Hôm nay bạn muốn đọc gì?

Cô gái mang trái tim đá - The Gargoyle - Chương 8

Chương VI.

Tôi kể với Marianne Engel về việc đứng được tám giây trong ngày đầu tiên cố gắng, và đứng được những mười ba giây vào ngày thứ hai. Cô cố gắng tỏ ra thán phục đúng cách đối với những thành tựu của tôi, nhưng hiển nhiên là cô đang bị rối trí vì chuyện gì đó. “Có chuyện gì vậy?” “Hả? Không, không, không có gì cả.” Cô chạm tay lên cái u nằm thù lù, đang lớn lên từng ngày, trên vai tôi. “Cái gì thế?”

“Cái này gọi là giãn mô.” Tôi giải thích với cô là dưới da tôi có một quả bóng hơi nhỏ làm bằng silicone, và hằng ngày các bác sĩ tiêm thêm một chút muối vào đó. Khi quả bóng hơi phình ra thì da tôi cũng giãn theo, giống như khi người ta tăng cân ấy. Cuối cùng, quả bóng hơi bị hút cạn và tôi sẽ được thêm một mảnh da nữa, mảnh da ấy sẽ được cấy từ vai tôi xuống một điểm nhận nào đó trên cổ. “Thật tuyệt, ước gì trong lần đầu tiên tôi có thể làm điều tương tự cho anh.”

“Cái gì cơ?” “Đừng bận tâm.” Cô chạm vào chỗ u lần nữa, rồi mỉm cười. “Anh biết không, sự phát triển đó làm tôi nghĩ đến những đinh nhọt do Dịch hạch Đen gây ra.” “Cái gì?”

“Tôi có người bạn…” Cô dần nín bặt như thể đã đánh mất suy nghĩ của mình trong không trung. Cô ngồi đó vài phút, nhìn đăm đăm vào khoảng không, nhưng thay vì ngồi yên, tay cô vung vẩy còn nhiều hơn lúc nghịch điếu thuốc chưa hút hay chạm vào cái vòng cổ. Trông chúng như muốn xòe ra và tiết lộ câu chuyện cô đang giấu giếm tôi. Cuối cùng, cô hất đầu về phía chiếc bàn đầu giường tôi. Trên đó là chồng sách tâm lý học mà cô đã luôn kìm nén để không hỏi gì về chúng. “Anh đang tìm hiểu tôi,” cô nói. “Liệu tôi có nên thuê vài bộ phim khiêu dâm của anh để hiểu anh rõ hơn không?” Điều này - dù tôi nghĩ sẽ không nói thẳng ra với cô dưới bất cứ hình thức nào - là điều mà tôi không bao giờ muốn cô làm. Tôi bắt cô hứa không bao giờ được xem bất kỳ bộ phim nào của tôi cả.

“Tôi đã nói với anh là tôi không quan tâm rồi mà,” cô nói. “Anh thấy xấu hổ à?” Tôi bảo đảm với cô là tôi chả xấu hổ gì đâu; tôi chỉ không muốn cô xem chúng thôi. Đó là sự thật, nhưng không phải tất cả: tôi không muốn cô xem chúng bởi vì tôi không muốn cô biết một tôi trước đây, rồi đem so sánh với tôi bây giờ. Tôi không muốn cô nhìn thấy vẻ đẹp của tôi, làn da mềm mại của tôi, thân hình cường tráng của tôi, và rồi lại phải nhìn lên cái thứ kinh tởm đang nằm trên chiếc giường trước mặt cô. Tôi nhận ra điều này rất vô lý, và dĩ nhiên cô cũng biết tôi từng có thời không bị bỏng, nhưng tôi không muốn điều đó trở nên thực tế với cô hơn nữa. Nếu cô có thể chấp nhận tôi như thế này, có lẽ chỉ vì cô không có gì để so sánh cả. Marianne Engel đi về phía cửa sổ và nhìn chằm chằm ra ngoài trong giây lát, trước khi quay lại buột miệng: “Tôi ghét phải rời xa anh, và tôi muốn luôn được ở bên giường anh. Tôi cần anh hiểu là khi tôi nhận chỉ thị thì điều đó hoàn toàn nằm ngoài khả năng của tôi.”

Đây là một trong những lúc hiếm hoi tôi hiểu được chính xác cô đang nghĩ gì: cô có một bí mật muốn chia sẻ, nhưng biết rằng đó là loại bí mật mà hầu hết mọi người không hiểu được. Bật mí là một vấn đề sống còn nhưng cô lại luôn lo rằng điều đó quái dị đến độ khó có thể nói ra. Chẳng hạn giống như khi giải thích rằng có một con rắn ký sinh trong xương sống của bạn ấy. “Khi chuẩn bị làm việc,” Marianne Engel bắt đầu, hít thật sâu, “tôi thường ngủ trên đá trong ít nhất mười hai tiếng đồng hồ, nhưng thường là lâu hơn. Đó là công đoạn chuẩn bị. Khi nằm trên một tảng đá, tôi có thể cảm nhận được nó. Tôi có thể cảm nhận được tất cả những gì thuộc về nó, mọi thứ bên trong. Nó rất... ấm áp. Cơ thể tôi chìm vào những đường nét của nó rồi tôi cảm thấy mình không trọng lượng, như đang trôi vậy. Tôi gần như... mất khả năng cử động. Nhưng điều đó thật tuyệt vời; nó hoàn toàn trái ngược với sự tê liệt. Nó giống như sự thức tỉnh, siêu thức tỉnh, đến nỗi tôi không thể cử động vì cảm giác ấy đã hoàn toàn lấn át.” “Cô có ý gì khi nói mình có thể cảm nhận được những gì bên trong tảng đá?” tôi hỏi.

“Tôi thu nhận những giấc mơ của tảng đá, và những con gargoyle trong đó nói cho tôi biết những gì tôi cần làm để giải thoát chúng. Chúng cho tôi nhìn mặt và chỉ cho tôi cách biến chúng trở nên trọn vẹn. Khi đã có đủ thông tin, tôi liền bắt tay vào làm. Cơ thể tôi tỉnh táo, nhưng tôi không có ý niệm gì về thời gian, không có gì trừ công việc. Nhiều ngày trôi qua tôi mới nhận ra mình không hề ngủ và cũng gần như không ăn gì. Như thể tôi đang cố đào một nạn nhân sống sót ra khỏi trận tuyết lở của thời gian đã tích tụ qua hàng thế kỷ rồi bất ngờ đổ ập xuống núi cùng một lúc. Những con gargoyle vẫn luôn ở trong tảng đá nhưng, chính giây phút này, chúng không thể chịu nổi việc phải ở lại thêm chút nào nữa. Chúng đã ngủ vùi cả mùa đông trong tảng đá, và cái đục trong tay tôi mang mùa xuân đến. Nếu tôi đục đúng chỗ thì những gargoyle sẽ hiện ra như những bông hoa bừng nở trên bờ sông lởm chởm đá. Tôi là người duy nhất có thể làm điều đó, vì tôi hiểu ngôn ngữ của chúng và cũng là người duy nhất có thể trao cho chúng những trái tim cần thiết để bắt đầu cuộc đời mới.” Cô ngừng lại, dường như đợi tôi nói gì đó, bất cứ điều gì - nhưng người ta làm sao có thể đáp lại những lời tuyên bố như thế chứ? Vì cô muốn một câu trả lời nhanh gọn và tôi cũng muốn cô tiếp tục nói, nên tôi đã nói rằng đó có vẻ là một quá trình cực kỳ sáng tạo. “Không, ngược lại là đằng khác. Tôi là một cái ống dẫn cho nước chảy ra chảy vào. Đó là một vòng tròn, một vòng tròn nước cuộn chảy giữa Chúa, những con gargoyle và tôi, vì đó chính là Chúa - một vòng tròn mà tâm ở khắp mọi nơi và chu vi thì không xác định. Và trong suốt thời gian tôi đục đẽo, giọng của gargoyle ngày càng to hơn. Tôi làm nhanh hết mức vì tôi muốn giọng nói đó dừng lại, nhưng nó cứ thúc giục tôi, đòi tôi giúp nó được tự do. Tiếng nói chỉ câm lặng khi tôi hoàn thành, và rồi tôi kiệt sức tới mức đến lượt tôi chìm vào giấc ngủ. Đó là lý do tôi mất hút năm, sáu ngày liền. Phải mất ngần ấy thời gian để giải phóng gargoyle và để tôi có thể hồi phục. Tôi không thể quyết định lúc nào một gargoyle sẵn sàng sinh ra và tôi cũng không thể từ chối nguyện vọng của nó. Vì thế hãy tha thứ cho tôi những khi tôi không xuất hiện, vì tôi không có sự lựa chọn nào khác.”

Ừm, được rồi. Ít nhất bây giờ tôi cũng biết cô làm gì với những trái tim mà cô nghĩ là đang ở trong ngực mình. Chúng sẽ nằm trong những bức tượng cô tạc. Tôi đã từng chắc chắn rằng Marianne Engel bị tâm thần phân liệt, nhưng căn cứ vào thói quen làm việc của cô thì giờ tôi phải tính đến khả năng cô có thể bị khủng hoảng tinh thần. Mọi bằng chứng đều dẫn đến hướng đó: khi tôi gặp cô lần đầu, trông cô mệt mỏi và vận toàn đồ đen; giờ cô thật rạng rỡ trong cả cách ăn mặc và tính cách. Những người bị tâm thần phân liệt thường có xu hướng lảng tránh các cuộc trò chuyện, thỉnh thoảng còn ngồi yên hàng giờ liền, nhưng Marianne Engel lại hoàn toàn trái ngược. Và còn bản chất công việc của cô nữa. Rất nhiều nạn nhân khủng hoảng tinh thần trở nên nổi tiếng trong lĩnh vực nghệ thuật vì chính tình trạng bệnh lý của họ đã thắp lên ngọn lửa nhiệt tình cần thiết để sáng tạo ra những kiệt tác. Đây, dĩ nhiên, chính là việc Marianne Engel đang làm: sáng tạo tượng đài. Nếu những thói quen chạm khắc của cô không phải đặc điểm của một người loạn thần kinh, tôi cũng chẳng tưởng tượng được đó là cái quái gì nữa. Nhưng cũng có rất nhiều bằng chứng về bệnh tâm thần phân liệt. Cô miêu tả những tiếng nói phát ra từ tảng đá, trao cho cô những chỉ dẫn. Cô coi bản thân mình là sợi dây kết nối với các đấng thần linh, và sản phẩm của cô là quỹ đạo trao đổi thông tin giữa Chúa, những gargoyle và bản thân cô. Chưa kể đến cái “quá khứ” ở Engelthal và niềm tin Địa ngục là một ấn phẩm văn hóa thích hợp cho phòng điều trị bỏng nữa. Tóm lại, hiếm có sự kiện nào trong đời cô mà không động chạm cách này hay cách khác đến Thiên Chúa giáo và, như đã nói từ trước, những người mắc chứng tâm thần phân liệt thường bị ám ảnh bởi các vấn đề tôn giáo.

Thống kê cũng đưa ra một dấu hiệu bệnh lý nữa. Bệnh tâm thần phân liệt hay gặp ở nam giới hơn nữ giới, nhưng hơn tám mươi phần trăm bệnh nhân tâm thần phân liệt nghiện thuốc lá nặng, và Marianne Engel thường xuyên nhảy khỏi phòng bỏng để hít chút nicotine. Và trong khi đang nói chuyện với tôi, mắt cô luôn bồn chồn, ánh nhìn cứ luôn khóa chặt lấy mắt tôi: điều này chỉ bắt đầu có ý nghĩa sau khi tôi đọc một cuốn sách của Gregor nói rằng những bệnh nhân tâm thần phân liệt rất hiếm khi chớp mắt. Từ chối điều trị là tình trạng chung của cả hai bệnh lý, nhưng với những lý do khác nhau. Một người khủng hoảng tinh thần có thể từ chối dùng thuốc vì khi dùng liều cao thì cô ấy tin rằng không cần phải dùng liều thấp nữa, hoặc cô ấy đã quá nghiện liều cao đến nỗi liều thấp chỉ đơn giản là cái giá phải trả. Những người tâm thần phân liệt, mặt khác, lại có xu hướng từ chối dùng thuốc vì họ tin mình đang bị đầu độc - lời tuyên bố Marianne Engel đã đưa ra không chỉ một lần. Giờ đây rất nhiều bác sĩ nghiêng theo giả thuyết là cả hai tình trạng bệnh lý này cùng song song tồn tại thường xuyên hơn nhiều so với những chẩn đoán thông thường, vì thế có thể người ta sẽ áp dụng cả hai chẩn đoán một lúc.

Cùng lúc lật các trang sách về sức khỏe tâm thần để hiểu cô rõ hơn, tôi càng ngày càng hiểu rõ bản thân mình, và tôi cũng không hoàn toàn thoải mái với những gì đọc được. Tôi luôn so sánh mất mát của cô với mất mát của tôi, tự nhủ rằng cô không thể nào hiểu được nỗi đau thể xác của tôi trong khi tôi thực sự có thể hiểu được bản chất nỗi đau tinh thần của cô. Và trong khi rất nhiều chứng bệnh thần kinh có thể chữa khỏi nếu được điều trị đúng cách thì chẳng có một viên thuốc nào có thể khiến tôi trở lại bình thường. Một người điên điên dở dở vẫn có thể hòa mình vào đám đông nhưng tôi sẽ luôn luôn nổi bật với tư cách là một ngón tay cái cháy dở nhô lên khỏi nắm đấm loài người; điều này làm tôi có cảm giác mình là kẻ chiến thắng trong một cuộc thi không hề tồn tại. * * *

Ngày hôm sau Marianne Engel xuất hiện trong bộ váy trắng giản dị với xăng đan hở ngón, nhìn cô người ta có thể lầm tưởng là một phụ nữ đến từ làng chài bên bờ Địa Trung Hải. Cô mang tới hai giỏ thức ăn, một trắng một xanh da trời, và tôi có thể nói chúng nặng đến thế nào theo cách cô khệ nệ xách vào phòng. Cúi người xuống, cái đầu mũi tên trên vòng cổ của cô nảy ra nảy vào trong cổ áo hình chữ V như miếng mồi gắn trên dây câu. “Cuối cùng tôi cũng có thể thực hiện được lời hứa là sẽ cho anh ăn rồi.” Tôi sẽ giải thích một chút về việc bác sĩ Edwards cho phép khách thăm bệnh mang đồ ăn vào phòng điều trị bỏng. Ngoài lợi ích tinh thần của một buổi picnic (nó là thế mà), còn có cả lợi ích thể chất nữa. Cùng với việc sức khỏe khá lên, cơ thể tôi đã xảy ra tình trạng gọi là tăng chuyển hóa: một cơ thể bình thường chỉ cần hai nghìn calo một ngày thì sau một vụ bỏng nặng có thể tiêu thụ đến bảy nghìn calo. Dù các ống thông mũi họng hằng ngày vẫn cung cấp chất dinh dưỡng vào thẳng dạ dày nhưng thế vẫn chưa đủ cho tôi và tôi đã được phép, thậm chí còn được khuyến khích, ăn thêm thức ăn ngoài. Trước đây Marianne Engel cũng đã mang đồ ăn nhẹ đến cho tôi, nhưng rõ ràng bữa ăn hôm nay thịnh soạn hơn rất nhiều. Cô mở hai cái giỏ ra - một đựng đồ nóng còn một chất đầy đá để làm lạnh - và bắt đầu bày thức ăn ra. Có một cái bánh mì focaccia tròn mới nướng, vẫn còn vương mùi củi cháy, một chai dầu ô liu và giấm balsamic. Cô phết một lớp màu đen lên trên mặt chất màu vàng rồi nhúng một mẩu bánh focaccia vào hỗn hợp chất lỏng lốm đốm đó. Cô đọc câu kinh quen thuộc trước khi nâng miếng bánh bỏ vào miệng tôi: “Jube, Domine benedicere.”

Cô cũng mang cả pho mát nữa: Camembert, Gouda, pho mát xanh, pho mát sữa dê Iran. Cô hỏi tôi thích loại nào và khi tôi chọn loại làm từ sữa dê, cô toét miệng cười. Tiếp, vài cái bánh bốc khói trong giấy gói trông giống như bánh kếp nhưng mùi thì kinh không chịu nổi. Bánh ngọt Gordonzola không phải ai cũng ăn được, cô giải thích, nhưng cô mong là tôi sẽ thích nó. Tôi thích thật. Những miếng dưa lưới tròn nằm ngoan ngoãn giữa những lát thịt muối prosciutto mỏng dính, sắc vàng mọng nước lấp ló qua màu đỏ của thịt. Cô tiếp tục khai phá hai cái giỏ. Những quả ô liu xanh mọng đến chói mắt, bị nhồi ớt ngọt đến căng tròn, nằm ườn thỏa mãn trong một cái tô vàng. Một đĩa đầy cà chua tẩm giấm đen với pho mát bocconcini tròn trắng như tuyết. Hàng ổ bánh mì pita và những chiếc chén tràn đầy món khai vị hummus và xốt tzatziki. Hàu, cua, sò điệp chìm đắm trong một cái chết êm ái giữa biển nước xốt marinara; những lát chanh nhỏ đứng thăng bằng trên rìa đĩa như những chiếc phao cứu sinh đang chờ được ném xuống. Xúc xích lợn rắc hạt tiêu đen. Những miếng chả lá nho, cố ra vẻ phong trần nam tính trong bộ com lê nhỏ xinh màu xanh, được ướp thơm bằng rượu vang đỏ. Những khoanh mực ống dày dặn. Thịt soulvaki được nướng xiên cùng những củ hành phết bơ ngọt ngào và hạt tiêu om. Một miếng thịt cừu vai nấu kỹ đến nỗi nó sẽ rời ra nếu bạn chỉ cần vừa nhìn nó vừa nghĩ đến cái nĩa vây quanh là gia đình khoai tây nướng nhỏ bé mà hạnh phúc. Tôi ngồi như bị mắc kẹt giữa ngồn ngộn thức ăn, không dám cử động vì sợ sẽ hất đổ một cái đĩa nào đó. “Chúng ta không thể nào ăn hết chỗ này được.”

“Hết hay không không phải vấn đề.” Cô lấy một cái chai ra khỏi giỏ lạnh. “Hơn nữa, tôi chắc chắn các nữ y tá sẽ rất vui vẻ giúp đỡ chúng ta xử lý chỗ còn lại. Anh sẽ không nói với họ là tôi uống rượu chứ, nhỉ? Tôi thích rượu nho Hy Lạp vì có thể nếm được cả vị đất trong đó.” Mấy cô y tá nhanh chóng đứng lố nhố quanh cửa như một bầy chim hải âu háu đói. Tôi có một cảm giác hãnh diện kỳ lạ rất đàn ông, cái cảm giác ta có được khi bị bắt gặp đang hẹn hò với một phụ nữ xinh đẹp. Đám y tá cười rúc rích và bình phẩm vài câu trước khi bỏ đi trực ca. Marianne Engel đưa từng miếng nhỏ vào miệng tôi. “Thử cái này đi… Anh sẽ rất thích. Nữa nhé.” Chúng tôi rất nỗ lực, nhưng số phận đã định sẵn là chúng tôi không bao giờ có thể ăn hết được. Khi chúng tôi cuối cùng cũng chịu thua, cô mang ra một cái bình giữ nhiệt bằng kim loại mỏng và đổ cà phê Hy Lạp vào hai tách nhỏ. Cà phê đặc quánh đến mức mất đến ba mươi giây mới đổ xong. Rồi cô mang món tráng miệng ra: bánh baklava phết mật ong dày đến nỗi trào cả ra ngoài như một tổ ong đang làm từ thiện. Kem gelato ba màu, xanh trắng đỏ. Và dĩ nhiên cả món bougatsa, cảm hứng cho tên con chó của cô - bánh ngọt nâu nhạt với kem trứng phết giữa những lớp bánh phyllo.

“Anh có thích nghe một câu chuyện không?” Marianne Engel nói. “Nó kể về tình yêu đích thực, tình anh em sâu nặng và những mũi tên tìm được đến đích.” “Lại về cô nữa à?” “Không, đó là câu chuyện về người bạn tốt Francesco Corselini của tôi.”

VI. Nếu có một điều Graziana biết chắc thì đó là Francesco yêu quý của cô là một người đàn ông tốt. Anh là thợ rèn ở thành phố quê hương Firenze của họ và luôn nỗ lực trau dồi tay nghề, luôn cố gắng rèn một cái móng ngựa tốt hơn hay một thanh kiếm mạnh mẽ hơn. Thỉnh thoảng anh làm quên thời gian và chỉ dừng lại khi Graziana xuất hiện bên xưởng để gợi ý anh nên quan tâm đến lửa trong lò rèn ít thôi và quan tâm đến lửa trong lòng vợ nhiều hơn. Cô đùa là anh hẳn phải làm điều gì đó rất tệ trong kiếp trước nên giờ mới phải chăm chỉ đến vậy để chuẩn bị cho hậu sự dưới Địa ngục. Anh cười, hứa sẽ đến ngay, và Graziana cũng cười theo. Cô biết chồng mình sẽ chẳng bao giờ phải xuống Địa ngục. Francesco không bao giờ được biết đến với vai trò “người làm kiếm giỏi nhất nước Ý” hay “người thợ rèn vĩ đại của thành Firenze”, nhưng với anh điều đó chẳng quan trọng. Anh muốn được làm một thương nhân tốt, một người thợ rèn đáng tin cậy kiếm những đồng tiền chân chính, nhưng khát khao thật sự của anh là được làm một người chồng tuyệt vời. Anh làm những món quà xinh đẹp cho Graziana tại xưởng rèn của mình - chân nến, bát đĩa và những món trang sức tuyệt diệu nhất. Anh luôn tự hào nói rằng thành công lớn nhất của anh là đôi nhẫn cưới anh đã làm cho mình và Graziana. Trong một căn phòng ở nhà họ, có cả một bộ sưu tập đồ kim loại cho đứa con sắp được thụ thai của hai anh chị. Anh mơ về ngày mình sẽ là người cha tuyệt vời của những đứa con cô sinh ra.

Anh chàng Francesco này không phải một người đàn ông đẹp ngất ngây, nhưng vợ anh cũng chẳng phải tuyệt thế giai nhân gì. Đối với một số phụ nữ thì anh hơi lông lá quá, hai cánh tay rắn chắc của anh vươn ra từ một thân hình được vỗ béo bởi quá nhiều bia và mì sợi. Graziana thường gọi anh là L’Orsacchiotto - Con Gấu - và chọc chọc vào bụng anh, và Francesco sẽ đáp lại, “Tập luyện ghê lắm mới được thế đấy. Đây là kiểu cơ bắp thả lỏng.” Graziana có mái tóc dày và đôi mắt đen nhưng những điểm còn lại của cô thì chẳng có gì nổi bật. Tuy nhiên, Francesco luôn nói với cô rằng cô là người phụ nữ đẹp nhất nước Ý, anh tin như thế. Họ là một đôi thanh mai trúc mã và hầu như không ngày nào anh lại không cám ơn Chúa vì đã cho cô làm vợ mình. Họ thật hạnh phúc. Cô thật tốt bụng. Anh thật tận tụy. Cần phải nói thêm gì nữa không?

Thật bất hạnh, có. Đó là năm 1347 và một căn bệnh quái lạ đã tràn đến từ Trung Hoa, căn bệnh khủng khiếp nhất người ta từng biết. Nó càn quét khắp những bến cảng, vào sâu trong thành phố và vùng đồng quê nước Ý, giết người như đám cháy rừng thiêu rụi cây cối. Ở các thị trấn, chuông nhà thờ đổ không ngớt vì người ta tin rằng tiếng chuông sẽ đánh đuổi bệnh tật. Rất nhiều người tin rằng mùi của người chết làm căn bệnh đó lan tràn, nên họ luôn ra đường với những chiếc khăn tay tẩm nước hoa che kín mặt. Trầm hương đốt khắp nơi, hòa lẫn với mùi hôi thối của xác chết… Một chiều muộn, Graziana thấy sốt. Cô về phòng nghỉ một chút. Khi thức dậy vào tối hôm đó, cô đã phát hiện ra một cục hạch to bằng quả trứng ở háng, và những cục khác đang sưng lên dưới hai nách. Cô biết rằng Dịch hạch Đen đã tấn công mình.

Trong bếp, Francesco đang chuẩn bị thức ăn. Cô thét bảo anh đi, ngay lập tức, vì cô đã bị nhiễm bệnh. “Gavoccioli!”cô gào lên. Sưng bạch hạch đấy. Cô bắt anh phải cứu lấy chính mình, vì tất cả mọi người đều biết rằng sẽ không có thuốc chữa, không có hy vọng nào cả. Cô khẩn khoản, “Đi đi! Đi ngay đi!” Căn bếp chìm trong tĩnh lặng. Graziana nằm trên giường, nghe im lặng trùm lên khoảng cách giữa cô và người chồng. Rồi cô nghe thấy anh bắt đầu gõ xoong chảo để giấu tiếng khóc. Vài phút trôi qua; Francesco bước xuống hành lang về phía cô. Cô la hét, chửi ầm lên bắt anh tránh ra xa, nhưng anh đã đứng trước cửa phòng với một khay mì sợi và chút rượu. “Em sẽ thấy khá hơn nếu em ăn gì đó, chỉ một chút thôi cũng được,” Francesco nói. Anh bước vào phòng, đặt cái khay xuống và ngồi bên cạnh cô. Rồi anh cúi xuống hôn cô.

Graziana cố đẩy anh ra. Đó là lần đầu tiên và duy nhất trong đời cô có ý từ chối anh nhưng Francesco dùng sức mạnh của người thợ rèn trong anh để áp đảo cô và hôn trả lại tất cả những sự kháng cự vào miệng cô. Sau vài giây cô nhận ra có chống cự cũng vô ích nên chấp nhận những nụ hôn của anh. Thế là xong. Tối đó họ ăn một chút rồi đi nằm. Qua cửa sổ, trăng tròn nhìn họ trìu mến. “La luna è tenera,” Francesco nói. Mặt trăng thật dịu dàng. Anh nhắm mắt lại và ôm cô chặt hơn. Điều cuối cùng Graziana nhìn thấy vào tối hôm đó là khuôn mặt anh đang ngủ. Khi cô thức dậy vào sáng hôm sau, khuôn mặt anh là thứ cô nhìn thấy đầu tiên trong ngày mới. Cô bị sốt rất cao, mồ hôi đổ đầm đìa, và mạch thì đập nhanh như ngựa phi nước đại. “Nhìn này,” anh dịu dàng nói, “những đốm đen đã xuất hiện trên da em rồi.” Graziana bắt đầu khóc, nhưng Francesco mỉm cười vuốt tóc cô. “Đừng khóc. Chúng ta không có thời gian cho nước mắt đâu. Hãy để chúng ta yêu nhau khi còn có thể.”

Buổi chiều hôm ấy, bệnh tình của Graziana đã đến lúc cực kỳ nguy kịch. Trong suốt ba ngày, họ nằm cùng nhau. Trong suốt ba ngày, Graziana hấp hối trong vòng tay anh khi anh kể cho cô nghe câu chuyện về những con thiên nga, về những điều kỳ diệu và tình yêu vĩ đại. Nửa đêm thứ ba kể từ khi cô ngã bệnh, Francesco bị những tiếng thở nặng nhọc của cô đánh thức. Cô quay mặt về phía anh. “Đã đến lúc rồi.” Anh nói, “Anh sẽ sớm gặp lại em.”

Francesco hôn Graziana lần cuối, mang hơi thở cuối cùng của cô vào tận sâu trong lồng ngực. “Ti amo,” cô nói. Em yêu anh. Sau khi cô ra đi, Francesco tháo chiếc nhẫn cưới khỏi ngón tay cô. Anh giờ cũng ốm rất nặng, nhưng vẫn cố gồng mình ra khỏi giường. Anh hầu như không thể đứng nổi, tập tễnh vì buồn nôn và sốt, nhưng anh vẫn cố ép mình đi về phía lò rèn. Vẫn còn một việc nữa cần phải làm. Anh nhóm lửa và đốt lò. Anh nung chảy cả hai chiếc nhẫn cưới, của anh và của cô, rồi đổ chúng vào một chiếc khuôn hình mũi tên. Khi đầu mũi tên hoàn thành, anh đặt nó lên cán tên. Anh nhìn xuống dọc chiều dài mũi tên, đảm bảo nó thẳng và chuẩn như bất cứ mũi tên nào anh từng làm.

Francesco giật cây cung treo trên tường xuống. Nó từng thuộc về cha anh, một cung thủ vĩ đại, người đã hy sinh trên chiến trường khi Francesco và anh trai Bernado còn nhỏ. Cây cung này, cây cung được một người đồng đội của cha mang trở lại Firenze, là tài sản duy nhất của cha mà Francesco có được. Ngoài kỷ vật này, anh thậm chí còn không có chút ký ức nào về ông. Anh quay về phòng ngủ, bên xác Graziana. Anh với tay qua ô cửa sổ mở và đặt cây cung ra ngoài. Giờ đã tảng sáng và anh nhờ một cậu bé đi ngang qua gửi lời nhắn tới cho anh trai anh, vốn đang sống tại một khu khác trong thành phố. Một tiếng sau, Bernado đã đứng ngoài cửa sổ phòng ngủ của Francesco. Francesco khẩn nài người anh đừng lại gần thêm chút nào nữa, sợ rằng sẽ lây bệnh sang cho anh mình. Francesco xin một ân huệ cuối cùng.

“Bất cứ điều gì,” Bernado nói. “Anh sẽ trân trọng nguyện ước cuối cùng của em.” Sau khi Francesco thỉnh cầu xong, anh ngồi lên giường, quay mặt ra cửa sổ. Giữa những tiếng sụt sịt, Bernado nâng cung lên và đặt mũi tên vào vị trí. Anh hít một hơi thật sâu, dồn hết sức và cầu xin linh hồn người cha dẫn đường cho mũi tên trúng đích. Bernado buông dây cung và để mũi tên bay đi. Đường tên đi chính xác và cái chết đến ngay lập tức. Francesco ngã ngửa xuống giường, bên cạnh Graziana của anh, với đầu mũi tên được làm từ chiếc nhẫn cưới của hai người găm chắc vào tim. Anh đã chết như đã sống, trong tình yêu.

.