tôi thích làm thế. - Có một vấn đề.

- Tôi biết. - Tôi không rỉ tin thì phải có một ai đó trong nhóm rỉ ra. - Có gợi ý gì không?

- Mới đầu tôi đoán là Faste nhưng thật tình lại không nghĩ là ông ấy. - Tôi nghiêng về ý cô. Ông ta có thể hết sức ba láp nhưng cái chuyện rò rỉ tin thì ông ta thật tình cáu đấy. Bublanski thích các buổi đi bộ, tùy theo thời tiết và thời gian ông có nhiều ít. Ông khoái môn rèn luyện này. Ông sống trên đường Katarina Bangata ở Sodermalm, không xa mấy tòa soạn Millennium hay An ninh Milton, nơi Salander đã làm việc, và Lundagatan, nơi cô ấy sống. Đó cũng là nằm trong khoảng cách đi bộ của nhà thờ Do Thái trên đường St Paulsgatan. Chiều thứ Bảy ông đi bộ đến tất cả các nơi này.

Ban đầu bà vợ Agnes đi với ông. Hai người lấy nhau đã hai mươi ba năm và ông không hề chệch bước bao giờ trong suốt thời gian ấy. Hai người ở nhà thờ Do Thái một lúc nói chuyện với vị giáo sĩ. Bublanski là Do Thái Ba Lan còn gia đình Agnes - một ít người còn sống sót ở trại Auschwitz - thì gốc gác Hung. Sau khi thăm nhà thờ Do Thái, họ chia tay nhau. Agnes đi mua sắm, Bublanski đi bộ tiếp.

Ông cần một mình, suy nghĩ về cuộc điều tra. Lần ngược lại những biện pháp ông đã dùng đến từ khi nhiệm vụ rơi xuống bàn làm việc của ông vào cái buổi sáng thứ Năm trước lễ Phục sinh ấy thì ông chỉ có thể nhận ra đôi ba lỗi. Một là ông không cử ngay người đến khám xét bàn làm việc của Svensson ở Millennium. Cuối cùng khi ông nhớ ra làm việc ấy - và ông đã tự tay làm - thì Blomkvist đã dọn sạch hết những gì chỉ có Chúa mới biết. Lỗi nữa là quên mất việc Salander đã mua xe. Nhưng Holmberg báo cáo cái xe không có gì đáng để ý.

Ngoài hai lỗi ấy, cuộc điều tra đã được làm chu đáo như mong đợi. Ông dừng lại ở một kiốt gần Zinkensdamm, nhìn chăm chú vào bản tin. Bức ảnh hộ chiếu của Salander đã được thu lại thành một hình con con nhưng dễ nhận ra, tâm điểm chú ý chuyển sang một dòng tin hấp dẫn hơn: CẢNH SÁT DÒ TÌM

KẺ ĐỒNG TÍNH ÁI NỮ THỜ DÒNG QUỶ SATAN Ông mua một tờ, tìm ra bài báo, nó lọt thỏm vào một bức ảnh năm cô gái cỡ mười tám mười chín mặc jacket da đen với những đinh tán, quần jean đen rách và áo phông bó sát người. Một trong các cô gái cầm lá cờ với ngôi sao năm cánh, tay kia thì ra một dấu hiệu bằng ngón trỏ và ngón út.

Lời chú viết: Lisbeth Salander tụ bạ với một ban nhạc rock chơi ở một câu lạc bộ nhỏ. Năm 1996, ban nhạc ca ngợi Nhà thờ của Satan và nổi tiếng với “Nhãn hiệu của xấu Xa”. Cái tên Những ngón tay Xấu xa không được nhắc đến và tờ báo đã bôi đen mắt các cô gái đi, nhưng bạn bè của nhóm rock này chắc chắn vẫn nhận ra họ. Bài báo chủ yếu nói về Miriam Wu, bức ảnh minh họa là lấy ra từ một tiết mục cô biểu diễn tại Bern. Cô để vú trần, đội mũ sĩ quan quân đội Nga. Mắt cô cũng bị bôi đen.

BẠN GÁI CỦA SALANDER VIẾT VỀ LÀM TÌNH ĐỒNG TÍNH NỮ S&M Người phụ nữ ba mươi mốt tuổi nổi tiếng ở các tụ điểm đêm rất thời thượng tại Stockholm. Cô không bí mật chuyện cô săn phụ nữ và thích thống trị đối tác.

Phóng viên cũng tìm được một cô gái ông ta gọi là Sara, mà theo lời thú nhận của chính cô ta, thì cô ta đã là đối tượng của các mưu toan tìm săn phụ nữ. Bạn trai của cô đã bị “quấy phiền” vì sự cố này. Viết tiếp, bài báo nói rằng ban nhạc này là một dị bản tăm tối, tu hành theo thuyết ủng hộ phụ nữ ở ngoài rìa của phong trào đồng tính ái, họ cũng giành được tiếng tăm nhất định vì đã chủ tọa “hội thảo về sự lệ thuộc” ở Liên hoan Tự hào Đồng tính ái. Chỗ còn lại là dựa trên một mẩu cố tình khiêu khích mà Wu đã viết cho một tờ báo cuồng nhiệt ủng hộ phụ nữ sáu năm trước. Bublanski đọc kỹ bài báo rồi ném tờ báo vào thùng rác. Ông suy nghĩ về Faste và Modig, cả hai đều là thám tử có bản lĩnh. Nhưng Faste có một vấn đề; ông ta hay làm cho người khác cáu bực. Ông sẽ nói chuyện với ông ta nhưng ông không nghĩ ông ta là nguồn rỉ tin. Khi định thần xem mình ở đâu thì Bublanski thấy ông đang đứng ở trên đường Lundagatan, nhìn chăm chú vào cửa chính tòa chung cư của Salander. Ông rõ ràng tình cờ mà đi đến đây.

Ông leo thang lên Lundagatan thượng, lên đó ông đứng nghĩ hồi lâu đến chuyện Blomkvist nói về Salander bị hành hung. Câu chuyện không dẫn đến đâu hết. Không có báo cáo của cảnh sát, không có tên những người dính líu và không đến cả hình ảnh được miêu tả thích đáng của kẻ tấn công. Blomkvist nói không đọc được biển số chiếc xe tải hạng nhẹ nhiều chỗ ngồi khi nó chạy đi khỏi hiện trường. Cứ cho là đã có xảy ra chút nào như thế đi. Lại một chỗ tắc tị.

Bublanski nhìn xuôi đường Lundagatan đến chiếc Honda màu mận chín vẫn đỗ ở đường thì vừa lúc Blomkvist đi bộ đến cửa chính tòa chung cư. Miriam Wu hôm ấy dậy muộn, quấn tròn trong chăn. Cô ngồi lên nhìn quanh gian phòng lạ. Cô đã mượn việc báo chí dồn dập nói đến mình làm cớ để đề nghị cô bạn cho ở nhờ. Nhưng cô nhận ra mình rời căn hộ đi cũng là do sợ Salander gõ cửa. Chất vấn của cảnh sát rồi báo chí đăng tin đã tác động sâu sắc đến cô và cho dù cô đã quyết định không nghĩ như thế nào vội cho đến khi có dịp Salander nói rõ chuyện gì đã xảy ra nhưng cô cũng đã bắt đầu sợ rằng bạn mình có thể là thủ phạm thật.

Cô liếc nhìn xuống Viktoria Viktorsson cũng còn có tên V - Đôi và là một ô môi đặc sệt. Cô ta nằm úp sấp ngủ, miệng lầm bầm. Miriam trườn ra khỏi giường đi tắm. Rồi cô ra ngoài mua bánh quế cuộn để ăn lót dạ. Mãi đến khi đứng ở quầy cửa hàng cạnh Café Quế trên đường Verkstadsgatan cô mới nhìn thấy bảng tin. Cô nhào vội về nhà V - Đôi. Blomkvist đấm vào mã số cửa rồi vào nhà. Được hai phút anh lại quay ra. Không có ai ở nhà. Blomkvist nhìn ngược xuôi con phố, phân vân ra mặt. Bublanski chăm chăm theo dõi anh.

Điều làm Bublanski băn khoăn là nếu Blomkvist bịa ra chuyện đánh đuổi ở Lundagatan thì trong trường hợp tồi tệ nhất, nó có nghĩa rằng anh ta có dính líu vào các vụ án mạng. Nhưng nếu anh nói sự thật thì phải có một nhân tố ẩn giấu trong bi kịch này; không phải chỉ có những người có thể nhìn thấy mà bối cảnh giết cũng sẽ phức tạp hơn chứ không chỉ là việc công kích do chứng tâm thần của một cô gái bị rối loạn bệnh lý. Khi Blomkvist đi về phía Zinkensdamm, Bublanski gọi. Blomkvist dừng lại và nhìn thấy Bublanski. Họ gặp nhau ở dưới chân cầu thang. - Chào, Blomkvist. Tìm Lisbeth Salander à?

- Thực sự là không. Tôi tìm Miriam Wu. - Cô ấy không ở nhà. Ai đó xì ra cho báo chí cái tin rằng cô ấy đã ló mặt ra. - Cô ấy thì có gì để nói?

Bublanski dò xét nhìn Blomkvist. Kalle Blomkvist. - Đi với tôi đi. - Bublanski nói. - Tôi cần uống cà phê. Họ lặng lẽ đi qua Nhà thờ Hogalid. Bublanski đưa anh đến Café Lillasyster, gần chỗ đường Liljeholmsbrom băng qua Norrstrom đến ngoại ô phía nam của Liljeholmen. Bublanski gọi một tách kép espresso với một thìa sữa lạnh còn Blomkvist thì uống cà phê latte. Họ ngồi ở khu vực hút thuốc lá.

- Đã lâu tôi mới bị một vụ nản đến thế này. - Bublanski nói. - Không đọc tờ Expressen sáng mai thì tôi bàn được với anh đến đâu đây? - Tôi không làm cho Expressen. - Anh biết tôi định nói gì đấy.

- Bublanski, tôi tin Salander không là thủ phạm. - Và anh đang làm cuộc điều tra riêng cho bản thân anh? Có phải vì thế mà họ gọi anh là Kalle Blomkvist không? Blomkvist mỉm cười.

- Họ bảo ông có tên là Sĩ quan Bong bóng. Nụ cười đáp lại của Bublanski hơi hơi cứng. - Tại sao anh nghĩ Salander vô tội?

- Về người giám hộ của cô ấy thì tôi không biết tí nào cả nhưng về Dag và Mia thì cô ấy không có một lý do nào hết để giết họ. Đặc biệt với Mia. Salander thù các đàn ông ghét phụ nữ và Mia thì đang làm cái việc siết ốc vào cho cả một đàn khách chơi gái điếm. Việc Mia đang tiến hành là trùng hoàn toàn với điều mà bản thân Lisbeth muốn làm. Cô ấy là một người rất có đạo đức. - Hình như tôi không thể gắn các mảnh lại để có được một chân dung ăn khớp của cô ấy. Một trường hợp trì độn tâm thần hay một điều tra viên tài giỏi đây? - Khác hẳn lại. Lisbeth không thích xã hội đến mức khác thường nhưng về trí tuệ thì ở cô ấy chả có gì rắc rối hết. Trái lại, chắc chắn là cô ấy thông minh hơn ông hay tôi.

Bublanski thở dài. Giống như Miriam Wu, Blomkvist đã cho ông một câu chuyện như của mẹ mìn. - Muốn thế nào thì cũng cần phải bắt cô ấy. Tôi không đi vào chi tiết được nhưng cô ấy đã ở hiện trường gây án và cô ấy có liên quan đến vũ khí gây án. Blomkvist gật.

- Tôi cho là ông muốn nói đến chuyện tìm thấy dấu tay của cô ấy ở trên khẩu súng. Nhưng cái đó không chứng minh được rằng cô ấy bắn. Bublanski gật. - Dragan Armansky cũng không tin như thế. Ông ta thận trọng không nói thẳng ra nhưng ông ấy cũng đang tìm chứng cớ rằng cô ấy vô tội.

- Còn ông? Ông nghĩ sao? - Tôi là người tìm sự thật. Tôi bắt và thẩm vấn người; ngay lúc này tình hình xem vẻ lôi thôi cho cô Salander. Chúng tôi đã bỏ tù những tên giết người với chứng cứ có hoàn cảnh giảm khinh còn yếu hơn thế này rất nhiều. - Ông không trả lời câu tôi hỏi.

- Tôi không biết. Nếu cô ấy không chứng minh được là vô tội... Anh nghĩ ai có động cơ giết cả người giám hộ lẫn hai người bạn của anh? Blomkvist lấy bao thuốc lá ra mời Bublanski nhưng ông lắc. Anh không muốn nói dối cảnh sát. Anh cần nói một điều gì đó về cái người được biết là Zala. Anh cũng nên bảo Bublanski về chánh thanh tra Gunnar Bjorck ở Cảnh sát An ninh. Nhưng Bublanski và các đồng nghiệp của ông đã nắm được tài liệu của Svensson trong đó có danh mục . Họ chỉ cần đọc nó thôi. Thay vì vậy họ lại như cỗ xe lăn đường xông lên miết, đồng thời mớm cho báo chí những chi tiết tục tĩu về Salander.

Anh có một ý nhưng không biết nó sẽ dẫn đến đâu. Chưa biết chắc, anh chưa muốn nêu tên Bjorck ra. Zalachenko. Đó là mối liên hệ giữa Bjurman với Svensson và Johansson. Vấn đề là cho đến nay Bjorck chưa nói với anh điều gì cả. - Ông để cho tôi đào sâu hơn ít nữa, rồi tôi sẽ cho ông một lý lẽ thứ hai. - Không mang dấu vết cảnh sát, tôi hy vọng.

- Không. Miriam Wu đã nói gì? - Cũng đại khái như anh. Họ có quan hệ với nhau. - Không phải là việc của tôi. - Blomkvist nói.

- Cô ấy và Salander biết nhau đã ba năm. Cô ấy nói không biết gì lai lịch của Salander, thậm chí không biết cả chỗ Salander làm việc. Khó tin nhưng tôi nghĩ cô ấy nói thật. - Giữ kín chuyện riêng đã thành nỗi ám ảnh tâm thần của Salander. - Blomkvist nói. - Ông có số điện thoại Miriam Wu không? - Có.

- Cho tôi được không? - Không. - Tại sao không?

- Mikael, đây là công việc của cảnh sát. Chúng tôi không cần các điều tra viên với các lý lẽ hoang dại. - Tôi chưa có một lý lẽ nào. Mặt khác, tôi nghĩ câu trả lời nằm ở trong tài liệu của Svensson. - Nếu anh cố gắng thì anh có thể tiếp xúc với Wu.

- Chắc thế. Nhưng cách đơn giản nhất là hỏi một ai đó đã có số điện thoại. Bublanski thở dài. Blomkvist chợt thấy rất ngán ông này. - Ý ông là cảnh sát thì tài giỏi hơn người dân thường chứ gì? Dân thường đều bị coi là điều tra viên tư nhân thôi nhỉ?

- Không, tôi không nghĩ thế. Nhưng cảnh sát được huấn luyện và việc của họ là giải quyết các vụ án. - Người dân thường cũng được huấn luyện chứ. - Blomkvist thong thả nói. - Và đôi khi trong việc tìm ra vấn đề, điều tra viên tư nhân lại giỏi hơn một cảnh sát thực thụ. - Thì anh cứ tin như vậy đi.

- Tôi biết thế. Lấy vụ Rahman ra mà xem. Một đống cảnh sát nhắm mắt lại ngồi ườn ra năm năm trong khi đem giam Rahman lại, kẻ không hề giết bà phu nhân già. Ông ta cứ còn ngồi tù cho đến nay nếu không có một cô giáo dành mấy năm ra điều tra nghiêm túc riêng một mình. Cô giáo ấy làm không hề với nguồn lực nào sẵn ở trong tay như các ông. Cô giáo ấy không chỉ chứng minh Rahman vô tội mà còn nhận diện ra được kẻ nhiều phần chắc chắn là tên sát nhân. - Chúng tôi đã mất mặt trong vụ Rahman. Công tố viên không chịu nghe sự thật. - Bublanski... Tôi sẽ nói với ông một điều. Vào đúng cái lúc “mặt” cũng đang bị mất đi ở trong vụ Salander này, tôi chắc như đinh đóng cột là cô ấy không giết Dag và Mia và tôi sẽ chứng minh điều đó. Tôi sẽ cung cấp cho các ông tên sát nhân thực thụ và lúc chuyện ấy xảy ra thì tôi sẽ viết một bài báo mà ông và các đồng nghiệp của ông đọc sẽ đau đấy.

Trên đường về nhà ở Katarina Bangata, Bublanski cảm thấy cần kíp thưa chuyện với Chúa ngay về vụ án nhưng thay vì đến nhà thờ Do Thái, ông lại đến Nhà thờ Thiên Chúa ở trên đường Folkgungatatan. Ông ngồi xuống một ghế dài ở hàng cuối, không động đậy hơn một giờ. Là người Do Thái ông chả có phận sự gì ở trong một nhà thờ Thiên Chúa nhưng ở đây yên bình và khi cần sắp xếp lại đầu óc ông thường hay đến đó. Ông thấy nhà thờ Thiên Chúa cũng là một nơi tốt để suy ngẫm và ông biết Chúa không so kè chuyện đó. Ngoài ra, có một khác biệt giữa đạo Do Thái và đạo Cơ đốc. Ông đến nhà thờ Do Thái khi ông cần có bằng hữu và sự quây quần với người khác. Người theo đạo Cơ đốc đến nhà thờ để tìm bình yên trước mặt Chúa. Nhà thờ với sự tĩnh lặng và khách đến đó luôn được để cho yên ắng một mình. Ông loay hoay suy nghĩ về Salander và Wu. Rồi ông nghĩ Berger và Blomkvist có thể còn găm với ông một điều gì - chắc chắn họ biết điều gì đó về Salander mà họ không bảo ông. Việc mà Salander điều tra cho Blomkvist là thuộc kiểu gì đây? Có thể cô ấy đã làm cho Blomkvist trong việc chuẩn bị vạch trần vụ Wennerstrom ra nhưng ông gạt bỏ khả năng này. Salander không thể đóng góp điều gì có giá trị trong vụ này bất kể cô ấy giỏi điều tra cá nhân đến đâu. Bublanski thấy bức bối: ông không thích lối đinh ninh ngạo mạn của Blomkvist về sự vô tội của Salander. Với ông thì làm thám tử là phải bị nghi ngờ bủa vây xung quanh - nghi vấn là nghề nghiệp của ông. Với một người điều tra riêng lẻ như Blomkvist thì đưa ra kết luận cuối cùng lại là một việc khác hoàn toàn.

Ông không bận tâm đến các điều tra riêng tư vì chúng rất thường hay dẫn tới các lý sự về thông đồng, những cái có thể cho ra những đầu đề trên báo nhưng cũng lại tạo ra cho cảnh sát rất nhiều công việc râu ria không cần thiết. Điều tra riêng lẻ đã phát triển tới chỗ làm cho cuộc điều tra án mạng lần này trở nên việc khó chịu nhất mà ông từng dính vào. Không hiểu sao ông đã để lạc mất trọng tâm chú ý. Chắc là đã có cả một dây chuyền những hậu quả lôgic. Nếu một người đàn ông trẻ tuổi bị đâm chết ở đường Mariatorget, thì sẽ là phải dò tìm ra băng đầu trọc hay nhóm côn đồ nào đã hoành hành khắp vùng ga Soder một giờ trước đó. Có bạn bè, chốn quen biết thì sẽ có nghi can rất nhanh thôi.

Nếu một người bị ba phát súng bắn chết trong một quán bar rồi quay ra hắn là một đại bàng trong băng mafia Nam Tư thì lúc đó sẽ phải tìm ra thằng ác ôn nào trong bọn đã toan nắm lấy quyền kiểm soát buôn lậu thuốc lá. Nếu tìm thấy một phụ nữ trong tuổi hai mươi, lai lịch tử tế và sống bình thường mà bị bóp cổ chết trong nhà cô ta thì lúc đó sẽ phải tìm ra bạn trai của cô ta hay người cuối cùng cô ta nói chuyện với ở quán bar đêm hôm trước là ai. Bublanski đã làm quá nhiều các cuộc điều tra như thế này đến nỗi ông có thể làm trong khi ngủ.

Cuộc điều tra hiện nay đã bắt đầu rất tốt. Chỉ vài giờ sau họ đã tìm ra nghi can số một. Về thực tế vai trò này là được dành cho Salander - một trường hợp tâm thần rõ rệt, được biết đã từng có những cơn bùng nổ hung bạo không kiểm soát nổi trong đời. Đây chỉ có việc đơn giản bắt cô ta, có bản thú tội hay tùy theo hoàn cảnh đưa cô ta vào nơi chăm sóc tâm thần. Nhưng sau bước bắt đầu khả quan, mọi việc đã hóa ra hỏng toét. Salander không sống ở địa chỉ của cô ta. Cô có những người bạn như Armansky và Blomkvist. Cô có quan hệ với một đồng tính ái nữ thích làm tình với còng số tám và điều đó đặt báo chí vào một cơn cuồng loạn mới toanh vốn dĩ đã ở trong tình hình tệ hại. Cô ấy có hai triệu rưởi curon ở ngân hàng và được biết không phải là chủ thuê mướn. Thế rồi nhân vật Blomkvist xuất hiện với những lý lẽ về buôn bán tính dục và âm mưu thông đồng - và là một nhà báo tên tuổi, anh ta có mục tiêu chính trị khi tạo nên rối ren hoàn toàn trong cuộc điều tra bằng một bài báo duy nhất. Trên hết tất cả, nghi can thứ nhất đã tỏ cho thấy là không ai dò ra nổi cô ta ở đâu mặc dù thực tế cô ta không cao hơn cái đòn gánh và dễ nhận ra, với hình xăm đầy người. Các vụ án mạng xảy ra đã gần hai tuần mà không nghe thấy cả đến một tiếng thì thào nào về chỗ cô ta có thể ẩn náu. Bjorck đã có một ngày khốn đốn từ khi Blomkvist bước qua ngưỡng cửa nhà hắn. Lưng hắn đau ê ẩm liên miên nhưng hắn cứ đi đi lại lại trong căn nhà hắn mượn, không thể thư thái cũng như chủ động nghĩ ra điều gì. Hắn không thể hiểu nổi câu chuyện. Các mảnh trong bài đố lắp ghép không rơi vào đúng chỗ của chúng.

Thoạt nghe thấy tin Bjurman bị giết, hắn kinh ngạc. Nhưng hắn không ngạc nhiên với việc Salander bị nhận diện gần như ngay lập tức là nghi can số một. Rồi những la lối ì xèo về cô ta bắt đầu. Hắn đã theo dõi từng bài tường thuật trên tivi và hắn mua các tờ báo mà hắn vớ được rồi đọc từng dòng về vụ này. Hắn không bao giờ nghi ngờ việc Salander bị bệnh tâm thần và có thể giết người. Hắn chả có lý do thắc mắc về tội lỗi của cô hay những thừa nhận của cảnh sát - trái lại, mọi điều hắn biết về Salander đều bảo với hắn rằng cô bị rối loạn tâm thần nặng thật. Hắn đã có ý gọi cảnh sát góp lời khuyên cho cuộc điều tra nhưng rồi hắn nhận ra chuyện này thực sự chẳng còn liên quan gì đến hắn nữa, và đã có những người có năng lực nắm lấy nó. Ngoài ra gọi như thế có thể làm cho hắn bị chú ý đến, điều mà hắn muốn tránh. Hắn quả tình chỉ theo dõi lơ mơ tiếp các tin lớn về tiến trình vụ điều tra. Blomkvist đến thăm đã làm cho sự yên bình và tĩnh lặng của hắn lộn tùng phèo. Hắn không hề ngờ qua rằng cơn cuồng hoan giết chóc của Salander lại có thể đi tới chỗ dính dáng đến cá nhân hắn - rằng một trong những nạn nhân của cô ta lại là một con heo bẩn thỉu của thông tin đại chúng và con heo ấy sắp đem hắn phô bày ra trước cả nước Thụy Điển.

Thậm chí chuyện tên của Zala rồi sẽ hiện lên trong một bài báo như một quả lựu đạn đã tháo chốt an toàn hắn cũng ít nghĩ đến. Và hơn hết hắn càng ít tưởng tượng ra rằng một nhà báo như Blomkvist lại biết đến cái tên Zala. Chuyện này vượt khỏi mọi khả năng lường đến của con người ta. Sau hôm Blomkvist đến gặp, hắn điện thoại cho sếp cũ, người hiện nay đã hoàn toàn cổ lỗ và sống ở Laholm. Hắn cố moi ra bối cảnh mà không để lộ cho thấy hắn gọi đây là vì những lý do khác chứ không phải vì các lý do thuần túy tò mò hay quan tâm nghiệp vụ. Câu chuyện tương đối ngắn ngủi.

- Bjorck đây. Tôi cho rằng ông đã đọc báo. - Đã. Cô ta lại thình lình vọt ra. - Xem vẻ cô ta không thay đổi mấy.

- Chả còn là chuyện để chúng ta bận tâm. - Ông không nghĩ là... - Không, tôi không nghĩ gì cả. Mọi cái đã chết và đã chôn vùi rồi. Hết liên quan.

- Nhưng lại là Bjurman chứ không phải ai. Tôi cho rằng không phải tình cờ mà ông ta thành ra người giám hộ con bé. Vài giây im lặng trên máy. - Không, không phải ngẫu nhiên. Xem ra là giống một cái ý ba năm trước. Ai có đoán trước chuyện này?

- Bjurman biết đến mức nào? Sếp cũ của hắn cười lúc cúc: - Cậu biết thừa Bjurman giống với cái gì rồi mà. Không phải là diễn viên có tài nhất.

- Ý tôi là... hắn có biết mối quan hệ không cơ? Liệu trong giấy tờ hay đồ dùng cá nhân của hắn có cái gì đó có thể dẫn đến một ai đó mà... - Không, dĩ nhiên là không. Tôi hiểu anh định nói gì nhưng đừng lo. Salander luôn là một con tốt hỉn trong câu chuyện này mà. Chúng ta đã bố trí để cho Bjurman nhận việc ấy nhưng chỉ là khi chúng ta có được một người mà chúng ta kiểm soát được thì mới cho đứng ra giám hộ con bé. Thà thế còn tốt hơn là một số lượng không biết rõ. Nếu con bé bắt đầu bô lô ba la cái gì là ông ta sẽ báo với chúng ta. Bây giờ thì sẽ thực hiện tốt đẹp nhất mọi sự. - Ý ông nói là sao?

- À, sau chuyện này Salander sẽ vào ngồi lâu trong một nhà tâm thần, ngồi dài ngồi lâu. - Nghe có lý. - Đừng lo. Đi mà hưởng yên vui kỳ nghỉ ốm này đi.

Nhưng đó chính là điều Bjorck không thể làm nổi. Blomkvist đã nhìn thấy chỗ này. Bjorck ngồi ở bàn bếp nhìn ra Jungfrufjarden bên ngoài kia trong khi cố tóm lại tình thế của hắn. Hắn bị uy hiếp ở hai bên. Blomkvist sẽ lôi hắn ra trước pháp luật với tư cách một tên chăn dắt gái. Có một rủi ro nghiêm trọng là hắn sẽ phải chấm dứt sự nghiệp cảnh sát bằng việc bị kết tội đã vi phạm luật về buôn bán tính dục. Nhưng nghiêm trọng hơn nữa là việc Blomkvist đang cố dò ra lõng Zalachenko. Chả hiểu sao hắn cũng lại dây cả vào chuyện này. Và Zala sẽ dẫn hắn đến thẳng ngay cổng nhà Bjorck.

Rõ ràng sếp cũ của hắn yên trí là ở văn phòng của Bjurman không có thứ gì có thể cho ra được một đầu mối xa hơn. Nhưng có đấy. Bản báo cáo năm 1991. Nhờ Bjorck mà Bjurman có bản này. Hắn cố cho hiện lại trước mắt cuộc gặp với Bjurman hơn chín tháng trước. Hai người gặp nhau ở Gamla Stan. Một chiều đang làm việc thì Bjurman gọi hắn, gợi ý uống bia. Giữa thanh thiên bạch nhật hai người đã nói đến câu lạc bộ bắn súng và mọi sự nhưng Bjurman tìm hắn là vì một lý do đặc biệt. Hắn muốn được chiếu cố một điều. Hắn đã hỏi về Zalachenko... Bjorck đứng dậy, đến bên cửa sổ bếp. Hắn có hơi chếnh choáng. Thật ra hắn không hoàn toàn say. Bjurman đã hỏi hắn gì nhỉ?

“Nói về... Tớ đang làm dở một việc cho một chỗ quen biết lâu ngày nay thình lình vọt ra...” “Ờ thế à, ai vậy?” “Alexander Zalachenko. Cậu nhớ hắn ta không?”

“Cậu đùa. Hắn đâu phải người dễ mà quên được.” “Chuyện gì với hắn thế?” Về danh nghĩa đây không hề là việc của Bjurman. Thật ra chỉ riêng việc Bjurman hỏi thế thôi cũng đã đủ để mà soi kính hiển vi vào đấy rồi... nhưng vì nỗi hắn là người giám hộ của Salander. Hắn nói hắn cần bản báo cáo. Và mình đã cho hắn.

Bjorck đã phạm một lỗi nghiêm trọng. Hắn cho rằng Bjurman đã được báo cho hay - không thể nghĩ khác như thế được. Còn Bjurman thì trình bày vấn đề như là hắn muốn nhảy bỏ qua các thủ tục quan liêu rắc rối trong đó mọi thứ đều được đóng cho con dấu “tối mật” rồi cà rịch cà tàng ngâm tôm cho đến hàng tháng. Đặc biệt lại là chuyện dính dáng đến Zalachenko. Mình đã đưa cho hắn bản báo cáo. Nó vẫn còn đóng dấu “tối mật” nhưng đó là vì một lý do đúng và có thể hiểu được mà Bjurman thì không phải là người sẵn sàng nhè bí mật ra. Hắn không xuất sắc nhưng hắn không bao giờ là đứa buôn dưa lê. Chuyện này có thể gây tổn thất không? Nó là chuyện đã rất nhiều năm trước đây rồi. Bjurman đã biến hắn thành thằng ngu. Thoạt nghe hắn lại tưởng chỉ là chuyện hợp thức và bàn giấy mà thôi. Càng nghĩ đến chỗ này hắn càng tin là Bjurman đã cố tình rất thận trọng chọn lựa lời lẽ.

Nhưng Bjurman theo đuổi cái chuyện quái gì đây thế chứ? Thứ Bảy, Blomkvist đến căn hộ ở Lundagatan bốn lần nữa, hy vọng tìm thấy Miriam Wu nhưng cô không bao giờ ở đấy. Phần lớn hôm ấy anh ở quán Kaffebar trên đường Hornsgatan với chiếc máy tính iBook, đọc lại các thư điện tử mà Svensson đã nhận được ở địa chỉ của anh ấy tại Millennium và nội dung của thư mục . Trước khi bị giết, trong mấy tuần liền Svensson ngày càng bỏ ra nhiều thì giờ hơn điều tra về Zala.

Blomkvist mong có thể gọi điện hỏi Svensson tại sao tài liệu về Irina P. lại nằm trong danh mục . Kết luận duy nhất hợp lý là Svensson nghi hắn đã giết cô gái. 5 giờ chiều, Bublanski gọi anh và cho số điện thoại của Miriam Wu. Anh không hiểu điều gì đã khiến ông ta thay đổi ý kiến nhưng bây giờ có số điện thoại rồi thì cứ nửa giờ anh lại gọi một lần. Mãi đến 11 giờ đêm cô mới mở di động. Câu chuyện ngắn ngủi. - Chào Miriam. Tôi là Mikael Blomkvist.

- Thì anh là cái quỷ gì chứ? - Tôi là nhà báo, làm ở tạp chí có tên là Millennium. Miriam Wu biểu hiện cảm giác bằng một cách cô đúc:

- A, vâng. Nhà báo Blomkvist kia đấy. Cút, đồ báo chí bò sát. Blomkvist chưa kịp giải thích anh muốn gì cô đã dập máy. Anh hướng vài ý nghĩ xấu xa đến Tony Scala rồi cố gọi lại. Cô không trả lời. Cuối cùng anh gửi tin nhắn đến di động của cô. Xin gọi tôi. Quan trọng.

Cô không bao giờ gọi. Khuya đêm ấy Blomkvist đóng máy tính, cởi quần áo và bò lên giường. Anh mong có Berger nằm bên..

Quảng Cáo

0908746000
 

Liên Hệ

0908746000
 

Quảng Cáo

0908746000