Hôm nay bạn muốn đọc gì?

Cô gái mang trái tim đá - The Gargoyle - Chương 16

Chương XV.

Bấy giờ khi anh đã qua khỏi tình trạng nguy kịch, sức khỏe của anh tiến triển từng ngày. Vẫn còn nhiều thương tổn cần chữa trị, nhưng tôi không còn lo anh sẽ đột ngột ra đi mỗi khi tôi rời căn phòng đó nữa. Lúc đầu, anh không muốn nói chuyện về cuộc đời mình. Tôi không chắc đó là bởi anh cảm thấy xấu hổ vì cuộc đời làm lính đánh thuê của mình hay vì trận đánh đó đau đớn đến nỗi khó có thể nhớ lại. Nhưng vì không được bàn tán gì cuộc đời anh, tôi bèn lôi cuộc đời tôi ra làm chủ đề trò chuyện. Anh dường như bị cuốn hút vì nó, vì tôi, một điều tôi không tài nào lý giải nổi. Cuộc đời trong tu viện thì có thể có gì hay ho chứ? Nhưng mắt anh sáng lên khi tôi kể cho anh nghe về công việc của tôi trong phòng viết, và anh đã hào hứng hỏi về quần áo của mình. Tôi lấy chúng ra khỏi tủ. Dù chúng hầu như chỉ còn là những mảnh rách rưới, các xơ không thể vất đi những thứ không thuộc về họ. Mũi tên đã đâm xuyên qua ngực chiếc áo giáp không tay của anh và vùng xung quanh gần như đã bị cháy sém hết, nhưng tôi vẫn có thể cảm thấy một vật khá nặng hình chữ nhật nằm trong túi áo khâu ngược vào trong. Anh rút vật này ra, nó được gói trong những lần vải. Mũi tên gãy vẫn kẹt ở phần trước của vật này, đầu mũi tên hầu như không xuyên qua phía sau. Anh lật vật ấy trên tay vài lần, ngạc nhiên vì tấm khiên bất ngờ này đã ngăn không cho mũi tên đâm sâu hơn vào ngực mình. Sau khi rút đầu mũi tên ra, anh ấn nó vào tay tôi và bảo tôi làm gì với nó cũng được.

Tôi chẳng cần phải suy nghĩ gì; tôi nói ngay lập tức là mình đã biết phải làm gì với nó rồi. “Thế đó là gì vậy?” “Tôi sẽ đưa nó lại cho anh,” tôi trả lời, “sau khi tôi nhờ cha Sunder ban phước lành cho nó. Rồi ngực anh sẽ chấp nhận nó như một lá bùa bảo vệ chứ không phải một thứ làm hại mình.”

“Tôi rất trông chờ đến ngày đó,” anh nói khi đưa cái gói cho tôi. “Tôi có thứ này từ một người bạn đã qua đời.” Tôi mở cái gói ra, bên trong là một cuốn sách viết tay với những vệt cháy sém ở phần rìa dây cả bụi than ra tay tôi. Tôi tự hỏi làm sao cuốn sách có thể nguyên vẹn không bị ngọn lửa nuốt chửng chứ? Tôi đặt nó lại vào ngực anh, và nó vừa khít với những vết bỏng. Phần da không bị cháy chính là nơi cuốn sách đã bị mũi tên găm vào, và nó cũng giải thích cho vết cắt nhỏ ở chính giữa cái hình chữ nhật không bị lửa viếng thăm đó.

Tôi lật qua cuốn sách, nhận thấy càng về cuối vết rạch trên những trang giấy càng nhỏ dần, và tôi hỏi anh về người đã mất. Anh trả lời, “Có hai người Ý trong đội của chúng tôi. Một bị giết trên chiến trường, một người rất tốt tên Niccolò. Cuốn này là của anh ấy.” Việc các đội quân condotta thuê người ngoại quốc cũng là bình thường, miễn là họ có năng lực đặc biệt. Đội lính đánh thuê của anh đã tuyển các cung thủ người Ý và đó thực ra là lý do ngay từ đầu đội quân các anh lại gọi là condotta; đó là thuật ngữ Ý chỉ các đội lính đánh thuê, và các binh lính rất thích cách phát âm đó. Người Ý là một trong những cung thủ giỏi nhất anh từng thấy, và họ rất thân thiện với anh và Brandeis. Anh không thông thạo tiếng của họ lắm nhưng cả Benedetto - anh người Ý còn lại - và Niccolò đều có khả năng xoay xở với tiếng Đức, và trong suốt những năm tháng sống cùng nhau, anh dần cảm phục họ với tư cách là cung thủ cũng như những người đàn ông chân chính. Các anh tin tưởng lẫn nhau tới mức tâm sự với nhau rằng mình đều dần trở nên quá chán ghét chiến tranh.

Khi Niccolò chết, Benedetto nhận thấy mình chịu đựng thế là quá đủ. Vì anh ấy đã suốt ngày phải liều mạng trên chiến trường rồi, có liều mình đào ngũ thì cũng đâu là gì. Nỗi sợ hãi bị truy đuổi cuối cùng đã bị lấn át bởi nỗi sợ phải tiếp tục ở lại. Thay vì cứ thế bỏ đi không lời từ biệt, Benedetto cho Brandeis và anh cơ hội nhập bọn. Anh đã cân nhắc ý tưởng đó, nhưng cuối cùng quyết định không. Herwald có thể cho qua chuyện một người nước ngoài tự dưng biến mất, nhưng nếu cả ba cung thủ cùng biến mất một lúc thì không thể tránh khỏi hậu quả cực kỳ khủng khiếp. Nhưng, quan trọng hơn hết thảy, cả anh lẫn Brandeis đều không dám làm như Benedetto. Thật ra các anh sợ đội quân của chính mình còn hơn sợ kẻ thù. Tuy thế, hai người vẫn rất ngưỡng mộ Benedetto và thấy cần phải giúp anh ấy, phần vì tình bạn, phần vì cảm giác hồi hộp khi làm việc đó. Benedetto thấy cũng là chuyện đúng đắn nếu cố mang tất cả những gì có thể đến cho vợ và hai con trai của Niccolò ở Firenze. “Bọn trẻ cần phải giữ thứ gì đó thuộc về cha chúng khi chúng lớn lên.” Thế là, trong bóng đêm, ba người các anh đã xếp hết di vật của người chết ra xem xét cẩn thận. Có một túi tiền, quần áo, một đôi ủng, một cuốn sách và một cây cung. Benedetto giữ túi tiền, một món đồ giá trị để trao cho người vợ, và cây cung, anh ấy nghĩ đây là món quà xứng đáng cho những người con của một chiến binh.

Mặc dù thực sự không cần cuốn sách, anh cũng ấn vào tay Benedetto một chút tiền để mua nó. “Người cha không còn nữa, họ sẽ cần cái này hơn vài lời nói suông.” Benedetto gật đầu, nói rằng không hiểu tại sao bạn mình lại có một cuốn sách. “Có vẻ như nó được viết bởi một nhà thơ nổi tiếng xứ Firenze, nhưng tôi đã luôn trêu Niccolò về chuyện đó. Đàn ông như chúng ta cần thơ ca làm gì chứ?” Buổi sáng hôm sau, anh và Brandeis phải giả vờ bất ngờ như tất cả những người khác trước chuyện Benedetto biến mất. Kuonrat Háo Danh sốt sắng đòi tiến hành cuộc truy lùng quy mô lớn để “tìm giết kẻ phản bội!” Herwald thì suy nghĩ chín chắn hơn. Ông ấy đã quyết chỉ để cho một nhóm nhỏ đuổi theo Benedetto, và chỉ trong một thời gian ngắn thôi.

Herwald lý luận, “Anh người Ý đó sẽ trở về quê thôi. Cứ để anh ấy đi. Anh ấy không phải người Đức; anh ấy không phải một trong số chúng ta. Nhưng đừng có nghĩ việc này sẽ gợi ý một sự thay đổi trong đường lối hoạt động của đội. Nếu một binh lính Đức trốn chạy, chúng ta sẽ không ngừng truy đuổi cho tới khi tìm giết được kẻ đó. Dù có mất bao nhiêu năm đi nữa.” Bài phát biểu này xoa dịu cả đoàn quân, hầu hết đều chẳng ưa gì việc mấy tay nước ngoài cứ lố nhố giữa bọn họ. Đối với họ, sự ra đi của cả hai tay người Ý, cách này hay cách khác, là quá đủ rồi. Kuonrat Háo Danh vẫn còn tức giận trước sự biến mất của Benedetto, nhưng lời đe dọa nóng hổi về cái chết dành cho những kẻ đào ngũ người Đức đã mang lại một nụ cười đểu cáng trên khuôn mặt hắn. Tuy thế, hắn vẫn kịp nhận ra đây là một cơ hội hoàn hảo để thì thầm những lời vu khống. “Ông già Herwald đã dần trở nên mềm yếu rồi.” Đúng lúc này thì anh đột ngột dừng câu chuyện, rồi nhìn xuống sàn bệnh xá Engelthal với vẻ bối rối đến nỗi tôi phải hỏi ngay là có chuyện gì không.

“Cuốn sách này,” anh nói, “có gì đó rất lạ lùng. Khi tôi nhìn thấy nó lần đầu tiên, nó dường như đang gọi tôi. Như thể nó muốn tôi nhận lấy nó vậy.” “Cũng chẳng có gì quá kỳ lạ đâu. Những cuốn sách lúc nào chẳng làm tôi có cảm giác đó.” “Nhưng xơ Marianne,” anh thú nhận, “tôi không biết đọc.”

Tôi không hiểu vì sao anh nghĩ tôi trông chờ anh biết đọc. Tôi ý thức rõ khả năng đọc của mình rất khác thường, không phải ai cũng làm được. Nếu như anh không lấy quyển sách, tôi chỉ ra, mũi tên đã có thể đâm xuyên tim và giết chết anh rồi. “Chắc chắn anh nhận ra nhiều giá trị của cuốn sách này,” tôi nói, “hơn bất cứ thứ gì tôi từng đọc.” Anh đã biết, hoặc ít nhất anh cũng đoán ra được, cuốn sách đó được viết bằng tiếng Ý chứ không phải tiếng Đức. Tôi xác nhận lại điều đó, nhưng cũng nói thêm là tôi có thể dịch được. Anh khá ấn tượng, vì anh không nghĩ là ai đó có thể đọc được một ngôn ngữ, nói gì đến hai. Tôi hứa sẽ nghiên cứu kỹ khi quay trở về phòng, và sẽ cho anh biết nó viết về cái gì. Điều này làm anh hài lòng, nhưng anh vẫn muốn xin tôi một ân huệ nữa. “Hãy cầu nguyện cho linh hồn người bạn đã chết Niccolò của tôi và vợ con anh ấy. Và cho cả Brandeis nữa. Tôi có thể tự làm việc đó, nhưng tôi sợ những lời cầu nguyện của tôi không có giá trị như của xơ.”

Tôi đảm bảo với anh rằng lời cầu nguyện của tất cả mọi người đều có giá trị như nhau, nếu được nói ra với một trái tim chân thành, nhưng chắc chắn tôi sẽ làm theo yêu cầu của anh. Buổi tối hôm đó, tôi bắt tay vào dịch sách. Cuốn sách có rất nhiều hình ảnh tôn giáo, vì thế cuốn kinh cầu nguyện của Paolo thực sự rất hữu ích, nhưng nó dường như được viết bởi một giọng văn đặc địa phương, một thách thức đối với tôi. Ngay từ đầu nó rõ ràng không giống với bất cứ cuốn sách nào tôi từng đọc. Đây cũng sẽ là một cuốn sách cần được giữ kín khỏi mọi tai mắt của các nữ tu khác. Địa ngục, bìa sách viết, của Dante Alighieri. Dù Dante rõ ràng là một người rất sùng đạo, nhưng ông cũng chẳng mấy coi trọng các hoạt động thường nhật của Giáo hội. Tôi há hốc mồm khi đọc đến đoạn miêu tả khu giam giữ những Giáo hoàng dị giáo dưới Địa ngục. Một trong những Giáo chủ đó là Đức ngài Boniface, Giáo hoàng đương nhiệm. Gertrud và thậm chí cả mẹ Christina đều rất coi trọng ông.

Đêm tôi dịch khẩn trương, và ngày tôi lại chăm sóc anh. Khi các xơ y tá đi ra ngoài cầu kinh theo lịch, tôi đọc cho anh nghe những gì tôi vừa dịch đêm hôm trước. Tôi cảm thấy chúng ta đang chia sẻ với nhau một cái gì đó rất xấu xa, nhưng xấu xa một cách tuyệt vời. Câu chuyện đã đưa chúng ta tới những nơi khác nhau. Thứ ngôn ngữ bình dân không trau chuốt và những hình ảnh thô cứng đã mang tôi đến với thế giới của anh, nhưng những ý tưởng về tôn giáo lại mang anh đến cuộc sống tâm linh của tôi. Bằng cách nào đó chúng ta đã gặp nhau trong cuốn sách. Tôi luôn được dạy rằng mình có thể tìm thấy Chúa ở khắp mọi nơi, trong tất cả tạo vật, nhưng chẳng bao giờ tôi thực sự làm được. Tôi được dạy rằng nếu tôi không tìm thấy Chúa, tôi sẽ phải cầu nguyện để nhận được thêm nhiều chỉ dẫn, hoặc để làm bản thân thanh khiết hơn sao cho Người có thể đến với tôi. Vì thế hãy tưởng tượng tôi đã bất ngờ thế nào khi tôi bắt đầu hiểu rõ hơn về Chúa Thánh Thần thông qua giọng nói của Dante, và sau cả cuộc đời chìm đắm trong những lời chỉ dạy của Thiên đường, cuối cùng tôi đã có thể tìm được Chúa sau khi nhìn thấy thế nào là Địa ngục. Những giây phút riêng tư giữa hai chúng ta không bao giờ là đủ. Các nữ tu rồi cũng quay trở lại và chúng ta sẽ phải chuyển chủ đề sang những thứ không liên quan đến cuốn sách đó. Thời gian trôi qua và anh dần hé lộ về cuộc đời làm lính đánh thuê của mình. Tôi bị mê hoặc bởi tất cả những gì anh kể, kể cả lý do anh trở thành lính đánh thuê.

Khi còn nhỏ, anh luôn nghĩ mình sẽ theo bước cha trở thành thợ nề. Anh được cha chỉ dạy và cuộc đời anh dường như đã được định đoạt cho tới những năm đầu niên thiếu, khi cha anh bị đá đè khi chuyển đá xây dựng, và mẹ anh cũng mất không lâu sau đó, vì một căn bệnh không ai biết nổi tên, nói gì đến chữa trị. Thế là từ con trai của một gia đình tử tế, anh trở thành một đứa trẻ mồ côi không nơi nương tựa. Thành phố tịch thu nhà của anh, và vì chẳng có người thân thích nào khác, anh đã tự dạy mình cách sinh tồn trên đường phố. Trộm cắp vặt dường như không phải tội lỗi gì ghê gớm lắm khi nó là cách kiếm cơm duy nhất của anh. Một ngày nọ anh đã cố trộm một chút tiền từ ví của Herwald, lúc đó ông đang vào thị trấn để kiếm đồ tiếp tế. Khi bắt quả tang anh, ông đã bị ấn tượng bởi nghị lực hơn là khó chịu vì hành động sai trái của anh. Ông đã đề nghị anh gia nhập đội quân của mình, và anh cũng thấy chẳng việc gì phải từ chối cả. Anh rất hào hứng trước lời đề nghị, và cứ xét một cách đơn giản thôi, anh lúc đó cũng không thể tưởng tượng nổi còn có giải pháp nào tốt hơn nữa.

Gia nhập đội quân condotta thực ra cũng không hẳn là một lựa chọn quá tệ, hay ít ra nó cũng có vẻ như thế. Việc tranh giành quyền lực giữa Giáo hoàng và Hoàng đế Louis khiến tất cả những hoàng thân quốc thích còn sót lại trên khắp đất nước rơi vào cảnh rối loạn. Khi quân đội Đức cuối cùng cũng trở nên kiệt quệ, các lãnh chúa quý tộc bắt đầu lập những đội quân cho riêng mình. Tình thế đã trở nên phức tạp đến nỗi chính họ cũng chẳng biết đâu là bạn đâu là thù và điều chắc chắn duy nhất là những đội lính đánh thuê chả bao giờ thiếu việc. Khi tôi hỏi anh đứng về phe nào - Giáo hoàng John hay Hoàng đế - anh trả lời rằng một khi đã tham gia vào chiến tranh thì ở bất cứ phe nào cũng đều sai cả. “Tiến trình lịch sử chỉ xoay quanh việc người này cố giành lấy một thứ gì đó từ một người khác, và thường thì thứ gì đó ấy thực ra cũng chẳng phải của bất cứ bên nào.” Quan điểm này của anh giải thích tại sao anh có thể xoay xở qua ngày với cây cung trên tay. Đó chỉ là vì anh thực tế. Tôi chưa từng nghe ai nói thẳng thừng như anh, thậm chí cả người buôn giấy da cũng không nói với tôi những điều như thế. Tôi không thích mình cảm thấy thích thú vì điều đó, nhưng sự thực là thế. Tôi luôn thấy thanh thản khi tưởng tượng lính tráng chỉ là những cỗ máy giết người vô tri không hơn không kém, nhưng anh đã chứng minh ngược lại. Tôi có lý do để mà phần nào có thể tự cao tự đại về cuộc đời nghiên cứu sách vở của mình, nhưng tôi cũng phải thừa nhận có nhiều điều anh biết mà tôi lại không hay. Phần thịt nơi ngực anh ngày càng rúm lại khi vết thương dần lành miệng. Anh đã nhờ tôi khoét hở ngực để nó có thể phát triển. Tôi không muốn làm thế, và phải nhìn anh chịu đau đớn vì con dao trong tay tôi là điều tôi không thể chịu nổi. Nó khác với lúc tôi cắt bỏ phần thịt thối rữa của anh, vì hồi đầu, tôi vẫn còn có khả năng kiềm chế cảm xúc của mình.

Nhưng anh cố đòi bằng được. Anh cảm thấy điều này rất cần thiết, anh có thể cảm nhận được điều đó dựa trên nỗi đau đớn khi phải giơ tay lên. Vì thế cứ vài ngày anh lại ngậm một miếng vải cuộn gọn ghẽ trong miệng và tôi sẽ rạch vài vết trên ngực anh để làm giảm sự co rúm. Việc ấy thật kinh khủng và tôi phải vừa làm vừa tránh nhìn, nhưng những tiếng thét nghẹn ứ của anh thì vẫn còn đó. Anh không thể biết tôi ngưỡng mộ lòng can đảm của anh đến mức nào đâu. Cách điều trị này có vẻ mang lại kết quả tốt: cuối cùng anh cũng có thể rời giường bệnh để đi lại vài bước ngắn, và thỉnh thoảng tay chúng ta lại vô tình chạm vào nhau. Những lời đồn thổi không thể tránh khỏi rốt cuộc cũng bắt đầu lan khắp Engelthal. Các xơ y tá, khi trở về từ buổi cầu nguyện, đã tìm mọi cách gián đoạn câu chuyện Địa ngục để tìm hiểu bí mật giữa chúng tôi. Và không ai không nhận ra có gì đó sâu đậm hơn quan hệ y tá và bệnh nhân trong cách chúng tôi nhìn nhau. Thời gian chúng tôi ở bên nhau không còn được lý giải chỉ để cho việc điều trị nữa. Tôi chắc chắn Gertrud và Agletrudis đứng đằng sau tất cả mọi chuyện. “Tên lính đánh thuê đã làm vấy bẩn xơ Marianne đáng yêu của chúng ta.” Tôi nghĩ điều này cũng chẳng có gì sai, vì tôi đã nhận ra mình hoàn toàn có thể yêu nhiều hơn chỉ một vị Chúa. Thực tế, tôi đã nhận ra rằng yêu nhiều hơn chỉ một vị Chúa thực ra còn tốt hơn ấy chứ.

Chuyện gì đến cũng phải đến. Mẹ Christina quyết định tống anh đi, nhưng vì anh vẫn chưa hoàn toàn bình phục, bà bèn gửi anh đến chỗ cha Sunder và huynh trưởng Heinrich. “Để giúp anh dần quay lại với cuộc sống,” bà nói. “Mọi thứ đã lo liệu xong cả rồi.” Tôi chẳng thể nói gì, vì tôi đã thề dành cả đời tận tâm phục vụ nữ tu viện trưởng của mình. Vậy là anh thu dọn chút đồ đạc ít ỏi của mình và cám ơn tất cả chúng tôi, cám ơn những cô xơ y tá khác nhiều như cám ơn tôi vậy, vì đã quan tâm chăm sóc anh tử tế. Cách chia tay của anh quy củ đến mức làm tim tôi nhói đau, nhưng tôi nghĩ những người lính giỏi nhất biết rõ những trận đánh nào cần phải tránh xa. Cứ thế, anh bị đưa ra khỏi cuộc đời tôi rồi được đặt vào bàn tay chăm sóc của những người khác. Tôi tự nhủ làm thế là tốt hơn cả, và tôi thậm chí còn quyết tâm bắt mình phải tin điều đó. Đã đến lúc tiến về phía trước. Chúa không ban cho tôi năng lực ngôn ngữ kỳ diệu để dịch những tác phẩm báng thánh bổ thần của các nhà thơ Ý, thế nên tôi đã khóa kín Địa ngục vào trong rương của mình. Tôi tự nhủ tình cảm tôi dành cho anh thực sự chẳng hơn gì một thử thách, để tôi có thể vượt qua mọi ham muốn thế tục và vì thế có thể phụng sự Chúa hết lòng hết dạ hơn. Tôi dự tất cả các buổi cầu nguyện và làm việc cho tới tận khuya tại phòng viết, tập trung vào Die Gertrud Bibel. Gertrud đã bắt đầu thiết kế bìa cho cuốn sách và đôi khi lớn tiếng băn khoăn liệu trang sức đính kèm có nhiều quá không. Tôi trấn an bà rằng để tôn vinh Chúa thì chẳng có gì là quá xa xỉ cả.

Chuyện này kéo dài được một tuần rồi tôi cũng ngộ ra vài điều. Tôi không thể cứ khóa kín Địa ngục trong rương mãi được, vì nó thực ra có phải của tôi đâu. Trả nó lại cho anh thì mới đúng đạo. Cũng như chuyện các nữ tu không được phép hủy quần áo tư trang của anh, tôi cũng chẳng có quyền giữ sách của anh. Thế này cũng là một dạng trộm cắp, và tôi biết chắc Chúa không hề mong tôi trở thành một tên trộm. Tôi quyết định lẻn đi gặp cha Sunder, sao lại không chứ? Tôi đã đi đêm đến nhà ông bao lần rồi, vậy tại sao mọi thứ lại phải thay đổi chỉ vì anh ở đó? Nếu tôi tránh không thực hiện thói quen hằng ngày của mình thì có khác nào cho phép sự hiện diện của anh thay đổi nếp sống của tôi - chính là điều mà tu viện trưởng đang cố ngăn cản. Cách duy nhất khiến anh không gây ảnh hưởng đến cuộc sống của tôi nữa là lén lút viếng thăm ngôi nhà anh đang ở. Cha Sunder ra mở cửa và hất đầu về phía góc nhà nơi anh đang ngồi. “Cái người này,” ông nói, “cả tuần nay đã cố hết sức không đả động gì đến tên con rồi.”

Khuôn mặt anh trông hồng hào hơn nhiều so với khi tôi gặp anh lần cuối, và khi anh đứng lên thì tôi có thể thấy rõ phần thân trên của anh đã cử động được dễ dàng hơn. Chẳng mấy chốc anh sẽ khỏe lại rồi rời nơi này, tôi nghĩ, và ngay trong giây phút đó, tim tôi như ngừng đập. Tôi quay về phía cha Sunder hốt hoảng hỏi, “Thế con phải làm gì bây giờ?” Ông nhìn về phía huynh trưởng Heinrich và họ như trao đổi với nhau điều gì đó, một cái nhìn hay một ký ức, trước khi ông lại hướng sự chú ý về phía tôi mà ngọt ngào nói, “Xơ Marianne. Con sẽ rời Engelthal, dĩ nhiên.” Theo như tôi nhớ, cha Sunder đã luôn than trách về những tội lỗi thời trai trẻ của mình, vậy mà giờ đây ông lại đang khuyên tôi bỏ trốn khỏi Engelthal để dấn bước vào cái thế giới tội lỗi ấy sao? Do chẳng bao giờ dám nghĩ tới điều này nên tôi đã thì thầm, nhỏ đến nỗi anh chẳng thể nghe thấy, “Tại sao chứ?”

“Ta đã ở cùng mẹ Christina vào cái đêm con được tìm thấy ngoài cổng,” cha Sunder thì thầm đáp lại, “và ta đã tranh luận với mọi người rằng sự hiện diện của con là một dấu hiệu của Chúa. Khi đó ta đã nghĩ rằng Chúa có một dự định đặc biệt nào đó cho con, và ta vẫn luôn nghĩ vậy. Nhưng ta không còn tin rằng những dự định đó có thể được thực hiện tại Engelthal.” Vẫn chưa đủ, tôi muốn ông giải thích thêm nữa. “Khi người đàn ông này xuất hiện, một lần nữa ta lại có mặt để chứng kiến. Ta đã thấy tình trạng của anh ta, và lẽ ra anh ta đã chết rồi - nhưng anh ta lại sống sót. Không ai có thể nghi ngờ chuyện con là nguyên do của điều kỳ diệu này. Ta không thể không nghĩ rằng cuộc hành trình của con với anh ta vẫn chưa kết thúc, và đó là một cuộc hành trình được Chúa mỉm cười đồng thuận.”

“Nhưng chối bỏ lời thề của con là một tội lỗi.” “Ta không tin vào một vị Chúa coi tình yêu là tội lỗi,” cha Sunder thì thầm. Những lời đó chính là sự cho phép tôi cần, và tôi không biết phải nói gì để cảm ơn ông. Tôi vòng tay ôm chặt lấy ông, chặt đến nỗi ông phải xin tôi nới lỏng tay ra.

Tôi quay trở lại phòng và thu dọn chỗ đồ đạc ít ỏi của mình. Vài bộ áo chùng, đôi giày tốt nhất và cuốn kinh cầu của Paolo: tôi chẳng còn gì đáng mang theo nữa. Trời đổ mưa khi tôi bắt đầu quay trở lại nhà cha Sunder, băng qua vườn. Như tất cả các xơ khác khi đi theo lối vườn, tôi đọc kinh Cầu hồn để cầu nguyện cho linh hồn những xơ đã khuất được chôn phía dưới, nhưng những lo nghĩ của tôi về tương lai đã làm tôi run lên, vì cả sợ hãi lẫn hy vọng. Thật tốt vì trời mưa, tôi nghĩ, như thể cơn mưa đó được gửi đến để rũ sạch mọi thứ liên quan đến tu viện khỏi người tôi. “Trông cô tay xách nách mang quá, xơ Marianne.” Đó là giọng nói của xơ Agletrudis. “Ít ra cô cũng đã nói lời tạm biệt với người bảo hộ của mình, tu viện trưởng rồi chứ nhỉ?” Đó quả là một cú đánh hoàn hảo. Tôi chẳng quan tâm việc Agletrudis và Gertrud sẽ nghĩ gì, nhưng tận trong sâu thẳm trái tim tôi cảm thấy mình đang phản bội mẹ Christina. Nhưng tôi có thể nói gì với bà chứ? Tôi làm sao có thể chịu đựng nổi nỗi đau trong mắt bà. Bà đã luôn tin tôi, thậm chí ngay cả khi tôi chẳng có chút lòng tin vào chính bản thân mình, và bà sẽ không bao giờ ngờ được tôi lại bất trung với bà thế này.

Tôi cứ thế đi thẳng qua Agletrudis mà không thèm trả lời, và cô ta gọi với theo tôi. “Đừng lo gì về mẹ Christina. Tôi sẽ bảo đảm bà ấy không bao giờ quên cô.” Suýt nữa tôi đã quay người lại để hỏi xem cô ta nói thế là ý gì, nhưng làm thế thì được gì chứ? Thế là tôi cứ tiếp tục đi. Tôi biết Agletrudis sẽ không rung chuông thông báo vụ bỏ đi của tôi ngay đâu. Cô ta chẳng thích để tôi ra đi âm thầm lặng lẽ và lấy lại cái ghế trưởng phòng viết đang chờ sẵn quá ấy chứ. Khi đến được nhà cha Sunder thì tôi đã hoàn toàn rũ bỏ mọi suy nghĩ về Gertrud và Agletrudis ra khỏi đầu. Khuôn mặt mẹ Christina, tuy thế, vẫn còn vương vấn trong tâm trí tôi. Huynh trưởng Heinrich gói cho tôi chút thức ăn và dù cha Sunder đã gần bảy mươi, ông vẫn khăng khăng đòi tiễn chúng tôi một đoạn. Tôi lấy lý do trời mưa, nhưng ông cứ khoác áo tơi lên rồi đi.

Khi chúng tôi đi, cha Sunder ở giữa, tôi không nghĩ gì về tương lai mà là về những gì tôi đã bỏ lại phía sau. Dù được những lời lẽ ân cần của cha Sunder động viên, tôi cũng chẳng thể bác lại sự thật trần trụi và đáng nguyền rủa rằng việc phá vỡ giao ước thiêng liêng của tôi là một tội lỗi. Tôi đã cố lý lẽ này nọ và, sau một nỗ lực đáng kể, tôi thậm chí còn chế ra được một bài tranh luận ra vẻ chính đáng. Trong tất cả các nữ tu tại Engelthal, tôi là người duy nhất không hề quyết định sẽ sống một cuộc đời như vậy. Dù đến đó khi còn trẻ, họ cũng đã từng biết đến một cuộc sống ngoài những bức tường tu viện; họ đã sống cuộc sống thế tục và biết mình đã mất những gì khi bước chân vào đời sống tu sĩ. Tôi chưa từng có cơ hội đó. Vì thế nếu tôi rời Engelthal cùng anh, và trở lại sau đó, cuộc sống tâm linh sẽ có giá trị hơn. Cuối cùng, ít nhất đó cũng là sự lựa chọn của tôi chứ không phải của ông bố bà mẹ nào đấy đã vứt tôi trước cổng: để biết được rằng liệu cuộc sống tu viện có phải là định mệnh dành cho tôi không, tôi phải rời bỏ nó đã. Sau khi chúng ta đi được khoảng một dặm, tôi thấy anh rất mệt. Cũng dễ hiểu thôi, vì thương tích của anh rất trầm trọng và từ sau tai nạn đó thì anh mới chỉ vận động chút đỉnh, nhưng anh đã quyết tâm thể hiện sự yếu đuối của mình càng ít càng tốt - để thuyết phục bản thân anh hay tôi rằng anh sẽ ổn, tôi cũng không rõ nữa. Tuy thế, cha Sunder là người dừng lại đầu tiên vì tuổi cao sức yếu. Ông nắm lấy tay anh và nhắc anh chăm sóc tôi thật tốt, và rồi ông kéo tôi qua một bên để chúng tôi có thể chuyện trò riêng tư một chút.

Ông lấy một chiếc vòng cổ cất trong lần áo lễ và nhét vào tay tôi. Mặt dây là đầu mũi tên được lấy ra từ cuốn Địa ngục, rồi ông nói, “Ta đã làm những gì con yêu cầu, xơ Marianne, và cũng đã chúc phúc cho nó rồi.” Tôi định cám ơn nhưng ông đã giơ tay lên. “Ta vẫn còn có thứ muốn trao cho con.” Ông lại lần tay trong chiếc áo lễ và lấy ra vài mẩu giấy. “Mẹ Christina không mù cũng chẳng ngốc đâu. Bà ấy không nghĩ con sẽ ra đi thật, nhưng bà cũng liệu trước khả năng đó. Bà ấy đã nhờ ta giữ những thứ này, phòng khi cần đến.” Ông trao cho tôi hai mẩu giấy mà cha mẹ tôi đã để lại trong chiếc giỏ đựng tôi trước cổng. Trên đó, được viết bằng tiếng Đức và tiếng Latin, là những dòng chữ đã đi cùng tôi đến Engelthal. Một đứa trẻ của định mệnh, đứa con thứ mười trong một gia đình tử tế, được đem tới như món quà dành cho Chúa Cứu thế và tu viện Engelthal. Xin hãy đối xử với con bé như Chúa mong muốn.

Chỉ khi đó tôi mới tuôn những giọt nước mắt đã cố giấu suốt từ khi ra quyết định. Trong một thoáng ngờ vực, tôi hỏi cha Sunder ông có thực sự tin rằng tôi đã lựa chọn đúng đắn hay không. “Marianne, con yêu thương nhất của ta,” ông nói, “ta tin chắc rằng nếu không nghe theo tiếng gọi của trái tim mình trong chuyện này, con sẽ mãi mãi phải hối tiếc đấy.” XVI.

Nhân lúc ở nhà một mình khi Marianne Engel đi chợ mua tạp phẩm, tôi quyết định dành trọn buổi chiều để đọc tác phẩm n điển-cuộc đời. Tôi đang ngồi đọc trong nhà bếp thì nghe tiếng ai đó đi qua cổng chính pháo đài, bước những bước chân như của một con tê giác mẹ hùng hục đi tìm con. “Marianne?” Giọng một phụ nữ bắn những âm tiết như một khẩu súng khạc ba viên đạn một lúc. Vừa xuất hiện trước cửa phòng ăn, bà lùi ngay lại trước sự hiện diện của tôi. “Anh là người đó hả? Lạy Chúa tôi! Thế này còn tệ hơn tôi tưởng.” Thấp, nhưng thấp kiểu Napoleon; cái kiểu thấp mà luôn kiễng chân lên để cố trông có vẻ cao hơn. Mập, nhưng mập kiểu một quả bóng nước; da thịt không nhão nhoét, nhưng cứ tròn ung ủng như đang tìm chỗ để nổ tung lên. Tuổi tác sao, năm mươi chăng? Rất khó nói chính xác, nhưng có lẽ vậy. Bà chưa có nếp nhăn; khuôn mặt quá tròn mà. Tóc ngắn cũn, má hồng rực; bộ âu phục đen với áo sơ mi trắng, ve áo rộng hất ra phía trước; giày đánh xi bóng lộn; tay chống hông. Mắt bà đầy vẻ hiếu chiến, như thể đang thách tôi đập một cú vào cằm bà ấy. Bà nói, “Anh đúng là một đống bầy nhầy không hơn không kém.”

“Bà là ai?” “Jack,” bà trả lời. Cuối cùng tôi đã đứng trước mặt người đàn ông luôn làm tôi cảm thấy bất an, chỉ để thấy rằng đó là một người đàn bà. Nhưng rõ ràng Jack Meredith trông cũng chẳng khác típ phụ nữ luôn mong mình là đàn ông. “Người môi giới của Marianne phải không?”

“Anh cứ yên tâm là không bao giờ sờ được một xu nào của cô ấy đâu.” Bà một tay tự pha cà phê cho mình, một tay cứ không ngừng xỉa xỉa vào tôi. “Cô ấy nói anh được sống ở đây hả?” Có vẻ như Jack biết câu trả lời rồi, vì bà chẳng thèm cho tôi cơ hội trả lời. “Cô ấy định chăm sóc anh kiểu gì? Nói tôi nghe coi!” “Tôi không cần cô ấy chăm sóc mình,” tôi nói, “và tôi cũng chẳng quan tâm gì đến tiền bạc của cô ấy.” “Thế thì là gì? Tình dục à?” Bà bật ra cái từ đó đầy khinh khi để tôi hiểu rằng bà coi tình dục chẳng là gì ngoài một cuộc vật lộn ghê tởm giữa hai cơ thể khác biệt.

“Tôi chẳng có cái ấy đâu.” “Ồ, ơn Chúa vì chuyện đó.” Bà bỏng cả môi khi nhấp ngụm cà phê đầu tiên. “Chúa rất yêu những kẻ khờ.” Bà vớ lấy một nắm giấy ăn để lau vệt cà phê dây ra cằm, vừa làm vừa soi tôi với vẻ coi khinh xen lẫn tò mò. “Thế thực ra là đã có chuyện gì xảy ra với anh?”

“Tôi bị bỏng.” “Ồ, tôi có thể thấy thế mà, anh tưởng tôi ngốc chắc?” Bà vo tròn mấy tờ giấy ăn lại rồi ném thẳng vào thùng rác. Bà ném trượt và bực tức với bản thân vì chuyện đó, bà bước vài bước cần thiết để nhặt cục giấy ăn lên thả vào thùng. “Bị bỏng hả? Tệ quá.” “Bà lúc nào cũng cứ thế mà đi thẳng vào nhà à?”

“Tôi đã vào cái nhà này từ khi anh còn là một thằng nhóc ăn trộm đồ uống ở các buổi khiêu vũ trung học cơ,” Jack quát ầm lên, “và tôi cũng chẳng thích thú gì cái việc anh ở lại đây cả. Anh có thuốc lá chứ?” “Tôi không hút.” Bà với lấy gói thuốc lá Marianne Engel để trên quầy. “Trong tình trạng anh hiện nay thì đó có vẻ là một ý hay đấy.”

“Thế bà là người môi giới của Marianne à?” Tôi vẫn chưa có được câu trả lời cho câu hỏi lúc đầu. “Thế và hơn nữa, cậu trai, nên hãy cư xử cho cẩn thận.” Jack hít một hơi thật sâu rồi chĩa điếu thuốc về phía tôi vẻ buộc tội. “Cái kẻ chẳng biết gọi là gì này, anh sống ở đây à, thật là một ý tưởng siêu tồi tệ. Tôi sẽ thuyết phục cô ấy bằng được, đồ quỷ nhỏ.” Có lẽ bạn cũng có thể đoán được là tôi rất thích Jack Meredith. Trước hết bởi bà là người duy nhất nói đủ to để tôi không phải bảo bà lặp lại cho tôi nghe. Nhưng hơn thế, tôi đã bị hớp hồn bởi cá tính mạnh bạo của bà: bà cứ như một con gà tây béo tròn nhân hóa được chọn làm nhân vật chính cho tiểu thuyết trinh thám kỳ bí của Raymond Chandler vậy. Tuy nhiên, điểm làm tôi cảm kích bà nhất là bà chẳng có chút cảm thông nào với bệnh nhân bỏng. Chúng tôi nhìn nhau vài phút qua cái bàn. Bà vừa cuộn điếu thuốc lá giữa ngón cái và ngón trỏ vừa nheo nheo mắt, vẻ rất khó chơi, trước khi nói: “Cậu nghĩ mình đang nhìn cái quái gì đấy hả, đồ Khoai Tây Chiên?”

* * * Vài ngày sau, Marianne Engel và tôi ngồi ở hiên sau nhà đợi người ta chở một chuyến đá phiến mới đến, cô bảo với tôi rằng cô đã nhờ Jack lập một tài khoản ngân hàng cho tôi. Khi tôi nói tôi chả tưởng tượng được Jack lại vui vẻ chịu làm việc ấy, Marianne Engel nói, “Bà ấy sẽ làm những gì được nhờ thôi. Jack chỉ giỏi dọa chứ không làm gì đâu.” TA BIẾT CHÚNG TA CÓ THỂ LÀM ĐƯỢC NHỮNG GÌ VỚI MỘT CÁI THẺ TÍN DỤNG ĐẤY.

Cuộc nói chuyện của chúng tôi lan man đôi chút, trước khi tôi quay lại hỏi cô về đoạn kết câu chuyện của chúng tôi: Tôi muốn biết áo tơi là cái gì. Marianne Engel giải thích đó là một loại áo mưa mà các tu sĩ hay dùng, được trang trí với những cảnh trong kinh Tân ước. Tôi lại hỏi thế áo mưa của cha Sunder có hình gì không. Cô xác nhận là có. “Và tôi sẽ nói cho anh biết đó là hình gì,” cô ngập ngừng nói như trêu ngươi, “khi câu chuyện tiếp tục.” Khi xe tải đến nơi, cô vỗ tay cuồng nhiệt như một đứa trẻ được đi dự hội và chạy biến ra chỗ cửa tầng hầm để tra chiếc chìa khóa to tướng vào ổ khóa khổng lồ. Cô đặt những con lăn sắt xuống đất để đẩy đá vào nhà. Nhìn những tảng đá biến mất qua khung cửa, tôi lại liên tưởng đến một giáo dân đói khát đang ngửa tay ra nhận cứu trợ. Cô đứng lùi sang một bên, khẩn khoản nhắc mấy người vận chuyển nhẹ tay với những bạn nhỏ của mình. Họ nhướng mắt nhìn như thể cô là kẻ điên nhưng vẫn tiếp tục công việc. Ngay khi họ đi khỏi, cô nhanh chóng cởi quần áo rồi thắp nến. Sau khi bật một đĩa thánh ca do nhóm Gregorian trình bày, cô nằm dài ra trên một phiến đá mới và chìm vào giấc ngủ mê mệt đến tận sáng hôm sau. Cô ào vào phòng tôi, miệng toe toét cười và tuyên bố đã nhận được những chỉ dẫn tuyệt vời, nhưng cô sẽ tắm cho tôi đã rồi mới bắt tay vào việc. Khi cô kỳ cọ cho tôi, tôi có thể cảm nhận cô chẳng có chút hứng thú nào - ngón tay cô muốn những phiến đá, chứ không phải da thịt - nhưng cô vẫn thấy cần phải làm vì đó là nhiệm vụ của mình. Vừa tắm cho tôi xong, cô liền chạy ngay xuống tầng hầm. Tôi ngồi trong phòng khách ở tầng giữa ngôi nhà, cố tập trung đọc sách, nhưng bị phân tán bởi tiếng đục đẽo của cô. Tôi chuyển lên tháp chuông để nghiền ngẫm những thứ khác - video, đọc sách, trêu con Bougatsa với cái khăn treo trên dây - nhưng chỉ được vài tiếng, nỗi tò mò của tôi đã trở nên quá lớn rồi. Tôi mở cửa dẫn xuống tầng hầm và nhón vài bước xuống cầu thang để rình Marianne Engel.

Tôi không cần lo lắng cô sẽ phát hiện sự xuất hiện tự tiện của tôi, vì cô chăm chú làm việc đến mức chẳng nhận ra tôi có mặt ở đó. Trước sự ngạc nhiên của tôi, cô ở trần mà tạc tượng; tôi cảm thấy hơi bối rối khi nhìn cô tạc tượng thoăn thoắt với những dụng cụ kim loại sắc nhọn. Đống dụng cụ giận dữ lướt qua lướt lại nhưng đôi tay cô vẫn trông thật chắc chắn, tôi cứ ngồi đó ngơ ngẩn trước vũ điệu của kim loại, của đá, và của da thịt. Nói Marianne Engel “tạc” thôi vẫn chưa đủ: còn nhiều hơn thế nữa kia. Cô cứ vuốt ve tảng đá cho tới khi nó không thể chịu hơn được nữa và phải nhả con grotesque ở bên trong ra. Cô đã dụ dỗ những gargoyle ra khỏi hang đá của chúng. Cô yêu việc đưa chúng ra khỏi đá. Khi đã hàng giờ trôi qua mà cô vẫn không hề để ý đến tôi, tôi càng lúc càng ngạc nhiên trước sự bền bỉ của cô. Cô vẫn tiếp tục làm việc cho tới tận lúc tôi đi ngủ, và còn làm xuyên đêm. Ngày tiếp theo cô cũng làm việc như vậy, cũng đẽo tạc thâu đêm. Tổng cộng, cô đã lao động hơn bảy mươi tiếng đồng hồ, uống hàng lít cà phê, hút hàng trăm điếu thuốc lá. Đây chính là phong cách làm việc mà cô từng nói - tạc không ngừng nghỉ suốt mấy ngày liền - nhưng tôi chưa bao giờ tin cô có thể làm được như thế. Tôi đã nghĩ đó chỉ là lời nói phóng đại về cách làm việc nghệ sĩ của cô mà thôi. Nhưng không phải thế. Kẻ đa nghi có thể nghĩ rằng cô chờ tôi đi ngủ rồi tự cho mình đánh một giấc, nhưng những tiếng búa đập liên hồi của cô đã làm tôi trằn trọc suốt đêm. Vào buổi sáng đầu tiên, cô cũng cố ép mình rời khỏi công việc một lúc để tắm rửa cho tôi, nhưng tôi có thể thấy - có thể cảm nhận cô chỉ miễn cưỡng làm việc đó. Mắt cô ánh lên nét lo lắng bồn chồn, gần như điên cuồng, khi cô chà miếng bọt biển lên người tôi.

Khi đã làm việc được khoảng sáu mươi tiếng, cô nhờ tôi đặt hai cái pizza chay cỡ lớn. Bình thường thì cô cũng chẳng phản đối việc ăn thịt, nhưng tôi nhanh chóng nhận ra khi đang đục đẽo, cô sẽ điên cuồng từ chối món thịt. “Không thịt! Không động vật!” Khi tôi mang mấy chiếc pizza xuống, cô lại đi về phía góc phòng để xin phép Ba Vị Chủ Nhân của mình - “Jube, Domine benedicere” - và không chịu ăn cho đến khi họ cho phép. Cô ngồi vắt vẻo giữa đống đá vụn và ngốn ngấu như một con quái thú, hầu như chẳng để ý gì đến sự có mặt của tôi. Một vệt pho mát chảy dài từ miệng cho tới ngực trái cô, và tôi thực sự muốn lướt tay như một lính đặc công pho mát để cào cấu bộ ngực đáng yêu của cô. Ánh nến nhảy nhót trên làn da trắng như trứng gà bóc, làm ánh lên những dòng mồ hôi chảy xuống những hạt bụi đá phủ đầy đôi cánh thiên thần trên lưng cô. Sự hòa quyện của những hình xăm và vẻ xuất thần của cô làm cô nửa giống nữ tu thông thái Hildergard von Bingen, nửa chẳng khác gì mafia Nhật. Cái đài của cô hàng giờ qua chơi đủ mọi thể loại, từ những tác phẩm của Carl Orff; Symphonie Fantastique của Berlioz, tổ khúc giao hưởng thứ chín của Beethoven; Poe (ca sĩ Poe, chứ không phải nhà văn Allan Poe đâu nhé); album đầu tay của Milla Jovovich; toàn bộ album của The Doors; nhạc của Robert Johnson; Cheap Thrills của Big Brothers và ban Holding Company (chơi tới bốn lần một lúc); và tuyển tập ca khúc của Bessie Smith, Howlin’ Wolf và Son House. Thời gian cứ thế trôi, nhạc cứ thế to lên và càng lúc cô càng lựa chọn những giọng ca trầm đục hơn. Dù tai tôi chẳng còn thính nhạy, cuối cùng tôi cũng phải thoái lui về cái tháp chuông nhà thờ với đôi bông bịt tai. Khi xong việc, cô hầu như không đứng nổi. Con quái vật vừa được hoàn thiện là một cái đầu người có sừng, đặt trên thân một con rồng đang quỳ, thế rồi cô hôn đôi môi lạnh lẽo của nó trước khi bò lên cầu thang rồi đổ ập xuống giường, người vẫn đầy bụi và mồ hôi.

* * * “Ồ, rõ ràng khủng hoảng tinh thần là bệnh thường gặp của các nghệ sĩ,” Gregor vừa nói qua bàn vừa rót một ly bourbon ông ta mới mua cho chúng tôi. Mặt trời đang lặn dần và chúng tôi ngồi trên hiên sau; Marianne Engel vẫn đang ngủ cho lại sức. Sau khi đã nhắc đi nhắc lại rằng ông ta không thể tiết lộ bất kỳ điều gì cụ thể về việc điều trị trước đây của cô, ông ta cũng nói mình rất vui nếu được trả lời những câu hỏi chung chung. “Sau khi đọc hết chỗ sách ấy,” tôi nói, “tôi đã rút ra một kết luận rằng những triệu chứng của cô ấy có vẻ giống của người bị bệnh tâm thần phân liệt hơn là của người bị khủng hoảng tinh thần.”

“Ừm. Có lẽ. Có thể cả hai ấy.” Gregor trả lời, “hoặc không cái nào cả. Tôi chẳng biết được. Có lẽ đó là hội chứng rối loạn thần kinh chức năng. Cô ấy có bao giờ nói vì sao mình phải làm liên tục đến mức thế chưa?” “Cô ấy nghĩ mình đang làm theo những chỉ dẫn của Chúa. Cô ấy nghĩ cô ấy đang trao những trái tim còn thừa trong ngực mình cho chúng.” “Ồ, thật là kỳ lạ.” Gregor nhấp môi. “Ê, cái này hay đấy. Nó cho tôi hiểu thêm về tình trạng của Marianne.”

“Không phải việc của ông là biết những thứ này sao?” Gregor nhún vai. “Những điều tôi không biết có thể chất đầy cả một cái nhà kho to đùng. Cô ấy có uống thuốc không?” “Không. Cô ấy ghét thuốc còn hơn ghét bác sĩ ấy. Không có ý gì đâu nhé.”

Tôi hỏi xem liệu cô có thể bị ép uống thuốc bởi một quy định gì đó không. Gregor giải thích chỉ người giám hộ hợp pháp mới có thể sử dụng biện pháp đó. Tôi gợi ý Jack, người tôi mới phát hiện vừa là bảo hộ vừa là quản lý cho cô, nhưng Gregor giải thích người bảo hộ thì chỉ có quyền hạn với tài sản của cô, chứ không có quyền gì với các quyết định tự thân của cô cả. Không ai có thể bắt một bệnh nhân phải vào bệnh viện trừ quan tòa, Gregor nói, và cũng chỉ được trong vài ngày thôi. Tôi cắt ngang là tôi không hề muốn cô phải vào viện, tôi chỉ muốn cô dùng thuốc thôi. Gregor nói rằng tất cả những gì tôi có thể làm là nhã nhặn đề nghị cô thôi. Rồi ông ta hỏi tôi xem liệu chúng tôi có thể ngừng nói về bệnh trạng của cô được không; dù ông ta thấy mình vẫn chưa xâm phạm quyền bảo mật của bệnh nhân, nhưng rõ ràng ông ta lo ngại mình đang tiến quá gần lằn ranh đó. Chúng tôi đã bỏ dở chủ đề đó như thế. Tôi hỏi ông ta về Sayuri và ông ta kể với tôi rằng hai người họ ngày càng gặp nhau nhiều hơn. Mới có một cuộc hẹn tối qua, nói thật là thế. Rồi ông ta phản pháo rằng sao tôi cứ tọc mạch chuyện tình cảm của ông ta, trong khi chẳng bao giờ hé lộ chuyện riêng. Tôi cười xòa - Chuyện tình cảm nào chứ? - nhưng ông ta đã trả đòn. “Anh chẳng lừa được ai đâu.” Một khoảng lặng xen vào cuộc chuyện trò, nhưng đó là một khoảng lặng giàu ý nghĩa. Gregor lại uống một ngụm bourbon nữa và chúng tôi cùng nhau nhìn về phía mặt trời lặn. “Một đêm đẹp nhỉ,” ông ta nói.

“Cô ấy chạm vào tôi,” tôi bật ra. Điều này làm Gregor bất ngờ. “Anh nói thế là ý gì?” “Lần đầu tiên khi cô ấy tắm cho tôi và nhìn thấy… háng của tôi” - Gregor, nhờ vị trí của ông ta ở bệnh viện, đã biết về mất mát của tôi - “cô ấy kiểm tra nó. Lướt những ngón tay của mình lên khắp chỗ sẹo.”

“Cô ấy đã nói gì?” “Rằng cơ thể tôi có thế nào cũng không ảnh hưởng gì đến cô ấy.” “Anh có tin cô ấy không?” ông ta hỏi.

“Tôi không biết.” Tôi lắc lắc chỗ rượu bourbon trong ly của mình. “Dĩ nhiên là có ảnh hưởng chứ. Nó có còn nữa đâu.” Gregor chau mày. “Tôi thất vọng đấy.” Giờ ông ta lại làm tôi bất ngờ. “Vì cái gì chứ?”

“Câu trả lời của anh,” ông ta trả lời. “Vì tôi tin cô ấy, và tôi nghĩ anh cũng nên thế.” Lại một khoảng lặng nữa trong cuộc đối thoại, lần này người phá vỡ lại là tôi. “Đêm đẹp nhỉ?” Ông ta gật đầu. Tôi đã không nói với ông ta rằng nhãn rượu bourbon Gregor mua cùng loại với chai rượu đã đổ lên đùi tôi, lấy mất cái vật đang là chủ đề nóng hổi hiện tại. Gregor mang rượu đến làm quà là có ý tốt, thế nên ích lợi gì đâu nếu làm ông ta phải nghĩ ngợi vì chuyện đó cơ chứ?

Tôi đã tưởng tượng cốc rượu bourbon đó sẽ chất đầy vị của những ký ức tồi tệ; ngược lại, nó chỉ có vị rượu ngon mà thôi. Và uống thật tuyệt: Marianne Engel cứ hay bám lấy cái suy nghĩ kỳ cục là morphine và bia rượu mà trộn với nhau thì thật tệ, nhưng tôi ngờ rằng Gregor đang cố cho tôi thấy con người hoang dại của ông ta bằng cách cho phép tôi làm một hai cốc. * * * Vài ngày sau, khi cô đã hồi phục, tôi hỏi Marianne Engel tại sao cô nghe đài trong lúc tạc tượng. Cô nhắc tôi nhớ rằng thời gian tạc càng lâu thì những gargoyle càng gào thét dữ dội hơn, và bật nhạc to là cách hiệu quả để át đi tiếng thét của chúng. Cô giải thích rằng khi cô đẽo xuyên qua những lớp đá thừa để tìm hình dạng thật sự của gargoyle, cách duy nhất để biết cô đã chạm đến lớp ngoài của bức tượng hay chưa là cứ đẽo thẳng vào nó. Nếu gargoyle gào thét trong đau đớn. Marianne Engel sẽ biết là mình đã đẽo đủ sâu.

Tôi hỏi liệu cô có sợ mình sẽ làm át cả những chỉ dẫn quan trọng của Chúa không. Cô cười trấn an tôi rằng trong cả thế giới này, chẳng đâu có được thứ âm nhạc đủ lớn để át những tiếng chỉ dẫn của Người cả. * * * Vấn đề chủ yếu mà các bệnh nhân bỏng phàn nàn là phía bảo hiểm chỉ chi trả độc có một bộ quần áo tạo áp suất, bất chấp việc những bộ áo quần này tốn hàng ngàn đô la và phải mặc lên người suốt hai mươi ba tiếng mỗi ngày. Thời gian còn lại, người bệnh sẽ được tắm rửa, và nếu người chăm sóc đang bận tắm cho người bệnh rồi, thì làm sao người ấy có thể cùng lúc giặt cái bộ áo áp suất đó chứ? Đây là lý do tại sao bắt buộc phải có ít nhất hai bộ. “Nhưng giá cả!” những công ty bảo hiểm khóc thét lên khi họ từ chối chi trả. Hơn nữa, dù có được giữ gìn cẩn thận đến đâu chăng nữa thì những chất liệu tạo áp suất này cũng chỉ bền được độ ba tháng mà thôi.

Những công ty bảo hiểm không thành vấn đề với tôi, vì mọi chi phí của tôi đã được Marianne Engel bao hết rồi. Nhưng tôi vẫn phải băn khoăn về va li tiền dưới gầm chiếc giường xương, làm sao cô có thể cáng đáng nổi tất cả những thứ này chứ? Cô luôn luôn trấn an tôi rằng khả năng tạc tượng tuyệt vời của cô đã nhận được những phần thưởng xứng đáng và rằng cô cũng chẳng muốn tiêu tiền vào việc gì cả. Tôi vẫn không thấy chắc chắn lắm, nhưng nếu cố tranh cãi thì tôi sẽ ra sao đây? Những vết thương của tôi sẽ không được chữa trị ư? Bộ quần áo và mặt nạ tạo áp suất của tôi cuối cùng cũng hoàn thành vào giữa tháng Ba. Khi Sayuri trao chúng cho tôi, tôi thấy cảm kích tức thì trước tâm sức của tất cả mọi người. Chiếc mặt nạ đã được đánh giấy ráp để có thể nhẹ nhàng bám lấy khuôn mặt tôi. Sayuri cũng cho tôi biết đám sinh viên thực tập đã nghiên cứu kỹ lưỡng những phần sẹo lồi trên mặt tôi, theo đó mà chuẩn bị tấm mặt nạ nhựa tương ứng. “Anh cũng cần dùng cả cái này nữa,” cô lôi một thiết bị kỳ cục có gắn lò xo ra. Tình trạng bỏng của khuôn mặt đã làm tôi trở nên cực kỳ nhạy cảm với khóe môi - mô sẹo quanh mép tôi - những phần ấy, nếu không được chú ý cẩn thận, sẽ làm tôi ăn nói khó khăn trong tương lai. Sau khi đặt cái banh miệng vết thương vào miệng theo đúng quy cách, tôi bắt đầu kéo mặt nạ lên mặt. Chiếc mặt nạ phải ở nguyên vị trí ấy mọi lúc mọi nơi, chỉ trừ khi tắm rửa và chăm sóc da, thậm chí cả lúc tôi ngủ. Tôi hỏi Marianne Engel trông tôi thế nào (trong lúc đó tôi phát hiện ra cái banh miệng vết thương đã làm chất giọng méo mó của tôi trở nên tệ hơn) và cô đáp tôi trông giống như một người đàn ông sẽ sống rất thọ.

Tôi soi gương. Như thể một địa đồ sẹo chằng chịt trên khuôn mặt tôi vẫn chưa đủ, giờ tôi còn phải chịu cảnh địa đồ ấy bị chiếc mặt nạ nhựa trong đè dẹp lép. Vùng da bình thường đỏ tấy giờ đã chuyển trắng bệch dưới áp suất và cái banh miệng vết thương đã khiến miệng tôi vều ra thành một nụ cười gằn đáng tởm. Mọi khiếm khuyết đều được phóng đại tối đa, và tôi trông chẳng khác nào thằng con hoang của bác sĩ ăn thịt người Hannibal Lecter và Ma nữ trong nhà hát Opera. Sayuri trấn an tôi rằng phản ứng tiêu cực lúc đầu là rất bình thường, vì tất cả những bệnh nhân bỏng - gồm cả tôi nữa, dù đã được thông báo rõ ràng - vẫn cứ đinh ninh chiếc mặt nạ sẽ giúp họ che giấu khuôn mặt mình. Nhưng thực tế thì ngược lại. Nó sẽ không che chắn cho tôi và giúp tôi đối mặt với mọi thứ; nó là cái đĩa thí nghiệm dưới kính hiển vi của thế giới. Sayuri giải thích các trình tự chuẩn của việc mặc bộ quần áo tạo áp suất và chỉ cho Marianne Engel cách buộc các sợi dây lại với nhau. Trong khi họ đang rối rít với các chi tiết kỹ thuật, tôi một mình tận hưởng cảm giác mới lạ, như trượt vào nắm tay siết chặt của một vị thần cuồng nộ nào đó. Đó chỉ là vải thôi mà, tôi tự nhủ. Đó không phải là chính bản thân mình. Dù sao tôi vẫn thấy lạnh xương sống.

DỄ CHỊU THẬT ĐẤY NHỈ? NHƯ THỂ NGƯƠI ĐANG BỊ CHÔN SỐNG VẬY. Con rắn sung sướng cười nhạo tôi. TA ĐANG TỚI ĐY. * * * Tôi thấy Marianne Engel đang chờ mình ở phòng ăn, mặc một bộ kimono lụa màu xanh ngọc. Họa tiết thêu cảnh, đứng dưới cây anh đào nở hoa gần dòng sông cá chép tung tăng bơi lội, mũi thêu trau chuốt. Trên nền trời đầy sao của bộ áo ấy, ánh trăng tròn chiếu sáng đôi tình nhân như thể đó không chỉ là nguồn sáng mà còn là người bảo vệ tình yêu của họ nữa.

Cô hỏi tôi đã sẵn sàng ăn chưa. Tôi trả lời rằng rồi. Tôi khập khiễng bước ra, phát hiện thực đơn hôm nay là món Nhật. “So desu ne.[26] Anh giỏi quan sát thật,” cô khẽ cúi xuống nói. Vẻ sóng sánh trên bộ kimono của cô tan vào chiếc khăn xanh da trời thắt ngang eo, được kết thành một cái nơ obi sau lưng. “Tôi đang đọc Makura no soushi.” “Ừm, tôi đã thấy nó trên giá sách của cô. Gối-cái gì đó, có phải không?”

“Sách gối đầu giường của Sei Shounagon. Một tác phẩm văn học rất nổi tiếng của Nhật Bản, viết vào thế kỷ thứ mười, và cũng là cuốn tiểu thuyết đầu tiên trên thế giới. Hay ít nhất cũng là những gì họ nói, ai mà biết chắc được? Tôi đang tính làm gì đó với nó. Anh sẽ phải ngạc nhiên khi biết rằng rất nhiều tác phẩm vĩ đại của Nhật Bản không có bản dịch tiếng Latin chuẩn xác.” “Không, tôi chẳng ngạc nhiên đâu.” Marianne Engel nhanh nhẹn bước những bước ngắn vào trong bếp, cô thậm chí còn đi cả geta, guốc mộc truyền thống của Nhật. Cô trở lại với một khay sushi đầy màu sắc: những lát cá trắng (và cam và bạc) nằm gọn trên lớp cơm nắm; những hạt trứng cá đỏ rải trên lớp tảo biển; tôm hùm cuộn vào nhau; cứ như đang ôm nhau thắm thiết trong những giây phút cuối cùng trên trái đất ấy. Có cả inarizushi, cơm nắm được bọc trong lát đậu phụ vàng óng ngọt ngào. Gyoza, sủi cảo làm từ thịt bò hoặc thịt lợn, đẫm nước xốt đen tuyền cay nồng. Yakitori, những dải thịt gà và thịt bò nướng trên xiên gỗ. Rồi thì onigiri, cơm nắm hình tam giác gói trong tảo biển; mỗi nắm cơm, cô giải thích, lại có nhân khác nhau, rất ngon: mận chín, trứng cá, gà, cá ngừ hay tôm hùm.

Chúng tôi lau tay với o-shibori, một loại khăn ướt, rồi cô đập hai lòng bàn tay vào nhau. Cô nói, “Itadakimas!” (câu mời trước khi ăn của người Nhật), trước khi khấn thêm bài kinh bằng tiếng Latin quen thuộc. Cô chỉ tôi cách khuấy xúp miso đúng kiểu và tuyên bố rằng ăn mì ramen thì phải xì xụp to vào vì nó không chỉ làm mì nguội mà còn làm mì có vẻ ngon hơn nữa ấy. Dù cô uống rượu sake, cô cứ khăng khăng bắt tôi uống mỗi trà ô long; cô vẫn không bỏ được cái suy nghĩ là rượu và morphine không được uống cùng nhau. Cứ khi nào cốc của tôi vơi quá nửa, cô lại trang trọng nghiêng đầu đổ đầy cốc. Khi tôi cắm đôi đũa vào bát cơm để chúng có thể đứng thẳng như hai cái cây mọc trên đỉnh núi tuyết, cô ngay lập tức lôi chúng ra. “Như thế là không tôn trọng người chết.” Khi cuối cùng cũng ăn xong, cô sung sướng xoa hai tay vào nhau. “Tối nay tôi sẽ kể cho anh nghe câu chuyện về một người phụ nữ khác cũng tên là Sei, dù người này phải sinh sau cuốn Sách gối đầu giường hàng trăm năm cơ.”

.