Hôm nay bạn muốn đọc gì?

Hoa Bên Bờ - Chương 10

.

Cuộc sống độc thân Suốt một thời gian, tôi chỉ thích sống một mình.

Làm một việc.

Trồng một loài cây.

Nghe một ca khúc.

Vì thời gian của chúng ta không nhiều.

Chỉ là một đêm.

Chúng ta chỉ có thể trao cho nhau nhiều đến vậy mà thôi.



Cuối cùng tôi cũng chính thức nghỉ việc ở trang web.

Công việc này hình như duy trì chưa đầy hai tháng.

Khi tới phòng làm việc thu dọn đồ, Peter ra vẻ rất bận rộn trước bàn làm việc, không để ý tới tôi.

Tôi nghĩ hẳn anh rất ngại ngùng, đang thử thăm dò tôi thực hư ra sao, kết quả chỉ khiến mình bị thương.

Còn có thể ra sao được nữa.

Chúng ta luôn hy vọng đối phương có thể bỏ ra nhiều hơn.

Rất nhiều việc không thể như ý.

Tôi cầm lọ cà phê Nestle chưa uống hết, bước lại trò chuyện với anh ta.

Peter, chỗ cà phê này để lại anh dùng nhé.



Anh ngẩng đầu, hốt hoảng tránh né ánh mắt tôi.

Anh hỏi, Hôm nay cô nghỉ luôn sao? Đúng vậy.

Tôi mỉm cười ấm áp.

Cám ơn anh đã chăm sóc tôi suốt thời gian qua.

Anh nói, Tôi nghe nói cô ở nhà viết tiểu thuyết.

Cô là nhà văn sao?

Đại khái không phải vậy.

Tôi trả lời.

Cũng không rõ những tin tức này bằng cách nào có thể truyền đi nhanh đến vậy.

Cơ quan luôn là nơi đầy thị phi, khiến người ta phát mệt.

Xin nghỉ việc quả đúng.

Anh tiễn tôi xuống lầu.

Tôi định ngăn lại nhưng không được.

Anh hỏi, Kiều, sau này tôi có thể hẹn cô có được không? Cùng đi xem phim, tới quán bar.

.

.

Anh cứ huyên thuyên không ngớt nhưng đột nhiên im bặt khi vừa nhìn thấy Sâm lái xe tới cửa đang đợi tôi.

Sâm mặc áo phông trắng, áo khoác gió đen, gọn gàng sạch sẽ, đang ở đó im lặng mỉm cười với tôi.

Tôi giới thiệu, Peter, đây là bạn tôi.

Peter hạ giọng, Kiều, cô định kết hôn?

Ừ.

Tôi đáp.

Anh ủ rũ, vẫy tay chào tôi rồi đi vào thang máy rất nhanh.

Hôm đó Sâm đưa tôi đi xem nhà.

Tôi quyết định chuyển từ căn lầu cũ sang khu độc thân có diện tích rất nhỏ.

Thuê những phòng như vậy có thể giảm bớt khoảng một nghìn tệ.

Sau khi tiểu thuyết được chính thức khởi động phải vứt bỏ hết đa số bản thảo các chuyên mục đặt hàng.

Tôi nghĩ mình có thể tiếp tục nhượng bộ.

Giống như lúc thỉnh thoảng có tiền, có thể tiêu chúng sạch sẽ tới lúc không còn một xu.

Quá nhiều tiền và không có tiền về bản chất có điểm chung rất kỳ diệu.

Chỉ khi ở hai trạng thái này, con người mới có thể thực sự không thèm quan tâm.



Khu căn hộ độc thân ở thành phố thường rất cao tầng.

Muốn dọn đến khu Từ Gia Hối ở.

Thuê một phòng ở tầng thứ mười tám, hơn năm mươi mét vuông bao gồm nhà vệ sinh, phòng ngủ, phòng khách, phòng làm việc.

Tuy nhỏ nhắn nhưng sạch sẽ, đầy đủ.

Chủ nhà đặc biệt giới thiệu những hộ hàng xóm khác cùng tầng đều là những người làm sáng tác.

Một người thiết kế bìa.

Một người dịch tiểu thuyết.

Đều là những người sống cách biệt với thế giới bên ngoài, đóng cửa không ra khỏi nhà.

Tôi đi chân trần vào trong ngó nghiêng.

Ban công lớn ở phòng ngủ được tấm rèm cửa trắng buông rủ.

Ánh nắng rót xuống mặt sàn gỗ hơi hồng hồng.

Từ những khe hở chật hẹp giữa các khối kiến trúc.

Có thể nghe thấy tiếng hổn hển của gió.

Tôi hỏi Sâm, Ở đây thế nào? Thích hợp cho em sáng tác.

Xem ra em đứng cao hơn mọi người rất nhiều.

Sâm đứng bên cạnh khẽ cười.



Tôi trả tiền đặt cọc.

Cùng Sâm đi tới Cung thể thao Thượng Hải chỉ cách đó một con đường.

Trên bãi đất trống trong ráng chiều có đám nam sinh của trường học gần đó đang chơi bóng rổ.

Sau xe đạp còn buộc cặp sách, mặc quần áo thể thao, đi giầy vải, chạy tới mồ hôi toát ra như tắm.

Một đám mây lớn màu đỏ kim.

Ngồi dưới cây ngô đồng gần đó ngắm chúng chơi bóng.

Tôi rút thuốc ra hút.

Sâm hỏi, Cậu vừa tiễn em xuống lầu có phải là anh bạn đồng nghiệp mà em vẫn thường nhắc tới? Vâng.

Có lẽ anh ta cho rằng có thể khiến em yêu anh ta rồi.

Mỗi người đều muốn khống chế người bên cạnh.



Trong lòng em có một lỗ trống tối tăm.

Đàn ông không biết làm thế nào để hàn gắn nó.

Kể cả anh sao? Tôi nheo mắt nhìn anh.

Anh không đáp.

Hồi lâu mới nói tiếp.

Tuần sau có thể anh phải quay về Anh quốc một thời gian.



Rất lâu sao? Không biết.

Tôi vứt đầu mẩu thuốc xuống rễ cây, dùng tay dập lửa.

Tôi nói, Đợi anh quay về, em có thể viết xong câu chuyện của Nam Sinh.



Hà Bình phải không được chết.

Anh ta nằm viện vài tuần.

Sau khi chữa khỏi sẽ rời bỏ thành phố N.

Còn Nam Sinh?

Hà Bình không muốn khởi tố cô nên cô chỉ bị giam một thời gian rồi được thả.

Vì sao trong câu chuyện có tên một cô gái giống hệt em? Tôi đáp.

Không cần phải nghi ngờ về động cơ em viết câu chuyện này, Sâm.

Em chẳng có mục đích gì cả.

Em chỉ có thể dùng rất nhiều cách để thử cứu vớt chính mình.

Muốn để mình xem ra cũng hạnh phúc như những người xung quanh.

Nhưng.

.

.

Tôi ngửa đầu nhìn bầu trời trong trẻo.

Tôi nói, Nhưng sau đó em phát hiện thấy chúng ta rốt cuộc chỉ có thể sống trong tuyệt vọng tĩnh mịch.

Chỉ là đa số mọi người không hề biết mà thôi.



Sâm xúc động nhìn tôi.

Không nói.

Cuối cùng cũng nhận được thư của Tiểu Chí.

Lúc đó, tôi đã bắt đầu dọn dẹp hành lý chuẩn bị chuyển nhà.

Tháo hết đồ đạc, bọc lại bằng giấy da bò.

Tất cả quần áo gói trong tấm ga giường lớn.

Bao gồm cả chiếc giường sắt đơn có đầu tượng gỗ và chiếc sô pha bọc vải đỏ.

Tôi chỉ ngủ trên chiếc giường đơn, dùng chăn đơn.

Ngoại trừ Trác Dương, không ai tới nơi tôi ở.

Nhớ tới người đàn ông này, lòng đã không còn hằn tích.

Có một số người có thể dễ dàng bị xoá đi bởi thời gian, giống như cát bụi.

Phải nói chính xác rằng Tiểu Chí chỉ gửi tới một tấm thiệp.

Trên hình là dãy Hy Mã Lạp Sơn tuyết phủ trắng xoá.

Tiểu Chí dùng bút bi viết rất tháu ở mặt sau, Kiều, mình đang ở một nhà nghỉ nhỏ bên cạnh quảng trường Jarkata cũ.

Cùng sống với một người đàn ông Hà Lan.

Lông mi của anh ta có màu vàng kim.

Khi hôn anh ta cảm giác có thể nhìn thấy thiên đường.

Đây là một thành phố tuyệt đẹp và huyên náo.

Lúc hoàng hôn, đứng trên ban công, có thể nhìn thấy ánh dương buông dần xuống dãy Hy Mã Lạp Sơn.



Cô không hề viết kế hoạch và thời gian định quay về.

Không thông báo cô có vui vẻ hay không.

Cũng không viết về quá khứ.

Không biết, cô đã trút được gánh nặng của mình hay chưa.

Tôi viết thư gửi lại theo địa chỉ của cô.

Tiểu Chí, mình chuyển nhà rồi.

Rất nhớ cậu.

Dường như có rất nhiều lời muốn nói.

Nhưng viết trên lá thư chỉ có được vài từ ngắn ngủi như vậy.

Không thể viết tiếp.



Trong thời gian Sâm quay về Anh, tôi bắt đầu vùi đầu vào viết trong căn phòng mới dọn tới.

Cuộc sống cứ luôn duy trì trong trạng thái đơn điệu và thuần tuý như vậy.

Cần phải sống.

Dù rằng chán ngấy vô cùng, dù lòng luôn khiếp sợ hay hoài nghi.

Dù người mong đợi có lẽ không xuất hiện.

Lời hứa hẹn có được sẽ không bền lâu.

Những lúc mệt mỏi, một mình tì lên ban công ở tầng thứ mười tám nhìn xuống dưới.

Người và xe trên phố lúc nhúc như bầy kiến.

Các toà nhà cao tầng như đồ xếp hình bằng gỗ.

Dù có kêu to lên một tiếng, âm thanh cũng rất lâu không được nhìn thấy bầu trời bao la và xanh thẳm như vậy.

Ngày xanh của mùa đông.

Thoắt một cái nó chui tọt vào mắt, khiến người ta nhức nhối.

Lại bắt đầu đọc một số sách cũ.

Đọc đi đọc lại.

"Người tình Hoa Bắc" của Xã La Tứ.

Trong mùa hè nóng nực, cô gái mười lăm tuổi còn nhớ rõ mùi thoang thoảng của hoa nhài trong gió.

Cô đau đớn nôn ra máu, bên cạnh là gã nhân tình lạnh lùng đang đứng nhìn.

Cô chưa từng thể hiện có thật lòng yêu hắn hay không.

Tất cả đã không còn quan trọng nữa.



Trên bậu cửa sổ trồng tới hơn mười loại Xương rồng.

Chúng là loại thực vật hiểu rõ hạnh phúc, không bao giờ ảo tưởng.

Có lúc cũng ra ngoài hò hẹn.

Thường có người lạ gọi tới di động của tôi.

Nói ra những cái tên kỳ lạ, mời tôi đi uống cà phê.

Tôi cũng đi vào những lúc vô vị nhất.

Gặp hết người này tới người khác, đều là những nhà thơ lạc mất linh hồn và nghèo xơ xác.

Một gã đàn ông thất nghiệp ba hoa không ngớt về dục vọng mãnh liệt.

Còn có một cô nữ sinh trung học miệng lưỡi tục tĩu.

Lần nào cũng đều là cà phê tôi tự trả.

Tới lúc thanh toán, đám đàn ông đó im lặng như tờ, ánh mắt né tránh.

Tôi cười, tạm biệt họ.

Có một người trong số đó khi hẹn gặp tôi lần thứ hai không thành đột nhiên lại dùng những từ ngữ ác độc công kích tôi.

Tôi đóng sập điện thoại lại, ngờ vực thứ mà mình vừa mở ra lần nữa.

Mất hết lòng tin vào phần lớn những người xung quanh.



Chỉ có thể lại ra ngoài một mình, tới quán bar làm một ly.

Quán bar của Sâm đóng cửa.

Đã vài lần vẫn còn mơ hồ bước tới đó.

Nhìn thấy cánh cửa gỗ màu vàng đóng chặt, chợt nhớ lại ca khúc ca kịch nhẹ nhàng uyển chuyển bên trong.

Một người đàn ông đứng lau cốc, những ngón tay tinh tế và lạnh lùng.

Một người đàn ông cùng tôi đi xem phim.

Đêm khuya một mình, tôi mở nhạc Ireland.

Bật mãi một ca khúc yêu thích nhất tới tận khi trời rạng.

Có âm thanh rất vang.

Tôi tin đó chính là cô độc.

May mắn là tôi đã quá quen với tất cả thứ đó.



Không nhớ rõ ngày nào.

Nhìn thấy hàng xóm ở ban công.

Cứ quen hai giờ chiều hàng ngày, sau khi thức dậy, ra ban công hút thuốc.

Rồi xịt một chút nước cho xương rồng.

Hôm đó ở ban công bên cạnh, nhìn thấy một chàng trai mặc áo len đen và quần bò, thân hình cao to, tóc húi cua.

Da mặt rất thô nhưng có chiếc cằm và bờ môi sắc nét.

Sắc thái lạnh lùng.

Anh ta cũng đang hút thuốc.

Tôi để ý thấy anh đi chân trần.

Gót chân sạch sẽ, mạnh khoẻ, rất gợi cảm.

Anh còn đeo một cặp kính đen hiệu Gucci rất to.

Tôi gật đầu mỉm cười với anh ra ý chào hỏi.

Anh đăm đăm nhìn tôi, ngẩn ngơ như một kẻ ngoài hành tinh.



Rồi anh cất tiếng trước, Cô bật nhạc gì hàng đêm vậy? Là bài "Farewell to Govan" của Ireland.

Đêm nhiều nhất cô đã nghe tới nghe lui đến một trăm mười bảy lần.

Cô rất thích sao? Cũng giống như việc cô chỉ trồng xương rồng vậy?

Chỉ vì lười thôi.

Suốt một thời gian, tôi chỉ thích sống một mình.

Làm một việc.

Trồng một loại cây.

Nghe một ca khúc.

Anh gục gặc đầu, ra vẻ mệt mỏi.

Tôi mang theo một chậu xương rồng, một đĩa CD kèn tây của Joanie Madden.

Phòng của anh giống hệt tôi.

Chỉ có bức tường trắng tinh.

Trống trơn.

Trên sàn bày bừa nệm giường, đệm ngồi, quần áo, gạt tàn, ti vi, vỏ mì gói.

Một bộ bàn ghế làm việc bằng gỗ thông mua từ IKEA về, bên trên đặt máy tính và sách.

Anh nói tôi có thể gọi anh là Ben.

Làm thiết kế cho trang web Sohu, công việc rất tự do.



Tôi hỏi tại sao anh cứ luôn phải đeo kính đen.

Anh giải thích vì ngồi máy tính quá lâu, mắt bị kém đi.

Câu trả lời này khiến tôi tình nguyện ngồi xuống, trò chuyện với anh hơn mười phút.

Tôi rất ghét đàn ông ra vẻ ta đây.

Nhưng Ben rất thẳng thắn.

Khi tôi còn ở đó, anh vẫn đang làm việc.

Không để tâm tới tôi.

Không trò chuyện với tôi.

Thực ra chúng tôi cũng khác nghề nhau.

Anh coi tôi như một bộ phận của tự nhiên.

Như thể một chiếc sô pha trong phòng anh vậy.

Thói quen sống của anh với tôi hoàn toàn đảo ngược.

Ban ngày làm việc.

Buổi tối đi quán bar, tập thể thao, làm tất cả mọi việc mà những người không mất ngủ có thể làm.

Buổi chiều lúc tôi đi ra ngoài, anh lại đang tập trung cao độ vào công việc.

Tôi thay anh thu dọn nhà cửa.

Đem cái chăn bị vò thành một đống ra ban công phơi nắng.

Từ tủ lạnh trong nhà bếp lôi ra được ít khoai tây.

Rồi nhét vào đầu DVD một bộ phim khủng bố, lăn ra thảm đeo tai nghe vào xem.

Xem phim tới khi thiếp đi.

Lúc tỉnh giấc đã là một màn đêm bao phủ.

Ben đang ngồi trên thảm húp canh.

Trên ti vi một màu xanh lam.



Tôi tin tưởng những người đàn ông sống ẩn dật như vậy.

Trong thành phố rất hiếm gặp.

Vì thế những người đàn ông lạ này đều rất đẹp trai.

Như nụ cười của Ben chẳng hạn, ngọt ngào như trẻ thơ.

Mặc dù đa phần rất nghiêm túc.

Lạnh tới phát sợ.

Lúc làm việc cực kỳ tập trung, không nói một câu nào.

Cứ cách hai tiếng lại đeo kính đen ra ban công phơi nắng.

Tôi đem máy tính của mình sang, viết lách luôn bên phòng anh.

Buổi tối anh nghỉ, cũng không đi chơi.

Nằm rạp trên bàn chơi trò chơi điện tử.

Uống canh tôi hầm.

Hai người không biết gì về nhau.

Tuổi tác, nghề nghiệp cụ thể, xuất xứ thân phận.

Từ đâu tới, đi tới đâu.

Giống như những người lạ trên cùng một chuyến lữ hành.

Đi một đoạn có thể nói lời từ giã bất cứ lúc nào.

Như những người đã đánh mất quá khứ và tương lai.



Tiết trời ngày càng lanh.

Chúng tôi hầu như không ra phố.

Có lúc nửa đêm anh đưa tôi đi tập thể thao.

Hai người cứ chạy về phía cái cửa sổ bằng kính lớn.

Bên ngoài là một toà cao ốc chọc trời lộng lẫy.

Chúng tôi đeo phone nghe nhạc điện tử.

Từ trung tâm thể thao đi ra, rẽ vào tiệm đậu tương trong ngõ nhỏ ăn màn thầu vừa rán và canh thịt bò bằm cà ri.

Không nhớ là hôm nào.

Rất tự nhiên chúng tôi bắt đầu làm tình.

Cũng giống như cùng chạy tới trung tâm thể thao, cùng đi ăn khuya ở tiệm đầu phố.

Tương tự như vậy.

Không tính toán những được và mất cùng những điều thị phi trong đó.

Đối với chúng tôi, đó là hiện thực quá cứng rắn.

Thân hình anh cũng sạch sẽ, khoẻ mạnh và gợi tình như gót chân trần của anh.

Dục vọng thẳng thắn như ánh nắng vậy.

Trên trần nhà có ánh trăng lắc lư và bóng mây.

Lúc ôm nhau siết lấy nhau có thể cảm nhận rõ da thịt ấm nóng hoà vào nhau.

Nhiệt độ mùa đông đã tụt xuống quá nhiều.

Khi ngủ, gác tay và chân lạnh cóng lên mình người đàn ông bên cạnh.

Thân nhiệt của anh như nham thạch ẩn sâu dưới đất, dần dà cử động.

Lúc đó, tôi chui tọt vào hang sâu ấm nóng.

Có thể không phải nghĩ ngợi cái gì.



Đã hai tuần trôi qua, Sâm vẫn chưa về.

Tôi bắt đầu tự thuyết phục mình, có lẽ anh sẽ không quay về nữa.

Tôi tin rằng rất nhiều người đều biến mất đột ngột như vậy.

Chẳng hạn như Tiểu Chí, như Trác Dương, như Peter.

Giờ đây trên bất kỳ một ngõ nhỏ, một con đường nào của thành phố này, tôi đều không tìm nổi cơ hội gặp lại họ.

Họ như thể bốc hơi trong không khí, không hề để lại mùi gì trong ký ức tôi.

Trong đêm khuya, tôi lại xem đống đĩa phim lậu thời xưa.

Tôi xem bộ phim Câu chuyện mùa thu.

Khi John đi phiêu bạt trở về, Susan đã lấy anh trai của anh ta.

Anh tới thăm cô.

Cô đang tỉa hoa trong vườn hoa rộng lớn sang trọng.

Cuộc sống đã hoàn toàn khác.

Anh bắt mình phải tin rằng cô hạnh phúc, nhìn cô không nói nên lời.

Susan nói trong lệ nghẹn ngào, Đã quá muộn rồi, vĩnh viễn muộn quá rồi.

Cô đã đợi anh.

Chỉ có điều đợi mãi không được.

Nhưng tim đã rách nát như đống tro tàn, khó có thể nhận ra.



Tôi rót cho mình một ly Wisky, thêm đá.

Rồi dần dần uống hết trong bóng đêm.

Hay quá.

Cuộc sống còn những chuyện như thế này đem lại cảm xúc và hồi tưởng về tình cảm.

Tháng mười hai, Ben nói với tôi, Chúng mình cưới nhau đi, Kiều.

Tôi đáp, Tốt thôi.



Hôm đó là thứ tư ngày mùng tám.

Tôi còn nhớ rõ ngày đó.

Sở dân chính làm thủ tục đăng ký kết hôn vào các ngày thứ hai, tư, sáu.

Nếu là ngày thứ ba hoặc thứ năm, kế hoạch của chúng tôi có thể bị đập tan vì ý tưởng nhất thời đó quá ngẫu nhiên.

Hoàn toàn ngẫu nhiên.

Nhưng mọi thứ lại vừa khớp.

Thời gian cũng đúng.

Người đều đủ.

Hơn nữa lại đúng là lúc cả hai đều thấy rất buồn chán.

Chúng tôi đi bộ tới Sở dân chính để đăng ký.

Trên đường nổi gió lớn, rất nhiều người so vai rụt cổ vọi vã rảo bước.

Cái dáng đi của Ben như thể bên cạnh không có ai.

Anh không thèm liếc tôi lấy một cái.

Như thể tôi chỉ là một cô nhân tình thoáng qua một đêm.

Chúng tôi cùng đi nhưng không hề nắm tay nhau.



Mới đầu không tìm thấy.

Phải tìm người hỏi.

Cuối cùng cũng nhìn thấy các đôi nam nữ mặt mũi ủ ê từ đầu phố đi ra.

Họ vừa đi ra từ căn nhà gạch đỏ cũ kỹ, ánh sáng tối tăm của Sở dân chính.

Những người xếp hàng trong đó không hề có nụ cười.

Không khí trầm lắng.

Tôi và Ben trả tiền chụp ảnh.

Trên ảnh, hai đứa trông rất đờ đẫn, tóc rối tung vì gió.

Giống như kẻ không nhà vừa từ trong ngục đi ra chả biết gì.

Râu của Ben còn chưa cạo.

Tấm ảnh được dán lên hai cuốn sổ đỏ.

Đó chính là sổ kết hôn của chúng tôi.

Xếp hàng thành một con rồng dài ngoằng.

Ngày nào cũng có rất nhiều người đăng ký kết hôn.

Tôi nhìn Ben đứng trong hàng đó đợi đóng dấu.

Anh giờ đây đã là người đàn ông của tôi.

Một người xa lạ mặc áo khoác đen, đeo kính đen, cao lớn, tuấn tú.

Tôi vừa biết anh hai mươi sáu tuổi.

Tôi tin anh đã từng yêu.

Lịch sử của tất cả những thứ chìm nghỉm dưới đáy đại dương trước đây đều là những con tàu lớn sang trọng.

Chỉ là mọi người dần trở nên chán ngán trò chơi tình cảm.

Muốn mình cảm thấy có được một số thứ vững bền.



Hai kẻ tay trắng cùng chung phòng trong một thành phố đã kết hôn như vậy.

Đi trên phố, mọi thứ vẫn rất bình thường.

Ánh nắng như lãnh đạm hơn, đã hoàng hôn rồi còn gì.

Ben đề nghị, Chúng mình đi mua chia vang đỏ về chúc mừng thôi.

Thế là tới siêu thị bên đường.

Lúc băng qua chợ lại mua cần tây, thịt bò và gà.

Lúc đang ở trong bếp làm thức ăn, Ben xem bóng đá trên truyền hình ở phòng khách.

Tôi xắt cần tây, ngửi thấy mùi thơm cay thấm trên tay.

Đột nhiên nghĩ tới mình đã kết hôn rồi.

Cuốn sổ màu hồng có bảo chứng về luật pháp.

Thật không thể ngờ nổi.

Mãi những ngày tự do, rồi đột nhiên lại làm một việc có liên quan tới luật pháp.

Không có nhẫn cưới, không hoa hồng, không áo cưới và tiệc tùng.

Tôi đã lấy một người đàn ông.

Hốt hoảng, tôi vứt dao chạy ra ngoài.

Ben đuổi theo, gọi, Kiều, đừng chạy.

Anh biết em sẽ tỉnh lại, Nhưng anh lười đi làm thủ tục ly hôn lắm.

Chi bằng cất kỹ sổ kết hôn này, đợi đến khi em thực sự tìm được một người muốn lấy, chúng ta ly hôn vẫn chưa muộn.

Nhưng anh đoán chắc em cũng không tìm được ai đâu.



Tôi hỏi, Tại sao? Anh nói, Thứ mà em đang tìm chỉ là ảo ảnh.

Tự cho rằng đó là hạnh phúc.

Thật đáng tiếc, chúng ta đều là những người quá giống nhau.

Anh lại nói, chỉ như vậy thôi.

Yêu ai cũng vậy.

Cuộc sống vẫn không hề thay đổi so với trước.

Trừ việc Ben trả lại nhà của anh, dọn sang ở với tôi.

Vì tôi không thích chuyển nhà.

Đồ đạc lại nhiều.

Anh vẫn thiết kế ban ngày, tối đi chơi quán bar tán gái.

Tôi viết văn, ngủ, đọc sách.

Một mình trong phòng hút thuốc, xem băng đĩa.

Kinh tế và tinh thần của chúng tôi đều rất độc lập.

Kết hôn chỉ là việc giữa hai chúng tôi biết với nhau.



Một loạt các tình tiết do rỗi rãi mà ra.

Nghĩ kỹ lại vẫn thấy quái lạ.

Cặp uyên ương như tôi và Ben lại có thể rơi vào một cái vòng như vậy.

Chúng tôi chẳng qua chỉ là những kẻ sống chung có giấy chứng nhận mà thôi.

Nhưng không hề có cảm giác như các cặp vợ chồng thường chung sống.

Chúng tôi không hề quan tâm tới nhau, không thăm dò hoặc đoán ý.

Cũng không oán trách hoặc giải thích.

Có lúc nghĩ rằng rất nhiều đàn ông và đàn bà đều nhân danh tình yêu để làm những việc rất ích kỷ, nhưng lại sợ đối phương biết được hoặc cao tay hơn mình.

Cho nên mới có quá nhiều ân oán tình thù đến vậy.

Tôi và Ben không thể hận được nhau.

Vì thời gian biết nhau quá ngắn.

Khi mùa đông lạnh giá vừa ập tới, Ben nói muốn rời bỏ Thượng Hải.

Một khách hàng lớn yêu cầu anh tới làm việc ở Quảng Châu một thời gian.

Lần đầu tiên tôi biết anh là người Đại Liên.

Đó là ngày thứ ba mươi lăm lẻ chín tiếng bốn mươi hai phút sau khi chúng tôi kết hôn.

Anh tới Thượng Hải thực ra mới được hai năm.



Anh hỏi, Em có đi cùng anh không, Kiều? Tôi lắc đầu.

Không tìm ra nổi lý do để đi theo anh.

Sách và CD của tôi, bộ ghế sô pha và bàn làm việc gỗ thông mua từ IKEA đều ở Thượng Hải.

Tôi phải ở cùng chúng.

Tôi đáp, Em không đi Quảng Châu đâu.

Anh bắt đầu thu dọn đồ đạc.

Nhét quần áo vào vali da, bọc máy tính lại.

Nhét cuốn sổ chứng nhận màu đỏ của anh vào vali.

Chúng tôi không có bất kỳ tài sản chung nào.

Thật sạch sẽ.

Tôi hỏi, Làm xong chương trình, anh có quay lại không?

Bây giờ vẫn chưa nghĩ kỹ.

Có lẽ sắp tới sẽ đến Hồng Kông.

Em có đi Hồng Kông không? Em chả muốn đi đâu cả.

Tôi nói, Ben, hãy nhớ rằng anh chỉ là người đàn ông của em ở Thượng Hải mà thôi.

Tôi tiễn anh ra sân bay.

Thời tiết hôm đó lạnh khủng khiếp.

Chúng tôi chưa từng chung hưởng một đêm giao thừa nào.

Hai người một trước một sau băng qua đại sảnh chờ ban đêm.

Bên trong tĩnh mịch, trống trải.

Có người đang xem ti vi.

Có người phủ quần áo lên đầu ngủ.

Một cô gái khoác áo tua rua, đi giầy cao gót đang ngầy ngừ trên lối đi.



Ben mặc áo khoác đen, đeo kính đen, tóc húi cua gọn ghẽ, miệng nhai kẹo cao su.

Trông anh giống hệt một hiệp khách đen.

Tôi không nhịn nổi cười.

Anh nói, Kiều, nếu bây giờ em chịu nhỏ một giọt nước mắt, có lẽ anh sẽ ở lại vì em.

Tôi lắc đầu.

Anh hỏi, Sau này em có thể sinh con cho anh không? Anh muốn có một đứa con gái lanh lợi, kỳ quái như em.

Tôi nói, Em không sinh con đâu, trừ phi gặp được một người đàn ông cực kỳ giàu có, có thể nuôi được hai mẹ con.



Anh nhìn tôi hỏi, Em nghĩ rằng hai chúng ta sẽ không giàu có sao? Đúng vậy, Vì chúng ta đều quá bất cẩn.

Không có mục tiêu rõ ràng.

Có lẽ một ngày nào đó chúng ta sẽ già nua và chết.

Tới một lúc nào đó em và anh đều cảm thấy mệt mỏi.

Đại Liên là một thành phố có thể nhìn thấy biển, có thể em sẽ thích.

Đợi đến khi chúng ta đều già rồi có thể dắt tay nhau đi dạo trên bờ biển, ngắm mặt trời lặn.



Lúc đó có lẽ không tìm thấy nhau được nữa.

Còn có thể tìm thấy anh sao? Anh sẽ để lại cho em một địa chỉ và điện thoại liên lạc lâu dài của anh.

Không cần đâu.

Tôi cương quyết khước từ.



Thôi được.

Chỉ cần anh chưa chết, em vẫn có thể tìm được anh.

Anh hy vọng em tìm anh? Ừ.



Tại sao? Vì em tới tìm anh sẽ chỉ có hai kết cục.

Ly hôn hoặc sống với nhau.

Cả hai điều này, anh đều có thể chấp nhận.

Anh nhìn tôi, nói, Kiều này có lẽ cả anh và em đều hiểu, chúng ta là những người rất xem nhẹ tình cảm.

Không coi nặng chúng.

Nhưng có lẽ một ngày nào đó chúng ta sẽ thực sự yêu nhau.

Vậy sao?

Có lẽ cần chờ chúng ta lộn thêm mấy vòng đã.

Anh khẽ cười.

Thời gian có quá nhiều.

Còn dư sức.

Đúng chín giờ tối.

Người đàn ông phương Bắc đeo kính đen hiệu Gucci này cầm theo hành lý, sổ chứng nhận kết hôn và chậu xương rồng tôi tặng, rời khỏi Thượng Hải.

Quay về căn hộ độc thân.

Cuộc sống lại tiếp tục.



Trong con mắt của bất kỳ ai, tôi vẫn là đứa con gái độc thân có hoàn cảnh tồi tệ.

Không ai hay biết tôi vừa có một cuộc hôn nhân ngắn ngủi vội vã tới mức kết thúc không dấu vết.

Không ai hay người đàn ông của tôi đã đi về miền Nam.

Chúng tôi đã quyết định phải quên nhau.

Mùa xuân tới.

Tiểu thuyết của tôi gần tới đoạn kết.

Hút thuốc bắt đầu tăng tốc.

Hằng đêm đều phải uống ít rượu mới có thể chợp mắt.

Dưới gậm giường luôn để sẵn chai rượu.

Chỉ khi sáng tác tôi mới tỉnh táo, tư duy mới tuôn chảy linh hoạt.

Nhưng trạng thái của tôi ngày một tồi.

Có lúc rất muốn trò chuyện với ai đó.

Muốn gọi điện thoại cho bất kỳ ai quen biết.

Lật giở sổ điện thoại, phát hiện trong rừng điện thoại chen chúc vẫn không thể tìm nổi một số nào có thể gọi.

Người có thể nói chuyện được đều không để lại số cho tôi.

Làm thế nào để gọi cho Tiểu Chí, cho Ben và Sâm.

Họ bỏ đi như biến mất vậy.

Có thể nói gì với người lạ? Xin lỗi, cô còn nhớ tôi không? Tôi là Kiều.

Cô sống vẫn tốt chứ? Có thể trò chuyện không?.

.

.

Giống như những người gọi điện thoại lúc canh khuya cho tổng đài, cứ huyên thuyên không ngớt.

Nhưng quan trọng hơn là, về cơ bản tôi không biết muốn nói gì.

Nhưng lại rất muốn nói chuyện.



Tôi bắt đầu nhớ Tiểu Chí.

Một nỗi nhớ chân thực và trĩu nặng.

Nhớ tới đêm khuya chúng tôi uống Wisky pha đá trên giường và xem đống phim cũ.

Nhớ cái dáng cô chỉ mặc đồ lót dùng dầu salad nướng xúc xích Mỹ trong bếp.

Nhớ lúc tôi khoác vai cô xuyên qua đám người huyên náo.

Chúng tôi đã từng ở bên nhau vì đau khổ và không muốn đau khổ.

Chỉ khi ở bên cạnh cô, tôi mới thấy tự do.

Đêm khuya mất ngủ, lật đi lật lại trong bóng tối, thấy không thể thở nổi.

Nhỏm dậy ra vào nhà bếp, lấy một con dao gọt trái cây từ trên giá dao xuống.

Ra sức cứa lên làn da mỏng quanh cổ tay.

Một phát, hai phát, ba phát.

.

.

Bắt đầu có máu từ vết thương tuôn ra.

Miết lên những giọt máu dinh dính, ngửi mùi nó khô dần trên da.

Niềm an ủi của cái đau ập tới truyền tới từng sợi dây thần kinh trong cơ thể.

Thấy lòng nhẹ nhõm hơn.

Đi tìm một mảnh vải sạch, buộc chặt cổ tay lại.

Đi ra ban công châm một điếu thuốc.

Đó là một đêm tháng năm.

Bầu trời xanh sẫm, lấp lánh nhiều ngôi sao lớn lạnh lẽo.

Thành phố vẫn đang say sưa giấc nồng.

Đêm tối đầy ắp những bí mật.

Cũng như vô số lần trước, tôi bắt đầu hoài nghi về số mệnh mình.

Cái chết cứ nhảy múa bên tôi.

Tôi như đứa trẻ khôn lớn từ những bài hát đồng dao của nó.

Linh hồn luôn ngụp trong nỗi khiếp sợ được bọc bởi cái vỏ tĩnh mịch.

Tôi nghĩ phải đi du lịch thôi.

Tôi sẽ chết trong thành phố này mất.

Chết trong nỗi tuyệt vọng của chính mình.



Quen Thụ vào tối đó.

Đang tìm kiếm diễn đàn du lịch trên mạng.

Nhìn thấy một quảng cáo vừa được gửi lên lúc hai giờ sáng.

Nội dung là: tôi chuẩn bị đi du lịch Tân Cương vào cuối tháng năm (chính xác hơn vùng Bắc Cương).

Không biết có ai hứng thú đi cùng không? Tôi sống ở Bắc Kinh, một mình, nam, hai mươi sáu tuổi.

Tuyến đường: Bắc Kinh

- Ô Lỗ Mục Kỳ

- Hà Tịnh

- Y Ninh

- Trại Lí Mục Hồ

- Ô Nhĩ Hoà

- Ca Na Tứ

- Phúc Ôn

- Ôn Lỗ Mục Kỳ.

Cần khoảng từ mười đến mười lăm ngày.

Khoảng ngày hai mươi lăm tháng năm lên đường.

Dự định thuê xe tại Tân Cương.

Bên dưới có ghi địa chỉ email và số điện thoại liên lạc.

Trên mạng có rất nhiều quảng cáo tìm bạn đồng hành du lịch.

Nhưng chỉ có thời gian và lịch trình của anh là phù hợp với suy nghĩ của tôi.

Lấy di động gọi ngay.

Vừa đúng hai giờ mười lăm phút.

Điện thoại thông ngay.

Tiếng của chàng trai trẻ.

Tôi nói, Chào anh, tôi ở Thượng Hải.

Tôi muốn cùng anh đi Tân Cương.



Anh nói, tôi vừa gửi quảng cáo được một lát.

Bật cười.

Tiếng phổ thông Bắc Kinh lưu loát, tiếng cười trong trẻo.

Không nhớ rõ đã nói những gì.

Hai bên cùng nói về công việc.

Sau khi tốt nghiệp đại học, anh làm biên tập ở một tờ tạp chí.

Giờ đây làm biên tập trên một trang web nổi tiếng.

Anh muốn dùng hết phép cả năm.

Tôi kể tôi ở nhà, viết bài cho tạp chí.

Vừa viết xong một cuốn tiểu thuyết rất dài.

Muốn điều chỉnh tâm trạng.

Tôi tin tưởng những điều chúng tôi nói đều là sự thật.

Vì những gì tôi nói đều là nói thật.

Hẹn gặp nhau tại Ôn Lỗ Mục Kỳ vào ngày hai mươi lăm tháng năm.

Tất nhiên giữa chừng hy vọng tìm thêm hai, ba người bạn đồng hành nữa.

Như vậy chi phí thuê xe sẽ giảm bớt vì được chia ra.

Nhưng cuối cùng chúng tôi vẫn thất vọng.

Chỉ có hai người lên đường.

Tôi không lo ngại nguy hiểm khi đồng hành với bất kỳ người lạ.

Chẳng hạn như cướp tiền cưỡng hiếp.

Chẳng có bất kỳ nỗi khiếp sợ nào có thể vượt qua cái chết.

Nhưng tôi cũng không sợ chết.

Tôi chỉ có một lần nảy ra ý nghĩ muốn anh ta scan ảnh gửi cho tôi.

Vì tôi khá coi trọng ngoại hình đàn ông.

Dù anh ta chỉ là một kẻ đồng hành.

Dù chỉ cần nhìn cách ăn mặc, tôi cũng có thể đoán ra được tư chất, thân thể của anh ta cao hay thấp.

Tôi chỉ lo ngại anh ta có phải là một người vô vị và không có gu hay không.

Nhưng vì anh ta không hề đòi hỏi như vậy nên tôi đành nhịn.

Tôi tự an ủi, mạo hiểm và bất ngờ vẫn đủ sức khiến người ta phải chờ đợi.

Bắt đầu thu dọn đồ mang theo.



Ngày khởi hành, thời tiết trong trẻo.

Tôi đeo balô leo núi tới sân bay.

Chuyến bay chiều, từ Thượng Hải tới Ô Lỗ Mục Kỳ, kéo dài bốn tiếng đồng hồ.

Như vậy ắt phải là một nơi rất xa.

Trong điện thoại, tôi hỏi Thụ một câu rất ngộc nghệch.

Tôi hỏi, Ô Lỗ Mục Kỳ có phải là ở Tân Cương không.

Anh cười.

Lúc đó chúng tôi đã gọi điện cho nhau vài lần vì chuyến đi.

Khẩu khí của anh trong điện thoại rất mạnh mẽ.

Đúng là phong cách thẳng thắn vốn có của đàn ông phương Bắc.

Mặc dù không muốn đoán nhưng tôi luôn cảm giác anh phải là một chàng trai da ngăm đen, cử chỉ linh hoạt.

Vì anh kể cho tôi đã đi gần hết Trung Quốc.

Còn tới cả Pháp và châu u.

Lương của anh đều tiêu hết vào chuyện du lịch.

Đó là sở thích lớn nhất của anh.

Ở sân bay, tôi yên tâm tắt điện thoại.

Rất tốt.

Rời khỏi thành phố này tôi không cần từ giã bất kỳ ai.

Không ai biết việc tôi ra đi, cũng giống như không ai đợi ngày tôi trở về.

Đó chính là cuộc sống của tôi.



Tôi tự mua cho mình một chai Hồng trà, ngồi trong gian chờ trống trải xem ti vi.

Châu Tinh Trì khiến tôi cười nắc nẻ như một con ngốc.

Có lẽ anh là người duy nhất có thể đem lại cho tôi niềm vui.

Hôm đó tôi mặc một chiếc áo vải bông trắng thêu hoa, quần bò cũ, chân trần đi một đôi dép đay bện mua ngoài chợ ven đường.

Thần sắc tiều tuỵ.

Cô đơn lẻ bóng.

Thời gian bay dài dằng dặc khiến tôi hơi đau đầu.

Thấy chán ngán.

Ngồi bên cạnh tôi là một người đàn ông Thành Đô ưa huyên thuyên.

Anh ta bán thuốc ở Tân Cương.

Anh ta không ngừng nói với tôi.

Anh ta thanh minh có thân hình phì nộn như vậy vì không ngừng phải đưa khách hàng đi uống rượu.

Anh ta khoe mục tiêu lớn nhất là từ một nhân viên bán hàng phải tự lập nên một công ty riêng.

Anh ta đưa danh thiếp cho tôi.

Nhưng tôi biết chỉ cần vừa xuống máy bay, e rằng cả đời này gặp nhau cũng chỉ một lần như vậy.

Khi ra khỏi máy bay, ánh nắng thô bạo và mạnh mẽ của vùng Tây Bắc bộ xộc thẳng vào tôi.

Nghe thấy tiếng da thịt tôi nứt lách tách.

Tìm được khách sạn đã hẹn với Thụ.

Tôi tới trước anh nên đặt phòng trước.

Kéo rèm cửa sổ, bên ngoài là thành phố xa lạ.

Con đường rộng lớn trồng toàn cây bạch dương cao to, mang theo hơi mát hoang dã của gió cát.

Đã sáu giờ chiều, bầu trời vẫn sáng rờ rỡ như vừa sau trưa.

Khi có tiếng người gõ cửa, tôi buộc vội mái tóc còn ướt vừa gội xong, đi chân trần ra mở.

Bên ngoài là một chàng trai trẻ nom rất bình thường.

Nước da trắng của người phương Bắc, tóc ngắn, quần vải thô màu vàng nhạt.

Anh ta giống hệt một sinh viên trường Bắc Đại.

Đó là ấn tượng đầu tiên của tôi đối với anh ta.

Rõ ràng anh ta thuộc típ đàn ông gọn gàng, khoẻ mạnh, không hề ẩm ướt, nom rất biết điều độ.



Chúng tôi cùng đi ăn tối.

Tìm một quán nhỏ, mỗi người ăn một bát mì.

Anh ăn thêm tương ớt, thông báo rất thích ăn đồ cay.

Chúng tôi có lúc trò chuyện, có lúc trầm lặng.

Nom anh rất chín chắn, giống như những người đàn ông ở các thành phố lớn được hưởng một nền giáo dục tốt, đã từng trải vào đời.

Lúc qua đường khẽ đỡ tay tôi.

Không nói nhiều nhưng rất dịu dàng.

Tối đó chúng tôi ngủ chung trong một căn phòng tiêu chuẩn.

Hai chiếc giường đơn.

Anh tắm xong, ngủ luôn rất nhanh.

Tôi nằm trên giường hút thêm một điếu thuốc nữa.

Nghiêng mặt sang nhìn.

Tư thế ngủ của anh rất yên bình.

Lông mi dài rợp bóng phủ kín mắt.

Gương mặt thanh thoát nhưng kiên định.

Tôi dụi đầu thuốc vào gạt tàn.

Trở dậy ra nhà vệ sinh đánh răng.

Người đàn ông xa lạ này khiến không khí trở nên ấm áp hơn.

Tối đó tôi ngủ rất say.

Không hề mộng mị.

Hôm đó chúng tôi gặp anh lái xe Tiểu Long.

Hai mươi chín tuổi, sinh trưởng tại Thổ Lỗ Phạm.

Tiểu Long chìa tay ra, ấm nóng, mạnh mẽ.

Anh mặc một chiếc quần vải rộng thùng thình màu xanh bộ đội, chân trần đi dép xăng đan.

Lông mi dài màu vàng, mắt rất đẹp.

Giống như đàn ông dân tộc Duy Nhĩ.

Đó là nụ cười khoẻ mạnh và rạng rỡ mà tôi rất hiếm khi gặp được.

Đó là nụ cười không thể nhìn thấy ở thành phố mà tôi từng sống.

Đàn ông Thượng Hải đều có gương mặt ngọt ngào.



Cũng nhìn thấy chiếc xe của bọn tôi định thuê.

Chiếc Ford màu xanh nước biển.

Chiếc xe của chúng tôi rất nhanh phóng như bay trên đường cao tốc, từ Nam hướng Bắc, lao thẳng tới vùng Ca Na Tứ tận đoạn đầu phía Bắc.

Tất nhiên trên đường trải qua rất nhiều vùng và nghỉ đêm tại các nhà trọ ven đường.

Bên ngoài là ánh mặt trời chói chang trắng phớ của vùng Tân Cương.

Là thứ ánh sáng khô và rực rỡ, dường như có thể nứt vỡ từng tí một trong mắt.

Tôi nhìn nó, cảm nhận được sự chìm đắm ngất ngây mù quáng như bóng đêm.

Suốt chặng đường là những thảo nguyên, sa mạc, núi non điệp trùng nối nhau vô tận và con đường quốc lộ cô quạnh hút tầm mắt.

Không một bóng người hoặc xe.

Hiếm hoi lắm mới thấy một chiếc xe tải bị tai nạn đang lăn kềnh trên đường.

Con đường quá tĩnh mịch, mặt trời quá gắt.

Thế là các bác tài thường lái xe lơ mơ và ngủ gật.

Để rồi khiến xe nhào luôn sang bên đường.

Khắp nơi đầy xác cừu bị bắn chết bên đường, gió lốc xoáy, ảo giác và từng đám liễu cỏ rậm rạp và cây thoa thoa.

Đôi khi cũng có thể nhìn thấy hồ nước màu ngọc bích xa xa.

Giống như một giọt màu xanh sẫm rơi trên tấm phông vải.

Từng đàn sơn dương béo núc ních lặc lè di chuyển bên đường.

Phải kiên nhẫn bấm còi để xua chúng.

Anh chăn dê có nước da đen, mặc quần áo bông dầy sụ ngay trong tiết trời nóng nực, cầm roi, cưỡi trên lưng ngựa.

Chú chó chăn gia súc vẫy đuôi, sủa ầm ĩ, và ra sức phóng đi.

Mắt tôi cay xè và đau nhức tới mức không thể rỏ ra nổi một giọt nước mát.

Có lúc tôi tin chúng sẽ rớt xuống.

Để nhớ lại tất cả thứ này.



Đêm đầu tiên trong một khu bảo vệ tự nhiên ở Ca La Mạch Lý.

Trong một nhà trọ của thị trấn bên đường.

Căn phòng rất đơn giản.

Kê bốn cái giường cứng đơ.

Lúc hoàng hôn, chúng tôi tới suối nước nóng.

Ngâm mình trong suốt nước nóng tự nhiên, ngắm nhìn bầu trời thảo nguyên bát ngát dần ngả sang màu lạnh giá.

Vầng mặt trời đỏ ối vươn mình tuyệt đẹp trong tuyệt vọng.

Những cụm mây như vỡ nát.

Phụ nữ dân tộc Duy Nhĩ bản xứ mặc đồ lót ngồi trên thềm đá, khua cặp chân trần nghịch nước.

Tấm khăn choàng khoác hờ lên bờ vai, nom ngượng ngập.

Lũ trẻ reo hò hưng phấn.

Chim trên trời vỗ cánh bay xa.

Ăn cơm tối bên đường.

Một bát mì tú hụ, đầy những sợi mì rất dai, hạt tiêu, hành tây, thịt cừu, tỏi, cà chua.

.

.

mỡ màng và cay nóng.

Thứ thực phẩm như vậy sau này vẫn luôn duy trì trong suốt chuyến du hành đầy gian khó.

Ăn tối lúc hơn mười một giờ đêm vì lúc đó trời mới bắt đầu tối.

Mua bia cho vào tủ lạnh.

Ăn hết mì mới lôi bia ra uống.

Hai người đàn ông đều không hút thuốc.

Ba gói thuốc tôi mang theo vẫn nhét dưới đáy ba lô, không lôi ra.

Có tiếng chó sủa bên đường trong canh khuya.

Gia đình chủ tiệm vây quanh chiếc bàn gỗ cũ kỹ uống trà, hát hò bằng thứ tiếng dân tộc Duy Nhĩ bay nhanh như gió.

Xe tải qua đường đậu lại.

Tài xế đang ăn dưa hấu.

Chúng tôi trò chuyện.

Ăn xong, tôi ra ngoài giếng trời hút thuốc.

Trời tối sẫm, Thụ xách đèn ắc quy đi tìm tôi.

Chúng tôi ngắm sao giăng đầy trời.

Chúng trĩu xuống như thể vươn tay ra có thể chạm tới ngay.

Chúng sáng long lanh như những giọt lệ lớn.

Thụ chỉ cho tôi xem vị trí chòm sao Bắc Đẩu.

Anh hỏi, Trước đây đã nhìn thấy chưa? Tôi đáp, Rồi.

Hồi nhỏ.



Bầu trời như thiên đường mở rộng.

Nơi miền Bắc xa xăm.

Ca La Mạch Lý của Tân Cương.

Trong một nhà trọ trên sa mạc nặng mùi phân gia súc.

Bên cạnh một người đàn ông phương Bắc xa lạ.

Suốt chặng đường, vó ngựa không ngừng nghỉ.

Khi tới Bố Nhĩ Tân, làm thủ tục qua biên phòng Kha Nã Tứ.

Bố Nhĩ Tân là một huyện nhỏ sạch sẽ.

Chúng tôi định ở lại đó một đêm.

Đi mua giầy thể thao và dầu gió theo lời dặn của Tiểu Long.

Ăn tối trong một gia đình dân tộc Hồi, có sữa chua của người bản địa tự làm.

Bát mì lớn đậm gia vị, chua và mát lạnh.

Con đường lớn cạnh nhà trọ hai bên trồng đầy cây bạch dương cao lớn.

Dưới cây bày đầy bàn ghế và lò than.

Người dân bản xứ đang để đùi cừu lên bàn, lấy dao xắt ra từng miếng thịt nhỏ, xiên thịt mỡ và thịt nạc xen kẽ vào que sắt, nướng lên lò than.

Thịt tươi bắt đầu toả ra mùi mỡ hấp dẫn.

Còn có cá bắt lên từ hồ gần đó, cũng được xiên lại sau khi đã làm ruột sạch sẽ.



Gió đêm mát mẻ.

Lá cây xanh sậm cọ vào nhau loạt soạt.

Mùi gỗ cháy thoảng trong gió.

Chúng tôi uống bia, ăn thịt nướng, cũng không trò chuyện nhiều.

Tới tờ mờ sáng mới quay về nhà trọ ngủ.

Tắm rửa rất nhanh rồi lên giường.

Tôi thấy hơi mệt, có lẽ ngủ không đủ giấc.

Tôi gọi, Thụ này, tôi không ngủ được.

Anh nói, Vậy để tôi kể chuyện cho nghe.

Chúng tôi đã quen nhau.

Lúc ngồi trên xe, cả hai thường trêu chọc đùa giỡn, vì nóng nực và những vất vả trong chuyến đi.

Anh rất bao dung, luôn mỉm cười đặt gánh nặng của anh và tôi xuống.

Tôi đòi, Kể về người anh từng yêu đi.

Anh kể ngay.

Tiếng uyển chuyển trong đêm tối.

Đó là giọng nói mang âm phương Bắc mà tôi quen thuộc trong điện thoại.

Anh kể về bốn năm tình cảm thắm thiết sâu đậm tới hồi đầu yêu nhau tới khi bị lừa dối.

Tôi ngăn anh lại, Thụ, Đừng động tới vết thương nữa.

Tôi xin lỗi.

Trong đêm khuya, tiếng anh vẫn bình thản.

Anh nói, Bây giờ nó chỉ là một vết sẹo.



Khi tới Ca Na Tứ đúng vào buổi trưa nóng nực.

Con đường rõ ràng bắt đầu khó đi.

Bụi vàng bay đầy đường, phổi trĩu nặng.

Chiếc xe đảo như lạc rang trên con đường nhấp nhô.

Đường núi quanh co vẫn chưa được sửa chữa đầy đá hộc, cứ uốn lượn vây quanh ngọn núi cao hết vòng này tới vòng khác.

Hầu như không thể chợp mắt,không thể trò chuyện, chỉ có thể dốc hết sức lực vào việc đối phó với con đường vất vả.

Có một thời gian, những ảo não trong lòng khiến người ta tuyệt vọng.

Con đường dài như vậy, không có điểm dừng.

Cũng may phong cảnh ven đường bắt đầu như cuộn tranh được mở dần ra.

Như thể ông trời bồi đắp chút ít.

Những đám tuyết trên đỉnh núi ương bướng không chịu tan, cứ ánh lên dưới bầu trời xanh thẫm.

Chỉ có đại bàng xoè cánh lao bổ từ trên không xuống trong im lặng.

Giữa lưng chừng núi từng hàng tùng xen kín mít, như một giác mơ màu xanh sẫm, đượm chất phong tình nồng nàn khiến người ta chìm đắm.

Đáy vực là một thảo nguyên cỏ mượt mà xanh non, nở đầy hoa dại rực rỡ li ti như những vì sao.

Người chăn gia súc chuyển trại đang vội vã lùa từng đám cừu, đám trâu, cưỡi ngựa bắt đầu chuyển di dời cả gia đình.

Lều trại, chăn chiếu, đồ đạc của cả nhà đều chất lên lưng lạc đà.

Trẻ con cũng cho cưỡi ngựa.

Tất cả đều có một khuôn mặt đỏ rám đen bởi mặt trời hun nóng.

Ánh nắng rất ngoan cố.

Nhưng thứ mà họ có chỉ như vậy.

Nhưng họ vẫn luôn sống rất chân thực, mặc dầu nghèo túng nhưng rất tôn trọng.



Trên đường luôn thấy công nhân đang sửa chữa.

Chặng đường không mấy thuận lợi nên duy trì được vẻ thần bí và tinh khiết cho Cáp Na Tứ, không khiến nó rơi thành khu danh lam thắng cảnh quen thuộc.

Hiện nay chỉ có một số người ở Quảng Đông và Bắc Kinh vượt đường xá xa xôi tới đây ngắm nghía.

Trên đỉnh núi, chúng tôi tình cờ gặp được một chàng trai trẻ đang đẩy xe đạp.

Anh cưỡi xe đạp đi du lịch, đã đi được gần nghìn dặm.

Hỏi có cần giúp đỡ không, chúng tôi sẵn sàng cho anh đi nhờ xe.

Anh đáp không cần.

Anh thích như vậy để ngắm phong cảnh.

Một khuôn mặt trẻ trung tươi cười rám nắng.

Trong cát bụi và ánh nắng chói chang, một bầy như chim xoè cánh bay.

Cứ thế xuyên hết từ đỉnh núi này sang đỉnh núi khác, cũng tới được nơi Ca Na Tứ

- nơi thần bí nhất ở tận cùng phía Bắc.

Trước tiên nhìn thấy được Vịnh mặt trăng.

Nước hồ xanh thẳm lẫn màu ngọc bích, lay động những cái bóng của bầu trời và rừng cây.

Tĩnh mịch đến vô cùng.

Ánh nắng rạng rỡ.

Đầy ắp hoa dại khắp núi.

Trong không gian thoảng mùi thơm cay cay của thực vật.

Lúc vừa bước xuống xe, tim tôi tĩnh lặng.



Ở trong thôn nghỉ hè của Ca Na Tứ.

Bên cạnh là khu nhà gỗ thấp lè tè của người dân tộc Thổ Oa.

Vì trên đỉnh núi cao nên giá thực phẩm ở đây rất đắt.

Phòng vệ sinh không có nước nóng, khi tắm phải dùng nước đun sôi.

Trong vườn của khu nhà nghỉ vắt ngang một khe suối chảy từ trên đỉnh núi, nước trong và ngọt vô cùng, cứ róc rách tuôn xuống theo đường rãnh núi được làm từ những phiến đá.

Buổi tối, nước lạnh buốt thấu xương.

Buổi trưa có thể lấy để giặt giũ, phơi quần áo trên bãi cỏ.

Trên thảm cỏ nở đầy bồ công anh và cúc dại.

Đêm, chúng tôi tới ngắm hồ Ca Na Tứ.

Một con đường sỏi cát xuyên qua làng, men theo sơn cốc vươn dài về phương xa.

Do chênh lệch về thời gian, lúc hơn mười giờ tối, ráng hoàng hôn trên núi cao mới dần dần nhạt màu.

Thời tiết cũng lạnh dần.

Dãy núi hùng vĩ bao quanh sừng sững đứng trong im lặng.

Thỉnh thoảng có những đứa trẻ địa phương nước da ngăm đen cưỡi những con ngựa cao to phi lướt qua như bay, khuắng lên một trận bụi mù mịt.

Con đường nhỏ sâu hút xuyên qua rừng cây đưa chúng tôi tới bên bờ hồ.

Đường hầm được làm từ những mảnh gỗ ghép phản chiếu ánh sáng yếu ớt màu trắng.

Chẳng có khách du lịch, chỉ có dăm chàng trai địa phương lái thuyền nhanh đang dựa lưng vào thành thuyền tán dóc.

Hồ Ca Na Tứ nằm trên đỉnh núi cao, là giọt lệ tinh khiết của trái đất.

Cảm giác mình đang run rẩy.

Không biết có phải vì lạnh hay thấy bất lực trước sự vĩnh hằng trước mặt.

Ở Ca Na Tứ hai ngày hai đêm.

Lúc nằm trong phòng nghỉ buổi tối, nhìn thấy trăng lên trên đỉnh núi đen sẫm ngoài cửa sổ.

Lấp loé thứ ánh sáng nhợt nhạt.

Làng bên đã vắng lặng từ lâu.

Trong căn phòng gỗ chỉ có ánh lửa chợp chờn.

Trên núi đã có điện nhưng phần lớn người dân tộc Duy không dùng đèn điện.

Tiểu Long kể đàn ông ở đây tối nào cũng uống say.

Lại rất bó hẹp, không thích giao tiếp với thế giới bên ngoài, cưới xin cũng chỉ trong đám người này.

Vì thế hầu như không hứa hẹn tiền đồ gì.

Tôi nhớ lại trên chặng đường từ hồ Ca Na Tứ quay về khách sạn gặp một đám đàn ông sửa đường vừa xong việc về nhà.

Họ vừa đi vừa hát, trêu chọc nhau.

Tiếng cười vui vẻ và thô lỗ.

Thư giãn sau một ngày lao động vất vả.

Họ không phải là lớp đàn ông trí thức trong những ga tàu điện ngầm ở Thượng Hải sau khi tan giờ làm, tay xách cặp, mặt đầy mệt mỏi và trĩu nặng.

Cuộc sống của những người đàn ông ở đây cứ đơn giản ngày làm tối nghỉ như vậy.



Nhưng như thế có gì không tốt cơ chứ? Con người trên thế giới này có đủ cách sống và số phận khác nhau.

Họ không thể lựa chọn được.

Trên núi có trường tiểu học.

Thảm cỏ tự nhiên được biến thành sân bóng.

Có gian nhà gỗ thấp lè tè và tấm bảng đen to đùng.

Giống hệt kiểu trường tiểu học mà tôi hằng tưởng tượng.

Có thể dạy học và sống tĩnh lặng ở đây.

Thật đáng tiếc, lũ trẻ chỉ học tiếng dân tộc Duy.

Leo núi là việc rất ưa thích.

Chúng tôi ra đình ngắm cá ở bên hồ.

Cả chặng đường ngập ánh trăng sáng rờ rỡ, hoa dại rung rinh, trèo đường đến nơi đã mệt đứt hơi.

Không quên mang theo một chiếc túi to, nhặt hết vỏ chai nước khoáng vứt bên đường.

Chàng trai đến từ Phúc Hải, hai cô gái Mông Cổ trên thảo nguyên được nghỉ học về nhà, người phụ nữ Mông Cổ bế con nhỏ, bà già dân tộc Duy Cáp Tát Khắc, cô gái dân tộc Duy Nhĩ.

Tất cả đều không thu tiền.

Chỉ cần nụ cười trên khuôn mặt chất phác, trầm lặng của họ.

Không có gì đẹp hơn thế.

Quan hệ giữa con người với con người có lúc chỉ đơn giản và ấm áp như vậy.

Không nghi ngờ gì, họ đều là những người bạn đường xuất sắc.

Rời khỏi Ca Na Tứ, chúng tôi men theo hồ Cáp Ba xuống núi.

Trên đường đi qua Khắc La Mã Y, Y Ninh.

Tiết trời nóng hầm hập.

Mọi người đều cố gắng kìm chế.

Chỉ hy vọng dọc đường được uống sữa chua do thông Băng tự làm, sẽ mát thấu ruột.



Điều hoà trên xe bị hỏng.

m thanh bị biến giọng.

Khe cửa hở bị gió lùa.

Bụi đường mù mịt.

Trên chặng đường tới hồ thiên nga, lần đầu tiên tôi cảm nhận được những bực dọc đàn ông đường xóc.

Hôm đó tôi rất mệt.

Đêm thảo nguyên lạnh thấu xương.

Mãi tới mười một giờ đêm, xe chúng tôi mới tới được trạm tiếp đón hồ Thiên Nga trên đỉnh núi.

Nơi đó có nhà nghỉ bằng gỗ và nhà ăn.

Không có vòi hoa .