Hôm nay bạn muốn đọc gì?

Một ngàn con đường quê - Phần kết “Những cây cầu ở quận Madison” - Chương 5

Chương 5.

Một lần nữa, lên đường Tiếng lốp cao su vo vo và cây cối chạy qua, dường như chúng chuyển động còn Harry đứng yên. Lại cảm thấy phấn chấn, lại lên đường, mặc dù các lớp mây tầng (Là các lớp mây dẹt tạo thành tầng nằm ngang, thường ở độ cao dưới 2400m, có màu xám sẫm) làm mọi vật tối om và trời mưa nhè nhẹ. Robert Kincaid đỗ lại ở công viên trung tâm ngay phía bắc sông Columbia. Mắt cá chân bị thương của ông cứng đờ trong suốt hai giờ qua và cần xoa bóp. Con Đường nhảy xuống và ngửi ngửi cỏ, cây cối, và những chỗ ăn uống ngoài trời, nó lê chân đánh dấu lãnh thổ mà nó sẽ không bao giờ gặp lại.

Kincaid chầm chậm đi qua lớp cỏ ướt, vươn tay xuống xoa bóp mắt cá chân, đi thêm ít nữa cho đến khi cảm thấy mắt cá đã linh hoạt và gần như bình thường. Mười lăm phút sau, ông khẽ huýt sáo để Con Đường biết đến lúc lên xe. Ông mở cửa xe cho con chó nhảy vào, và đi vòng sang phía ghế lái xe, bước thoải mái vào trong xe theo kiểu sải bước mà ông quen làm từ gần ba chục năm nay. Nếu không có mắt cá chân bị thương và những cơn chóng mặt bất chợt, bắt đầu đến đều đều trong vài tháng gần đây, thì Robert Kincaid sẽ cảm thấy mình khỏe khoắn như hai chục năm trước, ông vẫn rắn rỏi và mảnh dẻ, kết quả của sự rèn luyện và chế độ ăn kiêng vừa phải. Ban đầu ông bỏ qua cơn choáng váng, tưởng đấy là tái diễn bệnh ông bị nhiễm ở Ấn Độ từ nhiều năm trước, một thứ virus ảnh hưởng đến tai trong. Hồi bị bệnh đó, ông đã phải nằm liệt giường bốn ngày liền tại một làng quê ở Mysore, bị chóng mặt đến mức không thể đứng dậy và phải bò đến cái hố trên sàn nhà dùng làm hố xí.

Hai tháng trước, một bác sĩ ở Seattle đã đút tay vào túi áo choàng trắng và ngắm Robert Kincaid ngồi bên bàn khám. Từ khi bị vỡ mắt cá chân chín năm trước, Kincaid không hề đi khám bệnh lần nào. - Tôi không thể nói chắc cái gì đã gây nên cơn chóng mặt cho ông. Có thể là nhiều thứ ông đã nhiễm ở Ấn Độ. Song, chuyện đó đã qua từ nhiều năm trước, các triệu chứng hiện tại của ông đến rồi đi, làm tôi cho rằng ông gặp vấn đề về hệ tuần hoàn. Với một người ở tuổi ông, cân nặng của ông rất tốt và nói chung tình trạng tổng thể về sức khỏe là tuyệt vời. Nhưng vì Chúa, ông đừng hút thuốc nữa. Đấy là việc đầu tiên. Ông bị chóng mặt có kèm theo đau đớn gì không ? - Không nhiều lắm, - Kincaid nói. - Thỉnh thoáng, tôi hơi khó chịu ở ngực.

- Chúng tôi sẽ làm một số xér nghiệm để thử định bệnh của ông. Có thể ông bị một dạng viêm họng, bản thân nó không phải là bệnh mà đúng hơn là một tập hợp các triệu chứng, thường báo trước một cơn đau tim do một bệnh tiềm ẩn gây ra. Robert Kincaid cài khuy sơmi và cảm ơn bác sĩ. - Vậy, chúng ta sẽ làm gì đây ? - Bác sĩ hỏi.

- Không làm gì hết, - Robert Kincaid trả lời. - Tòi sẽ không làm phiền bác sĩ nữa. - Không làm gì ư ? Chắc là tôi có thể giúp ông, nhưng tôi cần kết quả của một số xét nghiệm nữa. Robert Kincaid không có tiền để làm xét nghiệm, và ông cũng không quan tâm gì đến chúng. Đối với ông, cuộc sống đến rồi đi. Với một số người, cuộc đời ngắn ngủi, với những người khác thì dài hơn, và hướng đi chính xác nằm ở đâu đó giữa sự sợ hãi đớn hèn và cú lao thẳng cảm tử.

Trong những ngày làm phóng viên chiến trường hồi Thế chiến II ở Thái Bình Dương, ông đã suýt chết vài lần. Trên tường nhà ông có một bức ảnh chụp các lính thủy đánh bộ đang nhảy khỏi máy bay, đổ bộ xuống đảo Betio, Tarawa Atoll tháng Mười một 1943, ngay sau chín giờ sáng. Sau đó là mệnh lệnh “Phải chụp được cảnh họ lên bờ, mẹ kiếp !”, Kincaid ở trong số những người đầu tiên rời thuyền, nhảy vào sóng trước các đội công kích. Để phim trong các túi không thấm nước, máy ảnh giơ cao, anh lội vào từ ngoài khơi cách bờ ba trăm mét. Con tàu Higgins dựa vào một tảng đá ngầm. Họ nhằm tới bãi biển Red One. Hầu hết trong số họ không tới được bờ cát. Tiếng súng máy và nước quanh anh bắn tung tóe, hàng loạt súng cối và đại bác 75 ly nổ tung. Hãy nhìn vào các bộ mặt trên những bức ảnh đó: nỗi sợ khủng khiếp, sợ đến nôn mửa của các chàng trai xa nhà, nhiều người trong số đó sắp chết, súng trường giơ lên trên đầu, đang lội vào bờ. Ở Betio, 291 mẫu tây cát san hô trộn với bê tông và các boongke bằng thân dừa, chỉ trong ba ngày Sư đoàn Lính thủy đánh bộ II thương vong gần ba ngàn người. Gần hết ngày thứ nhất, trợ lý của Kincaid, một cậu trai làng ở Nebraska đang quỳ trên cát nạp phim vào máy ảnh cách anh độ sáu chục phân, thì bị một viên đạn bắn tỉa găm vào trán và cậu ta bật ngửa ra sau, không kêu một tiếng. Rời phòng khám của bác sĩ, Kincaid đến chỗ xe tải trong bãi, trèo vào xe và châm một điếu Camel. Ngả người trên tay lái, mái tóc hoa râm dài rối bời như thường lệ, ông nói: “Mặc kệ nó”, rồi thẳng người lên và nổ máy chiếc Harry. Sau đó, ông nhớ tới những dòng thơ của e.e. cummings về bác sĩ và các vũ trụ khác, rồi vừa lái xe ra khỏi bãi, ông vừa cười một mình.

Robert Kincaid biết ông là người lỗi thời, sinh ra không đúng thời đại. Là vết tích của thứ đồ cũ, hiện không còn chức năng hoặc mục đích. Ông đặt mua dài hạn một tạp chí kỹ thuật nhiếp ảnh và một tờ báo địa phương, nhưng tivi luôn là thứ xa lạ với ông. Hai năm trước, trong lúc mua một cái quần jeans mới, ông dừng lại ở gian hàng điện tử trong cửa hàng bách hóa Seattle và trong vài phút, ngắm các games show đang mở cùng một lúc trên nhiều tivi kích thước khác nhau. Kincaid đứng đó chớp chớp mắt, dường như bị đánh thức khỏi một giấc ngủ dài và nhận ra những cuộc tấn công của một thế giới xa lạ, đang hú hét, rền rĩ. Người bán hàng tiến đến gần người đàn ông đeo dây quần màu cam và lễ phép hỏi ông có muốn mua một chiếc tivi không, và nói loại 25 insơ đang giảm giá hai mươi phần trăm. Kincaid quay lại và chớp chớp mắt với cậu thanh niên, ông cảm thấy mình mất phương hướng và hình như người đang nói với ông được nối với màn hình tivi bằng những sợi dây vô hình và bắn ra từ chính những máy móc đó. Đằng sau ông, các khán giả của game show la hét gì đó, hình như ở các cuộc thi. Người bán hàng liếc nhìn màn hình và nói:

- Những game show kiểu này, thế nào cũng kiếm được nhiều tiền và quà tặng. Kincaid cố nghĩ ra một câu gì đó trả lời, nhưng không thể. Ông vội rời cửa hàng, bụng nghĩ mới xa xôi làm sao, hình như từ ngày ông chạy ven Great Ice trong cuộc đời khác với ngọn giáo trong tay và rùng mình vì lạnh. Nhưng cái lạnh đó là thực và tự nhiên, không phải cái giá lạnh trên các bộ mặt quanh ông, trong tiếng ầm ầm của giao thông thành thị. Lúc ông ra khỏi cửa hàng, có ba thanh niên đang quay máy hát tự động trên vỉa hè, tiến thẳng đến chỗ ông. Một người xách cái máy chơi nhạc xách tay, trong lúc hai người kia cầm loa nối với máy. Robert Kincaid thấy tiếng nhạc kêu oang oang và không hiểu nổi. Trên đường về căn nhà ông đang sống, tại một hòn đảo trong eo biển Puget, ông đứng ở mũi phà, để mặc ngọn gió buốt giá và mưa quất thẳng vào người. * * *

Cuối buổi chiều, chuyển trời, Robert Kincaid sang sông Columbia ở Astoria, bang Oregon. Dưới nhịp cuốn cao của cây cầu, những cuộc mua bán bất lương trên sông và đại dương tấp nập trên mặt nước, ngay bên dưới bánh chiếc xe tải hai mươi bảy tuổi tên là Harry. - Trước kia đã có lần ta cưỡi xe máy qua đây lên phương bắc, Con Đường ạ, - ông nói với con chó đang thiu thiu ngủ trên ghế bên cạnh. Con Đường dỏng tai và nhìn Robert Kincaid, vẻ hơi chế nhạo.

- Đấy là năm 1945. Hồi ấy chưa xây cầu, phải đi phà từ Oregon sang Washington. Chiếc xe máy loại Ariel Square Four rất êm, mượt như da trẻ con từ chạy không tải đến tốc độ phù hợp. Ta đã mua nó bằng số tiền được trả khi xuất ngũ và không bao giờ muốn bán đi. Ta đến gần Big Sur, tìm nơi dừng chân lâu dài và trở lại làm việc. Đấy là tình trạng trước thời của mi, Con Đường ạ, hồi ấy ta trẻ hơn bây giờ nhiều, rất nhiều. Ông tìm thấy một cửa hàng tạp phẩm nhỏ, mua hoa quả, bánh mì, phó mát và rau đủ loại, ông vẫn tiếp tục sống theo chế độ ăn kiêng đơn giản, rẻ tiền đã duy trì liên tục nhiều thập kỷ. Người thu ngân chán ngán, nhìn xoáy lên trần trong lúc ông đếm 4,63 đô la tiền lẻ trong cái hộp cà phê. Viên quản lý một khách sạn loại ba, mặc quần nhung kẻ nhàu nhĩ và sơmi flanen, râu ria ba ngày không cạo, nói không muốn cho chó ở trong phòng, với điều kiện nó phải ngoan. Kincaid cam đoan với anh ta rằng Con Đường còn xử sự tử tế hơn nhiều người.

Viên quản lý nói: - Nói thế không quá đáng đâu ông ạ, và có khi còn là lời sỉ nhục con chó của ông đấy. Quản lý một khách sạn loại này một thời gian, ông sẽ có cái nhìn khá ảm đạm về thân phận con người. - Anh ta đẩy chiếc chìa khóa qua bàn. - Phòng số tám, qua cửa chính, rẽ trái. Robert Kincaid lại rong ruổi, và ngoài con chó ra, ông luôn lẻ loi. Ông và Con Đường ăn tối trong phòng, không nói gì với nhau trong lúc ăn. Chó gặm thức ăn, người ấn dao vào tảng phó mát. Sau đó đi dạo ở khu cảng, ngắm thuyền bè qua lại, con chó tìm ra nhiều thứ thú vị trong các thùng đựng nhiên liệu han gỉ và các cuộn dây. Harry nằm dài ở ô ba mươi trước khách sạn. Trong bãi không có xe nào khác.

Về phòng, Kincaid nằm trên sàn, xua Con Đường đang nhăm nhe định liếm mặt ông. Ông làm một loạt động tác giơ chân và tiếp theo là ba mươi cái chống đẩy. Sau cùng là hít thở một lát, ông cởi áo phông và quần soóc, xoa dầu Con Hổ lên mắt cá chân đau rồi trườn lên giường, đọc Những ngọn đồi xanh châu Phi. Con Đường nằm phịch xuống sàn, cạnh chỗ Kincaid vừa chống đẩy. Trên khăn trải giường có một lỗ thủng. Kincaid giơ nó lên, nhìn qua lỗ thủng vào một vết bẩn trên giấy dán tường và trở lại đọc tiếp. Đến đoạn một quý ông đến gần bãi liếm (nơi đất mặn, dã thú thường đến liếm muối) ở châu Phi, một tiếng gõ nhẹ vào cánh cửa làm Kincaid giật mình và Con Đường gừ gừ. Kincaid vùng dậy và hỏi ai đó.

- Tôi đây, quản lý Jim Wilson đây. Kincaid mặc quần jeans và mở cửa. Jim Wilson giơ hai chai bia.

- Tối nay buồn quá, tôi nghĩ có khi ông thích một chai bia uống muộn và trò chuyện một chút. Nếu tôi làm phiền ông cứ nói, tôi sẽ đi ngay và không để bụng đâu. - Anh ta liếc nhìn cái giường. - Ô, tôi xin lỗi, trông như ông đã đi nằm rồi thì phải. - Tôi chỉ đang đọc một chút thôi. - Kincaid mở toang cửa và vỗ về con chó đứng cạnh chân ông. Con Đường vẫn còn hồ nghi và gầm gừ khe khẽ trong cổ họng. - Suỵt, không sao đâu. Jim Wilson dùng cái mở bia và đưa một chai cho Kincaid. Anh ta dựa lưng vào cửa và trượt người xuống cho đến lúc ngồi trên tấm thảm cũ mòn. Kincaid ngồi trên chiếc ghế duy nhất trong phòng, hơi cót két, mặt ghế bọc vải nhựa màu nâu sẫm và lưng ghế nứt nẻ. Con Đường ngồi cạnh giường và nhìn Wilson trừng trừng, vẫn cảnh giác.

Viên quản lý giơ chai bia: - Chúc ông có những ngày đẹp trời hơn. Kincaid giơ chai từ xa đáp lại.

- Liệu ông có phiền không, nếu tôi hỏi ông định đi đâu? - Ồ, lang thang ít nhiều đây đó thôi. Ở nhà mãi phát sốt và tôi quyết định lên đường một thời gian. - Kincaid uống một ngụm bia và châm điếu Camel. Mặc dù không phải là người quá đa nghi, Kincaid thường trả lời mập mờ mỗi khi có người hỏi ông đã ở đâu hoặc định đến đâu. Hầu như đó là sự thận trọng của người đã ở qua nhiều nơi bất ổn trên thế giới, và thông tin như thế dễ bị sử dụng vào nhiều việc bất chính.

Viên quản lý hỏi xin một điếu, Kincaid bèn tung bao thuốc và cái bật lửa Zippo cho anh ta. - Hình như ông có cái bật lửa này từ lâu, - Wilson nói, châm thuốc và đưa ngón tay cái lướt qua bề mặt xây xước của chiếc Zippo, nhận ra những chữ cái RLK khắc trên đó vẫn còn đọc được. - Tôi mua trong cửa hàng quân đội ở Manila vào những năm 40, trên đường hồi hương sau chiến tranh.

- Ra vậy, còn tôi lỡ cuộc chiến vĩ đại ấy một số năm. - Anh ta tung cái bật lửa và bao thuốc trả Kincaid. - Tôi lớn lên đúng lúc cho cuộc chiến ở Việt Nam. Có lẽ tôi cũng bỏ qua nó, nếu nó không làm tôi băn khoăn. Trông Jim Wilson mệt mỏi, dưới mắt có bọng và nhìn chung, nom anh ta xơ xác và thất sắc như tấm thảm khách sạn. Rõ ràng Wilson kém Kincaid tới hai mươi nhăm tuổi, nhưng trông già hơn Kincaid nhiều. Kincaid đoán anh ta là tay nghiện rượu nặng. Wilson hỏi câu đầu tiên mà mọi người lính đều hỏi nhau:

- Ông ở đơn vị nào ? - Có thuyên chuyển đôi chút, song phần lớn thời gian tôi ở Sư đoàn Lính thủy đánh bộ II. Ở Thái Bình Dương. Làm phóng viên chiến trường. - Ông không đùa đấy chứ ? Tôi chưa bao giờ quen một phóng viên chiến trường. Ở Việt Nam, tôi tình cờ gặp vài người, nhưng chưa bao giờ quen biết thực sự. Một số người khá man rợ, họ biết tận dụng cơ hội hơn lính bộ binh nhiều.

Kincaid không nói gì, chỉ uống bia. - Ông không bị sao chứ ? - Jim Wilson nhìn ông - Bị thương hoặc đại loại như thế ? - Tôi là người may mắn. Không có lời nào kể được. Chỉ bị một mảnh đạn vào bên trái, ngay dưới xương sườn. Ở Betio. Nó vào rồi ra, rách độ mươi phân. Lính cứu thương gặp nhiều ca nặng hơn vết xây xước của tôi, nên họ đổ sulfa vào các lỗ thủng và vá víu qua loa, tất cả chỉ mất độ dăm phút, rồi họ mang morphine và garô chạy xuống bãi biển. Sau khoảng một tuần lễ là tôi lành. Thậm chí còn không được Purple Heart nữa kia.

Kincaid cười khúc khích và chẳng nghĩ ngợi gì, ông đưa bàn tay xoa xoa lên vết thương cũ, cảm thấy những vết sẹo dưới tấm áo phông. Viên quản lý giơ thẳng chân lên trước mặt, rồi kéo một đầu gối lên và tựa cánh tay vào đó, chai bia đu đưa trên bàn tay phải. - Chết tiệt, tôi ở đơn vị quân nhu, vì thế với tôi Việt Nam chẳng có gì là gian khổ hết, cứ phất phơ ở Sài Gòn chơi bóng chuyền và tránh bệnh xã hội ở nơi nào có thể, thảnh thơi sử dụng thời gian và đếm ngày tháng. Khỉ thật, có một số lính bộ binh bị tấn công dữ dội trong rừng. Chắc là không được thú vị như những nơi ông đã qua.

- Không, chẳng thú vị tí nào. Nếu không bị quân Nhật bắt giữ, thì cũng bị sốt rét và hàng ngàn thứ tệ hại của xứ nhiệt đới đánh gục. Với một số người, nó thực sự khắc nghiệt, rất khắc nghiệt. Phải đổ bộ lên các bờ biển có kẻ thù canh giữ chặt chẽ và gay gắt, với mong muốn duy nhất là làm thế nào thoát khỏi bờ biển và lẩn vào chỗ nấp. Hãy nhớ rằng chỉ trước đó một thời gian rất ngắn, các chàng trai ấy là người bán ôtô, nông dân, thợ cơ khí. - Ông nghĩ sao việc Harry s. Truman cho ném bom lên họ ? Kincaid ngừng lời, nhìn chai bia rồi nhìn Jim Wilson.

- Một số người trong chúng ta, nhiều người trong chúng ta đã ở đó ba năm liền. Có một số nhà nhiếp ảnh và phóng viên thích chiến tranh, tôi đoán là vì họ vừa có việc làm vừa chứng tỏ được khí phách, tự tạo ra những nguy hiểm giả tạo... Thực ra, tôi không biết chắc là gì. Nhưng tôi chẳng bao giờ nhận thấy bất kỳ sự lãng mạn nào trong toàn bộ chuyện này. Ông uống một ngụm lớn. - Người Nhật là những chiến binh dẻo dai. Riêng tôi, tôi chẳng thích thú gì việc thả neo trong biển Nhật Bản, thách thức đế quốc Nhật. Tôi chỉ muốn về nhà và tránh xa khỏi cái chết. Nhiều người, phần lớn các chàng trai khác, cũng nghĩ như thế.

Kincaid nhún vai và nhìn xoáy vào một điểm nào đó trên đầu Jim, để lảng tránh câu trả lời của anh ta lẫn trong khói thuốc. Ông nói tiếp, chỉ to hơn tiếng thì thầm một chút. - Tôi về nhà, mua một chiếc xe máy, chạy tuốt xuống Big Sur rồi men theo bờ biển xuống tận đây, chỉ cố xua tất cả những chuyện đó ra khỏi đầu. Tuy vậy, chưa bao giờ tôi thực sự làm được điều đó. Các hình ảnh cứ lưu cữu, sắc nét và rõ ràng. Mùi thuốc nổ, bệnh hoại thư, khói diesel và dầu cháy, bụi san hô. Lao tới các bờ biển trong xe lội nước, bám theo các tảng đá ngầm để thoát khỏi bờ, và biết chẳng có gì để làm ngoài việc nhảy xuống nước và lội. Chúng tôi thường ví mình như những con vịt trong ao.

Jim Wilson quyết gạt chuyện chiến tranh và nói sang việc khác. - Big Sur rất đẹp. Hồi còn giảng dạy ở Đại học San Francisco, tôi đã đến đó vài lần. Nhiều du khách đi môtô, tạo thành những đường chữ chi trên Đường Một. Chắc phải khác hồi ông đến thăm, khá yên tĩnh. - Đúng thế. Chỉ có khoảng một trăm người thường xuyên ở đó. Tuy vậy, có một số ít người từ các nơi qua đấy. Nhiều người trong số đó tự nhận là nghệ sĩ hoặc nhạc công. Chưa bao giờ nhìn thấy hoặc nghe thấy nhiều về nghệ thuật đến thế. Ngoài một dúm người viết lách nghiêm túc ra, hình như họ chỉ nói nhiều về nghệ thuật, nhưng chẳng thực sự làm gì. Hầu hết các cư dân ở hẳn đây chỉ đào bới loanh quanh để cố sống sót. Tuy vậy, tôi chỉ ở đó vài ngày, nên có khi tôi có những cảm tưởng sai lầm.

Có thể vì men bia, có thể vì buổi tối, hoặc chỉ vì cần trò chuyện với người khác về những điều chôn giấu trong lòng từ lâu và chưa bao giờ nói ra, nên Robert Kincaid cứ nói tiếp. Nói chuyện với những người xa lạ là an toàn, vì sáng hôm sau Jim Wilson sẽ ở lại đằng sau, vẫn là một người lạ và còn thiếu nhiều mảnh khác để ghép lại trọn vẹn điều Kincaid giữ cho riêng mình. Ngoài Francesca Johnson biết phần lớn, Kincaid luôn giữ một mảnh nhỏ cho riêng mình, trước khi ông thổ lộ. Ông đưa cả hai bàn tay chải ngược mớ tóc ra sau và nhìn đăm đăm xuống sàn một lát, rồi lại ngước nhìn Jim Wilson. - Ở Big Sur, tôi đã gặp một cô gái, một nhạc công xenlô. Tôi đã chở chiếc xenlô của cô ấy xuống một bãi biển vắng vẻ. Chúng tôi đi bộ lên phía Bắc khoảng một dặm gì đó, men theo mép nước và vòng quanh mũi eo biển. Cô ấy bảo thủy triều sắp lên và chúng tôi sẽ mắc kẹt ở một bãi biển đặc biệt, không thể trở lại mũi biển cho đến khi triều xuống. Nhưng tôi không quan tâm, cả cô ấy cũng không quan tâm. Cô ấy chưa bao giờ hỏi tôi về chiến tranh. Anh trai cô ấy đã hy sinh ở Italy trong lúc đánh chiếm Salemo, vì thế cô ấy hiểu nỗi đau và sự sợ hãi. Chúng tôi ở đó rất lâu, cô ấy chơi xenlô, sóng biển xô ào ào và những con chim biển ríu rít, bóng các núi đá cao ngoài khơi đổ dài trên mặt nước đến tận bãi biển lúc ngày tàn. Tôi nhớ tên cô ấy là Wynn. Một cô gái xinh đẹp theo kiểu khác thường, chớm hai mươi tuổi và dạt dào sức sống. Tôi nhớ mình đã nằm dài trên cát, lắng nghe cô ấy chơi đàn, cô ấy bảo là một bản của Schubert , và nhớ lại mọi điều tôi đã chứng kiến trong mấy năm qua, đồng thời cố quên đi. Khi nước tràn vào bờ tới hai chục mét, chúng tôi cưỡi xe đi Tarawa và nhiều nơi khác. Tôi không biết cô ấy chơi đàn bao lâu, hoặc tôi nằm đó bao lâu, vừa uống vang đỏ vừa suy nghĩ, đồng thời cố không nghĩ gì hết. Rồi khi mặt trời sắp lặn, cô ấy dựa cây đàn vào một tảng đá và ngồi xuống cạnh tôi trên cát... Tôi vẫn nhớ cát ấm biết chừng nào, cô ấy nghiêng người, chống tay và nhìn xuống mặt tôi ra sao. Tôi gầy một đống lửa bằng củi rều, và chúng tôi ở lại đó suốt đêm.

Wilson nhận ra hầu như một liệu pháp tâm lý đang diễn ra trong căn phòng tiều tụy của khách sạn, rằng người đàn ông này, Robert Kincaid, đang cố vào chuyện hơn là kể vu vơ. Ông kể không được mạch lạc, nhưng hầu như đạt được bản chất sự việc đã qua trong đời ông. Cần thuật lại gì đó trong một khoảnh khắc quan trọng, có lẽ không có lý do nào khác hơn là khắc sâu lại những kỷ niệm, giống như các thổ dân gìn giữ các câu chuyện cổ và huyền thoại quanh ngọn lửa trại. - Nghe chừng cô ấy là một phụ nữ thú vị. Kincaid với chai bia và va mạnh vào cái

chao đèn. Những cái bóng lung lay dữ dội khắp phòng, và Con Đường ngước nhìn hoảng hốt. Kincaid giữ cái chao đèn đứng vên. - Chúng ta đang nói đến đoạn tôi ở lại Big Sur, và tôi chợt có ý nghĩ hình như cả thế giới đang đợi ngoài đó để ngắm nhìn. Trái tim tôi đầy ắp những điều tôi muốn làm, muốn nhìn thấy và trải nghiệm. Ra khỏi cuộc chiến, tôi như một dòng suối quanh co uốn khúc, cả một quãng đường dài hầu như xuất phát từ một nơi nào đó sâu thẳm trong lòng, tôi có cảm giác đời mình đang trôi qua mà vẫn còn nhiều thứ chưa nhìn thấy hoặc chưa làm. - Vậy là sau vài ngày ông lại ra đi ư ?

- Phải. Tôi biết là khá nhanh. Lúc tôi đã lên yên và chuẩn bị phóng đi, cô ấy nhìn tôi, những ngón tay cô ấy móc vào một trong những vòng trên thắt lưng tôi, tôi thực sự không muốn ra đi nữa. Mười phút sau tôi phóng xe khỏi đó, nhưng không có cảm giác kết thúc thực sự. Tôi hình dung chúng tôi sẽ liên lạc và gặp nhau lần nữa. Chúng tôi hẹn nhau và tôi cho rằng cả hai đều tin sẽ làm thế ngay lập tức. Tuy vậy, như mọi sự việc thường xoay trở, thời gian và khoảng cách có quyền lực riêng của nó. Tôi viết thư cho cô ấy hai hoặc ba lần, kể với cô ấy tôi quyết định định cư ở Seattle và đang tìm nhà. Nhưng cô ấy đã chuyển đến nơi nào đó, còn tôi chuyển nhà nhiều lần, vì thế nếu cô ấy có viết cho tôi, chắc chắn thư của chúng tôi chết dí ở hòm bưu điện. Cô ấy rất ý thức được bản thân và là một phụ nữ độc lập so với tuổi tác và thời đại, vì thế tôi đoán cô ấy sẽ xoay xỏa mọi việc ổn thỏa. Hồi đó, cô ấy cũng chẳng sẵn sàng cho một thứ cố định hơn tôi. Chúa ơi, thế là hết cả một đời. - Robert Kincaid ngừng và hít một hơi thật sâu rồi từ từ thở ra. - Anh nói anh là giáo sư đại học ư ? - Vâng, tôi dạy tâm lý trong chín năm. Không thể chịu nổi cuộc sống lý thuyết suông, nếu như ông có thể gọi đấy là cuộc sống. Cứ như một đàn ngỗng kêu quàng quạc, trịnh trọng rao giảng các triết lý về sự bình đẳng, trong khi chỉ bảo vệ một cấu trúc giai cấp cứng nhắc nhất của bất cứ xã hội hoặc nhóm chuyên môn nào cần thiết. Tôi bỏ việc và đi lang thang vài năm liền. Rốt cuộc là quản lý cái khách sạn này. Tuy vậy, tôi cũng chẳng biết sẽ ở đây bao lâu. Quản lý khách sạn Jim Wilson đứng dậy và vươn vai:

- Tốt hơn hết là tôi đi ngủ thôi. Còn phải đi xem chỗ vỡ ở nhà số sáu để sửa chữa cho xong vào sáng mai. Nói chuyện với ông thật dễ chịu. Ông đã nói đúng về con chó của ông, lúc ông bảo nó còn lịch sự hơn nhiều người ấy. Có thể cho nó ở đây bất cứ lúc nào, dù có mặt ông hay không. - Anh ta giơ tay cho Robert Kincaid. - Chúc may mắn. Trò chuyện với anh thật thích. - Kincaid bắt tay Wilson và đóng cửa lại sau lưng anh ta. Trở về giường và lại cầm sách lên, Kincaid phát hiện ra lúc này quý ông đang xem xét dấu vết con tê giác ở bãi liếm và sẵn sàng thổi bay một hoặc nhiều con vật nữa. Ông để cuốn sách xuống và tắt ngọn đèn cạnh giường. Sau đó, ông ngủ và mơ một giấc lạ lùng, phần trong trí nhớ, phần tưởng tượng và trò chuyện gì đó với một thủy thủ trong quán bar Raffles ở Singapore, một cánh tay ông lủng lẳng rơi khỏi giường. Con Đường liếm bàn tay tình cờ rơi xuống và chạm vào nó.

Bên ngoài, một con tàu tên là Pacific Vagabond tiến vào bên dưới cầu và nhằm đến chỗ buông neo. Trong số hàng hóa chồng chất trong các khoang sâu hoắm trên tàu, có những tivi từ Hàn Quốc, sẽ được dỡ tại Thái Bình Dương và chuyển sang con tàu khác tại hải cảng hiện đại và tiện nghi ở Tarawa..