Hôm nay bạn muốn đọc gì?

Mặt nạ hoàn hảo - Chương 20

Chương 20.

“Ngài Vere có thể xử lý mọi chuyện không?” Dì Rachel hỏi khi đoàn tàu chuyển bánh trong tiếng còi và hơi nước. Vere vẫn ở lại sân ga, quan sát họ rời đi. Vẫn trong bộ dạng người đánh xe, anh đã đưa Elissande và dì Rachel đến ga tàu, để họ có thể bỏ Exeter và những thử thách lại sau lưng. Bà Douglas hồi phục ở nhà tốt hơn là ở một đồn cảnh sát, anh đã nói. Nhưng đó là nhà của anh, đâu phải nhà họ?

“Anh ấy sẽ làm tốt thôi”, Elissande nói. Anh lùi xa dần, xa dần, sự vắng mặt của anh bỗng biến thành một lỗ hổng sắc nhọn trong cô. Cuối cùng nhà ga chỉ còn là một chấm sáng trong bóng đêm và anh biến mất khỏi tầm nhìn của cô. “Mẹ nghĩ rằng... mẹ nghĩ rằng con sẽ muốn biết mọi chuyện”, dì cô nói.

Không, không phải dì cô, mà là mẹ cô. Elissande chuyển ánh mắt sang khuôn mặt thân quen đó, đã bớt hốc hác hơn trước nhưng vẫn già hơn nhiều so với tuổi, và cảm thấy một nỗi buồn ghê gớm. “Chỉ khi nào mẹ cảm thấy đủ khỏe để nói chuyện”. Cô không biết cô có đủ khỏe để nghe hay không.

“Mẹ nghĩ có thể”, dì Rachel nói với một nụ cười yếu ớt. “Nhưng mẹ không biết bắt đầu từ đâu”. Elissande nhớ lại những gì chồng cô đã thuật lại chi tiết trước đây. Để giữ mình không run rẩy là cả một nỗ lực. “Con đã biết được rằng chú con, cha con, đã vẽ mẹ như một thiên thần tốt, nhân hậu rất lâu trước khi hai người kết hôn. Mẹ không biết ông ta là ai sao?” “Ông ta nói lần đầu tiên nhìn thấy mẹ ở Brighton, West Pier, và bị mẹ thu hút đến mức ông ta mua chuộc chủ cửa hàng ảnh mà gia đình mẹ đã chụp ảnh để có địa chỉ mà nhà mẹ đã viết lại để gửi ảnh đến, và cũng để mua một bức ảnh của mẹ. Mẹ chưa bao giờ gặp ông ta trước khi ông ta đến gặp mẹ. Ông ta tuyên bố là quen người cha cố của mẹ và mẹ không hề nghi ngờ ông ta. Mẹ đang ở trong hoàn cảnh sa sút và Charlotte đã bỏ nhà đi, mọi người nói dối để không phải tiếp đón mẹ nữa. Mẹ không nghĩ rằng có người nào lại nói dối để được gần mẹ.”

Trái tim Elissande tê tái: người mẹ cả tin, dịu dàng của cô, đơn độc trong thế giới và hoàn cảnh dễ bị tấn công bởi một con quái vật như Douglas. “Mẹ biết sự thật khi nào?” “Không lâu trước khi con sinh ra. Mẹ thấy cuốn nhật ký cũ của ông ta khi mẹ tìm một thứ khác, mẹ không nhớ là thứ gì. Nếu mẹ biết cuốn nhật ký thuộc về ông ta, mẹ sẽ không mở ra. Nhưng chữ viết tắt G.F.C. khắc trên bìa làm mẹ tò mò.”

Bà Douglas thở dài. “Mẹ quá ngây thơ, quá ngu ngốc, và hoàn toàn mãn nguyện với người chồng giàu có, thông minh và đẹp trai, ngay cả sự ghen tuông của ông ta mẹ cũng nghĩ là lãng mạn. Khi mẹ nhận ra rằng chữ viết của George Fairborn Carruthers và vài sự kiện trong cuộc đời người lạ này trùng khớp với những gì Edmund đã kể lại về cuộc đời mình, trong số tất cả mọi người, mẹ lại hỏi ông ta về chuyện đó. Ông ta hẳn đã sợ hãi. Ông ta có thể lừa gạt mẹ với vài câu chuyện bịa đặt, nhưng ông ta kể cho mẹ những điều kinh khủng. Đó là lần đầu tiên mẹ nhìn thấy bản chất thực sự của ông ta, lần đầu tiên mẹ sợ hãi ông ta”. Đó là lý do bà đã quá hãi hùng vì tin tức Stephen Delaney bị ám sát, Elissande nhận ra: Douglas hẳn đã thề với bà rằng ông ta sẽ không bao giờ cướp đoạt mạng sống của người khác nữa.

“Khi con được một tháng tuổi, chị họ con được một trung sĩ của Quân đội Cứu tế đưa đến cửa nhà chúng ta. Mẹ mất liên lạc với Charlotte nhiều năm. Mẹ không biết rằng chị ấy đã chết trong khi sinh hay là chồng chị ấy đã chết. Vị trung sĩ đó nói rằng chị ấy cố gắng đưa đứa trẻ về cho nhà Edgerton, nhưng họ từ chối thẳng thừng. Mẹ hãi hùng với việc nhận thêm một đứa trẻ khác vào nhà mình, dưới sự kiểm soát của chồng mẹ, nhưng mẹ không thể làm gì khác. Con bé thật đáng yêu. Nó chỉ lớn hơn con một tuần tuổi và hai đứa con có thể dễ dàng bị nhầm là chị em sinh đôi. Nhưng chưa đến mười ngày sau khi con bé đến sống với chúng ta, cả hai đứa đều bị sốt. Con bé dường như khỏe hơn, trong khi mẹ đang lo sợ cho cuộc sống của con. Sự mừng rỡ mẹ cảm thấy khi cơn sốt của con bớt đi… con không thể tưởng tượng được đâu. Nhưng chỉ vài tiếng đồng hồ sau, vào giữa đêm, chị họ con chết trong tay mẹ. Trước cơn sốc đó, mẹ không thể ngừng khóc. Mẹ nghĩ chắc chắn con bé sẽ không chết nếu nó ở với nhà Edgerton. Mẹ sợ rằng nhà Edgerton đã nhận ra sai lầm và sáng mai sẽ đến để nhận lại con bé. Lúc đó mẹ sẽ nói gì với họ? Sau đó mẹ nghĩ ra. Chú con… cha con đã đi làm việc ở Antwerp, và cô vú nuôi đã bị sa thải vì bà quản gia đã bắt gặp cô ta với một người hầu. Nếu mẹ tuyên bố con đã chết thay vì chị họ con, không ai biết được. Rồi khi nhà Edgerton đến, con có thể đi với họ và sống cuộc sống không có cha con, điều mà mẹ không thể làm. Khi mẹ đã quyết định, mẹ gửi thư báo tử cho mọi người mẹ biết, đó là trước khi cha con chuyển chúng ta về nông thôn, và mẹ vẫn có vài người bạn. Việc đó khiến cho cái chết của con được chính thức hóa. Không ai nghi ngờ rằng một người mẹ lại không nhận ra chính đứa con của mình”.

Bà chấm khăn tay lên khóe mắt. “Mẹ phải nói rằng nhà Edgerton làm mẹ thất vọng ghê gớm. Mẹ gửi cho họ rất nhiều thư. Mẹ gửi những tấm ảnh của con. Họ chưa bao giờ hồi đáp”. Elissande cũng phải lau mắt mình. “Được rồi mà. Mẹ đã làm điều tốt nhất”. “Không phải. Mẹ là một người mẹ tồi tệ, một gánh nặng vô dụng đối với con”.

Elissande lắc đầu. “Làm ơn đừng nói thế. Chúng ta đều biết rằng ông ta là loại người nào. Ông ta sẽ giết mẹ nếu mẹ cố gắng bỏ đi”. “Mẹ nên giúp con bỏ đi. Ông ta không nhất thiết phải có quyền thống trị cả hai chúng ta”. Elissande vươn tay qua không gian hẹp giữa hai chiếc ghế và chạm vào má mẹ mình. “Con không hoàn toàn là một tù nhân: Con có Capri. Con luôn luôn tưởng tượng mình ở đó, cách xa khỏi ông ta”.

“Mẹ cũng thế”, bà Douglas nói, nhét chiếc khăn vào cổ tay áo. Elissande kinh ngạc. “Mẹ cũng tưởng tượng mình ở Capri?” “Không, mẹ tưởng tượng con ở đó. Mẹ rất thích một đoạn con thường đọc cho mẹ nghe. Mẹ vẫn còn nhớ vài câu: ‘Như Venice, Capri là một điểm đến thường xuyên trong hành trình của du khách, tách biệt với miền đất liền Ý về đặc điểm tự nhiên và xã hội’”, bà Douglas nhắc lại, mắt bà đăm chiêu, “‘một vùng quê tươi sáng, đầy gió biển, với những tiếng thì thầm sâu thẳm của quá khứ rì rào như những con sóng trong hang động’.

Mẹ hình dung con khám phá những hang động đó, mẹ đã đọc về sự khai phá Hang Động Xanh khi mẹ còn là con gái, nó có vẻ rất thú vị. Khi con đã khám phá đầy đủ về những hang động, con sẽ ăn tối trong một trang trại và ăn những thức ăn thôn quê ngon lành làm từ thảo dược và ô liu. Và khi buổi chiều đến, con sẽ trở lại ngôi nhà trên vách đá cao và quan sát mặt trời lặn xuống trên Địa Trung Hải”. Nước mắt lại dâng lên trong mắt Elissande. “Con không tin rằng con từng nghĩ đến chuyện sẽ ăn gì hay sống ở đâu ở Capri”. “Cũng không sao. Nhưng mẹ là mẹ con. Khi mẹ nghĩ đến chuyện con ở xa, mẹ muốn nghĩ rằng con được ăn uống đầy đủ và nghỉ ngơi an toàn”.

Nhưng mẹ là mẹ con. Những từ ngữ này vừa gây bối rối vừa đẹp đẽ như lần đầu tiên nhìn thấy những vì sao. “Và mẹ tưởng tượng có một đường đi dễ dàng từ ngôi nhà của con đến trung tâm hòn đảo và những khách sạn mà tất cả du khách người Anh tụ họp. Để khi buồn hoặc cô đơn, con có thể đi đến đó uống trà hoặc ăn tối. Và có lẽ một chàng trai trẻ tốt bụng có thể ghé chơi với con”. Bà Douglas ngập ngừng mỉm cười. “Mẹ tưởng tượng cả một cuộc sống đầy đủ cho con, ở một nơi mẹ chưa bao giờ nhìn thấy”.

Elissande luôn biết rằng người đàn bà trước mặt cô yêu cô, nhưng cô chưa bao giờ biết tình yêu đó nhiều đến như thế nào. “Một cuộc sống thật tuyệt vời”, cô nghẹn lời. “Gần tuyệt vời như cuộc đời của con với ngài Vere”. Bà Douglas nắm tay cô. “Con là một người may mắn, Ellie ạ”. Cuộc hôn nhân của cô là một điều đáng xấu hổ, chồng cô sẵn sàng trả một số tiền lớn để không bao giờ phải nhìn thấy cô nữa. Và người đàn ông cô khinh miệt nhất lại hóa thành cha cô, cô vẫn còn quá tê liệt để hiểu được cơn biến động này. Nhưng bà Douglas không sai. Elissande là người may mắn: Cô vẫn có mẹ, an toàn và khỏe mạnh.

Cô nghiêng người về phía trước và hôn lên trán mẹ. “Vâng, và con biết rất rõ điều đó”. Vere dõi mắt theo con tàu mang vợ anh biến mất trong đêm tối. Anh nghĩ anh đã biết tường tận mọi điều quanh co ngoắt ngoéo về trường hợp của Douglas. Nhưng những khám phá tối nay vẫn làm anh rúng động tâm can.

Cô có rối loạn không? Cô có chối bỏ không? Thậm chí là cô có hiểu được mọi chuyện đã xảy ra hay không? Thay vì cho phép mình bị cuốn hút bởi những bí mật chưa được tiết lộ, anh nên cảm thấy tai họa sắp xảy đến. Anh nên sử dụng thuốc mê nhanh hơn. Nếu anh hành động sớm hơn một phút, anh có thể bảo vệ được niềm vui sướng vì không biết sự thật của cô. Cô đã cực kỳ vui vẻ - thế giới ảm đạm, xấu xa này thật mới mẻ và xinh đẹp trong mắt cô. Một lần ở bữa tối, cô đã kể lại sự kinh ngạc của dì cô trong chuyến đi Dartmouth. Và anh suýt nữa đã bình luận về sự kinh ngạc anh nhìn thấy trên khuôn mặt cô mỗi ngày, cô tìm thấy niềm vui không thể tin được từ những thứ nhỏ nhặt nhất.

Cuối cùng, anh đã không nói gì. Niềm vui của cô làm anh bất an: Nó là một ngọn lửa, một ngọn lửa nguy hiểm mà anh sợ rằng nó sẽ thiêu cháy anh nếu anh ngu ngốc lao vào nó. Cho đến lúc này anh không biết rằng anh đã nghĩ nó đẹp đẽ đến mức nào. Anh đã trân trọng nó ra sao. Anh đã không dám nhận lấy niềm hạnh phúc như thế cho mình, anh không xứng đáng, nhưng anh muốn cô có được nó. Niềm vui của cô là niềm vui tinh khiết phải khó khăn lắm mới có được. Và anh cảm thấy nó tan vỡ bên trong anh, những mảnh vỡ của nỗi đau đâm thủng mọi hơi thở của anh. Khi anh trở lại ngôi nhà Douglas đã chọn để thực hiện kế hoạch của mình, Holbrook, cũng ăn mặc như một người đánh xe, đang đứng gác dưới ánh đèn đường hiu hắt.

“Người của chúng ta đã đến rồi”, anh ta nói thay cho lời chào. Vere gật đầu. “Tôi sẽ thay quần áo và chúng ta sẽ mang hắn đi”. Anh thay quần áo ở trong nhà. Sau đó cùng Holbrook mang Douglas, vẫn còn bị trói chặt, vào cỗ xe hai bánh của Holbrook. Holbrook leo lên ghế đánh xe; Vere trèo vào trong xe và ngồi cạnh Douglas.

“Vậy là, cậu là con rể của ta”, Douglas nói. Vere cảm thấy sởn gai ốc khi người đàn ông này mở miệng nói. “Hả?” anh nói. “Không, không, tôi kết hôn với cháu gái của vợ ông”. “Cậu không hiểu những gì đã nghe thấy trong tối nay sao? Con bé không phải là cháu gái của vợ ta. Nó là con gái ta”.

Vere đờ đẫn nhìn Douglas. “Bị vỡ đầu rồi, phải không?” Douglas cười phá lên. “Ta phải nói thật là, phần nào ta cũng rất thích thú khi nó kết hôn với một thằng ngốc”. “Tôi không phải một thằng ngốc”, Vere lặng lẽ nói, hối hận khủng khiếp vì đã không đập người đàn ông này nhừ tử khi anh có cơ hội.

“Không? Thế thì hãy biết rằng: Nó là con gái ta. Ta biết nó. Ta biết nó gài bẫy cậu. Nó thông minh và cũng tàn nhẫn như ác quỷ. Nó sẽ sử dụng cậu cho đến khi cậu không còn gì để cho, và ai biết được, có lẽ nó sẽ giũ bỏ cậu”. Sự hèn hạ của người đàn ông này không bao giờ làm người khác hết ngạc nhiên. Những ngón tay Vere siết chặt thành một nắm đấm. “Làm sao ông có thể nói những điều như thế về chính con gái mình?” “Bởi vì đó là sự thật. Nó đã học được rất nhiều từ ta, một kẻ cơ hội bậc nhất. Cậu nghĩ là tại sao? Thứ lỗi cho ta, cậu không biết nghĩ, ta quên mất. Chà, ta cảm thấy thương hại cậu, đồ vụng về ngớ ngẩn”.

“Gì cơ?” Vere nói. “Đồ ngốc nghếch ngớ ngẩn”. Vere đấm vào mặt ông ta, gần như làm vỡ cả bàn tay mình với sức mạnh của cú đấm. Douglas rú lên đau đớn, toàn bộ cơ thể ông ta rúng động.

“Xin lỗi”, Vere vừa nói vừa mỉm cười khi thấy Douglas rùng mình trước giọng nói của anh. “Tôi làm thế khi người ta gọi tôi là ngốc nghếch. Ông đang nói gì nhỉ?” “Tôi muốn chắc chắn rằng mình đã hiểu đúng ngài, ngài Vere. Ngài đang ngồi trong một quán rượu ở Dartmouth. Quý ông này ngồi xuống và mua cho ngài một chầu rượu. Sau khi uống xong ngài thấy mình mơ màng và choáng váng, rồi đồng ý cùng ông ta đi xem một điền trang đẹp ở Exeter. Ngài thức dậy trên sàn nhà của một ngôi nhà hoang, nhận ra rằng mình đã bị bắt cóc. Ngài chế ngự kẻ bắt cóc mình khi hắn ta mang bánh mì và nước đến, và mang hắn ta đến đây?” Thám tử Nevinson hỏi. Ông ta đang ở đồn cảnh sát, sau khi nhận được bức điện Vere đã gửi từ Paignton. Chết tiệt cái vai diễn không bao giờ kết thúc này. Vere muốn được ở nhà – đêm nay vợ anh không nên ở một mình.

“Phải”, anh nói. “Tôi là người mà anh gọi là, à, không phải nữ thừa kế, tôi biết đó là một phụ nữ, nhưng một người đàn ông có tài sản thừa kế gọi là gì?” “Ngài là một người giàu có”, Nevinson nói, mắt đảo tròn. “Đúng vậy. Và vì thế, tôi biết mình bị đe dọa vì tiền. Và thằng khốn kia, thứ lỗi cho ngôn ngữ của tôi, kẻ bị trói kia đã cả gan nói rằng hắn sẽ giam giữ tôi để vợ tôi phải liên tục giao cho hắn hàng nghìn bảng. Ngay cả phép xã giao đúng đắn để đòi tiền chuộc cũng không biết, đúng không? À, cảm ơn ngài”, anh nói với thanh tra trưởng của Cảnh sát Thành phố Exeter, ông ta đang đưa cho anh một tách trà đen, đậm. “Thứ này thật tốt, thanh tra. Khó có thể thích được loại Ceylon mà các quý cô vẫn yêu thích”.

Nevinson lắc đầu. “Thưa ngài, ngài có biết ngài vừa bắt ai không?” “Tất nhiên là không. Nói với ông rồi, chưa bao giờ nhìn thấy hắn trước đây”. “Tên ông ta là Edmund Douglas. Nghe quen không?”

“Chúa lòng lành, tôi đã bị tay thợ may của mình bắt sao!” “Không!” Nevinson gào lên. Ông ta lấy một hơi thở sâu và nuốt xuống một miệng trà. “Người đàn ông đó là chú của vợ ngài”. “Điều đó là không thể. Chú vợ tôi đang ở Holloway”.

“Ông ta đã bỏ trốn khỏi Holloway”. “Thế à?” “Đó là lý do ông ta muốn ngài. Không phải vì ngài là một người giàu có, thưa ngài, mà vì ngài là cháu rể ông ta”.

“Thế tại sao ông ta không giới thiệu mình?” “À, dù gì thì”, thanh tra trưởng nói, “Ngài đã bắt ông ta về đây, thưa ngài, và giúp mọi người thoát khỏi một cuộc săn lùng kéo dài. Ít nhất là, tôi nghĩ việc này đáng uống gì hơn là trà. Có lẽ, một chút uýt-ki nhé, thám tử?” “Làm ơn”, Nevinson nhiệt tình hưởng ứng.

Một trung sĩ cảnh sát vội vã đi vào phòng thanh tra trưởng. “Xin lỗi đã làm phiền các ngài, nhưng người đàn ông hầu tước vừa bắt đã chết rồi”. Nevinson há hốc miệng. Vere nhảy lên, hất đổ chiếc ghế đang ngồi. “Tôi không giết ông ta”. “Tất nhiên ngài không giết ông ta”, Nevinson sốt ruột nói. “Chuyện gì xảy ra, trung sĩ?”

“Chúng tôi không chắc, thưa ngài. Ông ta hoàn toàn khỏe mạnh. Rồi ông ta hỏi xin nước. Cảnh sát Brown đưa nước cho ông ta. Năm phút sau, khi cảnh sát Brown đến lấy cái cốc, ông ta đang nằm trên giường, đã chết”. Họ chạy vội đến phòng giam của Douglas. Douglas nằm nghiêng, như đang ngủ, nhưng hoàn toàn không có mạch đập. “Sao chuyện này xảy ra được?” Vere hét lên. “Ông ta chết bất đắc kỳ tử à?”

“Có vẻ là đã dùng xyanua hoặc stricnin”. Nevinson vỗ vào người Douglas. “Trên người ông ta không có gì ngoài một ít tiền và một chiếc đồng hồ”. “Ông có nghĩ ông ta giữ thuốc độc trong đồng hồ không?” Vere hỏi, mắt mở lớn. “Cái đó…”, Nevinson dừng lại. Ông ta dò dẫm chiếc đồng hồ; mặt đồng hồ bật mở để lộ một ngăn bí mật. “Ngài đã đúng: Còn nhiều viên thuốc nữa. Đủ để giết ba người, nếu nó là thuốc độc”.

Một cơn ớn lạnh chạy thẳng xuống xương sống Vere. Có lẽ Douglas đã dự định đầu độc vợ mình cùng bản thân. Hoặc có lẽ chúng đều để dành cho bà Douglas, sự trả thù cuối cùng, đã bị trì hoãn bấy lâu nay. Và có lẽ cũng đủ cho cả Elissande. Máu Vere lạnh đi, mặc dù bây giờ nguy hiểm đã qua. “Tôi cho rằng ông ta biết lần này sẽ không thoát được”, Nevinson nói. “Chúng ta đã có đủ chứng cớ. Ông ta đang tiến gần đến giá treo cổ rồi”.

Đối với một người đàn ông tìm cách làm chủ số mệnh của mình bằng bất kỳ thủ đoạn nào, ý nghĩ bị áp đặt cái chết hẳn là không thể chịu đựng được. Nhưng ít nhất giờ đây ông ta không bao giờ có thể làm hại Elissande và mẹ cô nữa. Suy nghĩ ấy không mang đến sự nhẹ nhõm như Vere đã hy vọng. Đối với những tổn hại Douglas đã gây ra trong ngày hôm nay, và trong toàn bộ cuộc đời vô nghĩa của ông ta, ông ta lẽ ra phải chịu tất cả những đau đớn mà cơ thể con người có thể cảm nhận được trước khi chết trong nhục nhã công khai. “Và xem này”. Nevinson đặt chiếc đồng hồ xuống sàn nhà và cho họ thấy một cái túi nhỏ. “Bên trong vẫn còn hai viên kim cương. Đó hẳn là cách ông ta đã mua chuộc tay gác tù để trốn thoát”.

Trong khi vị thám tử và thanh tra trưởng kiểm tra những viên kim cương, Vere cầm chiếc đồng hồ lên và kín đáo lần mò nó lần nữa. Đây rồi, ngăn bí mật thứ hai, và bên trong, một chiếc chìa khóa tí hon khác. Anh cho chiếc chìa khóa vào túi và đưa chiếc đồng hồ lại cho Nevinson. “Thật là, ông ta không cần tự tử. Tôi sẽ có lời xin khoan hồng với quan tòa. Đàn ông giàu có là những mục tiêu hấp dẫn. Và sau cùng thì, ông ta là chú tôi”. Elissande bất ngờ đến không thở nổi.

Cô đã cố gắng hít thở sâu trên chuyến tàu về nhà, cho đến khi đưa mẹ mình vào giường. Cuối cùng cô đã ở một mình, nằm trên chiếc trường kỷ trong phòng khách, một miếng gạc đặt trên mặt, một miếng khác đang được làm lạnh trong chậu nước đựng một miếng đá lấy từ hầm đá, phổi cô mở ra và thu lại như chúng phải thế. Nhưng bây giờ cô đang bật dậy, hất miếng gạc xuống sàn nhà. Bây giờ cô đang giật cổ áo. Bây giờ bàn tay của chú cô lại đang siết chặt quanh cổ cô, chặn hết nguồn không khí mà không hề thương tiếc, không hề dao động. Cô thở hổn hển và gấp gáp. Cô há rộng miệng và nuốt xuống lượng ôxy ít ỏi còn lại trong phòng.

Nhưng cô vẫn không lấy đủ không khí. Đầu cô quay cuồng; ngón tay tê cứng; môi râm ran một cách kỳ lạ. Cô thở nhanh hơn và sâu hơn. Ngực nhức nhối. Mắt nổ đom đóm. Có âm thanh ở bên ngoài nhà. Có phải là một cỗ xe không? Là ai đang mở cửa chính? Cô không thể nhận ra bất cứ điều gì. Cô chỉ có thể gập người lại và nhét đầu giữa hai đầu gối, vật lộn để không bất tỉnh. Tiếng bước chân – cô không còn một mình nữa.

“Thở chậm lại, Elissande”, anh hướng dẫn, và ngồi xuống cạnh cô. “Em phải kiểm soát hơi thở của mình”. Anh vuốt tóc cô, hơi ấm từ cái vuốt ve của anh dễ chịu như một chiếc khăn lụa cashmere. Nhưng lời nói của anh không có nghĩa gì – cô cần không khí. “Hít vào thật chậm, và không quá sâu. Rồi thở ra như thế.” Bàn tay anh lúc này ở trên lưng cô, một sức ép tinh tế trấn tĩnh cô.

Cô làm như anh nói. Chẳng mấy chốc cô nhận thấy rõ rành là anh đã đúng. Kiểm soát lượng không khí hít vào đã xoa dịu thần kinh của cô, một hành động ngược lại hoàn toàn với hiểu biết của cô. Sự tê liệt và râm ran biến mất; cái gọng kìm trong ngực cô tan đi cùng với sự kích động trong đầu cô. Anh giúp cô ngồi thẳng dậy. Mắt cô vẫn còn hơi đau ở khóe mắt, nhưng cô không còn thấy những chấm sáng nhảy múa, cô chỉ nhìn thấy anh. Anh có vẻ mệt mỏi, mặt anh hơi nhăn nhó, nhưng ánh mắt anh điềm tĩnh và dịu dàng. “Tốt hơn chưa?” Anh hỏi.

“Rồi, cám ơn anh”. Nhưng ngón tay anh chỉ khẽ chạm vào cô, anh quay mặt cô lại để xem xét nó. “Những vết bầm sẽ trở nên xấu xí. Em nên ở trên giường, hôm nay là một ngày rất dài”. Có phải mới chỉ sáng nay cô đã thức dậy trong niềm lạc quan bao la về tương lai, với sự chắc chắn rằng mọi mảnh ghép trong cuộc đời cô đã xếp vào đúng chỗ? Làm sao nó có thể bị phá hủy tan hoang như thế này trong khoảng thời gian ít ỏi như thế?

“Em ổn rồi”, cô máy móc lẩm bẩm. “Thật không?” Cô không thể giữ ánh mắt anh. Mắt cô rơi xuống tay mình. “Ông ta quay lại nhà tù chưa?”

“Ông ta đã”. Cằm cô ngẩng phắt lên. “Đã?” Anh ngập ngừng.

Bàn tay cô siết chặt tay ghế uốn cong của chiếc trường kỷ. “Ông ta lại trốn thoát rồi à? Làm ơn nói với em rằng ông ta không trốn thoát lần nữa đi!” Chồng cô nhìn đi chỗ khác một lúc. Khi anh quay lại với cô, ánh mắt anh có vẻ trống rỗng nào đó. “Ông ta chết rồi, Elissande. Ông ta tự tử ở đồn cảnh sát. Bằng thuốc độc, có thể là xyanua. Chúng ta sẽ phải đợi bản báo cáo của nhân viên điều tra để biết chính xác ông ta đã chết vì cái gì”. Cô hơi hé miệng. Hơi thở cô lại loạn nhịp và không đều.

“Chậm lại”, anh phải nói với cô, bàn tay giữ chặt tay cô. “Nếu không em có thể bị choáng váng lần nữa”. Cô đếm khi đang thở. Cô buộc cơ hoành phải tuân lời, nhưng bên trong lồng ngực, trái tim cô đập tán loạn vì sốc. “Anh… anh có chắc đó không phải là một mưu mẹo không?”

“Anh đích thân ở đó. Ông ta chết giống như những nạn nhân của mình”. Cô đứng lên, cô không thể ngồi thêm nữa. “Vậy là ông ta không thể đối mặt với hậu quả của những hành động mình đã gây ra”, cô nói, giọng cay đắng. “Không, ông ta không thể. Ông ta là một kẻ cực kỳ hèn nhát”.

Cô ấn hai ngón tay vào giữa lông mày, thật mạnh, nó đau. Nhưng không có gì đau đớn nhiều như sự thật. “Và ông ta là cha em”. Mọi thứ cô tin là của mình đã lộn ngược lại. Thứ gì đó ấn vào tay cô, một ly uýt-ki đầy ắp. Cô muốn bật cười: ngài Vere đã quên khả năng uống rượu hạn chế của cô rồi sao? Thay vào đó cô phải cắn môi để ép nước mắt chảy ngược lại.

“Ông ta tận dụng mọi cơ hội để lăng mạ Andrew và Charlotte Edgerton trước mặt em. Em hiểu rằng ngay cả khi hai người đó được phán xét một cách tử tế nhất, mọi người vẫn sẽ thấy Charlotte Edgerton là người buông thả và chồng bà ngu ngốc. Nhưng…” Cô chớp mắt. “Nhưng em yêu họ, em tin rằng họ thật mạnh mẽ và vĩ đại. Em tưởng tượng rằng khi họ trút hơi thở cuối cùng, niềm hối tiếc lớn nhất của họ là không thể nhìn thấy em trưởng thành”. Thay vì thế, khi cha cô trút hơi thở cuối cùng, niềm hối tiếc lớn nhất của ông ta là không thể hành hạ Elissande và mẹ cô theo đúng ý mình nữa.

Ý nghĩ đó thiêu đốt cô. Thay vì là Andrew Edgerton phóng khoáng, tình cảm và bốc đồng, cha cô lại là người vui sướng trước khả năng cô phải nuôi một đàn con thiểu năng. Cô nhìn thấy hình ảnh phản chiếu của mình trong chiếc gương trên tường. Chồng cô đã sai. Những vết bầm của cô không phải sẽ xấu xí, mà chúng đã xấu xí: những đường viền đỏ đã chuyển sang tím, một vết cắt chéo qua môi, một mắt sưng vù lên đến mức gần như không thể nhìn thấy được nữa. Chính người cha ruột đã làm điều này với cô, với sự hả hê rõ rệt trước nỗi đau và vết thương của cô.

Cô đã tin rằng tự do là trốn thoát khỏi Highgate Court về mặt thể xác. Nhưng làm thế nào cô trốn thoát được chuyện này? Chừng nào cô còn sống, dòng máu của Edmund Douglas vẫn chảy trong cô, một nhắc nhở hàng ngày về mối ràng buộc máu mủ không thể phá vỡ, trói buộc cô mãi mãi vào ông ta. Cô quay đi khỏi chiếc gương, nhét ly uýt-ki trở lại tay chồng mình và đi ra cửa. Cô lên cầu thang, đi theo hành lang dẫn đến phòng mình. Cô mở hộp châu báu và lấy tất cả những vật kỷ niệm cô đã quá trân trọng trong tất cả những năm qua ra. “Elissande, đừng làm gì vội vã”, Vere nói.

Cô đã không nghe thấy anh, anh đã ở trong phòng với cô từ lúc nào. “Em sẽ không hủy hoại chúng”. Những vật kỷ niệm này không còn ý nghĩa như xưa đối với cô. Nhìn chúng giống như tự cầm một con dao đâm vào tim mình. Nó gợi cho cô nhớ đến cuộc đời mà cô đã tin là cô có thể có nếu như Andrew và Charlotte Edgerton còn sống, mẹ cô sẽ vẫn muốn có vài vật lưu niệm để nhớ đến chị gái mình. “Em chỉ muốn đốt chiếc hộp này”. “Tại sao?”

“Có một ngăn bí mật trong nắp hộp. Khi em còn nhỏ ông ta cho em xem những chiếc chìa khóa và nói rằng một ngày nào đó em sẽ tìm thấy chúng. Bây giờ em biết trong đó có thứ gì rồi”. Cô phải siết chặt răng để chống lại một cơn ghê tởm trào dâng; cô cảm thấy thật bẩn thỉu. “Nó chắc hẳn là cuốn nhật ký của ông ta”. Và bức tranh đã treo trong phòng cô ở Highgate Court, với bông hồng đỏ có gai mọc lên từ vũng máu của ông ta, nó không phải là gợi ý cho cô ngay từ đầu sao? “Chiếc hộp sẽ sinh ra nhiều khói trong lò sưởi”, chồng cô nói. “Anh có chìa khóa mở. Sao không để anh thử mở nó?”

Cô nhìn chằm chằm vào anh; cô đã quên mất lĩnh vực chuyên môn của anh. “Anh tìm thấy chìa khóa ở đâu và khi nào?” “Một chiếc trong ngăn bí mật ở Highgate Court, khi chúng ta trở lại sau đám cưới, chiếc thứ hai tìm thấy trên người Douglas tối nay”. Anh bỏ về phòng mình để lấy chiếc chìa khóa kia. Cô đặt chiếc hộp trên bàn trang điểm. Anh đút chìa khóa vào và xoay hai chiếc cùng một lúc. Đáy nắp hộp bật mở khoảng một xentimet. Anh cẩn thận kéo nó xuống cho đến khi một gói nhỏ bọc vải rơi vào lòng bàn tay.

Miếng vải bọc xanh lơ mở ra để lộ một cuốn sách bọc da, với chữ viết tắt G.F.C. khắc ở một góc. “Ở đây có một lá thư gửi cho em”. “Nó viết gì?” Cô không muốn chạm vào thứ gì đã nằm trong bàn tay của Douglas.

“ ‘Elissande thân yêu của ta, Christabel Douglas chưa bao giờ chết. Hỏi bà Douglas xem chuyện gì xảy ra với nó. Và…’ ”, chồng cô dừng lại, liếc nhìn cô. “ ‘Và mong sao ta sẽ sống mãi trong ký ức của con. Cha của con, George Fairborn Carruthers’ ”. Cứ như thể Douglas lại đấm cô lần nữa. Ít nhất anh không cần phải hối tiếc vì đã không làm ông ta câm lặng bằng thuốc mê sớm hơn. Ông ta luôn định liệu để có được tiếng cười cuối cùng từ dưới mộ. Cô giật cuốn nhật ký từ bàn tay Vere và ném nó qua phòng. “Chúa nguyền rủa ông ta!”

Nước mắt cô đã cố kìm lại đang tuôn tràn xuống mặt cô. Chúng bỏng rát nơi Douglas đã đánh cô. “Elissande…” “Đó thậm chí còn không phải là tên em”.

Cô đã luôn yêu tên mình, cái tên kết hợp từ Eleanor và Cassandra, tên của mẹ Charlotte và Andrew Edgerton. Cô yêu quý sự quan tâm và suy tư đã dồn vào sự sáng tạo nó; những âm tiết là lạ đầy nhịp điệu; những nguyện vọng mà Charlotte và Andrew Edgerton ắt hẳn mong muốn cho con gái mình khi ban tặng một cái tên tuyệt đẹp như thế cho cô ấy, một cái tên không phải mọi cô gái đều có thể có được. Phần lớn cuộc đời cô đã sôi sục trong sự bất lực. Nhưng cô chưa bao giờ cảm thấy bất lực như lúc này – bị tước đoạt mọi thứ đã từng quan trọng với cô. Sau lưng, chồng cô đặt tay lên cánh tay cô. Sau đó, rất nhẹ nhàng, anh vòng tay quanh eo cô và giữ cô sát vào anh.

Và cô khóc cho tất cả những giấc mơ tan vỡ của mình. Khi cô không còn nước mắt nữa, anh cởi váy và mặc váy ngủ cho cô. Rồi anh bế cô lên, đưa vào giường và đắp chăn cho cô. Anh tắt hết đèn và rời khỏi phòng cô. Cô nằm mở mắt, nhìn chằm chằm vào bóng tối, ước gì mình đã không quá kiêu hãnh để xin anh ở lại lâu hơn một chút. Nhưng trước sự nhẹ nhõm của cô – và một khoảng khắc hạnh phúc ngọt ngào và cay đắng – anh trở lại ngay sau đó.

“Em khát không?” anh hỏi. Cô khát. Anh ấn một cốc nước vào bàn tay cô, đó là thứ mà anh vừa đi để lấy. Cô uống gần hết và cảm ơn anh. Anh kéo một chiếc ghế vào cạnh giường cô và ngồi xuống. Có lẽ anh đúng. Có lẽ cô luôn biết ơn những lòng tốt nho nhỏ người khác thể hiện với cô. Nhưng ở lại với cô trong đêm đen tối nhất của cuộc đời không phải chỉ đơn giản là một lòng tốt nho nhỏ.

Anh nắm tay cô. “Elissande”. Cô kiệt sức đến nỗi không thể nhắc anh rằng Elissande không phải tên cô. Như thể anh nghe thấy cô, anh nói, “Nó là một cái tên đẹp, cùng với cái tên đó, mẹ em đã làm lễ rửa tội lại cho em”.

Trái tim cô lỡ nhịp. Cô đã không nghĩ như thế. “Nó đẹp vì tất cả những hy vọng bà đã gom góp cho nó, hành động dũng cảm nhất trong cuộc đời nhút nhát. Hành động che giấu con gái mình là minh chứng cho tình yêu bà dành cho em”. Cô tin rằng cô không còn nước mắt nữa. Nhưng mắt cô lại nhức nhối khi cô nhớ đến lòng dũng cảm tuyệt vọng của mẹ mình.

“Đừng quên nó, Elissande”. Nước mắt trào ra từ khóe mắt cô, qua thái dương và chảy vào tóc cô. “Em sẽ không quên”, cô lẩm bẩm. Anh đưa cho cô một chiếc khăn tay. Cô giữ chặt nó và bàn tay kia cô giữ chặt bàn tay anh.

Ngón tay cái của anh xoa trên mu bàn tay cô. “Khi anh đọc cách tổng hợp kim cương nhân tạo, mọi bài báo đều nói đến một thực tế rằng kim cương chỉ được hình thành từ carbon, cùng loại với grafit và than. Douglas là cha em, anh không tranh cãi điều đó. Nhưng trong khi ông ta chỉ là một tảng than, thì em lại là một viên kim cương qua nước đầu tiên”. Cô khó có thể là thế. Cô là một kẻ dối trá và mưu mẹo. “Mẹ em sẽ không sống đến ngày hôm nay nếu không phải vì em, anh không hề nghi ngờ điều đó. Khi bà ấy bất lực, em đã bảo vệ bà ấy”.

“Làm sao em có thể không làm thế? Bà ấy cần em”. “Không phải mọi người đều che chở cho những người yếu đuối. Em sẽ được lợi nhiều hơn nếu nịnh bợ Douglas, hoặc em có thể bỏ đi một mình. Để làm điều đúng đắn cần phải có đạo đức”. Cô cắn môi. “Cứ nói tiếp đi và em sẽ nhanh chóng tin rằng mình là hình mẫu của đức hạnh”.

Anh cười tắc nghẹn. “Em không phải thế, và có thể không bao giờ là thế. Nhưng em có sức mạnh và lòng trắc ẩn, những điều mà Douglas không hiểu và không có chút nào”. Anh lau đi vệt ướt ở thái dương cô, cái vuốt ve của anh nhẹ và thận trọng như nét vẽ của họa sĩ đang vẽ tranh tiểu họa. “Anh đã quan sát em trong những ngày qua. Một đời sống dưới sự đàn áp của Douglas có thể dễ dàng khiến em cay đắng, sợ hãi và oán giận. Nhưng em vẫn sáng rực rỡ. Đừng để ông ta lấy nó khỏi em. Thay vì thế hãy cười vào mặt ông ta. Kết bạn, đọc sách, đưa mẹ em đi dự tiệc. Hãy cho ông ta nhìn thấy cuộc sống của em tràn ngập niềm vui. Hãy để ông ta thấy rằng ngay cả khi ông ta dành cả đời để hủy hoại cuộc đời em, ông ta vẫn thất bại”.

Thêm nước mắt đổ vào tóc cô. Bà Douglas đã đúng: Elissande là người may mắn. Người đàn ông cô đã đối xử tệ hại nhất lại hóa ra là một người bạn thực sự. Cô nghĩ về mẹ cô, bình an vô sự nằm trong phòng, không bao giờ bị ngược đãi nữa. Cô nghĩ về bản thân: vẫn làm chủ chính mình, điều đó sẽ không thay đổi. Cô nghĩ về bình minh đang đến, ngay cả đêm tăm tối nhất cũng không tồn tại mãi mãi, và ngạc nhiên khi cảm thấy khao khát muốn ngắm mặt trời mọc. “Anh nói đúng”, cô nói. “Em sẽ không để ông ta hủy hoại em từ dưới mồ, cũng như em chưa bao giờ cho phép ông ta lấy đi một mảnh linh hồn nào của em khi ông ta còn sống”.

Khi Vere mười sáu tuổi, anh và Freddie được gọi về từ trường Eton để gặp cha mình khi ông đang trong những giờ phút cuối của cuộc đời mình. Là một người đàn ông đang hấp hối nhưng hầu tước vẫn không bớt cay độc hơn ngày thường. Mặc dù có mặt Freddie ở trong phòng, ông ta ra lệnh cho Vere phải kết hôn sớm và sinh con nhanh, để không có khả năng tước hiệu và tài sản phải chuyển sang cho Freddie. Vere đã ngậm miệng bởi sự hiện diện của bác sĩ và y tá. Nhưng cho đến buổi tối anh càng thấy giận dữ hơn. Cuối cùng, khi đêm đã rất khuya, anh không thể chịu đựng thêm nữa. Cha anh có lẽ đang ở ngưỡng cửa của Thần chết nhưng ông ta cần phải được ai đó nói cho biết rằng ông ta là một kẻ đáng khinh và là một người cha tồi tệ.

Anh tiến đến phòng ngủ của hầu tước. Người y tá đang ngủ gật ở phòng bên cạnh nhưng cánh cửa phòng ngủ đang hé mở, ánh sáng và giọng nói rò rỉ đến lối đi. Anh ngó vào và nhận ra vị mục sư qua bộ lễ phục. “Nhưng… nhưng… nhưng, thưa ngài, làm như thế là giết người”, vị mục sự lắp bắp. “Chết tiệt, ta biết đẩy mụ ta xuống cầu thang là giết người”, hầu tước nói. “Nếu nó là một vụ tai nạn, ta đã không cần ông ở đây”.

Vere nhìn thấy màu đen. Anh siết lấy chân của một chiếc đèn tường để níu giữ. Tám năm trước, mẹ anh đã chết bởi một cú ngã cầu thang trong ngôi nhà Luân Đôn của hầu tước mà mọi người đều tin là do không may mắn. Bà thức khuya, uống hơi nhiều, gót giày nhảy của bà bị mắc kẹt, và bà trượt xuống. Cái chết của bà đã tàn phá Vere và Freddie. Máu của bà không có sự thuần khiết của người Noóc-măng mà cha anh quá tự hào có trong người mình; cha bà, cho dù giàu có tột đỉnh, trong mắt hầu tước cũng chỉ xếp hạng cao hơn người bán rong một chút. Nhưng bà không phải là một bông hoa héo. Là con của một người đàn ông cực kỳ giàu có, bà biết rất rõ rằng của hồi môn của bà sẽ trả nợ cho hầu tước và duy trì sự thịnh vượng của dinh thự. Và bà đã bảo vệ con mình, đặc biệt là Freddie, trước tính khí độc địa thường không đoán trước được của hầu tước.

Sự ghê tởm lẫn nhau giữa hầu tước và nữ hầu tước là điều ai cũng biết. Thói tiêu pha hoang phí của hầu tước đã lại làm khánh kiệt của hồi môn mà vợ mình mang theo sau khi kết hôn và ông ta lần nữa rơi vào nợ nần. Ông Woodbridge, ông ngoại của Vere không phải là người ngốc. Ông chu cấp cho nhu cầu của con gái mình: váy áo, trang sức, những chuyến du lịch nước ngoài để bà và con có thể tránh xa chồng. Nhưng bất chấp tất cả những căng thẳng trong gia đình, không ai từng nghi ngờ cái chết của bà có gì khuất tất. Hay ít nhất, không ai từng dám buộc tội hầu tước về chuyện ấy. Sáu tháng sau hầu tước tái hôn, lần này là một nữ thừa kế không giàu có bằng, và không có người cha vợ phiền toái. Và hồ sơ điều tra về cái chết của nữ hầu tước, mẹ anh đều khẳng định rằng đó là một tai nạn hết sức minh bạch và đơn giản.

Vì thế Vere đã tin, cho đến giây phút kinh khủng đó. Anh muốn trốn. Anh muốn chạy. Anh muốn đạp cửa xông vào và ngăn chặn nghi lễ đó. Nhưng anh đông cứng tại chỗ, không thể cử động một cơ bắp. “Tôi cho rằng ngài chắc hẳn đã ăn năn, thưa ngài?” vị mục sư hỏi, giọng ông ta rin rít. “Không, ta sẽ làm thế lần nữa nếu phải làm, ta không thể chịu đựng mụ ta thêm một phút nào nữa”, hầu tước nói. Ông ta cười, tiếng cười khò khè xấu xa. “Nhưng ta cho rằng chúng ta phải trải qua những nghi lễ, đúng không? Ta nói với ông rằng ta hối lỗi và ông nói với ta rằng mọi chuyện đều ổn thỏa trên trái đất màu xanh của Chúa”.

“Tôi không thể!” vị mục sư hét lên. “Tôi không thể bỏ qua hành động hay thái độ không ăn năn của ngài”. “Ông sẽ”, hầu tước nói, giọng ông ta không hề mủi lòng. “Hoặc cả thế giới này cuối cùng sẽ được biết rằng tại sao ông lại là một gã độc thân kiên quyết như thế. Thật xấu hổ, mục sư Somerville tằng tịu với một người đàn ông đã kết hôn, linh hồn của thằng cha đó sẽ bị nguyền rủa xuống địa ngục vĩnh viễn ngay cả khi ông tự nguyền rủa linh hồn của chính mình”. Vere quay người và bước đi. Anh không thể chịu được việc chứng kiến hầu tước đạt được ý muốn của mình lần cuối cùng, không thể sau khi ông ta đã được bỏ qua tội giết người.

Đám tang hầu tước diễn ra thật kinh khủng, người tham dự đông nghịt, tính cách cao ngạo và việc làm tốt của ông ta được tán dương đến tận nóc bởi những kẻ không biết hoặc không quan tâm ông ta thực sự là người như thế nào: một con quỷ hút máu. Đêm sau đám tang, Vere gặp ác mộng lần đầu tiên. Cho dù anh không hề nhìn thấy cảnh mẹ mình chết; bây giờ anh luôn tìm thấy bà lạnh giá và gãy nát ở chân cầu thang hết lần này đến lần khác. Ba tháng sau đó, Vere ngã quỵ và tâm sự với bà cô của anh là quý bà Jane.

Quý bà Jane lắng nghe với sự thông cảm và đầy cảm xúc. Và sau đó bà nói, “Bà rất tiếc. Chuyện này làm bà đau đớn khi nghe Freddie nói. Và nó cũng làm bà đau đớn không kém khi nghe cháu kể lần nữa”. Tiết lộ của bà làm Vere sửng sốt gần bằng sự thật đằng sau cái chết của mẹ anh. “Freddie biết? Nó biết và nó không nói với cháu?”

Quý bà Jane nhận ra sai lầm của mình nhưng đã quá muộn. Vere không cho phép bà rút lại lời nói. Cuối cùng bà cũng chịu thua. “Freddie lo lắng về phản ứng của cháu. Nó sợ rằng cháu có thể giết cha cháu nếu cháu biết, những gì bà biết về cháu cho thấy sự lo ngại đó không phải là không có lý”, quý bà Jane nói. “Bên cạnh đó, nó tin rằng cha cháu đã bị trừng phạt thích đáng”. Thế là câu chuyện tiếp tục, khi Freddie mười ba tuổi, một đêm anh đã đi đến phòng cha mình, hy vọng lấy trộm lại bức vẽ yêu thích đã bị hầu tước tịch thu. Tin rằng những âm thanh Freddie tạo ra báo hiệu sự xuất hiện của bóng ma người vợ trước, rõ ràng hầu tước đã rất hoảng sợ.

Vere không thể kìm chế được mình. Sao Freddie có thể ngu ngốc như thế, nghĩ rằng cha họ chịu đựng sự giày vò của hối hận, đừng nói là sợ hãi. Người đàn ông đe dọa phơi bày bí mật của vị mục sư đồng tính đã không hề ăn năn và không xứng đáng được bất kỳ ai tha thứ. Freddie đã biết từ hai năm trước, hai năm đủ để Vere có thể biến cuộc sống của cha mình thành địa ngục trần gian. Đối vối anh, thế mới là Công lý, nhưng Công lý đã không được thực hiện. Cơ hội đó đã bị cướp mất, mà không vì ai khác ngoài Freddie… Có lẽ quý bà Jane đã nhìn thấy tiềm năng thực sự trong Vere. Có lẽ bà chỉ mong rằng anh sẽ thôi lải nhải những lời nói rỗng tuếch về Sự thật và Công lý. Bất luận thế nào, bà đáp lại sự giãi bày của anh bằng một sự giãi bày của bà: Bà là một đặc vụ của Hoàng gia, công việc cả đời bà là tìm ra sự thật và khôi phục công lý. Với mẹ của Vere thì đã quá muộn. Nhưng có lẽ anh sẽ tìm thấy một chút an ủi bằng cách giúp đỡ những người khác?

Anh nói đồng ý ngay lập tức. Quý bà Jane đã khuyên anh nên đóng một vai nào đó, để mọi người không nhìn nhận anh một cách nghiêm túc, một điều cực kỳ có ích đối với một đặc vụ mật. Bà gợi ý anh đóng vai một kẻ ăn chơi trụy lạc. Vere phản đối. Anh chưa bao giờ là người quá nuông chiều ham muốn. Quan trọng hơn là, dù rất cô đơn, anh không muốn ở gần đám đông nhiều vào lúc này. Có ai từng nghe về một kẻ ăn chơi trụy lạc ẩn dật cơ chứ? “Cháu thà là một kẻ ngốc”, anh nói. Không lâu sau anh nhận ra rằng là một kẻ trụy lạc, ít ra anh có thể bày tỏ ý kiến của mình về nhiều vấn đề. Vai diễn một kẻ ngốc không cho phép anh được thoải mái như thế. Và anh càng diễn đạt, anh càng cô lập mình hơn.

Quý bà Jane khuyên rằng anh không nên quyết định ngay. Tuy nhiên, chính xác hai ngày sau, anh bị quăng khỏi ngựa. Anh ngay lập tức quyết định tận dụng tai nạn nghiêm trọng này, và lợi dụng sự hiện diện của Needlam đang là khách của quý bà Jane. Khi vị bác sĩ đã đóng con dấu chuyên môn y khoa tài giỏi vào tình trạng của Vere, không ai có thể nghi ngờ việc anh đã trải qua một cơn chấn động nghiêm trọng làm thay đổi cả cuộc đời. Những yêu cầu khách quan để đột ngột biến anh thành một kẻ ngốc đã có, anh có một lựa chọn khác để quyết định: Nói gì với Freddie? Nếu quý bà Jane không lỡ lời nói ra, anh đã có một quyết định rất khác. Anh và Freddie đã luôn thân thiết. Vì Freddie không thể nói dối, em anh cũng không phải làm thế trong tình huống này: hành động của Vere sẽ khiến tin đồn lan truyền. Nếu Freddie bị người khác nghi ngờ, em anh đơn giản có thể nói lại lời chẩn đoán của Needlam. Và lòng trung thành của Freddie đối với Vere đã nổi tiếng đến mức ngay cả nếu Freddie tiếp tục nói về sự thông minh đặc biệt của anh trai mình, những người nghe sẽ chỉ kết luận đó là do Freddie khó chấp nhận hiện thực mới.

Nhưng vì nghĩ rằng Freddie đã cướp mất cơ hội để anh trả thù cho mẹ, nên Vere đáp lại đặc ân đó và giữ bí mật mới cho riêng mình. Một lý do khiến Vere gắng sức chối bỏ tình yêu với vợ mình là vì kỹ năng đóng kịch và những lời nói dối trôi chảy của cô nhắc anh quá nhiều về bản thân. Nhưng chúng chỉ là sự tương đồng bề ngoài. Ở bên trong, anh là người đàn ông đã bị gục ngã ở tuổi mười sáu và chưa bao giờ hồi phục toàn vẹn trở lại, trong khi cô, cho dù không hoàn hảo đến đâu, vẫn sở hữu một khả năng phục hồi khiến anh nín thở.

Bàn tay cô vẫn nằm trong tay anh, những ngón tay cô thả lỏng trong giấc ngủ. Anh chỉ định ở lại cho đến khi cô ngủ thiếp đi, nhưng anh vẫn ở đây cho đến bình minh, canh gác những cơ ác mộng cho cô. Anh luôn muốn là một bức tường thành che chắn cô khỏi những cơn ác mộng. Suy nghĩ đó không làm anh ngạc nhiên nhiều như anh vẫn nghĩ, khi bây giờ anh đã thôi chối bỏ rằng anh yêu cô. Nhưng anh không xứng đáng với cô – chí ít là anh vẫn chưa xứng đáng, với tất cả sự giả dối và hèn nhát vẫn đang hủy hoại tính cách của anh.

Anh biết mình phải làm gì. Nhưng anh đã có được lòng dũng cảm và tính khiêm nhường chưa? Ước muốn đi bên cạnh và bảo vệ cô có mạnh mẽ hơn bản năng muốn co mình lại trước hiện thực và tiếp tục vai diễn lừa gạt đã trở thành cuộc đời anh không? Anh cảm thấy như thể anh đang đứng bên vách đá cao. Lùi một bước, tất cả sẽ an toàn và quen thuộc. Nhưng bước một bước về phía trước cần có một lòng tin đặc biệt, và anh là người đàn ông có rất ít lòng tin, đặc biệt là đối với chính mình. Nhưng anh muốn cô nhìn anh lần nữa như thể anh tràn đầy cơ hội. Như thể họ tràn đầy cơ hội.

Và để được như thế anh sẽ phải làm điều đúng đắn, bất chấp những khuyết điểm của mình..