Hôm nay bạn muốn đọc gì?

Cô gái mang trái tim đá - The Gargoyle - Chương 25

Chương XVII.

Trời đã rạng khi Agletrudis xuất hiện trước cổng Engelthal, với nụ cười hả hê trước sự đau khổ của người khác không hợp chút nào với gương mặt của một nữ tu. Cô ta hất hàm về phía anh, lúc này vẫn còn đang loay hoay trên lưng ngựa với thân thể đầy máu của Brandeis, và nói, “Tôi thấy hình như cô đã mang người tình của mình tới.” Tôi không thể bộc lộ nỗi tức giận của mình nếu chúng ta muốn có bất cứ cơ hội nào vào trong. Tôi cần phải cầu xin lòng trắc ẩn của cô ta; cô ta, xét cho cùng, cũng đã nguyện cống hiến cả đời cho Chúa. “Chúng tôi cần chỗ trú. Nếu không được giúp đỡ, chúng tôi sẽ chết.” “Ái chà,” Agletrudis nói, gật gật đầu và đan hai tay lại sau lưng. “Vậy cái linh hồn ham hố phiêu lưu của cô cuối cùng đã tìm được thứ nó dày công tìm kiếm bấy lâu. Có khi còn hơn ấy chứ.” Cũng giống như xơ Constantia trước đấy, Agletrudis chăm chú soi mói cái bụng lồ lộ của tôi.

Tôi dằn từng tiếng. “Cô phải hiểu rằng không dễ dàng gì để chúng tôi - để tôi - đến được đây.” Hai tay tôi cũng chắp sau lưng, nhưng bởi vì tôi không muốn Agletrudis nhìn thấy chúng co lại thành hai nắm đấm. “Chúng tôi chẳng còn chỗ nào để đi cả.” Agletrudis cố nặn ra một vẻ mặt thông cảm, nhưng chỉ làm nụ cười của cô ta thêm kinh tởm. “Chuyện này đã đặt chúng tôi vào một tình huống vô cùng thú vị. Nhiệm vụ của chúng tôi là nhân từ độ lượng, và chúng tôi được dạy phải tha thứ cho mọi kẻ tội đồ. Tuy thế, vấn đề khó khăn nằm ở chỗ hầu hết các xơ ở đây đều coi cô còn tệ hơn cả một kẻ tội đồ bình thường nữa.” Điều này làm tôi cảm thấy đây là một phản ứng thái quá trước việc tôi rời Engelthal. “Khi tôi rời khỏi, tôi không bao giờ có ý nghĩ không tôn trọng tu viện hoặc Chúa.”

“Hay mẹ Christina, tôi có thể chắc chắn thế nhỉ.” Agletrudis vẫn không mai một khả năng đánh đúng điểm yếu nhất của người khác. “Nếu cô chỉ đơn giản biến mất, sẽ chẳng có ai lại không chịu giúp đỡ cô bây giờ cả. Nhưng vì những hành động của cô vào đêm đó, xơ Gertrud tội nghiệp đã vỡ tim mà chết.” Gertrud sẽ chẳng mảy may quan tâm đến chuyện tôi biến mất, trừ phi việc đó có thể làm chậm tiến trình hoàn thành cuốn Kinh Thánh của bà. “Cô đang nói về cái gì vậy?” “Chối chả có ích gì đâu, x... - ồ tôi xin lỗi. Marianne. Cô không nhớ rằng tôi đã nhìn thấy cô rời phòng viết vào cái đêm đó sao? Tôi vẫn nhớ việc đó, và tôi vẫn nhớ việc sáng hôm sau, xơ Gertrud tội nghiệp nhìn thấy tất cả công trình của bà đều đã ra tro. Từng chương, từng tiết một.” Agletrudis ngưng lại với một tiếng thở dài đầy kịch tính. “Sao cô lại có thể lấy đuốc mà đốt Kinh Thánh của bà chứ?”

Tiếng thở dài đã giải thích tất cả. Cô ta đã đốt Die Gertrud Bibel vào cái đêm tôi rời đi và đổ mọi tội lỗi lên đầu tôi. Và thế là, tôi đã trở thành người nữ tu phá hủy tác phẩm cả đời của Gertrud, người nữ tu đã biến Lời Dạy Của Chúa thành một đống tro và chạy trốn để làm nhân tình của một kẻ giết người. Mắt Agletrudis sáng lên đầy hằn học. “Mẹ Christina đã ra lệnh xóa tên của cô ra khỏi mọi biên niên ký, và giờ khi cha Sunder đã mất - tôi tin rằng cô biết ông đã chết? - chúng tôi cũng đang tiến hành xóa tên cô khỏi sách của ông ấy đây.” Tôi đã luôn thấy Agletrudis bợ đỡ Gertrud quá thể, nhưng cũng còn lâu mới đến mức phản trắc. Tâm tính con người thay đổi mới nhanh làm sao. Thật bất ngờ khi trong phút chốc hiểu ra Agletrudis có thể độc ác đến mức nào. Tôi biến mất, cô ta có thể thừa kế chức trưởng phòng viết. Nhưng như thế vẫn chưa đủ với cô ta. Cô ta phải hủy hoại tên tuổi của tôi đời đời kiếp kiếp, và để đạt được điều này thì cô ta sẵn lòng hy sinh giấc mơ cả đời của người thầy.

Tôi chẳng tự hào gì khi không thể ngăn nắm đấm của mình lại. Tay phải của tôi đập vào vai Agletrudis, cú đấm đầu tiên tôi quăng ra trong đời. Tôi đã nhằm vào đầu cô ta nhưng tôi nghĩ sự tức giận của tôi đã ảnh hưởng xấu đến mục tiêu. Cú thứ hai và thứ ba có vẻ chính xác hơn, dù mang thai có làm động tác của tôi hơi vụng về lóng ngóng đã hạ cánh lên ngực và cằm của cô ta. Cô ta ngã ngửa về phía sau, dù tôi không chắc bao nhiêu là vì cú đấm và bao nhiêu là vì ngạc nhiên. Khi cô ta bò dậy, cô ta nhe hàm răng đầy máu ra cười. “Tôi sẽ không hạ nhục bản thân bằng việc đánh một con điếm chửa đâu,” Agletrudis nói, “nhưng tôi chắc chắn sẽ gửi lời của cô đến cho mẹ Christina.” Ở lại chẳng ích gì cả, vì giờ đây chúng ta không bao giờ được phép vào trong tu viện nữa, mà bọn truy kích thì vẫn còn đang đeo bám ngay phía sau. Tôi cố trèo lại lên ngựa và anh đã để tôi phóng nước đại cho xả bớt cơn giận của mình trước khi hỏi chúng ta sẽ đi về đâu. Tôi nói là tôi không biết. Anh gợi ý cái lán của cha Sunder. Tôi nói rằng ông đã mất rồi. Anh hỏi là không biết huynh trưởng Heinrich có còn sống không. Tôi không biết. Anh nói rằng chúng ta không có sự lựa chọn nào khác, và ngôi nhà của họ là cái đích mới của chúng ta.

Huynh trưởng Heinrich rất choáng váng khi thấy chúng ta trước cửa nhà mình sau ngần ấy năm, nhưng ông thậm chí chẳng ngần ngại đến một giây. Ông mở toang cánh cửa để cho chúng ta vào, và tôi sẽ luôn nhớ tới ông vì điều đó. Anh đưa Brandeis thẳng đến chỗ cái giường nhỏ mà anh đã nằm khi ở đây trị bệnh. Huynh trưởng Heinrich trông như đã sức tàn lực kiệt. Ông không còn đi đứng vững chãi được nữa, và ông phải tập tễnh đi lấy nước và dọn chỗ nằm cho chúng ta. Ông giúp chúng ta trị thương cho Brandeis, cố hết sức ghìm anh ấy trong khi anh rửa vết thương cho bạn. Khi Brandeis ngừng vùng vẫy, chính huynh trưởng Brandeis - chứ không phải anh hay tôi - đã nhẹ nhàng vuốt tóc anh ấy, dù ông chưa từng gặp Brandeis trước đó. Khi Brandeis cuối cùng cũng chìm vào giấc ngủ chập chờn, huynh trưởng Heinrich nói rằng sẽ chuẩn bị một chút thức ăn. “Tôi có rất ít khách đến thăm, hãy để tôi được tiếp mọi người…” Tôi khăng khăng đòi giúp và huynh trưởng Heinrich cảm thấy rất thích thú khi thấy giờ đây tôi cũng đã biết nấu nướng. Khi ông khen ngợi kỹ năng mới của tôi, tôi mới dám nói lời chia buồn trước cái chết của cha Sunder. Huynh trưởng Heinrich vừa thái rau vừa gật đầu một cái. “Anh ấy đã sống một cuộc đời tốt đẹp và ra đi trong giấc ngủ, vì thế không có gì phải tiếc thương đâu. Có một đài tưởng niệm rất đẹp và tất cả các xơ đều nói rằng ác quỷ đã mừng vui trước cái chết của anh ấy. Không phải vì Kẻ Thù Lớn đã chiếm được một linh hồn mới, mà vì Friedrich không bao giờ có thể làm hại Hắn với những lời cầu nguyện của mình được nữa.”

Giọng ông run rẩy. Friedrich, ông đã nói vậy. Không phải là huynh trưởng Sunder, như ông vẫn thường gọi khi cha còn sống. Không phải trước mặt tôi, ít nhất là thế. Ông cố mỉm cười nhưng không thể, và tôi đã hiểu vì sao ông lại trông khắc khổ đến như vậy. Huynh trưởng Heinrich đang chờ đến lượt mình. “Cô có biết là xơ Gertrud cũng mất rồi không? Trái tim của bà ấy dường như đã không thể chịu nổi sau khi…” Giọng của Heinrich trượt đi. Dĩ nhiên, ông muốn nói đến chuyện cuốn Kinh Thánh của bà bị đốt. “Marianne, khi chỗ tro tàn sót lại được tìm thấy, bà ấy nhận ra rằng cả đời này cuốn Kinh Thánh của mình sẽ không bao giờ được hoàn thành. Những chuyện không hay xảy ra giữa hai người chẳng phải bí mật gì, nhưng cô cần biết rằng tôi không bao giờ tin cô đã đốt nó. Và Friedrich cũng vậy. Anh ấy chết với niềm tin tuyệt đối vào sự vô tội của cô.” Đúng lúc đó thì bụng tôi quặn lại, và theo bản năng, tôi đặt ngay tay mình lên đứa trẻ. Tôi không dám ngước lên nhìn vào mặt huynh trưởng Heinrich, lo lắng không biết liệu ông có nghĩ rằng vì tôi rời bỏ Engelthal mà đã xảy ra cơ sự này hay không. Nhưng đây là những điều mà ông đã nói với tôi: “Friedrich hẳn phải rất hài lòng nếu biết được rằng cô đã có mang. Anh ấy luôn tin rằng tình yêu cô dành cho người đó là chân thật.”

Ngay chính giữa căn bếp ấy, tất cả những sự kiện xảy ra hàng tuần trước đó đã trở lại với tôi. Đánh mất cuộc sống tôi và anh cùng nhau xây dựng tại Mainz, phát hiện ra mình đã bị đổ cho một tội lỗi khủng khiếp, và biết tin cha Sunder đã mất. Agletrudis đứng cười ở cổng, với tư cách là quyền tu viện trưởng. Việc thai nghén của tôi, tôi đã lo lắng từng giây phút mỗi ngày. Tôi đã gần như kiệt hết ý chí và tinh thần từ khi chúng ta rời khỏi Nürnberg, nhưng ngay trong giây phút ấy thì tất cả mọi sức mạnh còn sót lại của tôi đều cạn sạch. Tôi giải phóng tất cả những giọt nước mắt mình đã cố kìm nén từ trước đến giờ. Tôi gục xuống, người tôi gập lại trong cánh tay của người anh lớn. Lại được ôm thật là một điều tuyệt vời, chỉ đơn giản là được ôm và được nghe những lời nói ân cần. Anh đã quá bận rộn chiến đấu bảo vệ chúng ta, thúc cho ngựa chạy và lập các bước hành động tiếp theo. Tôi không trách anh, nhưng tôi nhớ những cử chỉ quan tâm ấm áp của anh. Huynh trưởng Heinrich vuốt tóc tôi y như với Brandeis, và ông đặt tôi nằm lên giường của chính mình. Ông đắp chăn cho tôi và nói cho tôi chính xác điều tôi cần được nghe: rằng tất cả mọi việc đều sẽ tốt đẹp cả thôi. Vài ngày trôi qua và chúng ta không có sự lựa chọn nào khác ngoài cứ ở nguyên tại đó. Tôi hy vọng có lẽ chúng ta đã đánh lừa được bọn truy lùng, nhưng anh đảm bảo với tôi rằng chúng ta chắc chắn không làm được điều đó. Anh nói với một sự tin tưởng tuyệt đối rằng, giờ đây khi một tên truy kích đã chết, những kẻ còn lại sẽ tái hợp và cố gắng tìm hiểu xem chúng ta đang bài binh bố trận thế nào.

Chúng ta luôn cẩn thận rửa vết thương cho Brandeis và mong nó sẽ lành, nhưng chúng ta đã hy vọng quá nhiều. Nó bị nhiễm trùng và anh ấy sốt rất cao, nói mê sảng. Anh đã chứng kiến chuyện này trước đây, trên chiến trường, và biết mình phải làm gì. Huynh trưởng Heinrich giữ hai vai của Brandeis còn tôi giữ hai chân anh ấy, trong khi anh dùng một cái rựa cắt đi một phần đùi của anh ấy. Khi chúng ta làm xong, quần áo mọi người đều dính đầy máu và có cả một tảng thịt trong cái xô. Khi tôi nhìn vào vết thương khủng khiếp trên đùi Brandeis, tôi đã cảm thấy hai điều: xấu hổ vì nỗi sợ rằng vết thương sẽ ảnh hưởng đến tôi theo cách nào đó và làm hại đứa trẻ, và tội lỗi vì lý do gây ra vết thương. Nếu tôi không do dự trước cửa sổ nhà trọ đó, Brandeis đã có thể nhảy ra trước khi cái rìu phóng tới. Huynh trưởng Heinrich là người đầu tiên nhận thấy sự hiện diện của hai gã đàn ông cưỡi ngựa. Chúng giữ một khoảng cách khá xa ngôi nhà, qua rặng đồi nơi tôi từng chơi đùa khi còn nhỏ, nhưng chắc chắn bọn chúng đang theo dõi chúng ta. Chúng là bọn truy kích, dĩ nhiên. Khi tôi hỏi tại sao chúng không tới thẳng chỗ chúng ta, “Bọn chúng biết là chúng ta có cung tên và có thể sử dụng vũ khí, vì thế chúng đã gọi viện binh.” Có vẻ bọn chúng vẫn chưa phát hiện ra anh, vì chúng chưa nhìn được rõ anh. Mà cho dù có nhìn được, chúng cũng khó mà nhận ra anh - không chỉ vì anh bị bỏng, mà còn vì chúng gia nhập đội condotta sau khi anh đã trốn đi. Chúng không thể biết tôi là ai, dù chúng là những thành viên kỳ cựu đến thế nào, nhưng chúng chắc chắn cũng đoán được hẳn là phải có lý do gì đó thì chúng ta mới không tiếp tục trốn chạy. Chúng có biết về vết thương của Brandeis không? Rất có thể, vì chúng hẳn đã nhìn thấy những vệt tuyết đầy máu bên vệ đường ở Nürnberg. Liệu chúng có phát hiện ra cái bụng bầu giấu dưới lần áo choàng của tôi không? Chắc là không. Nhưng trước tất cả những câu hỏi của chúng về chúng ta, tôi có một câu hỏi lớn hơn dành cho chúng: chuyện gì sẽ xảy ra khi những tên lính đánh thuê khác đến?

Chúng ta đã tranh cãi rất kịch liệt. Huynh trưởng Heinrich nói ông sẽ đi ra với tư cách người phụng sự Chúa để nói chuyện phải quấy với chúng. Anh cười vào cái ý nghĩ đó. Brandeis, trong lúc tỉnh táo, đã tranh luận rằng anh ấy sẽ đối diện với số phận của mình như một người đàn ông, và đây cũng là cách duy nhất giúp những người còn lại thoát chết. Chúng ta phải chạy trốn để bảo toàn tính mạng, anh ấy nói thế, trong khi anh ấy đánh lạc hướng bọn chúng bằng cách phi ngựa theo hướng ngược lại. Nhưng dĩ nhiên chúng ta không thể để anh ấy làm hành động tự sát như thế. Anh muốn đứng lên chiến đấu, ngay bây giờ và tại đây, nhưng ai sẽ chiến đấu cùng anh? Không phải một nữ tu đã giải nghệ và đang mang bầu. Không phải Brandeis, người vẫn chưa tỉnh hẳn khỏi cơn mê sảng. Không phải Heinrich, một ông già. Vì thế điều anh thực sự muốn nói ở đây là anh sẽ một mình chống lại chúng. Lập luận của anh là nếu anh có thể diệt được hai tên lính này, ít nhất tôi và Heinrich cũng có thể trốn thoát trước khi bọn còn lại đến. Anh sẽ đưa Brandeis đi theo hướng ngược lại, dù anh ấy có chịu được hay không. Kế hoạch này, anh nói, giờ là lựa chọn tốt nhất. Chúng ta không thể cứ chờ chết ở đây được. Cuối cùng, chẳng lập luận nào thành công cả. Khi tất cả những người còn lại đã ngủ và đến lượt anh phải thức canh, anh mang cung tên biến vào bóng đêm. Không ai hay biết anh đã đi cho tới khi anh quay lại đánh thức mọi người dậy. “Chúng chết rồi,” anh nói. “Trời tảng sáng rồi và những kẻ khác sẽ đến chóng thôi, vì thế chúng ta phải nhanh lên.”

Tôi đã không thể kìm được sửng sốt trước chuyện anh giết người, khó kiềm chế hơn cả lúc chúng ta chạy trốn khỏi Nürnberg. Lần này, tuy thế, sự ngu ngơ của tôi đã làm anh tức giận. “Em không hiểu sẽ xảy ra chuyện gì nếu chúng tóm được chúng ta à? Chúng sẽ giết Brandeis và anh, nhưng chúng sẽ biến em thành thứ đồ chơi cho đến khi em chỉ muốn được chết thôi. Chuyện em bụng mang dạ chửa chẳng làm mọi việc khác đi được đâu. Chúng sẽ cưỡng hiếp em, và nếu em may mắn, em sẽ chết trước khi hồn em nhỏ máu đấy. Vì thế đừng đứng đấy mà phán xét anh, nghĩ là anh không quan tâm gì đến tính mạng con người. Anh đang làm tất cả mọi thứ để giữ mạng chúng ta đấy.” Cuối cùng tôi cũng phải chấp nhận sự thật là tôi không thể vừa ở bên cạnh anh vừa bảo vệ được con chúng ta. Chúng ta buộc phải tách nhau ra. Tôi sẽ trở lại Mainz và trốn ở chỗ những người Beguine cho đến khi anh quay lại. Anh sẽ đưa Brandeis đi theo hướng ngược lại; giờ đây khi hai tên truy kích giỏi nhất đã chết, có lẽ hai người các anh sẽ có cơ hội trốn thoát. Huynh trưởng Heinrich sẽ đến Engelthal, vì chắc chắn tu viện đó sẽ cho ông vào nếu ông không đi cùng chúng tôi. Tôi cám ơn ông từ tận đáy lòng, hôn lên trán ông, và nói sẽ cầu nguyện để bọn lính đánh thuê không phá hủy ngôi nhà của ông khi chúng tới.

“Đừng mất thì giờ cầu nguyện những chuyện linh tinh ấy, xơ Marianne,” ông nói. “Nó chỉ là một căn nhà thôi. Tôi đã luôn sống trong ngôi nhà của Chúa rồi mà.” “Con của chúng tôi nợ ông mạng sống,” tôi nói. “Nếu đó là con trai, chúng tôi sẽ đặt tên con là Heinrich.” “Hai người sẽ làm tôi cảm thấy vinh hạnh hơn nếu hai người đặt tên con mình là Friedrich,” người linh mục già nói.

Tôi hứa sẽ làm thế. Thời tiết đang thay đổi, nên có lẽ cuối cùng số phận cũng mỉm cười với chúng ta; kể từ khi rời khỏi Mainz, chúng ta đã luôn cầu nguyện bão tuyết sẽ ập tới để xóa dấu vết. Huynh trưởng Heinrich kéo chặt chiếc áo khoác của mình và trùm chiếc áo tơi của cha Sunder lên ngoài, như một lớp áo phòng thêm để chống lại cái lạnh. Ông tạm biệt chúng ta rồi chìm dần vào trong mưa tuyết, những bước chân loạng choạng không vững; và vài phút sau ông đã đi khuất. Thứ cuối cùng đọng lại trong mắt tôi là hình thêu phía sau chiếc áo tơi của cha Sunder, ấy là cảnh đại thiên thần Michael và các thiên thần khác đang chiến đấu chống lại con rồng trong Khải huyền và bị nuốt chửng trong tuyết trắng. Cây cung của Brandeis giờ đã trở nên vô dụng với anh ấy, vì thế anh đã ấn nó vào tay tôi dù tôi cự rằng tôi không muốn cầm nó. Anh nói với tôi rằng tôi không phải dùng nó để tấn công ai cả nhưng tôi phải cầm nó, để phòng bất trắc, và anh cương quyết không cho tôi đi mà không cầm nó theo. Tôi chỉ đồng ý vì anh đã quá cứng rắn. Anh dạy qua cho tôi cách giương cung và ngắm mục tiêu. “Em để nó tựa vào vai mình, thế này này, và đây là cách em đưa mục tiêu vào tầm ngắm. Em giữ chắc vũ khí bằng cách thở chậm lại. Hít vào, thở ra, hít vào, thở ra. Từ tốn. Ngắm. Tin vào mũi tên. Thở ra. Thả tay.”

Anh đặt cây cung vào cái bao đeo bên sườn ngựa và mở áo khoác của tôi ra để đặt một tay lên cái bụng đang phập phồng của tôi. Anh dùng tay còn lại luồn sợi dây có xỏ đầu mũi tên lên cổ tôi. “Để làm bùa hộ thân. Và em cần nó nhiều hơn anh. Em có thể trả nó lại cho anh khi chúng ta gặp lại nhau, vì anh hứa rằng tình yêu của chúng ta sẽ không kết thúc như thế này đâu.” Rồi anh phát vào ngựa của tôi để bắt nó chạy đi. Tôi nhoài người lại nhìn anh lần cuối, anh đứng đó nhìn tôi phóng ngựa đi trước khi dồn mọi sự chú ý vào con đường sẽ đưa tôi và đứa con chưa chào đời của chúng ta ra khỏi vòng nguy hiểm. Tuyết cuộn xoáy trước mặt tôi. Tôi cố hình dung chuyện gì sẽ xảy đến với anh. Có bao nhiêu tên lính đánh thuê sẽ đến chứ? Một tá? Hai tá? Tôi nghĩ rằng điều đó còn phụ thuộc vào việc chúng có đang đánh thuê cho một vị lãnh chúa nào đó, ở một nơi nào đó không. Hay Kuonrat sẽ mang tất cả lính của mình tới, để chúng có thể thấy chuyện gì sẽ xảy ra với những kẻ đào ngũ? Tôi lo lắng không biết liệu có cơ hội nào cho anh trốn thoát không. Tôi đã biết tài bắn cung của anh nhưng với số lượng đông như vậy… Sao anh có thể trốn được khỏi cái quá khứ cứ quyết bắt anh phải trả giá? Gió nổi lên, tuyết trắng đến lóa mắt. Giá rét xuyên qua quần áo, thấu vào tận xương tủy.

Tôi không thể làm thế. Tôi không thể đi mà không có anh. Tôi thật ngốc nghếch khi nghĩ mình có thể rời bỏ anh, ngay khi anh cần tôi nhất. Đi được nửa giờ thì tôi quyết định quay ngựa và dồn hết sức bình sinh phóng thẳng lại nơi tôi đã đi qua. Tôi chỉ mong rằng không quá muộn. Tìm lại đường giờ là một việc rất khó khăn, nhưng tôi biết tất cả mọi con đường dẫn tới nhà của Heinrich. Tuy thế, khi chỉ còn khoảng hơn trăm mét nữa, tôi không thể thấy được nó trong cơn bão đang cuồng loạn gào thét. Nhưng rồi tôi nghe thấy tiếng của rất nhiều người, theo gió bay đến tai tôi, vậy là tôi biết trong khoảng thời gian mình rời đi, bọn condotta đã tới. Vấn đề duy nhất là không biết anh và Brandeis đã thoát được hay chưa. Tôi thúc ngựa lên rặng đồi trông xuống ngôi nhà, lẩn vào bụi rậm tôi đã từng dùng làm nơi chơi trốn tìm khi còn nhỏ. Tôi thậm chí không nghĩ rằng có thể sẽ có lính luẩn quẩn ở đó; tôi đã rất may mắn khi chỉ có một mình. Tôi luồn vào một bụi cây nơi có thể buộc tạm con ngựa vào một nhành cây rủ xuống gần đó, và tìm một chỗ có thể nhìn được chuyện gì đang xảy ra ở dưới. Tôi biết với cơn bão tuyết này, tôi chắc chắn sẽ không bị phát hiện.

Gần như ngay lập tức tôi thấy điều tôi lo sợ nhất: anh đã không trốn thoát được, và bọn lính đang lôi anh ra khỏi nhà. Một giọng sang sảng cất lên giữa gió bão. Đó là Kuonrat Háo Danh, cười sung sướng trước sự may mắn của mình. “Không phải một kẻ đào ngũ, mà là hai! Hai cơ đấy!” Bọn lính bẻ quặt tay anh ra sau lưng rồi đẩy anh quỳ sụp xuống đất. Kuonrat bước tới trước một bước rồi đặt tay lên cằm anh, bắt anh ngẩng đầu lên để buộc anh phải nhìn vào mắt hắn. Vẫn tiếp tục cười, hắn nhìn như thể đang cố thuyết phục bản thân rằng hắn thực sự đã rất may mắn. Một bóng ma được mang đến từ nơi xa xôi nhất trong ký ức của hắn. Một bóng ma hắn có thể dùng để dạy những kẻ còn sống một bài học. Tôi có thể làm được gì? Tôi nghĩ đến việc lấy cung ra bắn. Trong bão tuyết, bọn lính sẽ không thể biết được có mũi tên đang bay đến cho tới khi quá muộn, và chúng thậm chí cũng không thể biết được nó bay đến từ đâu. Nhưng làm thế thì ích gì? Bọn chúng có ít nhất hai mươi tư tên, đều là những kẻ giết thuê, và tôi chưa bao giờ sử dụng cung tên trong đời. Tôi có thể may mắn hạ được một tên. Nhưng, tôi nghĩ, nếu tôi có thể ngắm thành công, chuyện gì sẽ xảy ra nếu tôi bắn trúng Kuonrat? Liệu bọn lính có tán loạn lên khi chúng thấy thủ lĩnh của mình bị hạ không?

Dĩ nhiên không. Chúng đều là dân chuyên nghiệp và tôi cũng biết mình không có gan giết ai cả, kể cả Kuonrat. Phải mất mấy tên lính mới ghìm được anh xuống đất, nhưng Brandeis đã yếu đến nỗi chỉ hai tên đã dựng được anh ấy dậy. Khi chúng thả anh ấy ra, anh ấy đổ sụp xuống đất trong khi Kuonrat hất hàm hỏi, “Ngươi có gì để nói không?” Những trận gió tuyết khắc nghiệt lướt qua chúng, phóng thẳng về phía tôi, mang những lời chúng nói đến nơi trú ẩn của tôi. Có thể nghe được những gì chúng nói là may mắn hay bất hạnh, tôi không chắc được, nhưng lúc đó tôi đã rất biết ơn vì mình không phải lẻn đến nấp gần bọn chúng hơn.

Brandeis mang dáng vẻ của một kẻ tội đồ khốn khổ đang cầu xin tha thứ và cơn gió đã mang những lời anh ấy nói đến tai tôi. “Anh muốn giết tôi kiểu gì tùy thích. Bằng mọi hình thức khủng khiếp anh muốn, bằng mọi hình thức khủng khiếp anh có thể đưa ra. Lấy tôi mà làm gương. Tôi thừa nhận mình đã bỏ trốn khỏi đội condotta. Tôi chỉ là một đứa trẻ run sợ. Tôi chỉ cầu xin anh trừng phạt tôi, và chỉ mình tôi mà thôi.” “Nghe trò ngã giá của những kẻ chẳng có gì để đánh đổi mới thú vị làm sao,” Kuonrat vừa cười sằng sặc vừa nói. Brandeis cương quyết không để tràng cười này ảnh hưởng đến những việc làm cuối cùng của anh ấy trên trần gian. Tên đao phủ đang đứng trước mặt anh nhưng Brandeis không một lần cầu xin cho mạng sống của chính mình. Không, anh ấy dùng những giây phút cuối cùng của mình để tha thiết cầu xin cho mạng sống người bạn thân nhất của anh ấy.

Brandeis chỉ ra rằng khi anh ấy rời đội condotta, đó hoàn toàn là một quyết định sai lầm của chính bản thân anh ấy - nhưng khi anh rời đi, thì đó lại chẳng phải một quyết định gì cả. Ý của Chúa đã làm anh bị trọng thương trên chiến trường, chứ không bị giết. Ý của Chúa đã khiến trận đánh diễn ra quá gần Engelthal và anh đã được đưa đến đó. Ý của Chúa giúp anh lành những vết thương lẽ ra đã có thể lấy mạng anh. Không có bằng chứng nào thể hiện việc Chúa muốn anh sống, Brandeis lý luận, đanh thép hơn cái sự thật là hiện tại anh vẫn sống cả. Brandeis chỉ về phía anh. “Sinh mạng này còn giữ được là do ý Chúa, vì thế hãy tha thứ cho tội lỗi của anh ấy và nhân đôi tội của tôi. Tôi biết anh là một vị chỉ huy thông thái và công bằng, Kuonrat, và tôi biết rằng anh cũng không muốn kháng lại ý Chúa đâu.” Lặp đi lặp lại rằng việc anh sống sót là do ý Chúa là một chiến thuật rất thông minh. Nếu có bất cứ điều gì có thể giúp anh khỏi bị hành hình, thì đó chính là niềm tin của Kuonrat rằng giết anh sẽ mạo phạm đến mong muốn của Chúa. Rõ ràng hắn chẳng coi con người ra cái gì, nhưng có lẽ Chúa lại là chuyện khác.

Cơn bão quét tuyết bay tứ tán khắp vùng. Theo bản năng, Brandeis quay mặt đi để bảo vệ mắt và tôi thấy một vệt sáng bạc lóe lên, như thể cánh tay Kuonrat đã được kéo dài ra. Một dòng máu đỏ bắn ra khắp nơi trên mặt đất và đầu của Brandeis văng trong không trung vài mét rồi bị lực hấp dẫn kéo rơi độp xuống đất. Kuonrat lau sạch thanh kiếm của hắn, lưỡi thép vẫn còn bốc khói với dòng máu nóng. “Ý Chúa chẳng là gì. Ý ta mới quan trọng.” Hắn quay lại, vừa nói vừa cười vào khuôn mặt đang choáng váng của anh, rằng hắn có trò hay hơn dành cho anh. Một trò không quá đau đớn và cũng không quá nhanh chóng đâu. Xét cho cùng, sự biến mất của anh cũng lâu hơn của Brandeis rất nhiều.

Kuonrat gọi lũ lính của mình lại và giao nhiệm vụ cho chúng. Một phần ba trong số chúng phải đi vào rừng kiếm củi và cành khô. Một phần ba khác sẽ đến nhà Heinrich để lục lấy bất cứ đồ vật có giá trị nào - thức ăn, tiền bạc, quần áo - mà bọn lính có thể đem đi đổi chác được. Nhóm quân còn lại nhận lệnh chuẩn bị xử anh. Những tên lính lôi anh qua xác của Brandeis. Máu vẫn rỏ ra từ cổ anh ấy, hòa vào đống tuyết đỏ rực. Bọn lính kéo anh đến chỗ nhà Heinrich, dựng anh dựa vào bức tường. Chúng đá vào mắt cá chân anh cho đến khi anh buộc phải giạng chân ra, và dang hai tay anh đến gần hết chiều rộng của ngôi nhà. Khi anh cố chống cự lại, chúng đã đánh, tát vào mặt anh và cười như thể đây chỉ là một trò đùa quái dị nào đó. Một tên lính, cao to hơn tất cả những tên còn lại, tiến về phía anh với cái rìu trên tay. Tim tôi như nẩy lên và nghẹn lại trong cổ họng, vì tôi chắc chắn rằng hắn sắp chặt chân tay anh. Nhưng không phải vậy. Những tên lính khác, những tên đang giữ tay anh, cố kéo mấy ngón tay đang nắm chặt thành nắm đấm của anh cho đến khi lòng bàn tay anh lộ ra. Một tên lính đang cầm cái gì đó đâm vào bàn tay phải của anh. Tên lính cao to xoay cán rìu lại, và tôi nhận ra cái vật đó là một cây đinh. Hắn dùng phần cùn của chiếc rìu như một cái búa gõ cây đinh đâm sâu vào lòng bàn tay anh. Dù đã ở xa đến thế, tôi vẫn nghe được tiếng xương bàn tay anh gãy vụn như tiếng xương cổ gà bị bẻ gãy. Anh rú lên và điên cuồng giật tay ra, cố kéo tay ra khỏi bức tường, nhưng nó bị đóng quá chặt. Chúng tiếp tục làm thế với bàn tay trái của anh, một cái đinh nữa đóng xuyên qua lòng bàn tay, một vệt máu nữa lại bắn lên tường. Vai anh run lên yếu ớt và tất cả những mạch máu trên cổ anh trông như thể sắp nổ tung đến nơi.

Tiếp theo, những tên lính cố giữ chặt chân anh, nhưng anh vùng vẫy điên dại vì quá đau đớn. Vì thế tên cầm rìu giơ phần rìu sắc nhọn lên và phang nó thẳng vào đầu gối anh nơi dây chằng nối với xương. Đùi anh vẫn chưa đứt hẳn nhưng cẳng chân anh đã trở nên vô dụng, treo lủng lẳng như thể nó chỉ được gắn vào người anh bằng những sợi dây thừng gần như sắp đứt rời ra. Những tên lính cười phá lên, lại một trò hay ho nữa, và tay anh vẫn tiếp tục nhỏ máu xuống dọc bức tường. Chúng tóm lấy mắt cá chân anh, việc này giờ đã trở nên dễ dàng một cách kỳ cục, đâm đinh qua bàn chân anh khiến anh bị đóng cứng vào bức tường cách mặt đất tuyết phủ đến hơn hai mét. Tiếng xương bàn chân anh bị gãy, những chiếc xương ấy mới thật mỏng manh yếu đuối làm sao, thật quá sức chịu đựng, và máu, máu ở khắp mọi nơi. Anh trông như đang bay lên, với hai tay làm điểm tựa; giờ anh trông không khác gì một bóng ma, trôi trên nền ngôi nhà. Chúng muốn dùng chính sức nặng của anh để treo anh lên, vì làm thế sẽ gây cho anh nhiều đau đớn hơn. Chúng thích thú nhìn những cây đinh yếu ớt không thể chống đỡ được sức nặng của anh, và chúng thích thú đóng những cây đinh mới vào cẳng tay anh để anh không rơi khỏi bức tường. Máu chảy dần khỏi cơ thể anh còn thi thể không đầu của Brandeis nằm trên tuyết đỏ, vệt máu loang càng lúc càng rộng, và đỏ hơn, còn những cột khói, những cột khói cứ thi nhau bốc lên. Tôi lấy cung tên ra khỏi chỗ giấu trên lưng ngựa và bước một bước về phía cảnh rùng rợn ấy, muốn chạy ngay xuống đồi để đến với anh, nhưng sợi dây rốn của đứa con chưa ra đời của chúng ta đã kéo tôi lại, tôi nhận ra mình chẳng thể làm được gì cả. Cây cung treo lủng lẳng trên tay tôi, thật vô dụng khi ở cạnh tôi, tiếng tim tôi đập lớn đến nỗi tôi tin bọn lính ở xa kia cũng có thể nghe thấy. Cả những tiếng khóc mà tôi không thể nén lại được nhưng một phần trong tôi chẳng thèm quan tâm và một phần khác thậm chí còn muốn bị bắt, muốn được chết, vì giờ đây tôi còn sống để làm gì nữa? Nhưng chúng đã không thể nghe thấy tôi, gió vẫn mang tiếng khóc và tiếng tim đập của tôi đi, nhưng chúng còn đang quá bận cười theo nhịp máu rỏ của anh, và tôi không thể làm được gì nếu không hy sinh mạng sống của con chúng ta. Giờ những tên lính được cử đi tìm củi đã quay lại và Kuonrat chỉ vào chỗ đất dưới chân anh. Chúng xếp củi ngập lên quá đầu gối của anh. Và tôi biết chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo. Gió giật và tuyết quất làm việc nhóm lửa trở nên rất khó khăn, nhưng lính đánh thuê là những kẻ đã quá quen cuộc sống hoang dã rồi, nên chúng biết cách cúi thấp người để làm hàng rào cản gió. Rất nhanh chóng, một tia lửa lóe lên và những cành củi khô bắt đầu âm ỉ cháy, khói bốc lên và tôi có thể nghe thấy tiếng nhựa cây bén lửa nổ tí tách, nó làm tôi nhớ đến bàn tay cùng bàn chân gãy nát của anh. Những ngọn lửa nhỏ dần trườn về phía các ngón chân anh nhưng anh không thể kéo chúng ra chỗ khác được, chúng vẫn bị đóng đinh chặt vào tường. Rồi Kuonrat ra lệnh cho đám lính cầm cung lên, châm lửa vào mũi tên, bọn chúng liền làm theo, khi những đầu mũi tên đã ngập trong lửa, chúng đứng thành hình bán nguyệt và đồng loạt ngắm về phía anh. Kuonrat nói rằng nhiệm vụ của chúng không phải là bắn chết anh mà ngắm sao cho mũi tên càng gần anh càng tốt, trò chơi là như thế, mục tiêu là châm lửa cho bức tường cháy và dần dần thiêu đốt anh từ mọi phía thay vì chỉ từ dưới lên. Nhưng rồi Kuonrat nghĩ ra một ý hay hơn và đổi ý bảo bọn lính rằng chúng có thể bắn vào anh cũng được, miễn là không vào những chỗ hiểm - xé rách chân tay anh cũng không sao, nhưng bắn vào đầu hay ngực anh thì không được và giọng của hắn tràn ngập sự sung sướng, tự mãn trước sự thông minh xuất chúng của mình, bọn xạ thủ giương cung lên và bắt đầu vừa bắn vừa gọi tên các bộ phận cơ thể anh - “Tay trái!” “Chân phải!” “Đùi trên!” - và chúng đã bắn rất chuẩn, chúng hầu như luôn trúng vào những bộ phận được gọi tên. Khi một mũi tên trúng đích, tất cả bọn chúng reo hò hưởng ứng, và nếu một mũi tên trật mục tiêu, hết thảy đều chửi đổng lên, như thể đó chỉ là một trò chơi trong lễ hội, và lửa dưới chân anh ngày càng lan rộng ra, những ngọn lửa mới bùng lên khắp xung quanh người anh, bốc cháy với mỗi mũi tên được bắn ra.

Giữa những tiếng reo hò sung sướng của bọn lính đánh thuê, Kuonrat gào lên tiếng chào vĩnh biệt dành cho anh. “Tất cả mọi thứ sẽ cháy nếu lửa đủ nóng. Thế giới chỉ là một lò lửa đang hừng hực cháy.” Và rồi tôi đã biết mình phải làm gì. Tôi lần tay vào trong lớp áo khoác, tìm chiếc vòng cổ của mình, tôi nắm chặt lấy đầu mũi tên đã được cha Sunder ban phước, và tôi cầu xin sức mạnh.

Tôi nâng cây cung lên. Tôi cố gắng nhớ lại bài học anh đã dạy. Mọi bí quyết đều nằm ở cách thở, anh đã nói thế, em hãy giữ chắc vũ khí bằng cách thở chậm lại. Hít vào, thở ra, hít vào, thở ra. Từ tốn. Ngắm. Tôi kiểm tra lại lần nữa xem mũi tên đã được lắp đúng chưa. Tôi biết mình sẽ chỉ có một lần bắn tên duy nhất, lần bắn tên đầu tiên và cũng là cuối cùng của tôi. Cách thở là quan trọng nhất. Tin vào mũi tên. Thở ra. Tôi cầu Chúa giúp đưa mũi tên bay thẳng và trúng mục tiêu, đâm vào chính giữa ngực anh, xuyên qua cơn bão tuyết và bọn lính condotta..