Hôm nay bạn muốn đọc gì?

Một ngàn con đường quê - Phần kết “Những cây cầu ở quận Madison” - Chương 8

Chương 8: Big Sur, năm 1945.

Wynn McMillan vác cây đàn xenlô và vali xuống Big Sur trên một xe chở thư. Là người tao nhã bẩm sinh hơn là do cách sống, cô nhanh chóng thừa hưởng vẻ duyên dáng cả về thân hình lẫn tư cách. Những phẩm chất đó đã cải thiện đáng kể vẻ mộc mạc, góc cạnh trong diện mạo của cô. Hiểu theo cách thông thường, dáng người yểu điệu và mớ tóc nâu dài tha thướt được coi là nét đẹp nhất của Wynn McMillan. Mười chín tuổi, thiếu những mục tiêu cụ thể ngoài việc chơi nhạc và sống theo kiểu tự cho là lãng mạn, Wynn McMillan thích thú dòng chảy cuồng nhiệt vì tuổi trẻ và biết thế giới sẽ tốt đẹp hơn. Ba ngày trước, Đức đã đầu hàng Đồng minh và nước Mỹ đang trong tình trạng vô cùng phởn phơ, gần như ngây ngất. Nhìn xa trông rộng, có thể thấy đoạn kết của cuộc chiến. Nhưng bên kia Thái Bình Dương, ở Okinawa, Đội quân thứ Mười của Buckner vẫn xuống phương Nam, đề phòng quân Nhật kháng cự mãnh liệt. Đội quân thứ Mười đóng cách Nhật Bản ba trăm dặm, trên đảo Kyushu và dự định tấn công ồ ạt vào tháng Mười một. Jake, người đưa thư, lái xe khắp các con đường chữ chi, thuốc nổ đã tạo nên con đường trước kia là núi, bên trái là mặt dãy Santa Lucia cứng rắn, bên phải là dốc thẳng tuột một trăm hai mươi mét xuống đại dương, chỉ cách có hai mét. Nhiều lần, thứ trang trí trên mui xe chẳng chỉ tới gì ngoài vô tận, và Wynn McMillan nhìn qua nó, thấy những vách đá dựng đứng của Big Sur nhô ra Thái Bình Dương, tiến về hướng Nam giống như những nếp gấp của một tấm rèm nặng nề, tối tăm.

Bên dưới họ, sương mù đọng trong các khe núi và biển cả nhăn lại, mỗi ngày có tám ngàn con sóng đập liên miên vào dải đất ven bờ. Khi Jake lái xe xuống một bãi chăn gia súc trải dài qua thung lũng Big Sur, Wynn nhìn thấy những cây anh túc và tử đinh hương dại đang nở hoa. Hình như với cô, tương lai không thể hứa hẹn gì hơn. Cô như vừa được tắm gội sạch sẽ cho chuyến đi này, để bước vào một giai đoạn mới trong đời. Bên kia Thái Bình Dương và ở dưới Big Sur vài vĩ độ, trong nhiều tuần lễ, Robert Kincaid chưa được tắm rửa thực sự, bộ đồ dã chiến bám lấy người anh như lớp đa thịt mốc meo. Anh chưa biết rằng ba bức ảnh của anh đã xuất hiện trên bìa một tạp chí lớn trong hai tháng qua. Dòng chữ khen ngợi duy nhất đi kèm các bức ảnh là Ảnh lính thủy đánh bộ Mỹ.

Đi cùng Jake, Wynn McMillan có một tờ Life nhét vào ngăn bên chiếc túi xách tay to đùng của cô. Trên bìa là bức ảnh một lính thủy đánh bộ đang dùng súng phun lửa bắn vào boongke, trong lúc các lính Mỹ khác tấn công quả đồi phía sau. Kincaid chụp bức ảnh đó mười ngày trước. Người lính thủy cầm súng phun lửa đó đã chết khi đổ bộ lên đất mỏ, ba giờ sau khi Kincaid chụp bức ảnh đó(1). (1) Sau này, bảy bức ảnh Kincaid chụp ở Thái Bình Dương được xuất bản dưới tiêu đề: Nghệ thuật thị giác về chiến tranh. Một nhà nhiếp ảnh khác tìm được âm bản ở Quân đoàn Lính thủy đánh bộ và khẳng định mình là tác giả. Rõ ràng Kincaid không hề biết việc đó, hoặc có lẽ, với bản tính của mình, Robert Kincaid chỉ nhún vai và cho rằng những sự bất lương sẽ bị trừng phạt. Năm năm sau, một học giả khi nghiên cứu về lịch sử nhiếp ảnh đã khám phá ra sự dối trá này và đăng một bài báo ngắn để đính chính, tuy mười hai ngàn cuốn sách nguyên bản vẫn còn trong nhiều thư viện khác nhau và trong tay các cá nhân với lỗi sai không được sửa chữa. Người đạo tác phẩm của Kincaid trở thành nhà nhiếp ảnh nổi tiếng cho một tạp chí danh giá, bị yêu cầu chịu trách nhiệm vì sự sai lệch trên, nhưng ông ta không bao giờ xin lỗi Kincaid và vẫn đưa cuốn sách vào lý lịch nghề nghiệp, đồng thời khẳng định tất cả các bức ảnh trong đó là tác phẩm của riêng mình). Chiếc mũ phớt mềm trên mái tóc nâu dài của Wynn hình như hơi nặng so với bộ váy áo mùa xuân nhẹ nhàng cô mặc. Cô vẫn muốn mặc váy và đội mũ, nên thỏa hiệp, phớt lờ sự không hòa hợp của chất liệu vải.

Cha của Wynn McMillan, một người bán đồ kim chỉ đáng kính ở Monterey, sẽ không tán thành cách lựa chọn trang phục của con gái, nhưng ông tán thành phần lớn các việc cô làm trong vài năm gần đây. Đàn xenlô là một ngoại lệ, ông thích cô chơi đàn cho ông nghe vào những buổi tối, khi đã xong bữa, và Irene mẹ cô - một nhạc công dương cầm cho các bộ phim câm, - bận dọn dẹp bát đĩa. Ông ngồi trong chiếc ghế bành thoải mái, thắt nơ con bướm, sơmi hồ cứng, quần flanen là phẳng phiu, ông mỉm cười và nhắm mắt lại, lắc lư đầu theo điệu nhạc. Hàng năm, vào dịp Chủ nhật đầu sau Phục sinh, ông đặc biệt hãnh diện vì con gái ông chơi đàn trong nhóm tứ tấu cho buổi lễ sáng tại nhà thờ Presbyterian. Lúc tiếng xenlô của Wynn vút lên trong cung Mi trưởng, Malcolm McMillan quay người, mỉm cười và gật đầu với những người mỉm cười và gật đầu đáp lại. Tuy vậy, ngoài việc chơi xenlô, cách cư xử của Wynn làm ông hoang mang. Rất giống cung cách của Robert Kincaid, Wynn chẳng bao giờ thích thú nền giáo dục chính quy. Nhiều lần cô giả ốm để tránh việc học hoặc làm bài hôm sau mà cô thấy chán ngăn ngắt. Wynn dành những ngày đó chơi xenlô, đọc sách và tự học vẽ tranh sơn dầu. Mặc dù vừa ốm suốt tuần, các ngày thứ Bảy và Chủ nhật cô vẫn dành nhiều giờ giúp Hội Chữ Thập Đỏ dóng gói các đồ y tế cho mặt trận châu u.

Ở tuổi thiếu niên, Wynn bắt đầu mặc những thứ mà cha cô cho là khá kỳ cục, một đống tạp nhạp những khăn và áo, và lạy Chúa tôi, quần đàn ông lụng thụng trên thân hình cao, mảnh dẻ (một số người nói là xương xẩu). Còn các thanh niên thỉnh thoảng đến chơi, hình như chẳng chàng nào đủ đàng hoàng theo lối cổ truyền vừa ý ông. - Irene này, con gái chúng mình không quen biết một chàng trai nào có tiền đồ sáng lạn ư ? - Nó vẫn còn trẻ mà, Malcolm. Em nghĩ nó thừa hưởng bản tính nổi loạn của tất cả những người Scotland mà anh hay ca ngợi đấy. Em đã nói về việc ấy với con nhiều lần, nó chỉ cười và nói: “ồ mẹ ơi ! Con chẳng vội gì lấy chồng. Con muốn thăm dò cả thế giới âm nhạc và nghệ thuật ngoài kia cơ. Bố muốn con nhận lời một bác sĩ hay luật sư, ổn định và có con, rồi năm hai mươi tuổi đã chơi những bài ru con trên xenlô chắc”.

Thế nên Malcolm McMillan cùng vợ đang đau đớn vì những hồi ức về cậu con trai đã hy sinh từ hai năm trước, khi đánh chiếm Salemo, cũng chỉ biết lắc đầu chán nản lúc Wynn tuyên bố sẽ đến một nơi là Big Sur để học sáng tác cùng nghệ sĩ dương cầm Gerhart Clowser. Malcolm chỉ biết Big Sur là nơi tập hợp những người có tư tưởng tự do và lập dị. Cái sự oái oăm tiếp theo là một số cư dân Big Sur đùa giỡn với nhu cầu thiết tha với thuyết duy cảm của báo chí và độc giả của nó, đã thêm thắt vào nỗi khổ của ông khi đọc thấy Big Sur là quê hương của tệ sùng bái sex và tình trạng vô chính phủ. Những bức thư của Wynn không làm ông Malcolm yên tâm hơn. Con đang ở trong túp lều một phòng, dựng bằng các thùng thuốc nổ vứt bỏ trong một tòa nhà trên Đường Một. Không tủ lạnh, không đèn điện còn toilet ở bên ngoài. Jake, người đưa thư, chở đến dầu hỏa, than, trứng, và đủ thứ khác khi anh ta mang thư từ Monterey tới.

Dân chúng ở đây vô cùng thú vị. Những tín đồ Phật giáo Thiền phái, một chuyên gia văn hóa dân gian Ireland, còn những người khác hình như rất am hiểu nghệ thuật, khảo cổ học, ngôn ngữ học, vân vân. Gần như ai cũng làm nghệ thuật, từ nặn tượng đến làm thơ và các tác phẩm bằng gỗ. Nhưng đấy không phải là thứ mà đa số dân chúng nghĩ: Ở đây, hàng ngày họ phải vật lộn chỉ đề thỏa mãn các nhu cầu cơ bản. Có nhiều thứ bố sẽ gọi là “lập dị", nhưng là sự ngụy tạo vì hầu hết những người xuống đây đều tự nhận là nghệ sĩ, song chẳng bao giờ làm nghệ thuật và không ở lại đây quá lâu. Tuần trước, một trong những người giả vờ đó phóng quá nhanh ở chỗ đường cong chữ chi tại Mũi Hurricane và rơi khỏi vách đá. Có thể nhìn thấy đống vụn nát của chiếc ôtô trên tảng đá bên dưới, chúng con đã làm một chuyến dã ngoại tới đó để xem đống hỗn độn. Chắc chắn là không tìm thấy xác. Con đang học ông Cloivser về sáng tác và âm nhạc nói chung, à mà những buổi hòa nhạc của ông ấy rất nổi tiếng ở châu Ẩu. Bố mẹ thử đoán xem con đã thấy ông ấy ở đâu nào ? Lúc đang chơi đàn ở bên ngoài nhà Emil White gần đường cái. Ông ấy nói chỉ dương cầm mới có giá trị với ông ấy. Con phải giúp một số người đốn củi, rồi xuống suối nước nóng Slate, tất cả đều cởi hết quần áo và nhảy vào dòng suối.

Con đang có một thời gian tuyệt vời và kiếm được ít tiền bằng cách làm một số việc lặt vặt và dạy xenlô cho một cô gái và một nhà thơ tám mươi tuổi. Bố mẹ đoán xem ai đang sống trong một căn nhà nhỏ trên rặng núi Partington. Chẳng có người nào khác, ngoài Henry Miller. Con chưa gặp ông ta, nhưng hy vọng là sắp thôi. Yêu thương, Wynn - Henry Miller là ai vậy ? - Malcol McMillan hỏi vợ.

- Ông ấy là nhà văn. - Ông ấy viết thể loại gì ? - Malcolm, em nghĩ mình không thực lòng muốn biết đâu.

- Có chứ, tôi muốn mà. - Ông ấy viết nhiều thứ, trong đó có cuốn Hạ chí tuyến. Nhưng mình không thể mua được ở Mỹ đâu. - Tại sao không ?

- Nó bị cấm vì khiêu dâm. - Khiêu dâm ư ? Như thế nào vậy ? - Malcolm, em nói rồi, em không nghĩ mình thực sự muốn biết.

* * * Bốn tháng sau khi Wynn McMillan tới Big Sur, một người đơn độc phóng môtô tới, theo đúng con đường cô đã đi, qua mũi Yankee và xuôi xuống Sur HUI Thrust. Nếu đứng trên đỉnh cao nhất của núi lửa ở Point Sur, gần cây hải đăng và nhìn xuống đất liền đầy những bụi cây đậu ánh bạc, trông người đi môtô chỉ như một đốm đen trên vách đá Santa Lucia hoặc như một hình chiếu lúc anh ta phóng qua những cây cầu cao. Có lẽ hình ảnh sáng ngời do thỉnh thoảng các bộ phận mạ crôm của chiếc xe máy Ariel Four lóe lên. Từ đầu năm 1929, Ariel Four là loại môtô nổi bật nếu bạn quan tâm đến tính năng của động cơ hơn là kiểu dáng cơ học nói chung. Robert Kincaid không sành xe máy, anh chỉ thích theo kiểu nhìn thấy và cảm nhận. Sau nhiều năm chinh chiến, không thể di chuyển mà không cảnh giác hoặc sợ hãi, sống gần hàng ngàn người đàn ông khác trên tàu hoặc trong boongke, chiếc Ariel dựng trước mặt anh trong phòng trưng bày ở San Francisco giống như một công cụ của tự do.

- Xe này hiếm lắm, mua của một người Anh trên đường hồi hương để bảo vệ tổ quốc, - người bán hàng nói. - Phi xuống miền Nam lượn vào những đường vòng và vách đá, anh sẽ có cơ hội tốt để cảm nhận nó. Chỉ cần xoay nhẹ tay lái là nó đạt vận tốc bảy mươi trước khi anh nhận ra. Big Sur đang trong lúc huy hoàng, giữa những trận sương mù mùa hè và cơn mưa mùa đông, những cây tiêu huyền, cây phong và sồi đen đủ màu sắc lúc Robert Kincaid phóng qua cây cầu cao vắt ngang nhánh sông Bixby. Trái với những hồi ức chiến tranh mà anh vừa thoát khỏi, buộc gọn đằng sau anh là cái túi ngủ, một túi nhỏ bằng len thô đựng quần áo và các thứ đồ nghề khác.

Anh phóng xe ven bờ biển xuống xa hơn, rồi đỗ lại khi nhìn thấy một ông già và một cô gái đang mải mê chơi tay đôi dương cầm-xenlô bên ngoài một căn nhà nhỏ. Anh tắt máy và lắng nghe. Tiếng xào xạc của đám lá sồi đen tan vào tiếng nhạc, xúc động tràn ngập não bộ khiến anh gần như choáng váng. Mới cách đây chưa lâu, ở đâu đó là tiếng súng cối, những tiếng la hét, tiếng lách cách của xích xe tăng, còn giờ đây là tiếng nhạc và sự xao xuyến của những lá cây đủ màu sắc. Ông già lắc mái tóc hoa râm lúc cúi trên phím đàn, trong lúc cô gái ngồi giạng chân với chiếc xen lô, chăm chú nghe người nghệ sĩ dương cầm thỉnh thoảng lại giơ bàn tay phải và đánh nhịp. Có lần người nghệ sĩ dương cầm ngừng hẳn và vừa làm điệu bộ vừa nói với cô gái: - Allegro (nhanh), cô McMillan, phải, nhưng Rachmaninott (Sergey Rachmaninott (1S73-1J43): Nhạc sĩ, nhạc trưởng, một trong những nghệ si dương cầm xuất sắc nhất của thế kỷ 20, là người Mỹ gốc Nga) - không phải là loài ngựa, không presto (rất nhanh,) chỉ nhanh hơn một chút thôi. Chúng ta sẽ chơi như thế ở nhịp bốn mươi hai. - Ông bắt đầu chơi lại từ nhịp thứ nhất, cô gái hòa theo. Đến nhịp ba mươi hai, mệt vì ngây ngất, Robert Kincaid dựa vào chiếc Ariel và lắng nghe.

Một lát sau, vài người nữa kéo đến, ngồi trên cỏ và lắng nghe tiếng đàn. Họ ăn vận giản dị, cánh đàn ông trông giống thợ rừng hơn là những nghệ sĩ quá khích bị cho là sống ở Big Sur. Khi bài tập kết thúc, họ tiến đến tự giới thiệu, cởi mở và thân mật. Cô gái chơi xenlô cất đàn vào cái túi vải bạt và đến nhập bọn. Một trong những người đàn ông nói: - Thời gian này trong năm, những đám mây tít trên cao đem lại cho chúng ta cảnh hoàng hôn tuyệt đẹp. Chúng tôi định ra bãi biển ngắm đây. Nếu anh thích, thì đi luôn thể. Harvey đã ở đó, sắp làm món cá hồi tươi đánh dưới sông lên, nấu ngay trên bờ biển, và tôi bảo đảm là ngon tuyệt. Có lần anh ấy còn nấu một con chim lặn ăn ngay trên đường cái, tôi đã có mặt ở đó nên dám nói là rất ngon.

Ban đêm, họ ăn món cá hồi của Harvey rồi sau đó trò chuyện rất lâu và nghe một người tên là Hugh chơi đàn hạc, sóng đập ầm ầm vào các quả núi ngoài khơi nghe như tiếng đại bác gầm vang trên một chiến hạm xa xa. Với Robert Kincaid, mới thoát khỏi cảnh giết chóc và máu me chưa lâu, đây là một thế giới khác hẳn, vừa thực vừa mơ. Anh ngây ngất vì sự thanh thản của tiếng cười, vì những giọng nói bàn về triết học, nghệ thuật và âm nhạc, so với cảm giác xóc, nẩy đến choáng váng ở nơi anh đã ở và những thứ anh đã chứng kiến. Da anh màu đồng, cặp mắt anh già giặn, và lúc có người hỏi về cuộc sống của anh, anh chỉ nói mình đang đi du lịch. Cô gái chơi xenlô tên là Wynn nhận thấy anh ít nói và đến ngồi cạnh anh, kéo anh ra khỏi sự im lặng. Cô tự giới thiệu và bắt tay. Anh xưng tên với cô, nhưng tất cả những điều góp nhặt, tên tuổi của người lạ không được ghi nhớ vào tâm trí cô. Sau độ hai mươi phút trò chuyện, cô hỏi:

- Tên anh là gì ấy nhỉ, anh nói lại đi. - Robert, - anh nói. - Còn tên cô là... Wynn có phải không ? - Phải. Một cái tên Scotland. - Cô đánh vần cho anh. - Bố tôi rất tự hào vì di sản này đấy.

Cô đăm đăm nhìn Robert Kincaid qua ánh lửa bập bùng trên bờ biển và nhận ra thứ ai cũng chú ý trước hết ở anh: cặp mắt. Mắt anh tạo cảm tưởng nhìn thấu và nhìn xa hơn thứ trước mặt. Trong cái nhìn cũng như trong cử động của anh, có nét đặc biệt, vừa rụt rè vừa đằm thắm, một cái gì đó của người chiến binh và phảng phất của một nhà thơ, dường như cùng một lúc anh vừa trở lại thời xa xưa vừa bỏ đi rất xa. Cô có cảm giác nếu cô để một tấm gương trước mặt anh, có thể nó phản chiếu một hình ảnh vừa xa lạ vừa cổ xưa. - Anh làm nghề gì ? Ý tôi là để sống ấy ? Lúc nãy tôi nghe anh nói anh đi du lịch. - Tôi từng ở binh chủng Lính thủy đánh bộ Nam Thái Bình Dương. Tôi mới xuất ngũ

cách đây chưa lâu. Trước chiến tranh tôi là thợ ảnh và tôi sẽ cố làm lại nghề đó. - Anh làm gì trong binh chủng Lính thủy đánh bộ ? - Cũng thế, chụp ảnh.

Robert Kincaid nhìn đăm đăm xuống cát và thấy ngỡ ngàng vì anh đang lặng lẽ ngồi ở đây, thay vì lê tấm thân một mét tám mươi nhăm của mình dưới những cái lưỡi bỏng rát của súng phun lửa. Trong giây lát, anh như trở lại đảo san hô vòng, cúi xuống người trợ lý và gọi cấp cứu. Lúc đó, một giọng phụ nữ nói với anh: - Thỉnh thoảng tôi đến đây vào buổi chiều để tập xenlô. Nếu ngày mai anh muốn nhập bọn với tôi, chúng ta sẽ đi picnic một chuyến. Đống lửa lụi dần, mọi người tản đi, họ về nhà trên đỉnh núi hoặc trong các khe núi.

Có tiếng nói ngay bên phải anh: - Rồi sẽ ổn thôi. Hôm thứ Tư, Jake sẽ mang dầu hỏa tới. Tôi đã đặt trước đủ cho vài tháng, vì thế tôi sẽ để lại cho anh một ít. Mọi người bắt tay Kincaid, nói họ rất vui được gặp anh rồi đi vào đêm tối. Một người tên là Lawrence tiến đến và mời Kincaid đến chỗ anh ta nghỉ đêm, Kincaid cảm ơn và nhận lời.

Sóng đập ầm ầm vào các quả núi ngoài khơi, âm thanh của chúng giống như tiếng gầm vang của đại bác trên chiến hạm Mỹ lúc trước. Ở Betio, một lính cứu thương cúi xuống người trợ lý của Kincaid và nói: “Tôi xin lỗi, anh ấy chết rồi, chết trước khi đập xuống đất. Bọn bắn tỉa khốn nạn”, rồi anh ta rút thẻ quân nhân của người đang theo Kincaid học nghề nhiếp ảnh. “Anh nhớ cúi đầu xuống, bọn bắn tỉa nấp trong cái tàu thủy cũ của một thương nhân Nhật kia kìa”. - Kìa, - tiếng cô gái nói, - picnic hay không nào? - A, có. ơ... nghe có vẻ... rất tuyệt. Tôi thích lắm.

- Tốt. Vậy hai giờ chiều mai, tôi sẽ gặp anh ở chỗ rẽ vào đường cái kia nhé. Ngày kia, chúng tôi sẽ đến thăm Henry Miller. Anh đi cùng chúng tôi cho vui. Kincaid biết Henry Miller. Tuy sách của ông bị cấm ở Mỹ, song rất phổ biến trong đám binh lính ở nước ngoài. - Có lẽ là việc thú vị đây. Ông ấy không hẳn là người tôi thích, nhưng nó sẽ là... ờ, như tôi vừa nói, là thú vị.

- Henry Miller vô hại ở bang của ông ấy. Ông ấy lang thang đến đây như những người khác và cố tránh mọi người khờ dại, hành hương đến gặp ông, những người chẳng mong gì ngoài những tấm thân trần truồng nằm la liệt, hành xử sỗ sàng trong các tư thế khác nhau. * * * Malcolm McMillan vẫn coi con gái mình như lúc mới mười lăm, một cô bé lóng ngóng mà ông luôn nghĩ là chưa đủ da đủ thịt.

- Con bé phải ăn nhiều hơn, - ông nhắc vợ. - Malcolm, anh không phải lo đâu. Hai năm vừa rồi nó bắt đầu mặc chật hết quần áo và dáng dấp khá là nữ tính. Cách ăn mặc của nó che giấu khá tốt gần như mọi lúc. Mình ạ, con bé đã mất vẻ vụng về và trở nên khá duyên dáng. Qua chiếc áo len nhẹ, rộng lùng thùng cô mặc, Robert Kincaid vẫn nhận ra hình dáng và đường cong của thân hình Wynn McMillan lúc anh cho chiếc Ariel chạy chậm lại và đỗ đúng chỗ cô đứng bên đường cái. Một thoáng háo hức xưa cũ vừa trở lại. Trong hoàn cảnh chiến tranh ở những hòn đảo hẻo lánh buộc phải tiết dục, anh tập trung vào việc cố sống sót và làm nghề. Ngoài các nữ y tá mệt mỏi và rã rời như lính bộ binh, đàn bà là một khái niệm trừu tượng: Rita Hayworth (Rita Hayvvorth (1918-1987): Vũ công, diễn viên Mỹ nổi tiếng xinh đẹp và tài năng, đã thủ vai chính trong hàng chục bộ phim, được tôn vinh là "nữ thần của Hollyvvood' ở đỉnh cao sự nghiệp) lừng danh trong chỗ ăn ở chật chội trên con tàu chở lính, chân dung gấp lại của Lauren Bacall (Lauren Bacall (sinh năm 1924): Diễn viên sân khấu và điện ảnh Mỹ, sớm thành công vì kết hợp được giọng nói khàn khàn với phong cách khêu gợi và tinh tế lạnh lùng) mà một lính thủy đánh bộ cất trong túi ngực, các bức ảnh của vợ và bạn gái được truyền tay nhau, ngưỡng mộ và chia sẻ trong cảnh cô đơn. Lẽ tất nhiên, còn giọng nói ngọt ngào và mượt như nhung của vài người phụ nữ khác được gọi chung là “Bông hồng Tokyo”, thúc giục lính Mỹ đào ngũ vì phải đối mặt với một sự nghiệp vô vọng.

Nhưng mặt trời ấm áp và buổi chiều trước mắt Robert Kincaid giống như một cuộc đời khác, một phần thưởng do Thượng đế ban tặng và tí nữa thôi là anh nhìn thấy và tự nhủ không ít thì nhiều, anh xứng đáng hơn những người ngã xuống ngay trong lúc anh chụp ảnh họ. Mười sáu triệu lính Mỹ bị động viên vào cuộc chiến, bốn trăm ngàn người chết trong chiến trận hoặc những sự kiện liên quan. Quân Nhật thương vong hai triệu người. - Chào anh, - cô gái nói lúc anh vung chân rời chiếc Ariel. Cô mỉm cười, và Kincaid nghĩ trông cô thật đáng yêu. - Chào cô. Trời đẹp quá nhỉ ? - Anh nói và bất chợt nhận ra lúc này anh đang mỉm cười. Hành động cười mỉm và cười to đúng lúc, đúng mực, là kỹ năng anh đang cố học lại.

- Ở Big Sur, khó mà nói là không đẹp. Anh cứ ở lại và sẽ thấy. - Cô nghiêng đầu bổ sung cho lời mời. Kincaid vẫn mỉm cười lúc vỗ lên chỗ ngồi của chiếc Ariel, anh liếc nhìn cây đàn xenlô của cô và cái giỏ đan bằng cành liễu để cạnh. - Trông như chúng ta cần đến một sĩ quan hậu cần, đại loại như lúc đổ bộ lên Guadalcanal, song té ra nơi ấy là một đống hỗn độn. Vì tôi cần cả hai tay điều khiển xe, nên tôi sẽ buộc cái giỏ của cô và balô của tôi vào đằng sau. Nếu cô có thể quàng dây để đeo cái hộp đàn lên vai, cô cứ ngồi lên sau tôi, tôi sẽ lái xe thực sự thoải mái và cố dừng lại trước khi chúng ta rơi xuống nước.

Cả vùng được che bằng tán lá cây tiêu huyền và dốc xuống bãi biển, ánh nắng xuyên qua lá thành vết lốm đốm trên con đường rợp bóng. Kincaid dựa chiếc Artel vào một vách đá, đối diện Thái Bình Dương, ở trên nơi anh nghĩ là ngấn nước thủy triều cao khoảng ba chục mét. Wynn McMilIan chỉ về phía bắc. - Chúng ta có thể đi men bờ biển, vòng qua mũi biển chỗ kia là tới một bãi biển nhỏ rất đẹp, khuất gió. Tuy nhiên, cần đề phòng thủy triều. Bây giờ nó thấp, nhưng lúc triều dâng trở lại, quanh mũi ở đó chẳng còn gì ngoài việc phải trèo lên vách đá hoặc đợi thủy triều rút.

Bi đông lính treo tuột bên thắt lưng, con dao Thụy Sĩ gài ở bên kia, Robert Kincaid vác cây đàn xen lô lên vai phải và khóac ba lô của anh lên vai trái. Cô xách cái giỏ liễu đan đựng bánh mì kẹp xúc xích, salat khoai tây và hai chai vang đỏ. Lúc đầu cô chỉ gói một chai, nhưng nghĩ đến người đàn ông bên ánh lửa tối hôm trước, cô quyết định mang thêm chai thứ hai. Nhỡ một chai chưa đủ. Cô nói đến âm nhạc, biển cả và tình yêu Big Sur ngày càng lớn lên của cô, còn anh chú ý đến cách cô dùng đôi bàn tay, các động tác lượn tay rất nhanh, gần như đánh nhịp. Anh quan sát lúc cô nhặt vỏ sò và nghĩ lâu lắm rồi, anh không chú ý đến vỏ sò vỏ ốc ngoài những chỗ rách kinh tởm khi ngã lên hoặc bò trên chúng trên đường đổ bộ vào bãi biển. Cô ngoảnh nhìn anh qua vai, mỉm cười nồng nhiệt rồi quay đi và hỏi:

- Tại sao anh đeo cả dây quần rộng bản lẫn thắt lưng ? Có phải là dấu hiệu bất an trong lòng không ? Kincaid cười to: - Không phải lúc nào tôi cũng rhế. Tùy việc tôi đang làm. Lúc tôi đeo một bi đông, một đồng hồ đo ánh sáng, con dao và vài thứ khác lên thắt lưng, quần bắt đầu tụt xuống. Vì thế tôi dùng dây quần để kéo nó lên.

Sau nửa giờ đi bộ qua cát đóng cứng lại, Kincaid thưởng thức sự tò mò và nồng nhiệt của cô gái với mọi thứ xung quanh, thích thú nhịp điệu nhún nhẩy của cặp mông tròn như mũi biển lúc cô đi trước anh. Sau này, anh viết: “Buổi trưa, chúng tôi đến một bãi biển nhỏ, cởi giày và lội qua một lạch nước nông, cắt ngang bờ cát Thái Bình Dương. Lạch nước có màu đỏ tía - xanh xanh rất lạ, sau này tôi mới phát hiện ra trên đường ra biển, nó chảy qua đá núi lửa. Ngắm những con sóng đập vào các tảng đá ven bờ, tôi suýt bỏ qua một dấu vết khác thường trên cát, bên chân tôi. Vết đỏ rộng khoảng chín mươi xăngtimét và nhẵn nhụi, có nhiều lỗ ở một bên, cách nhau những khoảng dều dặn.

Ngồi xổm, tôi sờ lên những dấu vết đó, như thể chúng có thể nói cái gì đã tạo ra chúng. Ngoài tiếng những con sóng lớn vỗ bờ và tiếng thở của tôi, chỉ có im lặng. Tôi đưa mắt dõi theo vết đỏ đến mặt nước: một con vật to lớn màu nâu. ở cuối con đường mòn lạ lùng ấy. Nó đang di chuyển. Tôi liếc nhìn cô gái. Cô ta cũng nhìn thấy nó. Trong balô của tôi chỉ có một kính ngắm máy ảnh loại nhỏ và tôi lục tìm nó lúc tiến tới. Tôi đi rất thận trọng. Đây không phải là lãnh thổ của tôi, tôi không quen với thú hoang, cả trên rừng lẫn dưới biển, và kích thước của con vật này thật đáng sợ. Vừa lượn tròn, tôi vừa cố tiến lên trước con vật trên cát, chỉ cách tôi khoảng ba chục mét. Tôi có thể nhìn thấy mặt nó, gắn trên thân hình dài bốn mét rưỡi và nặng đến hàng tấn. Đó là một bộ mặt kỳ lạ, buồn bã, cặp mắt màu nâu giống như những hòn đá nhẵn nhụi trên bãi bển và một cái vòi giống thân cây. Dùng các chân chèo, con vật nhấp nhô trên cát tới mặt nước. Nó nhìn thấy tôi và ngóc đầu lên để nhìn rõ hơn, rồi lại hạ đầu xuống và nằm trên cát như một con chó nằm trên thảm, cằm chúc xuống, mắt chớp chớp.

Cách khoảng sáu mét, cặp mắt nâu của nó đã hiện rõ trong ống kinh. Chúng nhìn thẳng vào tôi, một cái nhìn sợ hãi hay ít ra là tò mò, cảnh giác, lúc tôi cúi người cố tìm một góc đẹp. Tôi bắt đầu có cảm giác thường có, mỗi khi đột nhập và phá vỡ cuộc sống của những sinh vật khác, vì rõ ràng cô gái và tôi đã xâm phạm khoảnh khắc yên bình của nó, nếu không có chúng tôi. Tôi vận dụng trí nhớ tìm những hình ảnh trong tất cả các cuốn cẩm nang về động vật hoang dã mà tôi đã đọc trong nhiều năm qua. Chắc là tôi phải biết con vật này, nhưng không, tôi không thể nhớ ra. Không phải là con huệ biển. Nó quá to, và cái mũi không giống. Không phải là hải mã, tuy kích thước và thái độ có vẻ giông giống. Tuy chưa bao giờ sốt sắng nhớ tên các loài vật, vì thực ra, tôi luôn tin rằng chúng ta quá mải mê gán các loại tên cho chế giới quanh ta, vậy mà tôi phát cáu vì không sao nhớ ra tên của con vật ngay trước mắt tôi. Con vật ở một chỗ khó mà chụp được một bức ảnh đẹp. Nó nằm bẹp trên cát, ngay lập tức những tảng đá ở đằng sau có cùng màu với da nó. Không sao. Tôi hạ thấp máy và cứ giữ yên. Rồi tôi chợt nhớ ra. Con vật đó là hải cẩu voi (Loài hải cẩu sống ở bờ biển phía tây Bắc Mỹ, con đực có mũi rất dài giống như vòi voi, tên Latinh là MirounỊữ angustirostris), hồi thế kỷ mười chín bị săn bắt gần như tuyệt diệt và rất hiếm khi nhìn thấy. Nó mất cả ngày, có khi cả đêm hôm trước nữa, để bò ngược lên bãi biển và hình như giống tất cả chúng ta vẫn làm, là cố đến với nước.

Những con sóng cao khoảng hai mét đập vào các tảng đá cổ khi con hải cẩu lao vào chỗ nước cạn, nó dừng lại giây lát ngoảnh nhìn cô gái và tôi. Đến chỗ nước sâu hơn, sự vụng về của con vật lập tức biến mất. Trên đất liền, nó như một đống bùn lớn. Dưới nước, nó khác hẳn. Bất thình lình, khéo léo và nhanh nhẹn, nó trượt sâu và trong khoảnh khắc biến mất qua một khe hẹp giữa hai tảng đá. Tôi đứng thẳng lên và nhìn cô gái. Cô đến gần, vòng cánh tay quanh eo tôi. Tôi vẫn ngắm nhìn mặt nước. Cô kéo cánh tay áo tôi và tôi nhìn cô. - Nó đặc biệt quá, Robert, - cô nói. - Người ta thường không nhìn thấy ở quanh đây đâu. - Cô mỉm cười và nhìn thẳng vào tôi.

Một lát sau, cô nói thêm: - Em nghĩ, nó có phần giống anh... có lẽ vì không hay gặp. Dấu vết rộng chín mươi xăngtimét vẫn còn lại trên cát, với những dấu chân chèo ở hai bên dẫn thẳng tới Thái Bình Dương. Tôi cất máy ảnh vào balô, nghĩ đến cặp mắt nâu của con Mirounga angustirostris lúc nó ngắm nghía tôi, cố vùng vẫy trong trí nhớ và các chi của nó, cuối cùng khi nhận ra tôi, nó lăn qua đám bọt biển và lặn vào nước sâu. Nó đã đi rồi.

Cô gái trải một tấm vải lên mặt đất, gần một tảng đá có kích thước và chiều cao chỉ bằng cái ghế bành. Cô lấy đàn trong hộp ra, so dây, rồi ngồi lên tảng đá và bắt đầu chơi. Tôi nằm trên cát và nghĩ đến nơi tôi đã ở trong suốt ba năm qua, rồi cố không nghĩ đến nó nữa. Cát rất ấm và tôi nằm đó một lúc lâu, không còn muốn ở nơi nào khác nữa”. Sáng hôm sau, sương mù rất dày. Robert Kincaid lấy cái bùi nhùi và nhen lại đống lửa anh đã gầy đêm trước, nó cháy qua gần hết đêm. Anh và Wynn McMillan nằm trên cát, ôm nhau, anh cảm thấy mình trẻ lại, giữ được những hồi ức chiến tranh khiến người già biến thành tươi mới. Wynn thấy lạnh, mớ tóc dài của cô tung một phần khỏi cái lược giữ nó vun cao và gọn gàng. Lặng lẽ, cô mỉm cười và hôn anh, rồi hôn lần nữa. Họ nằm đó, vuốt ve nhau cho đến khi bầu trời biến thành màu trắng nhợt và mặt trời chiếu một tia sáng nhợt nhạt qua màn sương mù. Họ làm tình lần thứ ba, kể từ lúc đến bãi biển.

- Rồi anh sẽ ở lại chứ ? - Sau đó, cô hỏi. Anh ngồi dậy và phủi cát khỏi lòng bàn tay, xỏ đôi giày ống và bắt đầu buộc dây. - Anh không thể. Anh cần làm việc và phải gọi cho tờ National Geographic xem họ còn việc gì cho anh không. Trước chiến tranh, anh đã làm nhiều cho họ. Anh nghĩ sẽ định cư ở khu vực San Francisco. Không xa lắm đâu. Chúng ta có thể gặp nhau thường xuyên.

- Em biết. Nhưng đôi khi em ước giá cuộc đời cứ như lúc này mãi, giống như đêm qua, giống như sáng nay. - Cô dựa vào cái sơmi ẩm của Kincaid và nghịch nghịch cổ áo anh. Anh nghiêng đầu dựa vào đỉnh đầu cô, và anh ngửi thấy mùi biển trong tóc cô. Một đàn bồ nông nâu ra khỏi sương mù, đập cánh bay về phương Nam thành một hàng không đều, chỉ cách mặt nước độ mươi phân. Chúng biến vào màn sương và thế chỗ là những con mòng biển, bắt đầu công việc buổi sáng của chúng. Chính vào lúc ấy, Robert Kincaid biết không thể lần lựa, trì hoãn được nữa, phải tiến lên, không thay dổi. Trong lòng anh bồn chồn không yên. Một cuộc đời thứ hai trải ra trước mắt anh, và anh nóng lòng muốn nắm lấy nó, hòa hợp với nó. Wynn McMillan cởi hai khuy trên cùng áo sơmi của anh, hôn lên ngực anh và vùi mặt vào da anh một lát, trong lúc Robert Kincaid vuốt ve tóc cô và cảm thấy những hạt cát rải rác trong mái tóc. Cô quay đầu và dựa vào anh, chỉ ra phía đại dương và thì thầm:

- Người ta bảo đến tháng Ba, những con cá voi xám sẽ đến..