Hôm nay bạn muốn đọc gì?

Cô gái mang trái tim đá - The Gargoyle - Chương 24

Chương XXV.

Cho tới tận giây phút đó, chúng ta thậm chí còn không chắc anh ấy vẫn còn sống. Anh nói tên anh ấy như thể đang cố tự thuyết phục bản thân rằng anh đang thực sự nhìn thấy anh ấy, sau ngần ấy năm. “Brandeis.” Anh ấy có vài vết sẹo mới và mái tóc đã điểm nhiều sợi bạc, và anh ấy vẫn ưa dùng cái chân đã từng không cứng đến thế khi tôi gặp anh ấy lần đầu tại Engelthal. Nhưng nhìn chung anh ấy trông rất mệt mỏi. Những tên lính đánh thuê trẻ vẫn tiếp tục nhục mạ người bán hàng và khuôn mặt của Brandeis để lộ ra một ánh nhìn khinh bỉ xen lẫn chẳng chút ngạc nhiên trước cái cảnh ấy.

Anh kéo tôi vào góc khuất sau một quầy hàng. Hầu hết những tên này đều là lính mới và không thể biết mặt anh, nhưng anh cũng không bao giờ có thể cảm thấy thực sự an toàn, không phải với những tên này. Anh đã rút ra một kết luận từ nhiều năm về trước rằng lý do duy nhất sự biến mất của anh không bị điều tra là vì tất cả mọi người, gồm cả Brandeis, đều nghĩ rằng những vết bỏng đã giết chết anh rồi. Khỏi nói anh khao khát nói chuyện với anh ấy đến thế nào. Anh không thể - và sẽ không để cho cơ hội này cứ thế mà qua được, nhưng vấn đề là làm thế nào tới được chỗ Brandeis mà không bị phát hiện. Khi mấy gã trai bắt đầu đấm đá người chủ hàng, anh đã nghĩ mình có thể lẻn vào giữa đám lộn xộn. Tôi tuyệt đối phản đối ý tưởng đó, dù tôi biết có nói thế cũng không cản nổi anh. Ngay khi anh bước tới trước một bước, một người đàn ông khác đã xen vào cảnh đó, và toàn bộ không khí đã thay đổi. Ngay lập tức bọn lính trẻ tránh khỏi người bán hàng, như thể chúng quá sợ làm gì mà không được phép vậy. Điều đầu tiên tôi nhận ra ở người đàn ông là nét tàn nhẫn xảo quyệt hiện rõ trong mắt hắn. Chúng dường như đang cháy bừng ngọn lửa thèm khát bạo lực, như thể hắn nghĩ hỗn loạn tồn tại chỉ để cho hắn cơ hội đạt mục đích.

“Hắn là ai?” tôi hỏi. Anh trả lời với giọng lạnh như băng. “Kuonrat Háo Danh.” Cái cách bọn lính khúm núm trước hắn đã thể hiện rõ rằng giờ hắn là chỉ huy của đội lính. Chỉ vài từ và lưỡi gươm kề sát cổ người bán hàng, vấn đề đã được giải quyết. Bọn lính đánh thuê lấy tất cả những gì chúng muốn, và người chủ được phép giữ lại mạng sống.

Kuonrat là kẻ anh không bao giờ dám xuất đầu lộ diện trước mặt, nhưng tôi không bị bó buộc bởi những điều đó. Trước khi anh kịp cản, tôi đã bước ra khỏi chỗ nấp và đi thẳng đến chỗ đám đông. Tôi biết anh sẽ không thể theo sau tôi được: việc anh lộ diện có thể còn đặt tôi vào tình thế nguy hiểm hơn là cứ để tôi tự ra tay. Tôi kéo cổ áo rộng ra và đi đến chỗ Brandeis. Đó là một sự liều lĩnh có tính toán. Kuonrat chưa bao giờ nhìn thấy tôi và Brandeis thì khó mà nhận ra tôi, bao nhiêu năm đã trôi qua và tôi không còn mặc quần áo nữ tu. Tôi cố hết sức đóng giả một gái bán hoa, cố cho tất cả mọi người thấy là tôi đang cố mồi chài Brandeis. Đó thực sự là một màn kịch khó đỡ nếu xét đến việc dù không để lộ ra nhưng rõ là tôi đang mang đứa con của anh trong bụng. Vài tên lính rú lên khi tôi ngả người về phía trước để thì thầm vào tai Brandeis - đang ra giá đây, chúng nghĩ. Tôi đã nói thầm hai điều: tên anh, và rằng tôi là nữ tu đã chăm sóc cho anh tại Engelthal. Brandeis giật lùi ra sau, mắt anh ấy nhíu lại nhìn mặt tôi trong khi đang cố lục lọi trí nhớ của mình về tu viện đó. Sau khi đã bình tĩnh lại, anh ấy thông báo với những người còn lại là mình sẽ gặp lại họ sau, và bóng gió nói về một buổi chiều vui vẻ đang chờ phía trước. Cả Kuonrat cũng gật đầu đồng ý và nói, “Có lẽ sau khi đã xong xuôi với anh ta, cô sẽ quay lại đây với chúng tôi.”

Cái ý tưởng đó làm tôi phát buồn nôn nhưng tôi chỉ cất tiếng cười “có lẽ” và lôi Brandeis đi. Để anh đoàn tụ với anh ấy ở chốn đông người sẽ là một hành động quá mạo hiểm nên tôi đưa anh ấy về nhà chúng ta, nơi tôi biết anh đang đợi. Brandeis hầu như không thể tin vào mắt mình khi thấy anh vẫn còn sống. “Tôi đã nghĩ… tôi đã tin chắc là… tôi đã quay lại Engelthal một lần, nhưng chẳng ai nói gì với tôi cả…” Tôi mang chỗ bia ngon nhất trong nhà ra và bắt tay vào nấu nướng. Tôi muốn tạo ấn tượng tốt, tôi muốn Brandeis thấy tôi đã chăm sóc cho anh tốt đến mức nào. Anh kể với anh ấy tất cả mọi thứ đã xảy ra trong từng ấy năm, và anh ấy rất bất ngờ trước việc anh có thể gây dựng một cuộc sống như thế. Khi đến lượt mình, Brandeis kể với anh những chuyện xảy đến với đội quân condotta. Rằng nó đã trở nên tồi tệ đến thế nào. Herwald đã bị thương nặng trên chiến trường và Kuonrat là kẻ chém nhát kiếm cuối cùng lên cổ người đàn ông tội nghiệp. Chẳng phải một hành động nhân đạo gì; Kuonrat chỉ đang cố thị uy. Khi hắn thách xem có ai dám phản đối việc hắn làm trưởng đội không, không ai bước ra cả.

Kuonrat chỉ thu nhận những kẻ khát máu nhất. Bản năng chiến đấu của chúng rất ác liệt, nhưng những tên lính mới rất ngu ngốc và không có chút tự trọng nào. Quả thực chúng giết được nhiều hơn, nhưng chúng cũng bị giết nhiều hơn. Chúng đánh nhau với sự hăng máu, chứ không phải với trí thông minh, và Kuonrat thì chăn chúng như một gã chủ chăn bầy chó hoang của mình vậy. Chúng chết thì sao, cả nước này không thiếu bọn choai choai thích tỏ vẻ người lớn. Bảo vệ một nguồn lực có thể tự tái tạo là một việc phí thời gian đối với Kuonrat. Và thêm vào đó, hắn cũng hiểu từ kinh nghiệm bản thân rằng cứ ở trong đội đủ lâu thì thỉnh thoảng sẽ lại có vài kẻ thèm khát quyền lực. Bất chấp những cách thức dã man, kết quả Kuonrat thu lại không có gì để bàn cãi. Đội quân trở nên khét tiếng tàn bạo kinh dị và khả năng đánh bại cả những lực lượng lớn hơn chỉ bằng vũ khí là sự hung bạo. Thành công làm hắn bạo gan thêm và bắt đầu suy xét lại tính thực tiễn của việc làm lính đánh thuê. Tại sao, hắn tự hỏi, bọn quý tộc lại được sở hữu đất đai trong khi người bảo vệ chúng lại là đội lính condotta? Tiền đối với hắn giờ không đủ. Kuonrat muốn có nhiều quyền lực hơn. Hắn đang chuẩn bị thôn tính lãnh thổ cho riêng mình. Những năm tháng dưới quyền Kuonrat đã làm khao khát rời khỏi đội lính của Brandeis ngày càng thêm mãnh liệt, nhưng trốn chạy giờ đã gần như là không thể. Vẫn còn đó đạo luật, một khi gia nhập đội, anh sẽ phải ở trong đội đến hết đời, nhưng giờ còn có thêm vài trở ngại nữa. Kuonrat không bao giờ có thể quên được chuyện Brandeis đã đứng lên chống lại hắn như thế nào khi anh bị thương trên chiến trường; hắn luôn tìm cớ để trả đũa. Nếu Brandeis dám cả gan bỏ trốn, Kuonrat sẽ cho những tên truy kích tài ba nhất, những kẻ vừa gan lì vừa độc ác, đi lùng.

Dù đê tiện, Kuonrat cũng không phải thằng ngu. Hắn biết mình không thể tự dưng mà tấn công Brandeis được, vì đội vẫn còn một số người lính từ thời trước, những người vẫn coi trọng Brandeis với tư cách là một cung thủ lẫn một con người. Và vì thế, nói chung, Brandeis luôn được để yên. Nhưng hiểm họa thì vẫn treo lơ lửng trên đầu. Thật lạ khi thấy anh ở cùng với một người bạn cũ, người đã cùng anh đối mặt với sống chết trên chiến trường không biết bao nhiêu lần. Brandeis đã chia sẻ một phần đời của anh mà tôi không thể nào hiểu được. Có một sự thân thiết kỳ lạ trong cái cách cả hai người đều cố tỏ ra cứng rắn nhưng cũng không thể giấu hết được sự dịu dàng trong lời nói dành cho nhau. Tôi có thể thấy anh nhớ tới những năm tháng xưa cũ - không phải những trận chiến mà là tình bạn bè. Có những ký ức thật ngộ biết bao; sau đêm hôm đó, có một hình ảnh vẫn được lưu giữ mãi trong ký ức của tôi. Trong bữa ăn, Brandeis giơ tay ra với một cử chỉ hầu như không thể hiểu nổi, nhưng anh vẫn biết là cần đưa nước cho anh ấy. Đó hẳn là một hành động các anh đã lặp đi lặp lại hàng nghìn lần trong những bữa ăn bên đống lửa trại và nó đã không bị lãng quên trong ngần ấy năm xa cách. Chẳng ai trong hai anh có vẻ nhận ra điều ấy cả. Cuối bữa ăn, một sự im lặng nặng nề bao trùm lên hai người. Anh và anh ấy cứ ngồi nhìn nhau chằm chằm, có lẽ đến cả phút, cho tới khi Brandeis nói thành lời. “Tôi không thể tiếp tục sống cuộc sống hiện tại nữa.”

“Tôi sẽ giúp anh bằng mọi cách,” anh nói. Nhưng không thể trốn ngay đêm đó được. Nếu Brandeis biến mất, những tên lính đánh thuê sẽ biết phải truy lùng “cô gái bán hoa” đã gặp anh ấy lần cuối. Mọi người quyết định rằng anh ấy sẽ trở về đội condotta và vờ như đã có một khoảng thời gian vui vẻ với tôi rồi. Đội lính sẽ ở lại thành phố thêm vài ngày nữa rồi đi làm nhiệm vụ tiếp theo ở nơi khác. Sau một tháng khi những ngày ở Mainz chỉ còn là một ký ức xa xôi, anh ấy mới có thể đào thoát được. Nếu tất cả mọi chuyện đều xuôi chèo mát mái, thì đây là một kế hoạch khôn ngoan nhất. Brandeis chẳng có thân thích gì ở Mainz, chẳng có quan hệ ràng buộc với thành phố này theo bất cứ kiểu nào. Ai lại nhớ được buổi chiều anh ấy quan hệ với một ả nào đó cả tháng trước chứ? Thế là kế hoạch được vạch ra.

Tại ngưỡng cửa, hai người bọn anh đã đứng ưỡn ngực đúng như hai người đàn ông. Anh ấy vỗ vai anh còn anh đấm vai anh ấy. Tôi ôm ghì lấy anh ấy và hứa sẽ cầu nguyện cho anh ấy được an toàn. Brandeis nói rằng đó quả là một ý hay, và chúc mừng tôi thêm lần nữa về việc tôi có thai. Khi anh ấy nắm tay tôi, tôi có thể cảm nhận được vết sẹo dài trên tay anh ấy, và chỉ khi đó tôi mới nhớ ra anh ấy đã bị bỏng khi cố rút mũi tên ra khỏi ngực anh. Khi anh ấy đi về phía màn đêm, tôi thực sự nhận ra rằng chúng ta đã nợ anh ấy nhiều đến thế nào. Tháng tiếp theo cứ thế trôi đi. Chúng ta có nói về Brandeis nhưng chẳng bao giờ nhiều hơn vài từ một lần, gần giống như hồi chúng ta tránh nói về khát khao có con, như thể chúng ta sợ dại mồm dại miệng vậy. Năm tuần. “Anh có nghĩ…?” tôi hỏi. “Rồi sẽ có lúc anh ấy về,” anh trả lời. Sáu tuần, Brandeis không xuất hiện. Tôi không khỏi lo lắng, và tôi nôn suốt các buổi sáng vì ốm nghén. “Rồi sẽ có lúc anh ấy về,” anh liên tục nói thế. Tôi đã vượt qua được nỗi lo lắng cho sự an nguy của anh ấy - và của cả chúng ta nữa, khi cuối cùng anh ấy trở về thật. Anh liên tục trấn an tôi rằng mọi thứ sẽ ổn thôi, và tôi đã cố hết sức để tin như vậy.

Bảy tuần. Tôi đang ở nhà soạn một bản thảo, ngồi bên cạnh cửa sổ, thì một bóng người trùm khăn kín mít đi qua những dãy phố về phía ngôi nhà. Tôi nhận ra cái chân cứng đơ và ngay lập tức biết đó là Brandeis dù anh ấy đã che kín mặt. Chiếc áo chùng của anh ấy phủ đầy những lớp tuyết rơi từ sáng sớm, và đó là một ngày hoàn toàn thích hợp để ăn mặc ấm áp mà không bị nghi ngờ. Không ai có thể băn khoăn nghi ngại gì trước việc một người đàn ông chỉ đang cố giữ ấm thân thể. Tôi để anh ấy vào khi đã chắc chắn không có ai lai vãng trên đường. Anh ấy xì xụp húp xúp và giải thích rằng mình đã đi suốt tám ngày, đi ngược lại rồi đi vòng, tránh các thành phố lớn. Thay vì mua thức ăn, anh ấy giết các động vật nhỏ để không một thương gia nào có thể nhận ra. Anh ấy chắc chắn mình vẫn chưa bị bám theo. Tuy nhiên, tôi và anh ấy không nhắn tin đến chỗ làm cho anh mà đợi anh về nhà như thường lệ. Phải để mọi thứ diễn ra càng bình thường càng tốt. Những ngày đầu tiên sẽ là lúc nguy hiểm nhất. Kuonrat sẽ có thể phái nhóm truy kích giỏi nhất của hắn ngay khi chúng phát hiện ra Brandeis đã biến mất. Hai người các anh luôn cảnh giác canh chừng cửa sổ, cây cung không lúc nào rời khỏi tầm tay. Brandeis đã mang hai cây cung theo mình, một là của anh ấy và một anh ấy trộm cho anh.

Các anh thay nhau thức canh, và Brandeis thậm chí còn không dám dỡ hành lý ra. Tất cả những chuyện này đều quá đáng sợ, hơn cả những gì tôi có thể tưởng tượng. Nếu xảy ra chuyện gì xấu - dù tôi vẫn luôn mong là không, dĩ nhiên - tôi sẽ phải chịu trách nhiệm không chỉ với bản thân mình mà còn cả đứa con trong bụng nữa. Tôi nói rằng tôi không hiểu vì sao Brandeis lại có thể bị lần ra trong một đất nước rộng lớn như thế. Khi tôi nêu ý kiến này lên, hai người các anh nhìn nhau không nói câu gì. Ánh mắt đã nói lên tất cả. Nhưng chẳng có gì xảy ra cả. Hàng tuần đã trôi qua mà chẳng có kẻ nào đến lùng sục. Các anh bắt đầu ngủ trong đêm, dĩ nhiên là sau khi đã mắc chuông vào góc cửa ra vào. Cuối cùng anh cũng quyết định là đã đến lúc để Brandeis mạo hiểm đi ra khỏi nhà. Dĩ nhiên là vẫn phải kéo mũ trùm đầu lên. Không một bóng dáng khả nghi nào ẩn hiện trong bóng tối, vì thế một tuần sau Brandeis đã bắt đầu theo anh đến các công trình xây dựng. Sự giới thiệu của anh đủ để kiếm cho anh ấy việc lao động chân tay. Anh ấy làm việc chăm chỉ và ăn trưa cùng anh nhưng luôn tránh xa những người khác. Không ai hỏi nhiều; với những đồng nghiệp của anh thì anh ấy cũng chỉ là một người thợ không lành nghề khác mà thôi. Chẳng bao lâu sau, chúng ta đã quyết định sẽ tìm cho anh ấy một căn nhà riêng vì tôi bắt đầu giật mình thức dậy trong đêm với những cơn co thắt. Một chút riêng tư sẽ tốt cho tất cả mọi người.

Chúng ta có rất nhiều bạn nên việc tìm nhà chỉ là vấn đề cỏn con, ngôi nhà nằm cách vài con phố bên ngoài khu Do Thái. Tôi cương quyết đòi trả tiền đặt cọc bằng tiền kiếm được từ việc kinh doanh của tôi, và khi tất cả mọi việc đã xong xuôi, chúng ta đã quyết định tự cho phép mình tổ chức một buổi ăn mừng đúng nghĩa. Không phải vì hai người các anh hoàn toàn tin đây là một cuộc đào thoát thành công, mà vì các anh rất mong muốn được coi đây có vẻ như một cuộc đào thoát thành công. Đó là một bữa tiệc hoành tráng, và anh đã rất hạnh phúc vì cuối cùng cũng có thể nghĩ rằng mình đã trả nợ được cho anh ấy. Sức khỏe của tôi khá tốt và quần áo tôi bắt đầu chật hết cả, việc thai nghén có vẻ diễn ra rất thuận lợi. Có một lần đứa bé đạp bụng tôi trong bữa ăn và anh đã bắt Brandeis phải đặt tay anh ấy lên bụng tôi. Anh ấy hơi do dự nhưng khi tôi trấn an rằng tôi sẽ rất vui nếu anh ấy làm thế, anh ấy đã dè dặt đặt bàn tay lên đó. Khi anh ấy nhận thấy sự chuyển động bên dưới, anh ấy giật ngay tay lại và trợn tròn mắt nhìn tôi đầy ngạc nhiên. “Tất cả những điều này là nhờ anh,” anh nói với Brandeis. “Sinh mạng này có được là vì anh đã cứu tôi.”

Nói xong, tất cả chúng ta cùng nâng cốc chúc mừng việc mọi người đều đã thoát khỏi cuộc sống cũ để bước vào một cuộc đời mới tốt đẹp hơn. Nhưng người ta không bao giờ được phép đếm cua trong lỗ. Ngay ngày hôm sau, trong khi Brandeis đang thu dọn nốt đồ đạc còn lại ở chỗ chúng ta, một người Beguine đã hộc tốc chạy đến. Tôi hiểu đây không phải dấu hiệu tốt lành gì, vì trước đó tôi chưa bao giờ thấy ai trong số họ chạy hết. Cô ấy đặt tay lên đầu gối và thở hổn hển một lúc trước khi đủ sức thốt ra rằng có một toán người - “bọn mọi rợ, nhìn đã biết” - đang tra hỏi quanh chợ để tìm một người đàn ông có nhân dạng giống Brandeis. Rõ ràng Mainz không rộng lớn như tôi tưởng. Dù chúng ta đã hết sức cẩn thận để giấu tung tích vị khách, ngay cả những người Beguine cũng biết rằng anh ấy đang ở cùng chúng ta. Họ cũng đủ hiểu rằng đưa thông tin này cho những kẻ lạ mặt không phải một việc khôn ngoan gì, nhưng chẳng chóng thì chày ai đó sẽ nói mà không nghĩ đến hậu quả cho coi. Brandeis hỏi vài câu về “bọn mọi rợ”, và những câu trả lời của người Beguine đã khẳng định mọi nghi ngờ. Những gã này rõ ràng là toán truy kích được đội quân condotta phái đến. Cho tới tận hôm nay, tôi vẫn không thể biết tại sao bọn chúng có thể tìm được anh ấy, nhưng bằng cách nào cũng chẳng quan trọng. Điều quan trọng duy nhất là Mainz giờ không còn là nơi an toàn nữa rồi.

Brandeis đề nghị sẽ trốn chạy một mình, để lại dấu vết đủ rõ để bọn truy kích bỏ qua chúng tôi. “Chúng chỉ đi tìm tôi thôi. Anh có một cuộc sống tốt đẹp ở đây, vì thế đừng…” Anh đã không để anh ấy nói hết câu. Danh dự của anh không cho phép việc đó. Anh nói rằng bọn truy kích kiểu gì cũng tìm được chỗ chúng ta dù chúng ta có làm gì đi nữa, và khi - khi chứ không phải nếu nữa, khi - chúng tìm ra, rất có khả năng một trong số chúng sẽ nhận ra anh. Chúng sẽ sung sướng đến phát điên, nếu cử một đội truy lùng đi tìm một kẻ đào tẩu để rồi cuối cùng bắt về được hai. Điều đó sẽ làm Kuonrat cực kỳ thỏa mãn, và thông điệp sẽ trở nên thật rõ ràng: dù một người lính đã thành công trong việc đào tẩu hàng bao năm và đã bị coi là chết rồi đi nữa thì cuối cùng cũng vẫn sẽ bị lần ra. Cả anh lẫn Brandeis đều cương quyết không cho tôi theo - vì tôi đã có mang gần đến tháng cuối rồi, vì tôi sẽ cản trở các anh, vì đi lại sẽ làm ảnh hưởng đến đứa trẻ. Tôi bác lại rằng ở lại Mainz còn nguy hiểm hơn, nơi bọn truy đuổi sẽ lùng ra tôi và làm mọi cách để moi cho được thông tin. Tóm lại, tôi nói, tranh luận thế nào đi nữa cũng không quan trọng. Tôi sẽ không ở lại đâu, và nếu các anh không chịu cho tôi đi cùng, tôi cũng vẫn sẽ đi theo thôi. Phải, tôi đang có mang, nhưng tôi vẫn có thể tự đi được và tôi cũng nợ Brandeis nhiều như anh nợ anh ấy thôi. Kết luận, nếu tôi và anh lạc nhau lúc này, chúng ta có thể gặp lại nhau ở đâu được chứ? Việc chúng ta sống ở Mainz đã bị bại lộ và chúng ta không thể trở lại sống như cũ được nữa. Tôi nói rằng chính vì tôi đang mang thai nên tôi càng phải ở với anh, còn hơn là chịu cảnh ly biệt mãi mãi.

Tôi bác tất cả ý kiến của các anh đi và thắng thế vì chẳng còn thời gian đâu mà tranh luận. Vì thế chúng ta nhanh chóng sắp dọn đồ đạc, chỉ những thứ đáng giá nhất, và chuẩn bị rời đi càng sớm càng tốt. Tôi gói cuốn Địa ngục cùng cuốn kinh cầu nguyện của Paolo, và khi anh không chú ý tôi đã luồn vội bức tượng Morgengabe vào túi của tôi. Anh chắc chắn sẽ không cho phép mang một vật nặng như thế, nhưng tôi quá trân trọng nó đến nỗi không nỡ bỏ nó lại. Tôi cũng xếp cả bộ quần áo nữ tu của mình vào nữa, vì tôi đã nhận ra rằng nó có thể dùng làm đồ cải trang rất tốt. Chúng ta cầm theo tất cả số tiền dành dụm cho một ngôi nhà chúng ta đã không bao giờ mua, và anh cùng Brandeis đi mua ba con ngựa tốt. Tôi bán tất cả chỗ gia vị và sách cho bất cứ ai muốn mua, dù do quá gấp gáp nên tôi gần như không thu được gì. Chỉ vài giờ sau khi người Beguine tới nhà, chúng ta đã lên đường rời khỏi Mainz. Tôi đeo cái túi, trong khi hai người các anh chỉ mang theo cung tên và quần áo. Cuộc sống chúng ta bỏ hàng bao năm gây dựng đã kết thúc, chỉ đơn giản như thế. Ngay cả khi khỏe mạnh tôi cũng không phải người cưỡi ngựa giỏi và việc thai nghén làm tôi càng khó xoay xở. Cả khi chúng ta đã ra khỏi thành phố, anh vẫn không ngừng khuyên tôi nên đi theo lối khác. Ba dấu chân ngựa đi theo cùng một hướng sẽ dễ bị phát hiện hơn những dấu chân đi theo hướng ngược nhau, anh lý luận thế. Tôi chẳng chịu nghe và vặc lại rằng điều tốt nhất chúng ta có thể làm bây giờ là chạy càng xa càng tốt.

Chúng ta đã chạy liên tục cho tới khi những con ngựa kiệt sức không thể đi tiếp được nữa. Lưng tôi đau nhói, những cơn đau chạy dọc suốt sống lưng tôi theo mỗi tiếng vó ngựa, rồi lan khắp bụng dưới. Nhưng tôi kiên quyết không phàn nàn, vì tôi được ở bên anh. Chúng ta tìm được một nhà trọ nhỏ và tôi được cử đi thương thuyết với người chủ trọ, vì các anh càng ít bị nhìn thấy bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Trước khi chúng ta đi ngủ trong cái đêm trốn chạy đầu tiên ấy, tôi có hỏi rằng chúng ta sẽ đi về đâu. Brandeis trả lời, “Không có đích đến thì tốt hơn. Nếu chúng ta biết mình định đi về đâu, những kẻ truy kích cũng sẽ biết.” Tôi không hiểu tại sao chuyện đó có thể là thật được, nhưng tôi đã quá mệt mỏi để tiếp tục tranh luận rồi. Trong những ngày tiếp theo chúng ta sẽ cưỡi ngựa đi càng xa càng tốt miễn là tôi vẫn chịu được và rồi sẽ kiếm một phòng trọ, không ai trong số chúng ta dám mạo hiểm ra ngoài trừ lúc tôi đi tìm thức ăn. Chẳng mấy chốc chuyến đi đã khiến tôi kiệt quệ. Ngực tôi đau nhói và chứng chuột rút ở chân ngày càng nặng thêm, cơ nơi lồng ngực của tôi căng ra làm tôi đau như xé. Tôi biết tôi đang làm chúng ta chậm lại, tất cả chúng ta đều thấy vậy, và chuyện này càng đổ thêm dầu vào những cuộc tranh luận càng lúc càng thường xuyên hơn giữa chúng ta. Anh chỉ ra rằng việc tôi cứ chốc chốc lại đi vệ sinh không những làm chúng ta chậm lại, mà còn giúp bọn chúng dễ lần theo. Anh thậm chí còn dọa sẽ bỏ tôi lại nhưng, dĩ nhiên, anh nào dám làm thế.

Chúng ta đi tắt qua những thung lũng sau lưng các thành phố và trong cơn bấn loạn chúng ta bắt ngựa chạy băng qua những dòng suối băng giá và những vùng đất đá lởm chởm lồi lõm. Những con ngựa cuối cùng đã không thể tiếp tục giữ tốc độ chúng tôi cần, chúng đã hoạt động quá sức mà không được nghỉ ngơi đầy đủ. Khi chúng kiệt sức, chúng ta bán chúng lấy những con ngựa mới. Những kẻ truy kích cũng sẽ buộc phải làm như thế hoặc bị bỏ lại đằng sau thôi. Dù luôn ngoái lại đằng sau, tôi không bao giờ thấy bọn truy kích. Tôi muốn tin rằng chúng ta đã bỏ xa bọn chúng. Nói thật, tôi nghĩ bọn chúng chẳng thể tiếp tục lần theo dấu của chúng ta, với tất cả những mánh lới chúng ta đã sử dụng trên đường. Nhưng nghĩ lại, chúng đã tìm ra Brandeis ở Mainz. Tôi thực sự không hiểu được khả năng của chúng nhưng hai người các anh đã từng sống với loại người này, vì thế tôi buộc phải tin nỗi sợ của các anh là thật. Các anh cứ không ngừng thúc bản thân và tôi tiến về phía trước với một tốc độ khủng khiếp. Mỗi ngày trôi qua lại làm tăng thêm nỗi sợ của tôi rằng chuyến đi sẽ ảnh hưởng xấu đến con chúng ta - liệu nó có làm em bé ra đời sớm quá không? Tôi luôn phải tự thuyết phục bản thân, hết giờ này đến giờ khác, rằng việc thoát khỏi bọn truy lùng xứng đáng với bất cứ sự mạo hiểm nào. Trong những giây phút hiếm hoi tôi không lo lắng quá về đứa trẻ, tôi củng cố niềm tin của mình bằng việc nhớ lại cách anh mua cho chúng ta một chỗ ngồi trên chiếc xe chở lợn khi chúng ta mới vừa rời khỏi Engelthal. Tôi cố gắng thuyết phục bản thân rằng tình trạng hiện tại của chúng ta chỉ là một thử thách nữa chúng ta phải vượt qua để được sống một cách trọn vẹn, và ít ra thì cũng không có mùi hôi của lợn.

Nhưng sau một tuần, tôi đã không thể đi thêm được nữa. Anh và Brandeis vẫn chịu đựng được, nhưng tôi cầu xin được nghỉ. Chúng ta đã đi nhiều dặm đến nỗi chắc chắn là nghỉ một ngày cũng không sao. Anh đồng ý. Không phải vì đã an toàn, mà vì đã đến lúc phải lập một kế hoạch. Tôi không quan tâm là tại sao. Tôi sẽ nghỉ với bất cứ lý do gì. Chúng ta đã đi đường vòng để làm rối bọn bám đuôi nhưng kết quả không như mong đợi, chúng ta chưa đi được bao xa khỏi nơi khởi hành. Chúng ta thấy rằng mình đã gần đến Nürnberg, đó là một điều khá thuận lợi bởi thành phố đó đủ lớn để chúng ta có thể trốn thêm vài giờ nữa. Chúng ta tìm một quán trọ và hai người các anh lại ngồi xuống để bàn bạc bước tiếp theo. Có lẽ chúng ta sẽ đi lên phía Bắc, tới Hamburg, hoặc có lẽ đi ra phía Đông sẽ an toàn hơn, đến Bohemia hoặc Carinthia. Thậm chí còn bàn cả về việc sẽ đến Ý nữa. Các anh biết vài câu tiếng Ý căn bản, và tôi có thể làm phiên dịch cho hai người. Bọn truy đuổi chúng ta sẽ khó mà đoán ra nơi đó và thậm chí nếu có đoán ra được, Kuonrat cũng sẽ phải bỏ một nguồn nhân lực và vật lực lâu dài nếu muốn tiếp tục săn đuổi chúng ta tới tận một nước khác.

Chúng ta chỉ định ở lại Nürnberg một ngày thôi, nhưng sức khỏe của tôi không cho phép. Trong ba ngày liền, tôi quá đau đớn nên không thể tiếp tục cuộc hành trình. Tim tôi đập thình thịch liên hồi và tôi luôn bị hụt hơi. Tôi thèm ăn đến không thể kiềm chế nổi. Tôi thèm ngủ, nhưng trí óc tôi đã mê man trước cả khi kịp mắt nhắm. Tôi bị động thai và cuối cùng, một cách miễn cưỡng, tôi phải thừa nhận rằng anh đã đúng: tôi quá yếu để có thể tiếp tục. Quyết định được đưa ra; tôi sẽ được đặt vào bàn tay chăm sóc của nhà thờ gần đấy. Anh đưa cho tôi một nắm tiền, đủ để trả cho việc chăm sóc tôi cho đến lúc sinh nở, và khi anh tin rằng mình đã đào thoát thành công, anh sẽ quay lại đón tôi. Kế hoạch đã được lập; anh cho tôi ngủ thêm một đêm nữa trước khi bắt tay vào hành động. Tôi hỏi anh sẽ đi đâu sau khi để tôi ở lại, nhưng thậm chí cả điều này anh cũng không nói với tôi. “Không biết đích đến thì tốt hơn…” Tôi khóc suốt cho tới khi ngủ thiếp đi vào tối hôm đó, với anh ở bên vuốt tóc tôi và an ủi tôi rằng mọi việc rồi sẽ tốt đẹp cả thôi. Định mệnh, tuy nhiên, lại có một kế hoạch khác. Đến nửa đêm thì có hàng loạt tiếng đập thình thịch vào cánh cửa nhà trọ của chúng ta, làm đống đồ đạc anh dùng để chặn cửa rung lên bần bật, và ngay lập tức mọi thứ trở nên rõ ràng, chúng ta đã bị phát hiện. Đường thoát duy nhất là qua cửa sổ, dù chúng ta đang ở trên tầng hai, cách mặt đất khoảng năm mét. Tôi cố gắng nâng mình ra khỏi giường nhưng không thể, và anh phải dùng cả hai tay để xốc tôi dậy. Khi tôi đã thở lại bình thường, Brandeis thu dọn chỗ túi xách; anh nghển cổ ngó ra ngoài khung cửa sổ để xem có kẻ nào bên dưới không, và hất tay cảnh báo mọi người lùi lại. “Cung,” anh ra lệnh.

Brandeis chộp lấy cây cung và lắp tên sẵn vào cho anh. Ngay khi sợi dây đã được kéo căng, anh ấy đặt nó vào tay anh và anh bắn thẳng mũi tên qua cánh cửa sổ. Tiếng tên xé gió bay vụt đi và rít lên khi nó đâm vào một vật cứng. Anh lại đưa tay ra hiệu rằng đường đã thông và nhảy khỏi cửa sổ trước. Không phải do anh thiếu lịch thiệp, mà vì phải có người đỡ tôi xuống. Phía sau chúng ta, tiếng cánh cửa vỡ ra dưới những nhát rìu. Dù nguy hiểm đã cận kề ngay trước mặt, tôi vẫn đông cứng lại trước cái cửa sổ. Cú rơi là quá sức của tôi, quá nguy hiểm cho đứa bé. Brandeis đứng giữa tôi và cánh cửa ra vào, thét gọi tôi nhảy xuống. Nhưng tôi cứ đứng yên bất động, nhìn xuống cánh tay dang rộng ở phía dưới của anh, cho tới khi tôi nghe thấy giọng Brandeis vang lên từ phía sau - “Marianne, tôi xin lỗi” - khi anh ấy đẩy tôi qua khung cửa sổ mở toang. Tôi ôm bụng rơi xuống và anh hứng toàn bộ sức nặng từ cú rơi của tôi bằng cách lăn xuống tuyết khi anh bắt được tôi. Tôi nghe thấy tiếng quát tháo phía trên; vài giây sau, Brandeis bắn ra khỏi cửa sổ.

Cách anh ấy rơi có gì đó rất lạ, nhưng hầu hết tất cả sự chú ý của tôi đều tập trung vào tên lính nằm chết ngắc trên đường. Mặt hắn bị vùi trong một vũng tuyết bẩn, cổ thì ngoẹo thành một góc quái dị vì bị mũi tên cắm xuyên qua. Rồi tôi nhận ra rằng tuyết không hề bẩn, mà đỏ quạch vì dòng máu nóng vẫn còn đang ọc ra từ cổ hắn. Anh đẩy tôi về phía lũ ngựa và điều tôi biết tiếp theo, chúng ta đang phóng ngựa vụt qua những con phố của Nürnberg. Anh và Brandeis ở bên cạnh tôi, điều khiển ngựa của tôi và quyết định đường đi của tôi. Kiệt sức và sốc trước vụ tấn công, tôi gần như vô dụng. Tôi nhìn con ngựa của mình vừa thở phì phò vừa hùng hục chạy, suốt dọc đường cứ nghĩ mãi về người đàn ông nằm trên đường không bao giờ có thể hít thở được nữa. Cái cách hắn chết làm tôi cảm thấy bối rối, cái cách anh giết hắn không cần suy nghĩ, không cần ngần ngại. Tôi đã nhìn vào khuôn mặt anh khi anh bắn mũi tên đó, và tôi đã không mảy may nghĩ rằng mục tiêu lại là một con người. Môi anh mím chặt, mắt anh nhíu lại, và những ngón tay của anh không chút do dự. Anh hít nhanh một hơi trước khi kéo dây cung nhưng không phải để vững tinh thần, chỉ để vững tay anh thôi. Tất cả chỉ xảy ra trong... bao lâu nhỉ? Một giây? Ít hơn? Đây thực sự có phải là thời gian vừa đủ để giết một người không?

Chúng ta vừa đến ranh giới thành phố thì tôi để ý đến phía sau lưng con ngựa của Brandeis. Con ngựa thực ra không có vẻ gì là đang hất anh ấy xuống cả; đúng hơn, Brandeis chỉ đang ngồi lệch về phía sau mà thôi. Con vật phì ra một tiếng rên rỉ và cứ xoay đi xoay lại, như thể nó bị mất phương hướng vì người cưỡi không còn ở đó nữa. Máu ở khắp mọi nơi, trên tuyết, ở hai bên sườn con ngựa, dọc suốt chân của Brandeis. Quần anh ấy bị rách toạc một mảnh và có một vết thương ngoác miệng ở phía đùi trên nơi da toác ra như nụ cười của một con quỷ, miệng ngập ngụa máu. Mặt anh ấy tái xanh lại, môi run lên. “Một tên trong bọn chúng ném rìu. Nó trúng vào chân tôi khi tôi đang nhảy ra khỏi cửa. Tôi xin lỗi.” Tôi đặt tay mình lên trán anh ấy, nó lạnh quá, ướt quá. Tôi không thể hiểu nổi vì sao anh ấy có thể ngồi lâu trên lưng ngựa được đến như thế. Anh rửa vết thương bằng một nắm tuyết, và một vũng nước hồng hồng dần bám xung quanh miệng vết thương đang sủi bọt. Anh bảo lấy ít vải, vì thế tôi lấy ra cái đầu tiên tôi tìm được trong chiếc túi xách của mình. Bộ quần áo nữ tu của tôi. Lẽ ra tôi phải tìm một thứ gì đó khác nhưng tôi đang quá sốc, tôi nghĩ thế, mà nó thì ở trên cùng. Anh xé nó thành một dải vải đủ để băng bó và buộc vết thương. Anh đuổi con ngựa của Brandeis về hướng ngược lại bằng cách đánh cho nó một phát, hy vọng rằng nó có thể làm mồi nhử, và nhấc Brandeis ra khỏi đống tuyết. Anh nhắc tôi nhớ rằng bọn truy kích vẫn còn ở phía sau, nhưng giờ chắc chúng đang tức giận lắm, rồi anh kéo Brandeis đặt lên ngựa của anh và để anh ấy tựa vào lưng anh. Anh quàng tay anh ấy vào người mình và buộc hai bàn tay anh ấy quanh eo mình. “Engelthal không còn xa nữa. Cả lính đánh thuê cũng phải kính trọng ngôi nhà của Chúa.”

Bụng tôi quặn lại vì tôi không hề muốn trở về Engelthal. Nhưng tôi cũng hiểu tình hình nguy ngập đến thế nào và tôi cố nuốt hết mọi câu phản đối có thể tuôn ra khỏi miệng. Brandeis cần phải được chữa trị ngay lập tức, vì thế chúng tôi vội vã chạy về hướng tu viện. Anh ấy vắt vẻo sau lưng anh như một con bù nhìn bị nhồi quá tay rồi ném ra cánh đồng đuổi quạ. Ngựa của anh khổ sở vì phải chở nặng nên chúng ta không thể đi nhanh được, nhưng anh cố hết sức thúc nó đi càng nhanh càng tốt. Chúng ta bỏ đường vòng và chọn đường chính dẫn thẳng đến tu viện, vì chẳng còn thời gian mà lén lút nữa. Chúng ta không thể dừng lại kiểm tra vết thương của Brandeis và tôi vẫn phải chống chọi với quả tim đang đập thình thịch trong ngực mình. Trong khi cưỡi ngựa, tôi hỏi anh câu hỏi mà tôi không thể đừng được nữa. “Làm sao anh bắn trúng được người đó vậy? Xuyên thẳng qua cuống họng?” “Anh đã ngắm vào ngực hắn ta.” Cách anh nói mới bàng quan làm sao, và giọng anh khiến tôi hiểu rõ rằng cuộc nói chuyện đến đây là kết thúc.

Khi bắt đầu nhận ra đường cũ, tôi chỉ cho anh con đường dễ đi nhất. Đến cổng Engelthal, tôi khó nhọc xuống ngựa và gọi cửa. Thành khẩn xin vào có vẻ tốt hơn cho chúng ta, hơn nữa, để tháo Brandeis ra khỏi người anh cũng mất rất nhiều thời gian. Xơ Constantia là người ra mở cửa, và ánh mắt bối rối lập tức hiện lên trên khuôn mặt cô. “Xơ Marianne?” Tôi giải thích tình thế của chúng ta cho cô ấy và tôi có thể thấy cô cứ chốc lại liếc anh, nhận ra rằng anh chính là người lính bị bỏng cô đã chăm sóc nhiều năm về trước. Khi cuối cùng cũng cất tiếng được, xơ Constantia nói, “Bình thường thì… bình thường thì, tôi sẽ để mọi người vào… chuyện này chẳng bình thường chút nào.” Ánh mắt cô chúi xuống, gần như là xấu hổ, nhìn vào cái bụng căng phồng của tôi.

Tôi không thể hiểu nổi sự do dự đó là vì sao. Dù người ta có đồn đại gì đi nữa về sự biến mất của tôi, chúng ta cũng phải cần được che chở nếu không Brandeis sẽ chết mất. Tôi ra hiệu về phía anh ấy để thêm phần thuyết phục. Tôi thấy xơ Constantia đã nhận ra đống vải đầy máu buộc xung quanh chân anh ấy là những phần còn lại của bộ áo nữ tu của tôi. “Nếu chị không thể để chúng tôi vào,” tôi nài nỉ, “hãy gọi mẹ Christina. Bà sẽ không để người đàn ông này phải chết đâu.” “Tu viện trưởng đang ở Nürnberg và sẽ không quay trở lại chóng vậy đâu. Xơ Agletrudis đang làm quyền tu viện trưởng thay bà. Tôi sẽ gọi xơ ấy.” Trước khi quay vào trong tu viện, xơ Constantia nói thêm một điều nữa. “Nhưng xơ ấy vẫn chưa tha thứ cho việc cô phá hoại phòng viết đâu.”

Tôi chẳng hiểu xơ Constantia nói thế là có ý gì, nhưng tôi có thể chắc chắn rằng mình sẽ biết điều đó khi Agletrudis đến. XXVI. Tháng Mười một kết thúc với việc hoàn thành bức tượng 21, đưa tổng số lượng đã làm xong trong tháng lên tới bảy.

Bức tượng thứ 20 và 19 được hoàn thành trong tuần đầu tiên của tháng Mười hai. Bức tượng thứ 18 xuất hiện vào tuần thứ hai. Việc chuẩn bị cho các tác phẩm điêu khắc đá ngày càng kéo dài, nhưng giường cô vẫn trống không kể từ cái đêm cô kể cho tôi nghe về Brandeis. Cuộc sống của chúng tôi bây giờ chỉ bao gồm có ba hành động. Cô tạc tượng và quên tất cả mọi thứ, còn tôi thì nhìn. Tôi nhìn cô bơ Bougatsa đi; cô quên không giúp tôi tắm. Tôi nhìn cô gạt hết các đĩa thức ăn tôi chuẩn bị cho cô sang một bên; cô quên không bỏ quà vào đôi giày đặt trên bậu cửa sổ cho lễ thánh Nick của tôi. Tôi nhìn cô hút hàng trăm điếu thuốc lá một ngày; cô quên không đổi bất cứ album nào trong đĩa. Tôi nhìn cô ăn vã hàng bình cà phê hòa tan; cô quên không lau máu dính trên ngón tay. Tôi nhìn thân thể của cô cứ héo mòn đi, tôi nhìn má cô hóp lại, tôi nhìn mắt cô ngày càng nhiều quầng thâm đen hơn; cô quên cách sắp xếp từ ngữ để nói một câu hoàn chỉnh. NGƯƠI LÀ Tôi không phải ĐỒ VÔ DỤNG.

Tôi khẩn khoản xin cô nghỉ một chút, nhưng cô cứ khăng khăng nói rằng mình không còn thời gian nữa. Giờ không chỉ những bức tượng mà cả Ba Vị Chủ Nhân của cô cũng đang thúc giục cô làm việc nhanh lên. Tôi gọi Gregor và Sayuri vì tôi chẳng biết phải làm gì khác. Họ cố gắng nói lý với cô, nhưng họ cũng chỉ như đang nói chuyện với bức tường mà thôi. Tôi thậm chí còn không chắc Marianne Engel biết họ đang ở trong phòng với cô. Khi tôi cầu viện sự giúp đỡ của Jack, bà đã chuyển sang chủ đề chuyện này ảnh hưởng đến bà như thế nào. “Tôi chẳng còn chỗ trống ở triển lãm nữa còn cô ấy thì cứ tiếp tục gửi mấy bức tượng này. Nó chẳng có vẻ gì là hàng chạy mùa Giáng sinh cả, anh cũng biết đấy.” Tôi dập mạnh ống nghe xuống rồi đi thẳng tới chỗ hộp morphine để tìm chút thanh thản. Tôi phải thuê thợ đến khiêng những bức tượng thừa ra để ở sân sau. Tôi phản đối việc này, mong rằng cái xưởng làm việc chật ních sẽ làm Marianne Engel phải dừng lại, nhưng cô cứ cương quyết bắt tôi làm thế. Khi tôi phản đối thì cô bắt đầu thét vào mặt tôi bằng thứ ngôn ngữ tôi chẳng hiểu nổi, và tôi đã thua. Rõ ràng một chuyện gì đó rất khủng khiếp sắp xảy ra.

“Cô không thể cứ tiếp tục làm việc như thế này được.” “Những con quái vật là điềm gở của thần thánh.” “Người cô máu me bê bết hết rồi. Để tôi giúp cô tắm một chút.”

“Máu của sự sống.” “Sao cô không ăn cái gì đi?” tôi dụ dỗ. “Cô đang ngày càng yếu đi đấy.” “Tôi đang dần đạt tới sự hư vô tuyệt đối. Đó là vinh quang.”

“Nếu ốm bây giờ, cô sẽ không giúp bọn quái vật thoát ra khỏi đá được đâu.” “Nếu ốm bây giờ, tôi sẽ thấy hạnh phúc vì Chúa đã nhớ đến tôi.” Cô không chịu lên tầng trên, để tắm, hoặc để ngủ, vì thế khi cô đang nằm ngủ trên những tảng đá để chờ nhận chỉ dẫn, tôi mang một xô nước ấm và xà phòng xuống tầng hầm. Nếu cô không chịu tắm rửa, tôi sẽ tắm rửa cho cô.

Miếng bọt biển chà lên xương sườn cô như một cái ô tô chạy trên đường gập ghềnh ổ gà. Những giọt nước màu xám rỏ xuống từ thân thể cô, rơi xuống sàn nhà và làm thành những hình thù kỳ dị giữa đám bụi đất. Con Bougatsa gắt nhặng lên ở trong góc. Khi tôi lật cô sang một bên để dễ kỳ cọ phần lưng, hình xăm cánh thiên thần trên lưng gần như chùng xuống trên lớp da bèo nhèo của cô. Jack chẳng làm gì giúp tôi, nhưng bà cũng không thể không để ý đến tốc độ tạc tượng kinh hoàng ấy chứ, cả đống tượng làm ngập hết cả phòng triển lãm của bà rồi còn gì. Jack càng chậm đáp lại đề nghị giúp đỡ mà tôi không thèm nói ra, tôi càng thêm ức chế. Khi không thể nhịn thêm được nữa, tôi bổ nhào vào cửa tiệm của bà, thậm chí chả thèm chào hỏi, bắt bà phải làm gì đó. “Anh trông mong tôi làm được cái gì cơ chứ?” Jack nói. “Cô ấy quan tâm đến anh nhiều hơn tôi hàng tỷ lần, thế mà anh cũng chẳng bắt cô ấy dừng lại được. Vì thế cứ lo mà dỗ cho cô ấy ăn uống, rồi đợi cho đến khi cô ấy kiệt sức là xong.” “Thế hả?” tôi hỏi. “Bà đang kiếm được hàng đống hợp đồng, và đó là tất cả những gì bà có thể nói đấy hả?”

“Lạy Chúa, anh đúng là một thằng khốn.” Jack chọc vào vai tôi bằng cái bút đang cầm. “Cô ấy có uống thuốc không?” Tôi giải thích rằng tôi đã cố trộn thuốc vào chỗ bột cà phê của cô nhưng cô đã phát hiện ra trò lừa gạt. Cô huỳnh huỵch đi thẳng lên tháp chuông quăng cái bình qua đầu tôi, khiến nó va vào tường vỡ nát. “Bà có biết quét hết bột cà phê ra khỏi giá sách khổ thế nào không?” Jack gật đầu. “Lần tôi cố lén cho cô ấy uống thuốc, cô ấy đã không nói chuyện với tôi suốt ba tháng trời. Cô ấy tưởng tôi cũng là một phần trong kế hoạch chống lại cô ấy.”

Biết rằng Jack cũng đã cố thử cái trò đó làm tôi dịu đi phần nào. Chúng tôi kết thúc cuộc nói chuyện khá lịch sự, và Jack hứa sẽ ghé qua pháo đài tối hôm đó. Bà mang đồ ăn mà Marianne Engel có thể thấy rõ là không hề trộn thuốc - bánh mì, hoa quả, pho mát, vân vân và vân vân - và cố kéo cô cùng nói chuyện. Chẳng tác dụng gì. Marianne Engel rất tức giận với chúng tôi vì đã làm phiền cô, cô đứng dậy bẻ chỗ bánh mì thành hàng trăm mảnh rồi thả xuống cùng đống vụn đá trên sàn nhà, rồi vặn volume đài lên tới mức chúng tôi không chịu được nữa và phải chạy luôn. Đang trèo lên cầu thang, tôi nghe thấy tiếng cô phấn khích nói một mình bằng tiếng Latin. Dù chúng tôi chẳng hề làm được gì nhưng mọi nỗ lực cố gắng cũng đã vắt kiệt sức chúng tôi. Jack và tôi ngồi im lặng trong phòng khách đến mười lăm phút. Rốt cuộc tôi cũng nhận ra không phải Jack chẳng quan tâm, đơn giản là vì bà - trước kia từng nếm mùi chuyện này rồi - thực sự biết chúng tôi không thể làm gì để thay đổi tình hình cả. Tuy thế, khi ra về, Jack đã nói, “Mai tôi sẽ quay lại.”

Sáng hôm sau, tôi thấy Marianne Engel nằm ườn ra trên bức tượng sắp hoàn thành số 17. Tôi quàng tay quanh người cô còn cô chẳng còn hơi sức đẩy tôi ra nữa dù đã cố hết sức. “Không, tôi còn phải làm cái tiếp theo nữa.” Cô thực sự quyết tâm nhưng cô chẳng còn chút sức lực để chống lại tôi nữa, và tôi giúp cô lên cầu thang. Tôi lại xả sạch bụi, mồ hôi và máu khỏi người cô, trong khi cô mệt mỏi tựa đầu vào thành bồn tắm như một con rối dây không có chủ điều khiển. Cô cứ liên tục nói với tôi, suốt lúc tắm rửa và cả khi tôi giúp cô lên giường, rằng cô phải quay lại xưởng. Nhưng chỉ sau vài giây chạm vào chăn nệm, cô đã ngủ. * * *

Marianne Engel vẫn còn mê man khi Jack đến vào tối hôm đó. Thấy mình lại ở một mình với bà Meredith, tôi khui một chai rượu bourbon mới ra. Jack kể cho tôi nghe về những khách mua tượng gargoyle. Những cái tên thật ấn tượng: các thương gia thành đạt, chính khách, nhà bảo hộ nghệ thuật lừng danh, kể cả những nhân vật tiếng tăm trong ngành giải trí. Tôi nhận ra một số lượng lớn các tên tuổi đứng đầu bảng xếp hạng âm nhạc và các diễn viên hạng A ở Hollywood, cả một nhà văn gần như được cả thế giới coi là vua của thể loại truyện kinh dị nữa. Một đạo diễn, nổi tiếng với những bộ phim lãng mạn về mấy kẻ bị xã hội ruồng bỏ, đã mua ít nhất là nửa tá tượng. (Với mớ tóc đen bù xù và khuôn mặt nhợt nhạt như xác chết, tôi nghĩ ông ta sẽ rất dễ bị nhầm là người anh cùng cha khác mẹ mắc bệnh thiếu máu của Marianne Engel.) Dù không ngạc nhiên khi thấy nhiều nhà thờ mua các gargoyle của cô, tôi không hề nghĩ rằng nhiều trường đại học cũng là khách hàng quen của cô. Jack ăn gần hết chỗ đồ ăn Trung Hoa mà chúng tôi đã đặt, nốc hết cốc rượu này đến cốc rượu khác để trôi thức ăn. Bà lau sạch chỗ nước xốt dính trên miệng mình bằng mặt sau của ống tay áo và hỏi có phải cái ấy của tôi đã thực sự mất rồi không. Khi tôi xác nhận rằng nó không còn nữa, bà xin lỗi vì trước kia đã nói đùa về chuyện đó. Tôi chấp nhận lời xin lỗi với tất cả những cử chỉ lịch thiệp nhất tôi có thể nghĩ ra và bà thậm chí đã rơm rớm nước mắt; tôi phát hiện ra rằng rượu - như nó vẫn gây ra cho cả những đệ tử lưu linh kỳ cựu nhất - có thể làm bà trở nên tình cảm hơn. Khi tôi hỏi xem Jack đã chuẩn bị gì cho Giáng sinh chưa, bà trả lời bằng cách thuật lại chuyện đời mình.

Bà có bầu khi vẫn còn là trẻ vị thành niên và đã sinh một cậu con trai. Ted, giờ khoảng ba mươi tuổi. Jack đã cưới cha Ted, một kẻ bạo lực và suốt ngày rượu chè be bét, bà đã sống với ông ta vì có vẻ bà chẳng có sự lựa chọn nào khác. Bà đã cố gắng tốt nghiệp trung học, nhưng đại học thì chẳng cần nói cũng biết. Khi Jack mang bầu lần hai, lão chồng đã buộc tội bà đang cố hủy hoại đời lão: “Cô lại dính lần nữa, dù chúng ta chẳng có tiền. Con khốn!” Ted, lúc ấy sáu tuổi, phải chứng kiến cảnh người mẹ bụng mang dạ chửa bị bố đánh ít nhất một tuần một lần trong suốt thai kỳ. Vào một buổi tối khi Jack đang ở tháng mang thai thứ bảy, chồng bà đã cho bà một trận thừa sống thiếu chết. Khi lão ta xỉn quắc cần câu, Jack đã sắp ít đồ đạc và mặc quần áo ấm cho bé Ted. Bà đặt thằng bé ra chỗ cửa ra vào rồi quay lại phòng ngủ với một cái chảo rán trong tay, đập thẳng vào đầu chồng. Bà bảo làm thế để chắc chắn lão ta không tỉnh dậy và đuổi theo, nhưng tôi ngờ lý do chủ yếu bà ra tay là bởi nó làm bà dễ chịu. Suốt mấy ngày liền, bà nói, bà đã xem các báo địa phương để biết liệu mình có giết lão không. Khi không có lời cáo phó nào đăng lên, bà cảm thấy nhẹ cả người nhưng cũng thấy hơi thất vọng một chút. “Sau khi bỏ chồng, tôi thỉnh thoảng cũng lo rằng lão sẽ chực chờ ở bệnh viện của mẹ tôi. Bà ấy bị mắc chứng tâm thần phân liệt,” Jack nói. “Nhưng tôi không bao giờ gặp lại lão khốn ấy thêm lần nào nữa. Không có gan làm một kẻ đeo bám, tôi đoán thế.”

Việc mẹ Jack là bệnh nhân tâm thần phân liệt đúng là một bất ngờ. Liệu điều đó có quan hệ gì với Marianne Engel không? Thực sự là có. “Tôi yêu mẹ và phải đến thăm bà ấy, đặc biệt khi không có ai khác làm thế. Cha tôi đã bỏ mẹ tôi đi lâu rồi. Tôi nghĩ ông ấy không thể chịu cảnh phải nhìn người phụ nữ mình yêu trở nên điên loạn.” Tôi đưa ra vài nhận xét nho nhỏ rằng có vẻ cuộc đời bà cũng gặp nhiều trắc trở.

“Quá đúng ấy chứ. Tất cả những gã đàn ông xuất hiện trong cuộc đời tôi đều thối nát đến nỗi khi Ted lớn lên,” Jack thú nhận, “tôi đã thầm mong nó sẽ thành một đứa đồng tính.” “Và?” “Không được may đến thế,” bà làu bàu, đổ đầy bourbon vào cốc.

“Ồ, đừng nên từ bỏ hy vọng,” tôi nói, cố tỏ vẻ tử tế. “Phải, thế nào cũng được.” Bà lại làm một ngụm tướng nữa. “Dù sao, mọi việc khá vất vả nhưng chúng tôi cũng đều đã vượt qua được. Sinh Tammie, đứa trẻ tôi mang nặng khi tôi bỏ lão chồng. Kiếm được công việc bồi bàn. Được thăng lên làm đầu bếp, rồi trợ lý bán hàng. Một quán ăn nhỏ bẩn thỉu, nhưng còn có thể làm gì hơn? Vài luật sư lần ra tôi sau khi cha tôi mất, và ông già cũng có để lại cho tôi chút tiền. Vì thế tôi nghĩ, xét cho cùng, mấy kẻ thối nát cũng có điểm tốt.” Bà nâng cốc hướng lên trời. “Tôi biết tôi không thể nuôi dạy hai đứa con với những gì mình kiếm được ở cái nhà hàng đó, vì thế tôi dùng một chút tiền để theo học một khóa học buổi tối, làm kế toán. Kiếm được bằng khá, và cũng kiếm được một chân tệ hại trong một công ty tử tế.” “Mãi lâu sau bà mới trở thành chủ phòng triển lãm,” tôi nhắc, “và trung gian của Marianne Engel.”

“Không lâu như anh nghĩ đâu. Tôi tiếp tục đến bệnh viện thăm mẹ mình và một ngày tôi đã để ý đến một bệnh nhân mới, một cô gái trẻ. Hấp dẫn, anh biết đấy, ngồi một mình bên bàn. Đang vẽ. Cô ấy khác với những người còn lại. Có lẽ đấy là do mái tóc và đôi mắt.” “Marianne.” “Trúng rồi,” Jack nói. “Trừ việc lúc đó tên cô ấy không phải là thế. Cô ấy là một em Jane Doe cảnh sát tìm thấy bên vệ đường. Marianne Engel chỉ là cái tên mà tự dưng một ngày nọ cô ấy bảo các bác sĩ gọi mình thôi.”

Marianne Engel không phải tên thật của cô. Vẻ bất ngờ của tôi trước thông tin đó làm Jack cười khẩy. Bà hài lòng khi biết những chuyện mà tôi không biết về người bạn chung của chúng tôi. “Các y tá nói với tôi rằng không xác định được danh tính cô ấy, và dấu vân tay thì chẳng khớp với ai. Cô ấy không chịu, hay không thể, nói với họ bất cứ điều gì về quá khứ của mình. Có lẽ cha mẹ cô ấy đã mất hay họ chỉ đơn giản là đã vứt cô ấy đi, ai biết được? Dù sao, sau vài chuyến thăm, tôi đã quyết định chào hỏi. Khi đó cô ấy khá e thẹn. Khi tôi hỏi xem tranh của cô ấy, cô ấy không cho. Nhưng tôi cứ tiếp tục hỏi, và sau vài lần thăm viếng nữa, cô ấy cuối cùng cũng đồng ý. Tôi choáng váng. Tôi những tưởng đó là mấy nét vẽ nguệch ngoạc, nhưng hóa ra lại là những con quái vật, ác thú kỳ lạ xấu xí, nhưng chúng đều có vẻ mỏng manh, yếu ớt. Một vẻ gì đó khiến đôi mắt chúng có hồn.” Jack ngừng lại. Tôi nhìn qua những khe hở trên chiếc mặt nạ nhựa dẻo đặc biệt của mình, và trong phút chốc, tôi lo ngại bà sẽ nói rằng trong mắt tôi cũng ẩn chứa đau thương. Nhưng bà chỉ làm thêm một ngụm rượu nữa và tiếp tục nói. “Cô ấy bảo thực ra cô ấy không phải họa sĩ vẽ tranh ký họa. Cô ấy là thợ điêu khắc và những sinh vật này đang đợi để được giải phóng khỏi đá.”

“Vậy,” tôi nói, “thậm chí ngay từ khi còn nhỏ…” “Phải, thậm chí ngay từ khi còn nhỏ,” Jack xác nhận lại. “Tôi nghĩ mình khá thích thú trước cái ý tưởng đó, nhưng tôi chẳng biết cóc khô gì về nghệ thuật cả. Có lẽ đến nay tôi vẫn không biết gì hết. Nhưng tôi biết rõ điều này - có gì đó rất đặc biệt ở khả năng tưởng tượng của cô ấy. Tôi thích nó, và hóa ra nhiều người khác cũng thích. Nhưng vào lúc đó, tôi chỉ gật đầu, vì tôi có thể làm được cái quái gì cơ chứ? Nhiều tháng trôi qua, tôi vẫn tiếp tục đến thăm mẹ, còn Marianne Engel vẫn tiếp tục cho tôi xem tranh của cô ấy, và tôi không biết… chỉ là cô ấy ngày càng thân thiện với tôi hơn. Tôi nghĩ mình cảm thấy thương hại cô ấy. Cô ấy còn quá trẻ, và có lẽ tôi cũng hiểu cái cảm giác khi bị kẹt ở một nơi chẳng mang lại điều gì tốt đẹp cho ta. Nhà thương điên là nơi thích hợp cho mẹ tôi, không có gì phải bàn cãi về điều đó, nhưng nó không phải nơi thích hợp với Marianne Engel.” “Thế chuyện gì đã xảy ra?”

“Các bác sĩ cứ chế thuốc cho cô ấy mãi cho tới khi cuối cùng họ cũng tìm được một hợp chất có vẻ có tác dụng và tình trạng của cô ấy đã khá hơn. Marianne có thể cư xử bình thường, anh cũng biết đấy, khi cô ấy uống thuốc. Nhưng cô ấy luôn nghĩ chúng có hại cho những trái tim của mình.” Jack ngừng lại. “Phải, cái ảo tưởng đấy cũng chẳng mới mẻ gì. Một lần tôi thậm chí còn nhờ họ chụp X-quang để cô ấy thấy mình chỉ có duy nhất một quả tim thôi, ấy vậy mà cô ấy vẫn không chịu tin tôi.” “Nhưng làm thế nào mà...” “Tôi sẽ nói đến đoạn đó, nếu anh chịu ngậm miệng lại.” Jack xỉa đôi đũa của bà về phía tôi, một mẩu thịt gà Cung Bảo văng ra giữa chúng tôi. “Sau khi các bác sĩ giúp cô ấy bình thường trở lại, họ đưa cô ấy vào một nhà tình thương và cô ấy cuối cùng đã kiếm được việc làm tại một quán cà phê. Rửa bát đĩa, anh có thể tin được không? Khi nghe được chuyện đó, tôi đã đến thăm và thấy khuỷu tay cô ấy ngập trong nước bẩn, và trong đầu tôi chỉ có duy nhất hình ảnh những bức ký họa tuyệt vời đó. Cũng trong thời gian này, cô ấy đã có hình xăm đầu tiên trên cánh tay, một trong những câu tiếng Latin. Khi tôi hỏi tại sao lại làm thế, cô ấy bảo vì không có tiền mua đá, cô ấy sẽ dùng chính thân thể mình để làm khung tranh. Tất cả những hình xăm ấy, cô xăm chúng khi không thể tạc tượng vì một lý do nào đó. Dù thế nào thì, tôi nói, chuyện này thật vớ vẩn. Nếu cô ấy muốn tạc tượng đến thế, tôi sẽ giúp. Vì thế tôi trả tiền cho cô ấy theo học một khóa học buổi tối, dù toàn bộ gia sản của tôi chỉ là số tiền còm cõi bố tôi để lại, mà tôi lại còn hai đứa trẻ phải nuôi nữa chứ. Ngu hết thuốc chữa, nhỉ?”

Ngu thật, nhưng tôi cũng nghĩ (dù tôi chẳng nói tướng lên làm gì) như thế thật tuyệt. Jack lại lấy thêm một điếu thuốc của Marianne Engel - vì bà không hút, như bà đã nói với tôi không chỉ một lần - và tiếp tục câu chuyện của mình. Cứ khi nào đến đoạn kịch tính, bà lại trỏ điếu thuốc vào không khí như đang cố gắng châm vào những quả bong bóng vô hình vậy. “Giáo viên hướng dẫn nói rằng Marianne Engel là học sinh tài năng nhất ông từng dạy, rằng cô ấy chỉ vô cùng say mê tạc tượng thôi. Khi tôi không thể bòn thêm được đồng nào để trả tiền học nữa, ông bảo Marianne cứ tiếp tục học. Ông bảo rằng một ngày nào đó ông sẽ có thể tự hào khoe rằng mình đã từng là thầy của cô ấy. Vì thế tôi lại đưa ra một quyết định ngu ngốc khác nữa là gợi ý với Marianne rằng tôi có thể làm đại diện cho cô ấy. Cô ấy đồng ý, dù sau đó tôi có nói rằng mình chẳng biết cái cóc khô gì về việc kinh doanh nghệ thuật cả. Nhưng tôi cũng xoay xở kiếm được cho cô ấy một bộ dụng cụ tạm ổn ở cửa hàng đại hạ giá, nói chung là khá may mắn, và một ít đá. Tảng đầu tiên là thứ đá rẻ tiền, kinh tởm, cứ chực nát ra như cám dưới lưỡi đục của cô ấy, đúng, nhưng cô ấy cuối cùng vẫn lôi được gargoyle ra và nó trông khá ổn. Thế là giờ tôi đã có bức tượng và phải bán được nó trước khi chúng tôi có thể kiếm một tảng đá khác, vì thế tôi đã mượn tạm cái xe tải cà tàng này lái đến các phòng triển lãm khắp nơi mang theo bức tượng vứt trong thùng xe. Cuối cùng tôi cũng tìm được một người muốn trưng bày nó, nhưng họ chỉ đồng ý mua nếu giá thực sự hời, nhưng đến lúc này, chúng tôi chẳng còn lựa chọn nào khác, và thế là tôi đồng ý. Khi cuối cùng nó cũng được bán, anh có tin nổi không, tôi thực sự đã lỗ vốn. Cả quy trình mất hàng tháng trời và suốt khoảng thời gian ấy Marianne Engel cứ liên tục xăm thêm những hình mới, trở nên điên cuồng vì không có đá. Nhưng cuối cùng chúng tôi cũng bán được một cái khác, và một cái khác, rồi tự nhiên có một ít tiền chảy vào túi chúng tôi và mọi chuyện đều diễn ra tốt đẹp.” Tôi rất thích nghe một câu chuyện về Marianne Engel không liên quan gì đến các tu viện thời Trung cổ. Nó làm tôi nhận ra rằng tôi đã chìm đắm đến thế nào trong những câu chuyện thần tiên của cô.

“Khi cô ấy thực sự bắt tay vào làm việc, những bức tượng cứ thế tuôn ra ào ào. Đó là lần đầu tiên tôi thấy cô ấy cuồng nhiệt đến thế, anh cũng biết phải không? Lần đầu tiên cô ấy làm việc đến kiệt sức.” Jack nhướng mắt về phía phòng của Marianne Engel. “Hồi đó cô ấy còn trẻ khỏe hơn bây giờ, và tôi đã nghĩ rằng đó chỉ là lửa nhiệt tình của tuổi trẻ mà thôi. Niềm đam mê hưng phấn với những sáng tạo đầu tiên. Tôi không biết mọi việc lại diễn ra như vậy - giờ được bao lâu rồi? Trong suốt khoảng hai chục năm thì phải.” “Cô ấy chắc chắn đã làm việc rất tốt,” tôi nói. “Tôi muốn nói là, ngôi nhà và tất cả mọi thứ…” “Phải, biết cách kiếm tiền, chắc chắn rồi. Marianne làm gì cũng giỏi nhất thế giới, và không chỉ có thế. Làm với nhau năm năm, chúng tôi đã kiếm đủ để mở một phòng triển lãm. Mười năm, chúng tôi kiếm được cho cô ấy chỗ này. Cứ thế mà trả tiền mặt thôi, không phải thế chấp gì hết.”

“Bà đã trở thành người giám hộ cho cô ấy như thế nào?” “Chỉ là chuyện sớm muộn cũng đến mà thôi,” Jack trả lời. “Không, khốn kiếp, bao nhiêu việc hành chính và những chuyến thăm tòa án liên miên. Nhưng anh phải nhớ rằng cô ấy chẳng có gia đình gì hết, ít nhất không có loại gia đình mà tôi biết. Cô ấy không bao giờ kể cho tôi nghe về cuộc đời mình trước khi chúng tôi gặp nhau và, thành thực mà nói, tôi cũng chẳng rõ cô ấy có biết hay không nữa.” “Jacqueline,” tôi nói, “bà chẳng bao giờ trả lời thẳng vào câu hỏi của tôi cả.”

“Đừng gọi tôi như thế, mẹ kiếp, mà tôi còn chẳng nhớ nổi cái câu hỏi chết tiệt của anh là gì.” “Là liệu bà có làm gì vào Giáng sinh này không.” “Không, mẹ tôi mất mười năm trước rồi và bọn trẻ cũng chẳng còn liên lạc gì với tôi nữa.” Bà chụp lấy áo khoác và nói rằng đã đến lúc phải về. Đến cửa, bà nói, “Đừng nghĩ chúng ta đã bạn bè gì với nhau đấy. Nếu tôi được phép tự quyết, anh đừng hòng có thẻ tín dụng.”

“Hiểu,” tôi xác nhận. “Tôi mong là điều tôi sắp nói ra không có vẻ tệ quá, nhưng tôi thực sự mừng rằng Marianne đã bất tỉnh. Ít nhất cô ấy cũng có thể nghỉ một chút.” Jack khịt mũi. “Cô ấy chưa xong đâu.” * * *

Khi Marianne Engel thức dậy, cô chứng minh rằng Jack đã đúng. Cô xơi một bữa sáng khổng lồ, rồi đi ngay xuống tầng hầm, giam mình tại đó suốt bốn ngày tiếp theo. Mọi cử động của cô đều rất uể oải, như thể ai đó đã quay phim quá trình làm việc của cô và cho đoạn phim chạy bằng nửa tốc độ bình thường vậy. Cô thiếu năng lượng để có thể làm việc nhanh hơn. NẾU NGƯƠI TRỘN CHO CÔ TA MỘT ÍT MORPHINE Cái gì? CÔ TA SẼ NGỦ NGAY. Vào ngày hai mươi tháng Mười hai, Sayuri đến giúp tôi tập bài tập cuối cùng trước kỳ nghỉ lễ. Chúng tôi đã cố hết sức để bơ tiếng búa đập lờ đờ của cô đi.

“Gregor nói với tôi rằng cô sắp đi gặp bố mẹ ông ấy,” tôi nói. “Một bước tiến lớn đấy.” “Từ trước đến nay anh ấy chắc chưa làm việc gì như thế này,” Sayuri nói, “đưa một người phụ nữ về ra mắt bố mẹ mình.” “Cô cảm thấy thế nào?”

“Tôi không thấy lo lắng lắm, nhưng tôi khá ái ngại cho anh ấy. Tôi nghĩ anh ấy chưa bao giờ thấy mình thỏa mãn được sự kỳ vọng của họ hàng.” “Ông ấy có nghĩ là cô sẽ làm họ thất vọng không?” tôi hỏi với một vẻ rất đỗi ngây thơ. “Anh ấy lo họ nghĩ rằng anh ấy không xứng với tôi hơn.” Sayuri tăng lực ma sát cho cái xe đạp của tôi và bắt tôi phải chiến đấu, chiến đấu, chiến đấu! “Thật nực cười.”

“Thế, cô có nghĩ là ông ta định…?” Tôi gõ tay vào ngón áp út của cô, nhiển nhiên là chẳng có cái nhẫn nào trên đó cả. “Không đâu,” Sayuri vội vã trả lời. Cô rụt tay lại, nhưng tôi có thể nhìn mặt cô mà nói rằng cô cũng chẳng ngại cái ý tưởng đó đâu. “Anh ấy chỉ muốn tôi đến thành phố quê hương của mình thôi.” m thanh dưới tầng hầm đã có chút thay đổi - tiếng búa đập đều đều đơn điệu không còn nữa. Sống cùng nhau đến lúc này, tôi biết rõ lịch tạc tượng của Marianne Engel để có thể nhận ra rằng cô không thể nào hoàn thành bức tượng hiện tại của mình vào lúc này được. “Tôi phải đi xem cô ấy thế nào.”

MORPHINE RẤT TỐT. Với cô ấy thì không. Tôi không nhìn thấy cô khi tôi bắt đầu đi xuống cầu thang. Tôi gọi to, nhưng không có tiếng đáp lại. Nửa điếu thuốc lá đang cháy dở trong gạt tàn. Rồi tôi thấy cô đằng sau một bức tượng gần như đã hoàn chỉnh, hai tay duỗi ra trong một tư thế rất kỳ cục. Ngón tay cô vẫn đang nắm hờ vào cái búa; cái đục văng ra xa khoảng vài mét. Khi đến bên tảng đá, tôi thấy cô đã bất tỉnh, với một vết rách lớn trên trán. Tôi nghĩ có lẽ là do cô ngã đập đầu xuống tảng đá khi bất tỉnh.

* * * Bệnh viện giữ Marianne Engel lại bốn đêm. Đầu cô được khâu kín, và một cái ống truyền dịch vào tay cô để chống lại sự mất nước. May mắn làm sao, cô đã quá mệt mỏi để có thể giận dữ vì tôi đã đặt cô vào vòng tay của các bác sĩ thù địch. Tôi để cô lại rồi đi về nhà ngủ một chút. Tôi cho Bougatsa ngủ cùng giường với mình, dù biết Nan sẽ điên lên trước những dị ứng mà lông chó sẽ gây ra cho da người bỏng. NGƯƠI CÒN CHẲNG TỰ CHĂM SÓC ĐƯỢC BẢN THN. Sáng hôm sau, tôi quay lại bệnh viện ngay lập tức. SAO NGƯƠI CÓ THỂ CHĂM SÓC CHO CÔ TA ĐƯỢC? Marianne Engel ra viện vào đêm Giáng sinh. Thành thực mà nói, các bác sĩ phải giữ cô lại lâu hơn, nhưng họ cho cô ra vì nghĩ đến ngày lễ. Khi chúng tôi về đến nhà, cô chỉ đòi ăn mỗi bánh hạnh nhân, nhưng tôi đã thuyết phục cô ăn thêm một ít quýt. Tôi bê cái ti vi và đầu video từ tháp chuông xuống phòng cô và chúng tôi cùng xem Cuộc sống tươi đẹp, vì đó là điều những người bình thường hay làm vào đêm Giáng sinh. Sau khi xem xong, cô cứ đòi tôi ngủ lại trên giường mình, vì cô muốn tỉnh dậy vào ngày lễ Giáng sinh với tôi bên cạnh.

Tôi nằm trên giường với bộ quần áo tạo áp suất thô cứng chạm vào cơ thể trần trụi mềm mại của cô; nhận ra rằng lẽ ra tôi phải cảm thấy vui sướng trước sự gần gũi này mới phải. Nhưng không; tôi chỉ đang nghĩ rằng tại sao cơ thể cô lại có thể mang lại cảm giác mạnh mẽ đến thế cho tôi. Tôi đã dành hầu hết phần đời trai trẻ của mình với những phụ nữ trần truồng - đó là công việc của tôi vào ban ngày, và sở thích của tôi vào ban đêm - nhưng khi ở bên Marianne Engel thì nó luôn có vẻ gì đó khác lạ. Rất khác lạ. Có nhiều cách khả dĩ để giải thích cho sự bất tiện của tôi. Có lẽ cơ thể cô ảnh hưởng mạnh mẽ đến tôi như vậy vì tôi thực sự thích cô. Có lẽ vì đó là lần đầu tiên trong đời, với việc giải phẫu cắt bỏ dương vật, tôi không thể từ chối cơ thể một người phụ nữ bằng cách chinh phục nó nữa. Có lẽ những cảm giác của tôi chỉ đơn thuần là kết quả của hoóc môn giới tính. Tất cả những giả thiết này đều rất đáng hoan nghênh, và tới một mức nào đó thì có lẽ chúng đều hợp lý, nhưng vào cái đêm Noel đó, nằm bên cô mà không tài nào ngủ nổi, tôi đã tìm ra được đáp án. Lý do chính, tôi tin vậy, cơ thể cô làm tôi hưng phấn đến thế là vì nó làm tôi cảm thấy đó không chỉ là cơ thể con người mà còn là một thứ gì đó có thể chạm được tới cả ký ức và hồn ma. Lần đầu tiên tôi nhìn thấy cơ thể cô, một cách trọn vẹn, là ở trong phòng điều trị bỏng khi cô cởi quần áo ra cho tôi xem những hình xăm của mình. Cảnh ấy đã kích thích tôi và làm tôi cảm thấy xấu hổ, rồi khi tôi lướt ngón tay lên những cái lông vũ trên đôi cánh thiên thần của cô thì cơ thể cô đã run lên, và để đáp trả, cũng làm trái tim tôi run rẩy. Lúc đó, tôi không thể hiểu tại sao mình lại có cảm giác như vậy, nhưng nhiều tháng sau, tôi bắt đầu nhận ra đó là vì những ngón tay của tôi cảm thấy không phải chúng đang chạm vào người cô lần đầu tiên mà là vì chúng đang trở lại một nơi chốn quen thuộc. Tôi đã không hiểu ra điều này cho tới tận lần đầu tiên Marianne Engel tắm cho tôi trong pháo đài, khi nhìn cách cô giơ tay ra chạm vào người tôi như thể nó thuộc quyền sở hữu của cô vậy. Cô đã cử động cánh tay mình hệt như khi tôi giơ tay ra chạm vào tấm lưng xăm hình đôi cánh thiên thần của cô lần đầu tiên. Như thể da thịt của người khác đã bị chiếm làm của riêng, và cánh tay đang giơ ra ấy thuộc về một người chủ đi vắng lâu ngày nay đã trở lại. Khi tôi chạm vào cô lần đầu tiên, tôi không có cảm giác đó là lần đầu tiên tôi chạm vào cô.

Giờ đây, nằm trên giường cạnh cô trong đêm Giáng sinh này, cơ thể cô vẫn mang đến cho tôi những cảm xúc đó. Khi nằm bên cô, tôi như thể được sinh ra là để nằm tại đó, cơ thể tôi như thể đã nằm bên cô hàng nghìn lần trước đó rồi. Tôi có cảm giác như mình không chỉ đang nằm cạnh một con người, mình còn đang nằm cạnh ký ức của một con người nữa, trong khi cùng lúc, ký ức ấy được chuyển hóa thành một cái gì đó thậm chí còn vô hình hơn. Cơ thể cô quá người trong cái hoang dại của nó, nhưng nó cũng làm tôi có cảm tưởng rằng nó là một thực thể đang dần biến thành một bóng ma, cứ như cơ thể gầy gò của cô đang biến thành một thứ gì đó còn mong manh hơn. Tôi miết nhẹ ngón tay lên những cái xương sườn nhấp nhô của cô và lướt xuống đỉnh xương chậu nhô lên khỏi bụng cô. Cơ thể cô, xác thịt lẫn ký ức luôn rơi vào trạng thái lẫn lộn mơ hồ và đầy hứng khởi, vẫn mang lại cho tôi cảm giác nó thuộc về tôi nhưng dường như đang dần mất đi. Cô không chỉ mất đi sinh lực khi làm việc, cơ hồ cô đang cố làm việc để mất đi sinh lực; như thể không chỉ những gargoyle mới là nghệ thuật lặp lại, mà cả bản thân người nghệ sĩ là cô nữa, cũng cố gắng đạt đến mức độ vừa vô hình vừa hữu hình hơn lúc bắt đầu. Đó là cách mà cơ thể cô - thân xác, ký ức và linh hồn - làm tôi không thể chống cự lại được. Tôi tỉnh giấc, sau khi đã chìm vào một giấc ngủ ngắn chập chờn, trước khi cô dậy. Tôi mang một khay trứng đến cho cô, và lấy hết can đảm để tặng cho cô món quà đầu năm. Một lần nữa đó lại là các sáng tác văn chương, vì hiển nhiên tôi vẫn chưa rút ra được bài học từ sau vụ thơ thẩn năm ngoái. Tôi đã viết lại theo trí nhớ những câu chuyện về bốn người bạn ma mà cô đã kể cho tôi nghe - “Người thợ rèn tài ba,” “Người phụ nữ trên vách đá,” “Người thợ thổi thủy tinh học việc,” và “Quà tặng của Sigurðr” - và tách từng truyện một giữa các trang bìa. Ngoài bìa trước là dòng chữ Những câu chuyện tình yêu, được kể bởi Marianne Engel.

“Đây là một món quà tuyệt vời. Không chỉ cho tôi, mà cho cả Sigurðr nữa. Đối với một người Viking, địa ngục khủng khiếp nhất là bị vùi vào quên lãng.” Cô nắm tay tôi và xin lỗi. Cô đã dồn hết tâm sức vào việc tạc tượng suốt mấy tuần qua, và vì vậy cô đã bỏ bê không chuẩn bị cho tôi một món quà xứng đáng. “Nhưng,” cô gợi ý, “tôi giải thích cho anh nghe ý xơ Constantia khi bảo rằng tôi đã hủy hoại phòng viết nhé?”.