Hôm nay bạn muốn đọc gì?

Một ngàn con đường quê - Phần kết “Những cây cầu ở quận Madison” - Chương 6

Chương 6:Tìm kiếm.

Nam Dakota đã vào cuối thu, và một buổi sáng lộng gió, xám xịt, xe bưu điện vùng nông thôn dừng lại bên hòm thư đề Carlisle McMillan, đường 3. Cách con đường làng khoảng năm chục mét, Carlisle đang khuân gỗ vòng qua góc của nơi vẫn được gọi là nhà của ông già Williston. Theo thói quen cố hữu của vùng quê nước Mỹ, những căn nhà vẫn giữ tên người chủ đầu tiên xây cất. Nhân viên bưu điện nhìn thấy Carlisle và bóp còi để anh biết là có thư. Anh chàng McMillan này không nhiều thư, vì thế báo cho anh ta biết rằng thùng thư của mình có thứ thay đổi dường như là một ý hay. Carlisle ngẩng lên, vẫy tay và đi xuống đường làng, trong lúc xe thư đi tiếp lên phía bắc, đến nông trại Axel và Earlene Looker. Chắc Axel đang dựa vào thùng thư đợi séc trợ cấp vụ mùa, người đưa thư nghĩ. Ông ta đã ở đúng chỗ đó hai ngày rồi và phàn nàn về sự thiếu hiệu quả của chính quyền mỗi khi séc của ông đến chậm. Trong thời gian xây lại ngôi nhà của ông già Williston, Carlisle kiếm được một người bạn. Một con mèo đực to tướng bị lạc giữa đường và cứ quanh quẩn mãi ở đây. Carlisle ngắm nghía con mèo mướp lông dài, tai bên trái bị rách và có cặp mắt màu vàng. Con mèo cũng ngắm Carlisle, nó ở lại ăn trưa, rồi ăn tối và cuối cùng quyết trở thành cư dân cố định hợp pháp.

- Này cậu mướp, ta nghĩ cái tên Xe Rác hợp với cậu đấy, - đến ngày thứ năm, Carlisle nói. - Nếu cậu không phiền, chúng ta cứ gọi thế nhé. Xe Rác chớp chớp mắt. Carlisle cười toe toét. Lúc Carlisle từ thùng thư về, Xe Rác đang ngồi trên chấn song hàng hiên. Cả hai cùng vào trong nhà, Xe Rác đến chỗ ưa thích của nó dưới cái bếp lò đun củi, Carlisle rót một chén trà từ cái ấm méo mó anh tìm được ở cửa hàng Từ thiện, thành phố Falls. Anh để chén lên cái bàn kéo rộng ra được trong tầm bán kính một sải tay, đặt ở phòng khách suốt ba tháng qua, trong thời gian anh sửa nhà.

Thư của bà Wynn, mẹ anh, mà anh mới gửi cho bà mươi ngày trước. Với Wynn là một thay đổi lớn vì bà hay bỏ qua thư từ, séc thanh toán và đơn thuốc. Tuy vậy, bà lại rất nhớ những thứ có ý nghĩa, như những đoạn phức tạp trong tác phẩm của Schubert và nhiều chi tiết mơ hồ trong lịch sử nghê thuật điêu khắc. Ngày 20 tháng Mười 1981 Carlisle yêu quý,

Lạ chưa, con có hộp thư và đủ mọi thứ. Nghe chừng con đã rất ổn định rồi. Mẹ mừng khi nghe tin con đã mua ngôi nhà cũ và đang sửa chữa lại. Rồi sẽ có lúc mẹ đến đó thăm con. Dù thế nào đi nữa, mẹ cũng rất mừng cho con. Con có bao giờ quan tâm đến phụ nữ không ? Mẹ xin lỗi phải hỏi câu đó, nhưng bà mẹ nào cũng nghĩ đến những việc ấy, kể cả một người mẹ lạ lùng như mẹ. Mẹ khó mà tin rằng vài năm nữa là con bốn mươi tuổi, và mẹ không khỏi nghĩ đến một hoặc hai đứa cháu nội, con ạ. Trong bức thư gần đây, con hỏi nhiều câu liên quan đến cha con và hỏi mẹ nhớ những gì về ông. Mẹ chỉ có thể nhắc lại những gì đã nói trước kia. Ông ấy đã từng ở trong quân đội, là nhà nhiếp ảnh trước chiến tranh và trong thời gian chiến tranh cũng làm thế ở Thái Bình Dương, và xuất ngũ từ Lính thủy đánh bộ (mẹ nghĩ thế). Hình như ông ấy không muốn nói nhiều về chiến tranh. Thực ra, mẹ có cảm giác là ông ấy không muốn nói đến nó tí nào. Tên ông là Robert, còn họ thì mẹ quên hẳn, nếu như mẹ từng biết.

Mẹ gặp cha con vào cuối tháng Chín năm 1945, đúng ngày Béla Bartók (Béla Bartók (1881-1945): Nhạc sĩ Hungary, là một trong những người có ảnh hưởng nhất trong nền âm nhạc thế kỷ 20) qua đời. Chiếc môtô của ông màu đỏ và một số bộ phận mạ crôm. Trên bình xăng có một logo màu trắng bạc là tên chiếc môtô, mẹ chỉ còn nhớ tên đó bắt đầu bằng chữ A. Trí nhớ là một thứ không hoàn hảo và có xu hướng lựa chọn đáng nguyền rủa như thế đấy. Có một lần, mẹ đổ xăng cho cha con, mẹ đứng đó và nhìn cái logo chăm chú, nhưng mẹ chỉ có thể nhớ chữ cái đầu tiên. Song mẹ vẫn nhớ câu chuyện ông kể về cuộc gặp gỡ một thủy thủ ở Singapore. Thế có lạ không ? Còn những thứ khác nữa. Ông ấy đeo vòng tay trên cổ tay phải, mẹ nghĩ thế. Ông cao, mảnh dẻ và ăn vận giản dị, đeo dây quần. Dù mẹ không thể nhớ lại chi tiết gương mặt ông, mẹ vẫn có cảm giác ông không phải là người đặc biệt điển trai, nhưng nói ngược lại cũng không phải. Thực ra, không thể dùng tiêu chuẩn thông thường để nói về Robert, ông ấy hầu như ỉà một người khác thường. Có một điều mẹ nhớ rõ là cặp mắt và cách ông nhìn. Một cặp mắt già giặn, dường như ông già hơn tuổi rất nhiều (chắc hồi ấy ông mới ngoài ba mươi). Còn gì nữa nhỉ ? Tất cả hình như cách đây lâu lắm rồi, mẹ còn rất trẻ, mới mười chín tuổi và bất trị như một con ngựa non háu đá, đủ thứ ước mơ điên rồ về hoạt động nghệ thuật và sống gần thiên nhiên. Nhưng mẹ vẫn có thể nhìn thấy ông ấy. Sau khi xuất ngũ, ông ấy để tóc dài và lúc phi môtô, ông ấy buộc tóc ra sau bằng cái khăn tay lớn, màu xanh lơ. Mẹ đã nói rồi, ông ấy không điển trai theo kiểu chúng ta thường định nghĩa, song ông ấy có một dáng người vô cùng hấp dẫn

trong chiếc áo khoác da, quần jeans, đi giày ống, đeo kính râm khi chúng ta cưỡi xe máy băng qua những cây cầu cao ở Big Sur. Hãy cho mẹ biết việc làm nhà của con tiến hành đến đâu rồi. Còn ở đây, mọi sự yên ổn. Lúc nào đến chơi với mẹ nhé. Bất chấp tất cả, mẹ vẫn nhớ cha con là một người đàn ông đằm thắm, nồng hậu, dù chúng ta chỉ ở bên nhau có ba hoặc bốn ngày. Mẹ không ân hận gì hết, vì cha đã cho mẹ một đứa con trai, là con. Yêu thương,

Mẹ của con, Wynn TB. Hôm qua, mẹ đã gặp bà Marx và chuyển lời hỏi thăm của con. Bà ấy gửi lời chào con và vẫn coi con như con trai, bà luôn nói đến Cody và con đấy. Thỉnh thoảng, con nhớ viết cho bà ấy bức thư, ngắn thôi cũng được. Ông già Jonathan thân mến, bố dượng sáu năm của con hồi còn bé, có ghé vào đây trên đường từ San Francisco đến bờ biển. Chúng ta đã đi uống cà phê, và ông ấy kể với mẹ về quỹ tín thác của ông ấy, về cuốn tiểu thuyết mà ông ấy đang cố xuất bản và hai người vợ gần đây nhất. Ông ấy mời mẹ đi ăn tối, nhưng mẹ từ chối. Mẹ không biết trước kia đã nhìn thấy gì trong con người ông ấy ? Carlisle McMillan lấy một tờ giấy và rút chiếc bút chì trong túi áo sơmi. Một danh sách khá sơ sài, anh nghĩ, nhưng cũng ghi lại mọi manh mối mà mẹ anh đã cho:

Tên “Robert” Xe mô tô bắt đầu bằng chữ “A” Vòng tay ?

Thế chiến II. Thái Bình Dương. Lính thủy đánh bộ ? Nhà nhiếp ảnh trước và trong chiến tranh Singapore = du lịch nhiều nơi ?

Tuổi = Ngoài ba mươi Danh sách đó trải thành nhiều hàng trên bàn. Kín mặt bàn, chia thành nhiều cột, anh có thể điền các tên mà anh sẽ tìm cho phù hợp giữa tên, tuổi và những manh mối. Nhưng bắt đầu từ đâu ? Anh cần phải tiếp cận, nhưng không có gì ngoài một cuộc tìm kiếm bất tận qua các tạp chí và báo cũ. Carlisle ngồi im lặng, suy nghĩ và hơi giật mình khi chuông điện thoại reo. Đó là Buddy Reems, cộng sự của anh trong những ngày ngốc nghếch, tham gia phát triển nhà cửa ở Oakland. Buddy hơi xô bồ nhưng là một thợ mộc khá và nói chung là một người tốt bụng, chân thành.

- Carly, đồ nham hiểm, nghe thấy tiếng cậu mừng quá. Mẹ cậu cho tớ số này đấy. Cậu đang làm cái quái gì và ở đâu thế ? Bác Wynn bảo ở Dakota, Nam hay Bắc gì đó. Nó có trên bản đồ không, hử ? Có thể đi từ đây tới đó được không ? Có cần một loại hộ chiếu liên hành tinh để vào không đấy ? Carlisle cười phá. Buddy chẳng thay đổi tí nào. Hai năm trước, khi họ tách ra, Buddy đã bỏ đến gia nhập một công xã ở New Mexico. - Cậu đang ở đâu, hở Buddy ?

- Oakland. Trở lại cái việc xây dựng chết toi chết tiệt và cứ cuối tuần lại một mình uống rượu đến gần chết để cố quên tất cả những việc xấu xa mình đã phạm phải tuần trước. Nghe nói cậu đang xây cho mình một ngôi nhà hoặc sửa chữa căn nhà cũ hay đại khái thế. Carlisle kể cho Buddy nghe về việc làm lại ngôi nhà của Williston. Anh kể công việc khá thuận lợi và đủ tốt để tiếng lành đồn xa, dẫn đến công việc ở vài thị trấn lân cận. - Còn chuyện gái gẩm thì sao ? Có cô nàng nào nghiêm chỉnh, kích cỡ đàng hoàng không ?

- Có vài khả năng. Tớ đang gặp gỡ một cô làm ở quán cà phê trong vùng. Này Buddy, còn ý tưởng vĩ đại của cậu về cuộc sống làng quê thì thế nào rồi ? - Chúa ơi, chuyện ấy nhộn lắm, Carly ạ. Cậu có nhớ tớ xuống đấy vì một cô gái không ? Nhớ chưa ? Tớ đã viết và kể với cậu chân cô ấy dài hơn tháng trước ấy mà. Tớ có thể “chia” cô ấy cho cậu nếu cậu xuống đây. Carlisle lắc đầu và mỉm cười. Anh nhớ lại bức thư Buddy kể về cô gái và câu chuyện tình tang ở làng đó suôn sẻ chưa từng thấy.

- Ờ, tớ nhớ rồi. Có chuyện gì vậy ? - Đang yên đang lành, cô ta bỏ đến công xã khác với một tay chơi ghita phụ thuộc vào đủ loại hóa chất cứt đái và hát toàn những bài từ thời những năm sáu mươi về hoa hoét, hòa bình và tình yêu tự do. Tớ khoái nhất thứ cuối cùng. Còn cái nửa kia thì tớ chỉ là một con người trong toàn bộ cuộc thỏa thuận, có đủ thứ kỹ năng. Thế là người ta cho tớ xây bếp và phòng ăn, phòng ngủ tập thể cho trại lính, trong khi những người khác ngồi quanh quẩn hút ma túy và nói về... cậu phát âm ra sao nhỉ, Neats-key à ?... Một gã người Đức. Là nhà triết học hay cái quái gì ấy. - NE- cái gì, là Friedrich Nietzsche (Friedrich Nietzsche (1844-1900): Nhà triết học, nhà thơ và nhà ngữ văn cổ điển Đức, là một trong những nhà tư tưởng có ảnh hưởng nhất trong thế kỷ 19).

- Ừ, đúng thế đấy. Tớ ghét những thằng cha đại học như cậu, Carly ạ. Nếu cậu không là tay thợ mộc cừ, tớ chẳng có gì mà chơi với cậu. Mà này, cậu có thể hình dung ra, tớ làm sao nuốt nổi đủ thứ Neats-key và hòa bình/tình yêu/hoa hoét hổ lốn ấy, thế là tớ rút dù ngay lập tức, sau khi cô nàng trốn đi với cái tay ghita hoa hoét nọ. Tớ không nói lời từ biệt, cô nàng cũng không. Cái thằng cha chơi ghita ấy chẳng đáng một chinh. Cậu có nhớ chúng mình hay xuống nghe Jesse Lone Cat Fuller không ? Cái anh chàng hòa bình và tình yêu kia không thể ti toe bắt chước Jesse được. Câu chuyện cứ tiếp tục cái đà ấy và cuối cùng, Carlisle nhắc đến cuộc tìm kiếm cha. Buddy tuy nói năng xô bồ và cư xử phóng túng, nhưng lại là người thực tế mỗi khi có việc cần xử lý. Như thường lệ, anh ta rất tự tin giải quyết các vấn đề như thế.

- Cậu cứ để tớ đào bới quanh đây cho cậu, có khi đến tận Sacramento. Tớ vừa lên đường đến đó được nửa giờ, hẹn hò một cô nàng tớ gặp ở buổi hòa nhạc Fleetwood Mac tháng trước. Cô ấy không phải là người đẹp nhất, nhưng biết sử dụng thân hình giống như cái bàn cưa vậy. Carlisle bật cười. Buddy bao giờ cũng thế, hối hả ngược xuôi, tất bật miệng nói tay làm dù đã ngoại tứ tuần. - Tớ quen biết vài người ở Sacramento có thể tiếp cận với các sổ sách ghi chép về mua bán xe máy. Chúa ơi, đã hơn ba chục năm rồi, nhưng cái bọn cạo giấy chết dẫm ấy giữ gìn giấy tờ kỹ lắm, biết đâu ta lại bới được chút gì đó. Này, tớ đang ghi lại đây. Tên, Robert. Đúng không? Môtô của ông ấy bắt đầu bằng

chữ “A”. Mua ngay sau Thế chiến II, có lẽ tháng Tám hoặc tháng Chín 1945 hoặc vào khoảng đó. Không biết có bao nhiêu xe máy được bán ở Vịnh Area ngay sau chiến tranh nhỉ, hai, ba hay vô vàn đây. - Mình không biết chắc ông ấy có mua nó ngay sau Thế chiến không. Nhỡ ông ấy kiếm được ở một cái kho nào đấy lúc đi qua. - Hay đấy, Carly. Nó sẽ thu hẹp được khoảng một nửa những xe bán ở mọi nơi. Nhưng tớ sẽ ghi ý kiến ấy lại. Những thứ này không có trong máy tính đâu. Phải đào bới bằng tay thôi. Tớ sẽ thử xem sao. A mà cậu nói cô ta làm ở một nhà hàng trong vùng à ?

- Ai kia ? - Cái cô mà cậu đang săn ấy, chứ còn ai. - Ờ phải, nhưng tớ không thể gọi như thế là “săn”. Ở hiệu cà phê Danny. Hiệu ấy có món bánh mì kẹp thịt gà tây nóng ngon nhất từ Omaha đến Cheyenne đấy. Nhiều nước xốt và khoai tây nghiền.

- Nghe khoái đấy. Gà tây nóng và gái đẹp, hay lại là một đường vòng nữa đây ? Dù sao, tớ cũng sẽ liên hệ. Còn một việc nữa, Carly. Đừng chết như một thằng ngố. Đấy là phương châm mới của tớ. - Cái gì ? - Tớ đang lập một danh sách những cách tớ không muốn chết và tránh các tình huống có thể xảy ra theo các cách đó.

- Ví dụ như ? - Không chết trong bệnh viện, đừng để chuyện đó xảy ra. Đấy là một và là cơ bản. Thay vào đó, ngã từ mái nhà xuống hay hơn, lúc cậu đóng xong tấm ván lợp cuối cùng ở ngôi nhà đẹp nhất cậu dựng. Cách ngớ ngẩn thứ hai là bị một chiếc Cadillac 68 han gỉ, lốp mòn vẹt kéo lê đằng sau, ngay trước siêu thị lúc bắt đầu xả hàng đồ lót nam giới. Carlisle cười to, nhớ Buddy Reems và tính gàn gàn của anh ta.

- Còn một cách nữa: bị trúng mảnh vỡ của một máy cắt cỏ do một người béo phì, sáu mươi tư tuổi làm tình nguyện viên cho cộng đồng điều khiển. Tớ mới thống kê đến thế, song tớ sẽ làm tiếp. Lúc nào đó, tớ sẽ gửi cho cậu danh sách hoàn chỉnh, cẩn thận nhé, Carly. Nói chuyện với cậu thú lắm. Tớ sẽ báo cho cậu ngay nếu tìm được tin gì đó. - Cảm ơn Buddy. Tớ cũng rất vui. Rất cảm ơn sự giúp đỡ của cậu. Bảy giờ sau, Buddy gọi lại. Có tiếng xe cộ chạy ầm ầm ở đằng sau.

- Carly, tớ đây. Tớ đang ở bốt điện thoại Sacramento. Một em trẻ đẹp tên là Nancy ở bộ phận hồ sơ xe máy đã giúp tớ. Không dễ tí nào, nhưng dễ hơn tớ tưởng. Mất ba tiếng đồng hồ đào bới và chọn lọc, nhưng bọn tớ đã tìm ra vài thứ. Cậu có sẵn giấy bút chưa ? Trong tháng Tám và tháng Chín năm 1945, có 28 người mua xe máy ở San Francisco tên là Robert. Hàng loạt xe Harley và Indian, nhưng chỉ có một chiếc bắt đầu bằng chữ A, tên là Ariel Square Four, đăng ký sử dụng ngày 24 tháng Chín năm 1945. Chiếc Square Four này chắc là loại... Carlisle ngắt lời: - Buddy, tên. Ai mua xe ấy ?

- Ờ nhỉ, một điều quan trọng. Tớ suýt quên. Tên là Robert L. Kincaid. Không ghi địa chỉ ngoài một chữ chung chung là San Francisco. Cũng không có số điện thoại. Cái xe ấy chắc không cồn dùng được nữa, cũ quá rồi, ba mươi sáu năm trước mà. - Đánh vần họ ông ta cho tớ. Cariisle cẩn thận viết bằng chữ in lúc Buddy đánh vần.

- Tớ phải chạy đây, Carly. Cô nàng Bàn Cưa đang đợi trong xe tớ, cách đây có một mét. May mắn nhé, nếu tớ có thể làm được gì thêm thì câu cứ “ới” nhé. - Cảm ơn Buddy. Như thế này là đã giúp tớ rồi. - Có gì đâu. Tạm biệt.

Nói chuyện với Buddy xong, Carlisle lập tức duyệt lại danh sách các manh mối của anh: Tên “Robert”, họ có thể là “Kincaid", chữ ở giữa là “L". Xe máy bắt đầu bằng chữ “A" - có thể là Ariel Square Four.

Carlisle ngắm nghía bản danh sách, rồi vào bếp và lấy một chai bia trong tủ lạnh. Trở lại cái bàn kê trên niễng, anh bắt đầu viết nguệch ngoạc: Robert \

/ Thế chiến II Thái Bình Dương Robert Quần áo Nhà L. Kincaid ? | nhiếp ảnh ???

| Ariel Four Bike Đơn giản đi nhiều nơi Lính thủy | đánh bộ

/ \ / \ Đăngký: Vòng Dây Làm Tạp San FrancBCO, tay quần nghề chí

tự do Rõ ràng là mọi con đường trên biểu đồ đều bế tắc, ngoại trừ việc xếp hạng nhà nhiếp ảnh và có thể dựa vào hồ sơ quân đội. Ngay sáng sớm hôm sau, anh gọi điện cho mẹ và hỏi bà có quen biết bất cứ nhà nhiếp ảnh già nào để anh có thể nói chuyện không. - Carlisle, con phải làm việc này vì cha con ư ?

- Vâng. Anh kể với mẹ những điều Buddy Reems phát hiện ra ở Sacramento. - Kincaid ư ? Giá mẹ có thể bảo con đấy là họ của ông ấy. Nhưng nếu mẹ đã biết, mẹ vẫn không sao nhớ ra được. Như trước kia mẹ đã nói với con, mẹ nghĩ ông ấy có kể với mẹ. Con có chắc là muốn tiếp tục việc này không, Carlisle ? Nó có thể dẫn đến sự thất vọng lớn cho con, có khi cho cả hai mẹ con mình. - Vâng, con chắc. Mà mẹ ơi, mẹ nghĩ ra một nhà nhiếp ảnh nào đi để con nói chuyện, một người nào đó có thể biết về lịch sử và phát triển của nghề nhiếp ảnh ở đất nước này.

- Có một người là Frank Moskowitz ở trong một căn nhà gỗ nhỏ bên ngoài thành phố, trên các quả đồi gần Russian Gulch. Ông ấy độ bảy mươi tuổi, mỗi khi đến phòng trưng bày đều chuyện trò thoải mái. Tác phẩm của ông ấy xoàng thôi, nhưng ông ấy vẫn chụp ảnh ở đó. Để mẹ tìm số điện thoại cho con. Bà cho con trai số điện thoại và nói thêm: - Có một chi tiết mà mẹ chưa bao giờ kể với con. Mẹ cũng không biết vì sao. Mẹ đoán là nó không đến trong tâm trí mẹ, cho đến lúc con muốn mẹ nhớ lại toàn bộ chuyện này. Cha con và mẹ đi xe máy xuống bờ biển, đến chỗ các con huệ biển (Loài hải cẩu lớn, sống thành đàn, có da gai, lông rất thô) tụ tập. Khi chúng ta tới nơi, có hai người đàn ông đang bắn hải cẩu bằng súng trường, chĩa súng tới, lui vào giữa chúng. Toàn bộ cảnh tượng này làm mẹ sợ chết khiếp. Cha con bảo mẹ ở lại bên xe máy và đi thẳng xuống chỗ hai người đang bắn kia. Ông đến chỗ họ, giằng lấy súng rồi ném tõm xuống biển. Sau đó, họ quát tháo cha con và rõ là rất cáu. Một người còn định đánh nhau, nhưng cha con không nhúc nhích, chỉ đứng đó và nhìn họ trừng trừng. Lát sau, họ đi xuống bãi biển, còn cha con trở lại chỗ mẹ đứng. Mẹ thấy ông rất giận dữ và mẹ hỏi ông đã nói gì với họ. Ông đáp: “Anh chỉ báo họ rằng, tôi đã nhìn thấy trò giết chóc ngu dại đủ rồi, và nếu họ muốn tiếp tục làm việc này, anh sẽ quẳng họ vào đúng chỗ vừa ném khẩu súng, vì đó cũng là một hành động ngu dại”. Nếu trước đó mẹ có phần nào chưa yêu cha, thì sau sự việc với đàn hải cẩu, mẹ đã yêu cha con trọn vẹn.

Hai mẹ con nói chuyện thêm vài phút nữa. Khi dứt chuyện, Carlisle ngay lập tức quay số mẹ anh vừa cho. Một giọng già nua, cộc lốc trả lời: - Moskowitz đây. Carlisle tự giới thiệu và hỏi ông về những nhà nhiếp ảnh Mỹ. Ông Moskowitz

có nghe đến một nhà nhiếp ảnh tên là Kincaid không ? - Cái tên có vẻ quen quen. Không thể nói chắc được. Nếu ông ta là người thực sự nổi tiếng, có thể tìm trong cuốn Who’s Who. Carlisle chưa nghĩ đến điều đó và vội ghi lại.

- Thưa ông Moskowitz, nếu một nhà nhiếp ảnh trong những năm ba mươi được đi du lịch nhiều nơi, liệu bây giờ có còn làm việc không ? - Khó nói lắm. Thông thường chúng tôi lang thang đây đó phải tự xoay xở lấy. Hồi ấy, không nhiều tạp chí có khả năng trang trải để cử người ra nước ngoài. Thường chỉ là những tờ rất nổi tiếng, như Time, Life, Look, National Geographic, đại loại thế. Hình như ông Moskowitz bị cuốn vào câu chuyện và bắt đầu nói về thiết bị máy ảnh và phim, về sự tức giận của ông khi xuất bản tác phẩm. Carlisle lễ độ lắng nghe, và lúc ông già ngừng để thở, anh cảm ơn ông ta và nói mình có việc phải đi.

- Mẹ cậu là một phụ nữ tinh tế, cậu McMitlan ạ, một phụ nữ rất tốt, dù bà ấy không chịu trưng bày tác phẩm của tôi ở gallery nơi bà làm việc. - Vâng, ai mà biết được ạ, thưa ông Moskowitz. Có lẽ đến một lúc nào đó. - Phải, có lẽ đến một lúc nào đó, - ông già nói và gác máy.

Carlisle cho củi vào lò sưởi và đi ngủ. Trong giấc ngủ, lúc anh trở mình nằm nghiêng, ngọn gió và tiếng gió hú bên ngoài giống như tiếng động cơ môtô đang chạy đến chỗ đường vòng dài ở Big Sur, của một thời trước đó rất lâu. * * * Sau rạng đông một giờ, không trung còn hơi giá buốt, Robert Kincaid làm thủ tục rời khách sạn Oregon và khởi động chiếc Harry, ông lắng nghe tiếng động cơ. Có gì đó không ổn, bị nghẹt. Ông lấy hộp dụng cụ nhỏ ở đằng sau ghế và mặc chiếc parka nhẹ. Con Đường cúi qua cửa xe, cố nhìn thấy chiếc mũ lúc Kincaid ngẩng lên. Kincaid vặn van điều tiết và lắng nghe tiếng động cơ, ông gật đầu và nhẹ nhàng đậy mui xe.

Trở vào trong xe. “Chỉ là Thiền và tài khéo bảo dưỡng cái xe cũ kỹ này thôi, Con Đường ạ. Chẳng có gì lãng mạn như ông Pữsig viết trong cuốn sách của ông ấy, muốn chúng ta tin như cưỡi trên môtô. Dưới cái nắp đậy của chiếc Harry chẳng có gì là Thiền nhiều lắm, đó là điều chắc chắn, ít nhất là ta chẳng tìm thấy gì. Nhưng, ô tô không hề giống xe máy. Như Harry đây, nó chạy trên đường của nó, không như cảm giác về con đường tốt như khi ta cưỡi trên xe máy. Lẽ ra ta nên giữ chiếc Ariel. Ta có thể buộc mi vào đằng sau ta, và để cái xe 500 phân khối ấy chở cả hai ta trên đường”. Con Đường ngửi ngửi áo khoác của Kincaid, tìm những mùi khác thường của buổi sáng; không thấy gì, nó nằm lại chỗ trên ghế xe trong lúc Kincaid đeo kính và xem bản đồ, bật sưởi cho ấm buồng lái và lau sạch kính chắn gió. Ông quyết định đi theo đường 101, xuống phía Bắc California rồi rẽ sang hướng đông, phương đó sẽ đưa ông hơi chệch về hướng nam Black Hills, nhưng lúc nào ông cũng có thế rẽ lên phía bắc hoặc chạy qua Hills trên đường về nhà.

Thái Bình Dương hiện ra giữa những quả núi thấp và xanh tươi, Robert Kincaid lái chầm chậm theo con đường ven hiển ngoằn ngoèo. Chiếc xe nhẹ nhàng di chuyển lên dốc xuống đèo, hết đường cong bên trái lại bên phải. Ông cố nhớ lại thực chất giấc mơ đêm qua. Trong lúc cơ thể nghỉ ngơi, tâm trí ông trở lại Singapore, khi quốc đảo này hãy còn hoang sơ và không bị kiểm soát, là giao lộ của thế giới. Là nơi của cướp biển, lính đánh thuê và buôn lậu. Đàn ông giắt dao ngang hông, bản đồ trong túi và những mưu đồ vô đạo. Loại thế giới mà Robert Kincaid từng mơ khi còn nhỏ. Thời đó, những câu sáo rỗng hóa ra không phải là sáo rỗng. Những cái quạt trần quay chầm chậm trên các khớp nối thô thiển, một người phụ nữ tên là Juliet mặc bộ áo đen xẻ thấp, chơi dương cầm rất hay và hát những bài của Kurt Weill. Một buổi tối, có hai người đàn ông suýt giết nhau để được cô chú ý, tuy cô chẳng khuyến khích gì cuộc đua tài đó, và thực ra cô chẳng thích người nào.

Kincaid nhớ cô, thích tiếng đàn giọng hát của cô. Anh mới ngoài hai mươi, mới vừa lên đường và đi làm, còn người phụ nữ tên là Juliet ấy lớn tuổi hơn anh nhiều, có lẽ khoảng bốn mươi. Giữa họ không xảy ra chuyện gì. Ở tuổi ấy, anh sợ một phụ nữ như thế, vì cô có thể biết là anh mù tịt chuyện giường chiếu và nhiều thứ loại đó. Anh ngồi trong bar Raifles, uống hết cốc bia và nhìn xuống cái cốc, dường như đấy là một ống kính. Hình ảnh Juliet méo mó nhưng vẫn đẹp, theo cách nghĩ của anh. Vài năm sau, anh không biết cô ra sao trước khi quân Nhật tràn xuống. Cô rất lạc lõng. Những người như Juliet luôn lạc lõng ở bất cứ nơi nào cần thoát. Cô cũng là một loại cao bồi cuối cùng. Lăn bánh xuống California, ông bắt đầu ngân nga, ậm ừ một bài mà Juliet tối nào cũng hát, ở bốn mươi năm trước. Ông mang máng nhớ là bài Tango em thủy thủ. Rồi một gương mặt trong mơ trở lại với ông, nhưng chỉ có cái tên, Aabye. Bạn nghề đầu tiên trên con tàu Morrocan Wind. Sao mình lại nhớ được tên con tàu ấy nhỉ, Kincaid cười một mình. Có một số thứ cứ dính chặt trong đầu, những thứ khác thì không. Họ đã vài lần uống bia cùng nhau ở quán Raffìes.

Aabye không có họ và nói đến mơ ước lớn lao trong đời là sở hữu một con thuyền buồm dọc, nhưng biết mình không thể thành công về mặt tài chính. Robert Kincaid kể anh vừa làm xong một tác phẩm ảnh về ngành thuyền buồm dọc trên biển Đông, anh chú ý nhất đến một thuyền trưởng già, sắp nghỉ hưu và đang tìm người kế nghiệp, để gìn giữ con thuyền có sẵn. Kincaid kể với người tên là Aabye rằng về tiền nong, vẫn có cách thu xếp được, vì ông thuyền trưởng kia vô cùng yêu quý con thuyền xinh đẹp của mình. Con thuyền buồm dọc đó mang tên Paladin, và Kincaid chỉ đường cho Aabye đến chỗ nó đậu trong bến cảng. Người bạn nghề bắt tay và cảm ơn Kincaid, rồi ra đi tìm con thuyền buồm mang tên Paladin. Những hồi ức ấy cứ lan vào giấc mơ. Robert Kincaid có hàng trăm, hàng ngàn hồi ức như thế. Đi về hướng nam theo đường ven biển Oregon, ông nhìn về hướng Tây phía Singapore và tự hỏi liệu người tên là Aabve có tìm ra con thuyền không và hy vọng là có, ở đó đang là những ngày cuối cùng của ngành thuyền buồm dọc. Ông luôn băn khoăn về Juliet và Aabye, về Maria và Jack cùng nhiều người khác cùng thời với ông trên cõi nhân gian này. Ông nhớ đến tất cả bọn họ, nồng nhiệt và biết ơn họ vì những hồi ức. Một ngọn hải đăng xuất hiện bên tay phải, và ông tự động ghi vào trí nhớ, tính đến một cảnh chụp. Ông quyết định cứ đi qua, đã có quá nhiều ảnh chụp hải đăng trong nắng sớm rồi.

Chạy tiếp trên đường, ông vẫn nghĩ đến ngọn hải đăng và lựa chọn các khả năng. Ở một chỗ đường tránh, nơi các du khách có thể lái thuyền thoi và chụp cảnh biển xa xa, ông dừng xe và tìm các cuộn phim Tri-X. Lẫn trong những cuộn phim đó là cuộn Kodak Techinal-Pan duy nhất, tốc độ ASA 25, một loại phim tốc độ chậm, thiết kế cho việc sao chép các bức vẽ bằng bút chì hoặc bút mực và các đồ thị. Nhưng T-Pan có một đặc điểm khác thường. Nếu để nó ở tốc độ nhanh hơn và rửa theo kiểu không chính thống, nó sẽ gần như bay hết các sắc độ trung gian và thể hiện chủ đề bằng màu đen và trắng tuyệt đối, làm chủ đề hiện ra lồ lộ ngay trước mắt người xem. Trước kia, ông đã sử dụng kỹ thuật này ở Scotland, trên quần đảo Glencoe. Một thành lũy nhỏ ở một trăm mét ngoài khơi, trên hòn đảo chỉ đủ rộng để chứa nó, hình ảnh tinh khôi của thành lũy phản chiếu trong nước vây quanh. Ở bản in cuối cùng, màu xám của các bức tường thành và các tháp canh biến thành màu trắng, nước xung quanh màu đen, và bức ảnh trông như thành lũy ngồi trên hình phản chiếu của nó. Ông có thể xử lý ngọn hải đăng theo kiểu tương tự, nhưng sẽ làm nghiêng ảnh. Ông lái xe trở lại con đường ven biển, ngắm ngọn hải đăng qua một cái khung tưởng tượng trong đầu, cho đến khi ở đúng vị trí cho bức ảnh. Lái về phía bờ đường, ông lấy một chiếc Nikon F trong balô và lắp phim T-Pan. Lúc Kincaid mặc áo làm việc và kéo cái giá ba chân ra, Con Đường nhảy xuống xe và gí mũi trên mặt đất, bắt đầu trò tìm-kiếm-và- phát hiện thông thường của nó.

Kincaid đá từng cái chân của giá máy một cách thành thạo, và các chân tõe ra. Ông thoăn thoắt chỉnh độ cao, biết rằng không cần nghĩ đến vị trí ông muốn đặt máy. Ông buộc chặt máy vào giá và lấy dây máy ảnh trong túi áo bên phải. Đầu óc Kincaid lại làm việc, trở lại với nếp chọn lọc và suy nghĩ, đồng thời tổng hợp cảnh chụp và phân tích kỹ thuật cần thiết. Trong lúc vặn dây máy vào chiếc Nikon, mặt ông rạng một nụ cười, rồi cười to. Con Đường nhìn ông, ngơ ngác. - Chó ơi, ta chỉ cười vì ta ở đây, làm cái việc ta thành thạo nhất và nhận ra gần đây ta đã không làm việc đủ. - Ông cảm thấy sức khỏe, nghị lực và sức mạnh nay đã trở lại, ùa vào cơ thể ông, trong vài năm gần đây chúng âm ỉ vì chán nản và thương thân.

Robert Kincaid, một trong những người làm ảnh lão luyện, một người quá ư mơ mộng đã đưa quan điểm thích đáng nhất của ông tới hàng triệu độc giả của sách và tạp chí, nay lại làm việc. Ông cúi người, nhìn qua kính ngắm, chỉnh máy hơi nghiêng và sẵn sàng để chụp. Ông có thể nhìn thấy thành lũy ở Scotland và bố trí bức ảnh đó lên trên bức ông đang chụp, nhớ lại các trình tự kỹ thuật và sắp xếp kế hoạch làm việc. Như thường lệ, nguyên tắc của ông là dù có chụp hay không, ông vẫn hình dung bức ảnh đã đóng khung và treo trên tường. Liệu nó có là thứ để ông sống chung trong nhiều tháng, nhiều năm mà không chán ? Nếu có, bức ảnh xứng với số phim và sự nỗ lực. Nếu không, ông gói ghém đồ đạc và đi tiếp. Ông hình dung bản in lần cuối trông ra sao, theo đúng kiểu ông muốn. Ông nghĩ đến thời gian để tráng phim, rửa và in, hoàn tất kết quả. Rút thước đo ánh sáng và đọc chữ đầu. Cái bóng nổi bật trên nền bê tông trắng của cây hải đăng. Một bức ảnh có độ tương phản cao với phim tương phản cao; phải cẩn thận đây. Robert Kincaid xoay ống kính trên máy. Hơi quá lâu, để lấy một chi tiết của cái bóng và nhớ lại những chỗ nổi bật nhất phai màu khi ông tráng phim, cố định phần còn lại khi ông rửa ảnh. Ông thả dây máy, bấm hình ảnh phản chiếu đánh tách và ông biết bức ảnh có khả năng là đẹp. Lại một lần nữa, vẫn bố cục ấy, chỉ phải xử lý âm bản nhiều hơn thôi.

Xong việc, ông vắt máy ảnh lên vai và lật phần trên chân máy xuống, nới lỏng để các chân chụm vào với nhau. Ông rót một tách cà phê trong phích trên xe, mở gói Milky Way và ngồi trên tảng đá, ông nhìn bao quát Thái Bình Dương trong lúc xoa xoa tai con chó và nhớ đến cặp vợ chồng già mà ông ở nhờ gần hai tuần trong thời gian làm việc ở Scotland. Ông ở đấy đúng dịp họ kỷ niệm năm mươi năm ngày cưới, dân làng tổ chức tiệc mừng, nhiều viôlông, kèn túi và rất nhiều tiếng cười. Một cô gái cố dạy ông một vũ điệu truyền thống, và cả làng cười vì ông ráng sức bắt chước các bước đi chiến thắng của một chiến binh vùng cao nguyên. Robert Kincaid cũng cười. Ông mua tặng cặp vợ chồng già một đôi chén trà kèm đĩa lót bằng sứ. Họ và ông trao đổi thư từ suốt chín năm sau, cho đến khi ông không nghe được tin gì về họ nữa. Cuối cùng, một người hàng xóm của họ viết thư báo tin họ đã qua đời, người nọ cách người kia hai tháng. Bà vợ mất trước, và ông chồng mất sau đó ít lâu. Theo người hàng xóm, không rõ bà ta mất vì lẽ gì, còn ông chồng vì đau tim. Một đụn mây đã hình thành ở xa, trên mặt nước, có lẽ cách hai mươi dặm, nhưng nơi Robert Kincaid ngồi, mặt trời vẫn còn ấm, và ông ngồi đó một lúc lâu, chậm rãi nhai kẹo, ở lại bao lâu ông không biết chắc và cũng không quan tâm. Francesca

Một buổi sáng nữa của một ngày nữa trong cuộc đời đang tàn, Francesca Johnson đi đôi ủng đã mòn gót, chuẩn bị cuộc đi dạo hàng ngày. Bà buộc chặt mớ tóc dài, chụp cái mũ nồi lên đầu và lấy chiếc áo khoác len trên mắc gần cửa bếp. Lối dẫn đến nhà bà đã được ốp ván, và lúc đi xuống con đường hàng quận, bà thầm nhớ phải bảo Tom Winkler mang máy ủi đến sửa con đường này trước mùa đông, Khi Iowa bắt đầu có sương giá, sẽ chẳng sửa chữa đường xá được gì nữa, cho đến tân mùa xuân. Tháng Mười một, ánh nắng đã chuyển từ sắc cam nóng của mùa hè thành màu vàng vọt. Nhưng cho đến nay, ban ngày vẫn lặng gió và cuộc đi dạo của bà vẫn khá dễ chịu dù không khí hơi tê buốt. Hôm nay bà rẽ phải, nhằm đến cầu Roseman. Nửa dặm đầu, con đường vắng vẻ, bên kia đường mùa màng đã thu hoạch từ một tháng trước, cánh đồng lởm chởm gốc rạ, và Iowa bắt đầu náu mình thêm một mùa đông bất tận. Một xe chở ngũ cốc chạy qua, nhằm thẳng tới Winterset. Người lái xe vẫy tay và Francesca vẫy trả. Vài phút sau, bà nghe thấy tiếng ôtô ở đằng sau và tránh đường.

Floyd Clark trong chiếc xe tải Chevy mới tinh, chạy chậm lại và đỗ. - Chào Frannie. Dạo này chị làm gì ? - Chào Floyd. Anh biết đấy, vẫn thế thôi. Lắp nhựa lên cửa sổ hướng bắc, trét lại những .... khác. Chuẩn bị nhà cửa sẵn sàng cho một mùa đông nữa. - Bà mong Floyd không tận dụng cơ hội hỏi thêm.

- Nếu chị cần giúp nâng, nhấc gì đó, tôi và cháu Matt sẵn sàng giúp một tay. Lưng nó khỏe, không như người già chúng ta, suốt đời cứ phải cố hơn là làm vừa sức. Francesca cảm ơn ông và biết ông nói thật. Đau lưng là bệnh cố hữu của nông dân Iowa. Lúc nào cũng có những thứ nặng cần di chuyển, và hình như những lúc đó chẳng có ai quanh đấy để giúp. Thế là họ phải tự làm và chịu hậu quả. Lưng Richard đã làm ông đau đớn suốt mười năm cuối đời. Một ví dụ nữa, Francesca nghĩ, về sự khao khát vượt qua ý kiến phán xét của làng xóm, một điều mà bà biết quá rõ. Nhưng ngày trước, bà hiểu ngược lại, và ai mà nói được sự thật ở đâu trong những vấn đề như thế.

Floyd sốt ruột, nghịch nghịch cái gương cạnh xe. Francesca nghĩ ông ta xuống đường cốt để mời bà đi chơi, ví như khiêu vũ Năm Mới ở Legion chẳng hạn. Floyd Clark chẳng có gì không tốt, nhưng cũng chẳng có gì đặc biệt. Tóm lại, tình cảm của bà không hơn cũng không kém, bà chỉ không thích tạo lập mối quan hệ nào với ông ta, tuy có thể nó bình thường và vô hại. Cũng không phải vì câu chuyện bàn tán ở các quán cà phê (“Tôi nhìn thấy Floyd Clark ve vãn Frannie Johnson. Đừng trách ông ấy. Bà ấy trông vẫn trẻ đẹp hơn tuổi, còn sinh thời Marge, bà ấy làm ông ta đến chết vì tật hay bép xép”. “Chẳng biết nữa Arch ạ, cái bà Johnson này có gì khác người lắm, tôi cũng chẳng biết chắc là cái gì, nhưng cứ như bà ta không hẳn như chúng ta vậy”). Thật dễ hiểu, Francesca chẳng quan tâm và cố tỏ ra nhã nhặn, vậy thôi.

Bà quyết chặn đứng mọi chuyện bằng cách nói, có phần dối trá: - Có lẽ năm nay tôi sẽ đi tránh rét một thời gian. Cháu Michael mời tôi đến Florida nghỉ. Xem chừng thế cũng hay, và tôi nghĩ là sẽ nhận lời. - Michael chưa mời bà, nhưng anh sẽ mời. Trước kia bà đã đi một lần, và một lần là đủ. Các cháu của bà rất ngoan, nhưng cảm xúc nghỉ ngơi giả tạo khiến bà khó chịu, và người vợ mới của Michael - vợ thứ hai của anh - đối với bà khá lạnh nhạt. Mặt Floyd Clark xịu xuống gần như không thể nhận thấy, nhưng ông ta trấn tĩnh ngay.

- Thế à, không thể trách gì chị. Tôi và Marge đã qua vài mùa đông ở Brownsville, Texas, và chúng tôi đã mừng quýnh lên khi được đi tránh rét một thời gian. Francesca nhớ lại Marge Floyd cứ nói, nói mãi về những mùa đông đi tránh rét của họ ở Texas. Những hoạt động có tổ chức, những trò chơi, những cuộc thi đánh gôn, những cuộc khiêu vũ bốn cặp theo hình vuông và những bữa tiệc cocktail do Phòng thương mại Brownsville tổ chức. Bà lặng thinh, không trả lời Ployd, nhìn xuống đôi ủng của mình và sự im lặng giữa họ mỗi lúc một thêm khó chịu. Cuối cùng ông ta nói:

- Tốt hơn hết là tôi về nhà để biết chắc cháu Matt không thế chấp nông trại cho người tài trợ, vì những mưu đồ mở rộng không bao giờ kết thúc của nó. Chị vẫn giữ đất của mình chứ, Frannie ? - Ồ vâng, tôi nghĩ thế, anh Floyd ạ. Tôi chưa hề có ý định bán đất, mặc dù tuần nào cũng có ít nhất một cú điện thoại của người buôn bán bất động sản hỏi mua. Tôi đoán giá đất lúc này đang cao khủng khiếp. Bà không muốn nói đến lý do ở lại mảnh đất này, ở lại quận Madison. Bà không nói nhỡ từ nơi nào đó, một ngày nào đó có một người đàn ông tên là Robert Kincaid đến tìm bà. Đây là một hy vọng lãng mạn, hão huyền mà chỉ các cô gái mới vương vấn, nhưng dù sao bà vẫn níu giữ.

- Phải, đất đai sắp đem bán hết. Cạnh chúng ta đã có hai trăm bốn mươi mẫu rao bán, và có khi cháu Matt nhà tôi nói đúng, lúc nào nó cũng nói chúng tôi nên mua chỉ với mục đích đầu tư. Nó bảo, người ta sẽ chẳng làm gì hơn được. Francesca mỉm cười, không xác nhận ngoài việc tỏ ra đang lắng nghe. Bà đã chán, thầm mong Floyd vào số và đi đi. Lát sau, ông nói:

- Bảo trọng nhé, Frannie. Hẹn gặp chị sau. - Tạm biệt Floyd. Cảm ơn anh đã đỗ lại và nói chuyện. - Ồ, bất cứ lúc nào. Thấy chị tươi tắn thế tôi cũng mừng.

Floyd Clark lái chiếc Chevy khỏi vết xe lún sâu vào lớp bùn đông giá, nảy lên, đi xa dần và nhằm tới những kế hoạch mở rộng của cậu con trai Matt. Rốt cuộc, ông nhượng bộ và đồng ý với Matt, sau đó họ trả gần gấp đôi giá trị thực của hai trăm bốn mươi mẫu đất. Mười tám tháng sau, giá đất ở Iowa giảm 40%, là một giai đoạn hỗn loạn, chao đảo của miền Trung Tây, và Floyd trách móc các chủ nhà băng đã đẩy họ vào cảnh rối ren. Ngay sau cuộc trò chuyện với Floyd, Francesca rẽ vào con đường vòng và có thể nhìn thấy cầu Roseman. Lúc này, tim bà luôn đập rộn ràng. Bà nhớ đã rẽ vào con đường vòng này trên chiếc xe tên là Harry vào giữa tháng Tám, mặt trời sáng lóa trên đất, khi người tên là Robert Kincaid bước vào đời bà chỉ ít phút trước.

Bà nhớ lại ông đã mỉm cười ra sao khi nhìn thấy cây cầu lần đầu và nói: “Tuyệt quá. Một bức ảnh lúc bình minh”. Rồi ông đi theo con đường, balô khoác trên vai, ngắm nghía cây cầu, dự kiến sẽ chụp như thế nào. Bà nhớ đã giữ bó hoa cúc dại ông hái tặng, để cảm ơn bà chỉ đường đến cây cầu. Rồi sau đó là uống trà chanh trong bếp, chuyện trò thoải mái về cuộc sống của ông và của bà. Chai bia để trong thùng lạnh của ông, rồi món súp rau hầm bà nấu và cuộc đi dạo trên bãi cỏ lúc bữa ăn đã xong. Rồi sau đó là brandy và cà phê. Cầu Roseman đứng im lìm trong buổi sáng tháng Mười một, ngọn gió Tây Bắc ào tới làm những cây kế màu nâu sột soạt, và những chiếc lá vẫn giữ nguyên trong mùa thu. Cây cầu sờn màu xám và đỏ nhạt, tróc lở và nghiêng hơn năm 1965, dường như nó cố chạm tới làn nước bên dưới. Hình như nó đang chết, một cái chết từ từ sau khi đã tồn tại một trăm năm, và hiển nhiên là chẳng có ai quan tâm đến nó đang tàn tạ.

Mùa này, sông Middle cạn và trong trẻo, trước khi chịu thua và đóng băng lại trong mùa đông. Nó chảy róc rách và sủi bọt quanh tảng đá mà Robert Kincaid đã đứng và ngước nhìn Francesca Johnson, lúc bà ngó qua kẽ hở trên thành cầu. Những tảng đá và dòng sông, các cây cầu mái là những thứ đang tồn tại. Những thứ không tồn tại là những đêm tháng Tám nóng nực và mọi cảm giác chúng đem lại, chúng ta cứ sống tiếp không có chúng và rốt cuộc, chết đi chẳng để lại dấu vết gì của bản thân hoặc của người chị em vừa suy đồi vừa được quý trọng, cùng chung trí tuệ và thân xác là vợ một nông dâu Iowa. Bà mỉm cười khi nhớ lại một chuyện Robert Kincaid kể với bà.

Anh đang ở dưới một cây cầu khác, ở lúc khác, đi ủng cao su đến đầu gối, dùng ống kính góc độ rộng để tạo cảm giác cây cầu chạy vào khoảng xa bên trên. Lúc chụp xong, ủng của anh dính chặt trong bùn. Anh mất thăng bằng và ngã ngửa ra sau, giơ vội máy ảnh lên cao để bảo vệ. Bẹt, anh nằm thẳng cẳng, lưng chìm vào bùn, còn đôi ủng vẫn đứng thẳng giữa đống bẩn tưởi. - Anh nằm trong bùn, nhìn lên trời và cười nhạo mình. Anh bỏ đi, bàn chân đi bít tất và giặt sạch ở chỗ ngược dòng xa hơn. Tuy vậy, đã chụp được ảnh. Đấy mới là việc quan trọng. Chị nhận xét về việc anh có thể cười nhạo mình dễ thế. Trong những ngày họ ở bên nhau, anh đã cười như thế vài lần.

Kincaid mỉm cười và nói: - Anh thường hình dung có hai thứ chỉ rõ độ trưởng thành. Một là biết cười nhạo mình. Hầu hết mọi người coi bản thân và cuộc sống của họ quan trọng hơn hoàn cảnh gây ra rất nhiều, và phiền lòng khi thấy cuối cùng, toàn bộ sự việc thật ngớ ngẩn. Anh buộc mình phải vui bằng cách cười nhạo mọi việc ngớ ngẩn mình làm. Mà anh ngớ ngẩn nhiều lắm, vì vậy phần lớn thời gian, anh khá là vui. Francesca đã hỏi, anh coi cái gì là dấu hiệu thứ hai của sự trưởng thành.

- Là biết cười thán phục thành công của người khác, thay cho sưng sỉa vì đố kỵ, - anh nói ngay không hề ngập ngừng. - Anh nhớ lần đầu tiên được nghe Bach, phản ứng tức thời của anh là cười. Sau đó, anh có phản ứng hợp lý hơn, cảm nhận cái hay của tác phẩm và anh cố duy trì quan điểm đó. Có lần trước Thế chiến, anh ngồi trong quán cà phê ở Paris và lắng nghe một tay chơi ghita, một người gypsy tên là Django Rainhardt, anh ta chỉ còn ba ngón tay cử động được - hai ngón kia không còn sử dụng vì một vụ hỏa hoạn - nhưng vẫn chơi với tốc độ và sự thuần thục khó tin nổi. Anh cũng có phản ứng tương tự. Thán phục, chứ không ghen tị. Anh giơ bàn tay trái lên, ngón đeo nhẫn và ngón út gập vào lòng bàn tay, ngọ nguậy ngón tay cái và hai ngón kia như đang chơi ghita. - Trong đống tài liệu của anh, có một bức ảnh chụp Django Rainhardt dựa vào một ngôi nhà, đang hút thuốc, áo mưa vắt trên vai. Chỉ có hai ngón tay và ngón cái. Thật khó tin. Còn những bức ảnh về cuộc cách mạng Mexico của một nhà nhiếp ảnh anh không biết tên, làm bằng những thiết bị và phim thô sơ hơn của anh nhiều. Những bức ảnh tuyệt đẹp, một tác phẩm phi thường. Các pho tượng của Theodore Roszak, tranh của Picasso và bao thứ khác nữa. Thay cho cảm giác đố kỵ, ta chỉ nên mỉm cười và cố làm tốt hơn công việc của mình. Hãy cố gắng vượt qua những hạn chế của mình, đừng bận tâm chê bai nếu thành quả của người khác có khiếm khuyết. Không làm việc theo kiểu đa số trông mong; vì hình như họ làm ngược lại. Anh đoán vì làm việc thì vất vả hơn rên rỉ than vãn nhiều.

Robert Kincaid ngừng và lại mỉm cười. - Cứ hỏi người nào sống cô đơn nhiều như anh một câu đơn giản thôi, em sẽ bị nghe một bài diễn giảng dài lê thê, nhiều hơn điều em cần biết và hỏi lúc đầu rất nhiều. Anh xin lỗi. Mười sáu năm sau, Francesca đặt bàn tay lên thành cầu bên trái, nơi bà đã để lại bức thư cho ông. Nếu anh muốn ăn tối lần nữa, tối nay làm xong việc, khi “bướm đêm trắng muốt bay", anh ghé đến nhé. Bất cứ lúc nào cũng được.

Chúa ơi, cái gì ám ảnh khiến bà làm việc đó nhỉ, bà tự hỏi, như bà đã tự hỏi mình biết bao lần. Sự liều lĩnh, sự cuốn hút ghê gớm của con súc sắc nguy hại trong một cuộc sống khác, không thể chê trách. Thời điểm quyết định là lúc người chị em suy đồi và được yêu quý thế chỗ bà trong bốn ngày đó, bốn ngày của một biến cố ngưng đọng đến lạ kỳ và không bao giờ tiêu tan. Chà, bà mỉm cười một mình, nhưng mình sẽ làm lại việc đó lần nữa với ông ấy, vì ông ấy. Mình cho rằng, lầm lỗi to lớn của mình là không hề cảm thấy ân hận và sẽ không bao giờ ằn hận, trừ một lúc xao xuyến. Một con bồ câu bay từ chỗ nó ngủ bên trong cầu làm bà giật mình. Bà rời tay nơi bà vừa chạm lên lớp gỗ cũ và bắt đầu chặng đi bộ dài về nhà, những bước đi giống như cuộc đời bà, một loại chừng mực khiến bà đôi khi muốn gào thét. Bằng cách riêng của mình, Robert Kincaid đã giúp bà nín bặt tiếng thét và bà có thể nín lặng mãi về sau.

.