fa-bars

Một ngày - Chương 17

Chương 14.

Giai đoạn làm cha Thứ Bảy, ngày 17 tháng Bảy năm 2000. Richmond, Surrey

Jasmine Alison Viola Mayhew. Cô bé được sinh ra vào khuya ngày thứ ba của Thiên niên kỷ mới, và do đó lúc nào cũng như đã một trăm năm tuổi. Một đứa trẻ nhỏ nhắn nhưng khỏe mạnh nặng 2,9 ki lô gam, và trong mắt Dexter, nó xinh đẹp đến mức không ngôn từ nào có thể diễn tả được, anh biết rằng anh sẽ hy sinh cả cuộc đời mình cho đứa bé này, đồng thời cảm thấy khá tự tin rằng tình huống này không thể nào xảy ra. Đêm hôm đó, ngồi trên chiếc ghế nhựa thấp trong bệnh viện, ôm chặt sinh linh bé nhỏ với khuôn mặt đỏ như gấc này, Dexter Mayhew đã đưa ra một quyết định trọng đại. Anh quyết định kể từ giờ trở đi sẽ chỉ làm những việc đúng đắn. Ngoài một ít nhu cầu sinh lý, tất cả những lời nói và hành động của anh sẽ phải hợp tai hợp mắt cô con gái của mình. Anh sẽ sống một cuộc sống như thể dưới sự giám sát thường xuyên của Jasmine. Anh sẽ không bao giờ làm những thứ khiến cho con bé đau đớn, lo lắng, hoặc xấu hổ, và sẽ không có điều gì, tuyệt đối không còn điều gì khiến anh phải hổ thẹn nữa.

Quyết định trọng đại này chỉ duy trì được khoảng chín mươi lăm phút. Khi anh ngồi trong nhà vệ sinh, cố gắng nhả khói thuốc lá vào chai nước khoáng Evian rỗng, một ít khói thuốc đã thoát ra ngoài, khiến máy dò khói thuốc kêu báo động, đánh thức vợ và con gái của anh khỏi giấc ngủ quý giá của họ, và khi anh từ nhà vệ sinh bước ra, tay vẫn cầm chặt vỏ chai nước đã đậy nắm bên trong chứa đựng khói thuốc màu xám vàng, cái nhìn từ đôi mắt mệt mỏi, nheo lại của vợ anh đã nói lên tất cả: Dexter Mayhew không thể nào giữ được lời hứa. Trạng thái xung khắc giữ hai người càng trở nên trầm trọng hơn bởi thực tế rằng, khi bước vào thế kỷ mới, anh thấy mình thất nghiệp hoặc thậm chí không có được viễn cảnh về một công việc nào. Chương trình Thể thao Mạo hiểm đã bị chuyển dần sang sáng tinh mơ một cách không thương tiếc cho đến khi rõ ràng là không ai, kể cả những người chơi môn BMX, có thể thức khuya đến thế vào một đêm trong tuần, dù các động tác của nó có tuyệt vời, êm ái hay đẹp mắt đến mức nào. Chương trifh đó dần đã đi đến kết thúc và kỳ nghỉ phép trong thời gian vợ thai sản đã chuyển dần thành thời gian thất nghiệp. Điều khiến cả hai tạm thời sao nhãng là việc chuyển nhà. Sau nhiều lần phản đối, anh buộc phải cho thuê căn hộ mình sống từ hồi độc thân ở Belsize Park với một khoản tiền kha khá hằng tháng, và đổi lại, anh chuyển đến một ngôi nhà mái ngói xinh xắn ở Richmond, nơi họ bảo anh rằng chứa đầy tiềm năng. Dexter cự nự rằng mình quá trẻ để phải chuyển đến sống ở Surrey ở tuổi ba lăm, nhưng không thể phàn nàn gì về chất lượng cuộc sống ở đó, trường học tốt, giao thông thuận tiện, những chú hươu lang thang trong công việc. Căn hộ mới lại còn gần nhà bố mẹ cô, cặp sinh đôicũng sống gần đó, vì thế Surrey là lựa chọn bất tận và trong tháng Năm, họ bắt đầu nhiệm vụ xa xỉ bất tận là rải cát lên từng bề mặt gỗ có sẵn và dỡ bỏ những vách tường nào không có khả năng chống đỡ nữa. Chiếc xe thể thao Mazda cũng ra đi, thay vào đó là chiếc xe cũ có mùi ói mửa không thể nào gột sạch được của gia đình chủ xe trước đó.

Đó là một năm quan trọng đối với gia đình Mayhew, nhưng Dexter cảm thấy mình không thích việc xây dựng tổ ấm nhiều như đã nghĩ. Anh đã hình dung cuộc sống gia đình như một kiểu chương trình quảng cáo mở rộng: một cặp vợ chồng trẻ, quyến rũ trong những bộ áo khoác màu xanh dương, tay cầm dụng cụ sơn tường, lấy bát đĩa sứ từ chiếc tủ cũ và ngồi phịch xuống một chiếc ghế sofa to cũ kỹ. Anh hình dung được đi dạo với những chú chó lông xù trong công viên, và những bữa ăn tối mệt nhoài nhưng vui vẻ. Vào một thời điểm nào đó trong tương lai, sẽ có những hồ bơi làm bằng đá, cắm trại trên bãi biển, nướng cá thu nướng bằng những khúc gỗ trôi dạt. Anh sẽ nghĩ ra những trò chơi trí tuệ và đóng những chiếc kệ sách. Sylvie sẽ mặc những chiếc áo sơ mi cũ của anh để hở cặp chân trần. Áo dệt kim. Anh sẽ mặc nhiều áo dệt kim và sẽ là nguồn thu nhập chính cho cả gia đình. Nhưng thay vào đó là những cuộc cãi vã lặt vặt, sự tủn mủn và những cái nhìn sưng sỉa qua một màn bụi vôi vữa dày. Sylvie bắt đầu ở nhà bố mẹ đẻ nhiều hơn, bề ngoài làm ra vẻ để tránh các thợ xây dựng nhưng thực chất là để tránh một người chồng thờ ơ, vô tích sự của mình. Thi thoảng, cô sẽ gọi điện bảo anh đi gặp người bạn của họ là Callum, ông trùm tôm càng, để nhận lấy lời đề nghị làm việc cho anh ta, nhưng Dexter kiên quyết phản đối. Có lẽ, công việc hiện tại của anh sẽ lại khởi sắc, anh có thể tìm được một công việc nào đó phù hợp với một nhà sản xuất hoặc được đào tạo lại thành một nhà quay phim hoặc một biên tập viên. Trong thời gian này, anh có thể giúp những người thợ xây dựng, do đó có thể cắt giảm chi phí lao động và về điểm này, anh đảm trách việc chuẩn bị nước uống, mua bánh quy, chọn ra một loại nước đánh bóng, chơi PlayStation trên nền tiếng ầm ầm của máy đánh bóng nền nhà. Từng có thời gian anh tự hỏi điều gì đã xảy ra với tất cả những người lớn tuổi trong ngành truyền hình, và lúc này anh đã có câu trả lời. Vị trí biên tập viên và nhà quay phim tập sự đều đòi hỏi phải ở độ tuổi hai tư, hai lăm, còn ở lĩnh vực sản xuất thì một chút kinh nghiệm anh cũng không có. Công ty TNHH Mayhem TV, công ty riêng của anh, vẫn giậm chân tại chỗ, gống như thêm một bằng chứng nữa về tình trạng trì trệ của bản thân anh. Đến kỳ thanh toán thuế vào cuối năm, công ty đã chính thức đóng cửa để tránh các khoản chi phí, và hai mươi ram giấy được in ra tiêu đề đầy lạc quan đã được chuyển lên gác mái một cách hổ thẹn. Nguồn vui duy nhất là khoảng thời gian anh được gặp Emma, cùng cô đi xem trong khi đáng ra anh nên ở nhà học cách trát vữa với Jerzy và Lech. Nhưng cảm giác buồn rầu đó, khi anh bước ra khỏi rạp chiếu phim để đón ánh nắng mặt trời vào một buổi chiều thứ Ba, đã trở nên không thể chịu đựng được. Thế còn lời hứa sẽ làm một người cha hoàn hảo? Giờ thì anh đã gánh vác nhiều nghĩa vụ. Cuối cùng, vào đầu tháng Sáu, anh vỡ nợ, đành đến gặp Callum O’Neill và bắt đầu làm việc tại chuỗi cửa hàng Natural Stuff.

Vì thế vào ngày Thánh Swithin này, Dexter Mayhew, trong bộ đồng phục áo sơ mi ngắn tay màu bột yến mạch và ca vạt màu nấm, đang giám sát hoạt động phân phối rau cải lông hằng ngày với số lượng lớn cho một chi nhánh mới ở ga Victoria. Anh đếm các hộp đựng rau xanh trong khi tài xế đứng cạnh với một bìa kẹp hồ sơ, nhìn chằm chằm không ngại ngùng, và theo bản năng, Dexter biết điều gì sắp xảy ra. “Anh đã từng xuất hiện trên ti vi phải không?” Lại nữa rồi…

“Việc đó đã lâu rồi,” anh vui vẻ đáp lại. “Nó gọi là gì nhỉ? largin’it hay gì đó.” Đừng nhìn lên.

“Đó là một trong số các chương trình tôi đã tham gia thôi. Vậy tôi ký tên vào giấy biên nhận này hay sao?” “Và anh từng hẹn hò với Suki Meadows.” Mỉm cười, mỉm cười, mỉm cười.

“Như tôi nói đó, cách đây lâu lắm rồi. Một hộp, hai, ba…” “Cô ấy giờ xuất hiện ở khắp nơi, phải không?” “Sáu, bảy, tám…”

“Cô ấy thật lộng lẫy.” “Cô ấy xinh đẹp. Chín, mười.” “Cảm giác khi đó thế nào, việc hẹn hò với cô ấy ấy?”

“Ầm ĩ.” “Thế… chuyện gì đã xảy ra với anh?” “Cuộc sống. Cuộc sống là thế mà.” Anh lấy bìa kẹp hồ sơ khỏi tay anh ta. “Tôi ký ở đây phải không?”

“Đúng rồi. Anh ký vào đó.” Dễtr ký tên vào hóa đơn và đặt bàn tay vào hộp trên cùng, vốc một nắm rau cải lông, nếm thử độ tươi của nó. Rau cải lông - rau xà lách búp de nos tours(34) như cách Callum vẫn luôn thích thú gọi, nhưng Dexter lại thấy nó có vị đắng. Văn phòng chính thực sự của Natural Stuff là trong một nhà kho ở Clerkenwell, tinh tươm, sạch sẽ và hiện đại, với các dụng cụ ép nước trái cây, ghế túi, nhà vệ sinh chung, Internet tốc độ cao và máy chơi pinball; rất nhiều tấm bạt to đùng in hình bò, gà, tôm càng treo trên tường. Vừa là nơi làm việc, vừa là giường ngủ của đám thanh niên, các kiến trúc sư gọi nơi này không chỉ là văn phòng mà còn là “không gian mơ mộng” (viết thường) tại Helvetica. Nhưng trước khi được phép vào không gian mơ mộng này, Dexter phải học việc đã. Cal luôn thích thấy các quản lý dưới quyền mình đều bận rộn, vì thế, Dexter được bố trí đào tạo một tháng, làm việc như một người bảo vệ tiền đồn cuối cùng của đế chế tôm càng. Trong ba tuần cuối cùng, anh đã chùi rửa máy ép trái cây, đội mũ trùm đầu để làm sandwich, nghiền cà phê, phục vụ khách hàng và, chính anh cũng lấy làm ngạc nhiên khi tất cả mọi việc đều diễn ra tốt đẹp. Suy cho cùng, đây chính la fnn gì cần làm; kinh doanh là con người, đúng như Callum thường nói.

Điều tồi tệ nhất là việc bị mọi người nhận ra, cái nhìn thương hại thoáng qua trên khuôn mặt khách hàng khi họ nhìn thấy một cựu dẫn chương trình truyền hình đang phục vụ món xúp. Những người ở độ tuổi ngoài ba mươi, những người cùng trang lứa với anh, là những kẻ tồi tệ nhất. Đối với họ có được danh vọng, thậm chí chút danh vọng nhỏ nhoi nhất, rồi để mất nó, trở nên già cỗi và có lẽ vì thế họ nhìn chằm chằm vào Dexter sau quầy tính tiền như kiểu người ta nhìn vào một tên tội phạm trong đoàn tù nhân. “Cậu có vẻ nhỏ hơn so với tên ti vi,” đôi khi họ nói thế, và đúng là như vậy, lúc này anh thực sự cảm thấy mình nhỏ bé hơn. “Nhưng tôi thấy bình thường,” anh muốn nói thế khi đang múc xúp đậu lăng được chế biến theo phong cách Ấn Độ. “Công việc cũng được. Tôi thấy bình yên. Tôi thích ở đây, và đây chỉ là công việc tạm thời. Tôi đang học hỏi một công việc kinh doanh mới. Tôi kiếm tiền nuôi gia đình mình. Anh có thích ăn kèm với một ít bánh mì không? Bánh mì đen hay bánh mì ngũ cốc?” Ca sáng tại Natural Stuff kéo dài từ 6 rưỡi sáng đến 4 rưỡi chiều, và sau khi đã đếm xong số tiền bán trong ngày, anh lên tàu cùng với những người đi mua sắm vào thứ Bảy để về Richmond. Tiếp đó là một quãng đi bộ hai mươi phút buồn tẻ ngược lại dãy nhà mang phong cách Victoria với phần bên trong rộng hơn rất nhiều so với bên ngoài, cho đến khi về tới nhà. Khi cuốc bộ trên lối đi trong vườn (anh có một lối đi trong vườn - làm thế nào điều đó lại xảy ra?), anh nhìn thấy Jerzy và Lech đang đóng cửa trước, và cho rằng cần phải viện đến giọng nói thân mật, nhẹ nhàng của người thành thị khi nói với thợ xây dựng, nhất là thợ xây dựng là người Ba Lan. “Xin chào!” (Tiếng Ba Lan)

“Chào Dexter,” Lech từ tốn nói. “Cô Mayhew có nhà không?” Bạn phải thay đổi từ ngữ như thế; đó là luật khi nói chuyện với họ. “Có, cô ấy có nhà.”

Anh hạ giọng. “Hôm nay họ thế nào?” “Tôi nghĩ là hơi… mệt mỏi một chút.” Dexter cau mày và lấy hơi một cách khôi hài. “Thế tì… tôi có nên lo lắng không?”

“Có lẽ một chút.” “Đây.” Dexter cho tay vào túi áo trong, lấy ra hai thỏi bánh yến mạch trộn mật ong của Natural Stuff. “Của ăn cắp. Đừng nói cho ai biết nhé?” “Được thôi, Dexter.”

“Tạm biệt.” (Tiếng Ba Lan). Anh bước đến cửa trước và lấy chìa khóa ra, biết rằng rất có khả năng là ai đó đang khóc trong nhà. Đôi khi, cứ như thể họ phân công nhau vậy. Jasmine Alison Viola Mayhew đang đợi ở hành lang, ngồi không vững trên tấm phủ bụi bằng nhựa dùng để bảo vệ mặt sàn gỗ vừa mới tháo. Với những đường nét nhỏ nhắn, hoàn hảo trên khuôn mặt trái xoan, cô bé là bản sao thu nhỏ của mẹ, và một lần nữa, trong anh lại dâng lên một tình yêu mãnh liệt kèm theo nỗi khiếp sợ đớn hèn. “Chào Jas. Xin lỗi bố về muộn,” anh nói, bế nó lên, hai tay choàng quanh bụng con bé rồi đặt nó lên vai. “Hôm nay thế nào Jas?”

Một giọng nói vang lên từ phòng khách. “Em mong là anh đừng gọi con bé như thế nữa. Nó là Jasmine, không phải Jazz.” Sylvie đang nằm dài đọc tạp chí trên chiếc ghế sofa đã được phủ tấm chống bụi. “Jazz Mayhew là một cái tên khủng khiếp. Khiến nó nghe như một đứa thổi kèn chơi trong một ban nhạc đồng tính kinh khủng nào đó. Jazz cái gì chứ.” Anh đặt cô con gái lên vai mình và đứng ở lối cửa ra vào. “À, nếu em đặt tên con bé là Jasmine thì nó sẽ được gọi là Jas.” “Không phải em mà là chúng ta đã cùng đặt tên cho con bé. Và em biết điều này sẽ xảy ra, chỉ có điều là em không thích cách anh gọi tên con bé như thế.”

“Được thôi, anh sẽ thay đổi cách nói chuyện với con gái mình.” “Thế thì tốt. Em thích thế đấy.” Anh đứng ở cuối ghế sofa, liếc nhìn đồng hồ đeo tay một cách phô trương, và nghĩ Một kỷ lục thế giới mới! Mình đã về nhà, được bao lâu nhỉ, bốn lăm giây, và đã làm sai điều gì đó! Lời nhận xét là một sự kết hợp hoàn hảo giữa sự tự thán và thái độ thù địch; anh thích điều đó, và sắp sửa nói to lên thì Sylvie ngồi dậy, cau mày, hai mắt ướt nhoẹt và ôm đầu gối thút thít.

“Em xin lỗi, em đã có một ngày tồi tệ.” “Có chuyện gì vậy?” “Con bé không chịu ngủ gì cả. Nó thức cả ngày, kể từ năm giờ sáng nay.”

Dexter đặt một nắm tay lên hông mình. “Em yêu, nếu em đưa cho nó loại cà phê không có caffein như anh đã bảo…” Nhưng kiểu nói đùa này của Dexter diễn ra không được tự nhiên, và Sylvie cũng không cười. “Con bé đã quấy khóc suốt ngày nay, bên ngoài trời thì quá nóng, bên trong thì quá ổn, Jerzy và Lech cứ đập ầm ầm, eko biết đâu, em chỉ cảm thấy bực bội, chỉ có thế thôi.” Anh ngồi xuống, vòng tay quanh cô và hôn vào trán cô. “Em thề là nếu phải đi quanh cái công viên chết tiệt đó một lần nữa, em sẽ hét lên.” “Không còn lâu nữa đâu.”

“Em đi quanh hồ, rồi lại quanh hồ và vòng qua đu quay, rồi lại vòng quanh hồ. Anh biết cao điểm nhất là gì không? Em nghĩ là mình đã hết sạch tã cho con bé. Em nghĩ sẽ phải đến Waitrose để mua vài cái, nhưng sau đó em đã tìm thấy mấy cái. Em đã tìm thấy bốn cái tã và em đã rất mừng rỡ.” “Dù sao thì tháng tới em cũng đi làm lại rồi.” “Tạ ơn Chúa!” Cô ngả người qua, đầu tựa lên vai anh và thở hắt ra. “Có lẽ em không nên đi tối nay.”

“Không, em đi đi! Em đã mong đợi từ nhiều tuần rồi còn gì!” “Em thật lòng không có tâm trạng để đi - một bữa tiệc cho phụ nữ độc thân. Em quá già để tham dự một buổi tiệc độc thân.” “Vớ vẩn nào…”

“Và em lo…” “Lo về điều gì, về anh sao?” “Để anh tự xoay xở một mình.”

“Sylvie, anh đã ba lăm tuổi rồi. Anh đã sống một mình một căn hộ trước đây. Và dù sao thì anh sẽ không cô độc, anh có Jas chăm sóc mình. Chúng ta sẽ rất vui vẻ phải không Jas? Min. Jasmine.” “Anh chắc chứ?” “Dĩ nhiên rồi.” Cô ấy không tin tưởng mình, anh nghĩ. Cô ấy cho rằng mình sẽ uống rượu. Nhưng mình sẽ không. Không, mình sẽ không uống rượu.

Đêm độc thân này dành cho Rachel, cô gái gầy nhất và xấu tính nhất trong số những người bạn của vợ anh, và một phòng khách sạn hạng sang đã được thuê để ngủ qua đêm, dịch vụ trọn gói với một nam phục vụ rượu đẹp trai để dùng đến khi cần. Một chiếc limo, một nhà hàng, một bàn tại câu lạc bộ đêm, bữa ăn sáng-trưa hôm sau,tôi ất cả đều được lên kế hoạch thông qua một loạt email với lời lẽ đầy hống hách nhằm đảm bảo không xảy ra bất kỳ trường hợp nào tự ý hủy bỏ buổi hẹn. Đến chiều hôm sau Sylvie mới về, và lần đầu tiên, Dexter phải có nhiệm vụ chăm sóc con gái qua đêm. Cô đứng trong nhà tắm, vừa trang điểm vừa nhìn anh quỳ xuống đặt Jasmine vào chậu tắm. “Vậy hãy cho con đi ngủ lúc tám giờ nhé? Tức là bốn lăm phút nữa đấy.” “Được.”

“Có nhiều sữa bột lắm, và em đã nghiền rau.” Rau - cái cách cô ấy nói từ rau nghe thật bực mình. “Ở trong tủ lạnh ấy.” “Rau ở trong tủ lạnh. Anh biết mà.” “Nếu con không thích thì có một vài hũ thức ăn pha sẵn trong tủ, chỉ dùng trong trường hợp khẩn cấp thôi nhé.”

“Vậy khoai tây chiên thì sao? Anh có thể cho con ăn khoai tây chiên được không? Nếu anh bỏ phần muối đi…” Sylvie chậc lưỡi, lắc đầu và tô son. “Giữ đầu con bé kìa anh.” “… và đậu phông muối nữa? Con bé đủ lớn rồi phải không? Một chén nhỏ đậu phộng chắc không sao chứ?” Anh nhìn qua vai mình với hy vọng cô sẽ mỉm cười, và bất ngờ, như anh vẫn thường thấy, cô thật xinh đẹp, trông giản dị nhưng rất thanh lịch trong chiếc đầm đen ngắn với đôi giày cao gót, tóc cô vẫn còn ẩm sau khi tắm. Từ chậu tắm của Jasmine, anh đưa một tay ra nắm lấy bắp chân của vợ mình. “Em đẹp lắm.”

“Tay anh ướt kìa.” Cô xoay chân tránh ra. Họ đã không gần gũi sáu tuần nay. Anh nghĩ đó là sự lạnh lùng và khó chịu sau khi sinh, nhưng cũng đã lâu quá rồi, và đôi khi, cái cách cô nhìn anh, cái nhìn, không, không phải bình thường, nhưng… “Hy vọng em sẽ về tối nay,” anh nói. … thất vọng. Thế đấy, thất vọng.

“Cẩn thận với Jasmine đấy, kìa đỡ đầu nó đi anh!” “Anh biết mình đang làm gì!” anh đáp trả. “Vì Chúa!” Và lại cái nhìn đó. Không còn nghi ngờ gì nữa, nếu anh có nhiều tiền, hẳn lúc này cô đã đón nhận anh trở lại; vấn đề là ở chỗ đấy. Đó không phải là điều anh muốn.

Chuông cửa vang lên. “Taxi của em đấy. Nếu có gì khẩn cấp, hãy gọi vào di động của em, đừng gọi cho khách sạn, được chứ?” và cô cúi xuống, chạm nhẹ môi lên đỉnh đầu Dexter, sau đó nghiêng người xuống bồn tắm và trao nụ hôn thứ hai cho con gái. “Chào tạm biệt, con yêu. Hãy chăm sóc bố giúp mẹ nhé…” Jasmine nhăn nhó mếu máo, và khi thấy mẹ rời khỏi phòng tắm, trong mắt con bé hiện lên một nỗi sợ hãi. Dexter nhìn thấy điều này liền cười lớn. “Mẹ đi đâu vậy?” anh thì thầm. “Đừng để con lại với gã ngốc này!” Cửa trước tầng dưới cuối cùng đã đóng lại. Sylvie đã đi, anh bị bỏ lại một mình và cuối cùng được tự do thể hiện vô số hành động ngốc nghếch. Mọi chuyện bắt đầu từ cái ti vi trong nhà bếp. Jasmine đã hét tướng lên khi Dexter tìm cách cài khóa cho con bé ngồi vào chiếc ghế cao. Nó sẽ làm điều này thay cho Sylvie, nhưng lúc này, nó đang quẫy đạp và hét ầm ĩ, một sự kết hợp giữa cơ bắp và tiếng ồn, lăn lộn bằng một sức mạnh đáng kinh ngạc, và vì một lý do không thể hiểu được, Dexter thấy mình nghĩ đến việc chỉ cần học cách nói chuyện, đúng không? Chỉ cần học một vài từ chết tiệt và nói cho mình biết mình đang làm sai điều gì. Còn bao lâu nữa nó mới biết nói? Một năm? Mười tám tháng? ĐÚng là điên rồ, một sai sót ngu xuẩn trong khâu thiết kế, sự từ chối nói chuyện khi người ta cần đến nó nhất. Chúng cần phải biết nói ngay khi chào đời mới phải. Không cần phải đối thoại, không cần đáp ứng, chỉ là thông tin cơ bản như Bố, con bị đầy bụng. Trung tâm hoạt động này khiến con chán ngấy. Con đau bụng.

Cuối cùng, con bé đã ngồi vào ghế, nhưng vẫn la hét, quấy khóc, và anh đút muỗng thức ăn vào miệng con bé khi có thể, thỉnh thoảng dừng lại để lau sạch vết bột dính bằng cán muỗng như thể nó là một vết kem cạo râu. Với hy vọng sẽ khiến cho con bé dịu xuống, anh bật chiếc ti vi là lúc cao điểm của ngày thứ Bảy nên anh không thể không nhìn thấy khuôn mặt của Suki Meadows đang tươi cười rạng rỡ nhìn về phía anh, trong một chương trình được truyền hình trực tiếp từ Trung tâm phát sóng, nơi cô nàng đang hét lên kết quả xổ số trước một đám đông chờ đợi. Anh cảm thấy lòng nhói lên đầy ghen tị, nhưng sau đó tặc lưỡi, lắc đầu, và khi sắp chuyển sang kênh khác thì anh nhận thấy Jasmine im lặng, bị ám ảnh bởi tiếng la “Oa” cô bạn gái cũ của anh. “Nhìn kìa Jasmine, đó là bạn gái cũ của bố! Cô ấy ồn ào phải không? Cô ấy ồn ào phải không, cô gái ồn ào?” Giờ đây, Suki đã trở nên giàu có, thậm chí càng nổi tiếng hơn và được công chúng yêu mến hơn, dù thế họ chưa bao giờ có điểm gì chung, cũng chư bao giờ có thể hòa hợp được, anh cảm thấy luyến tiếc người bạn gái cũ của mình, luyến tiếc những năm tháng điên rồ của lứa tuổi hai mươi khi hình ảnh anh xuất hiện khắp các mặt báo. Suki đang làm gì tối nay? Anh tự hỏi. “Lẽ ra bố nên gắn bó với cô ta,” anh nói thật to, một cách đầy phụ bạc, và nghĩ về những lần qua đêm trên những chiếc taxi đen, trong phòng tiệc cocktail, quầy rượu khách sạn và dưới mái vòm nhà ga, những năm tháng trước khi anh phải đội mũ trùm đầu để chuẩn bị các món cuộn Địa Trung Hải vào ngày thứ Bảy.

Lúc này, Jasmine lại khóc bởi khoai lang đã dính vào mắt nó, và khi anh lau sạch đi, anh cảm thấy cần phải có một điếu thuốc. Sao lại không nhỉ, sau khi đã trải qua một ngày làm việc vất vả, sao lại không tự thưởng cho chính mình chứ? Lưng anh đau rần, một miếng băng màu xanh biển quấn ở ngón cái đang bắt đầu bong ra, các ngón tay anh đầy mùi tôm càng và cà phê, và anh quyết định mình cần được vui vẻ một chút. Anh cần món quà của nicôtin. Hai phút sau, anh đang đeo bộ dây an toàn cho trẻ em, cài các dây đeo và nút khóa lại, như thể đang đeo một chiếc bình dưỡng khí. Anh đặt Jasmine lúc này vẫn đang khóc ngồi vào phía trước, sau đó bước xuống con đường dài với hai hàng cây hai bên để đến khu mua sắm nhỏ buồn tẻ, trong đầu đã có mục đích rõ ràng. Anh tự nhủ sao anh lại ở đây, một khu mua sắm nhỏ ở Surrey vào tối thứ Bảy? Nó thậm chí không hẳn là Richmond, chỉ là ngoại thành của ngoại thành, và một lần nữa, anh lại nghĩ về Suki, đang ở đâu đó trong thành phố với những người bạn gái hấp dẫn của cô. Có lẽ, anh nên gọi điện cho cô ấy khi Jasmine đã ngủ, chỉ để chào hỏi xã giao thôi. Uống một ly rượu, gọi điện cho bạn gái cũ; sao lại không cơ chứ? Tại cửa hàng rượu, anh chợt có cảm giác đề phòng khi đẩy cửa bước vào và tức thì chạm phải một bức tường cao chất đầy rượu. Kể từ khi Sylvie mang bầu, có một quy định là không được để rượu trong nhà đề phòng việc uống rượu tùy tiện mỗi ngày “Em chỉ cảm thấy chán khi ngồi trên ghế sofa vào một tối thứ Ba trong khi anh say khướt,” Sylvie nói, và xem đây như một thử thách, anh đã ít nhiều từ bỏ rượu chè. Nhưng lúc này, anh đang đứng trong một cửa hàng rượu, và dường như có quá nhiều loại rượu, tất cả đều trông thật ngon lành đến mức sẽ là ngốc nghếch nếu không tận dụng cơ hội này thưởng thức chúng. Rượu mạnh và bia, vang trắng, vang đỏ, anh ngắm nghía hết, và để an toàn, anh lấy hai chai Bordeaux, và một gói thuốc. Sau đó, vì không có lý nào lại không làm thế, anh đến cửa hàng bán đồ ăn sẵn của Thái Lan.

Chẳng bao lâu, mặt trời đã lặn và Jasmine đã ngủ ngon lành trên ngực anh khi anh rảo bước nhanh trên những con phố vui nhộn để trở về ngôi nhà nhỏ nhắn gọn gàng, nơi sẽ trở nên rất đẹp đẽ sau khi sửa sang xong. Anh vào bếp, và vẫn còn đeo con gái đang ngủ trước ngực, anh mở một chai rượu, rót vào ly, hai cánh tay anh vụng về vòng qua phía trước như một người múa ba lê. Anh nhìn vào ly rượu, gần như một nghi thức, sau đó uống cạn và nghĩ ngợi: nếu rượu không ngon đến thế này thì việc không uống rượu sẽ dễ dàng hơn biết nhường nào. Anh nhắm mắt, tựa người vào kệ bếp khi căng thẳng bắt đầu dịu xuống. Đã có thời gian, anh dùng rượu như một chất kích thích, như một thứ để nâng đỡ tinh thần và tái tạo năng lượng, nhưng lúc này, anh uống theo kiểu các bậc cha mẹ thường làm, giống như một kiểu thuốc giảm đau trước khi đêm đến. Cảm thấy bình tĩnh hơn, anh đặt đứa bé đang ngủ vào giữa đống gối nhỏ xinh trên ghế sofa rồi bước ra khu vườn nhỏ, một khu vườn ngoại ô đặc trưng: một trụ xoay để phơi quần áo được bao quanh bởi hàng rào gỗ và những túi xi măng. Anh vẫn đeo bộ dây đeo của em bé, để nó buông xuống trông như bao súng ngắn trên vai của một cảnh sát đang hết ca trực, thuộc đơn vị phòng chống tội phạm, có một câu chuyện tình ảm đạm, buồn tẻ nhưng đầy nguy hiểm, với công việc làm thêm ngoài giờ là trông trẻ ở Surrey. Tất cả những gì anh cần có để hoàn thiện cảm giác này là một điếu thuốc. Đây là điếu đầu tiên trong suốt hai tuần qua và anh đốt nó một cách chậm rãi, nhấm nháp hương vị thơm ngon thoạt đầu của nó, rít mạnh đến mức anh có thể nghe thấy tiếng kêu lốp bốp của lá thuốc. Mùi lá cháy và mùi dầu, điếu thuốc có vị của năm 1995. Nào anh dần thoát khỏi sự ám ảnh của công việc, của những chiếc bánh falafel, bánh yến mạch, và anh bắt đầu cảm thấy hy vọng cho buổi tối nay; có lẽ, anh sẽ đạt được trạng thái bình yên tĩnh tại này - một trạng thái hoàn toàn an lạc của một bậc phụ huynh đã kiệt sức. Anh dụi mẩu thuốc còn lại vào sâu trong đóng cát, tìm cách bế Jasmine lên, rón rén đi lên cầu thang để về phòng con bé và kéo màn che lại. Giống như một thợ bẻ khóa két sắt bậc thầy, anh định sẽ thay tã cho con bé mà không đánh thức nó dậy. Ngay khi anh đặt tay con bé xuống cũi, nó liền thức giấc và bắt đầu khóc váng lên, cái tiếng khóc thét đáng sợ đó. Thở ra thật mạnh, anh thay tã cho nó một cách nhanh chóng và hiệu quả hết mức có thể. Một phần tích cực từ áp lực của việc có con là sự vô thưởng vô phạt của phân con bé, cái lối mà phân và nước tiểu của chúng mất đi mùi hôi thối và trở nên nếu không phải nói là vui thì ít ra cũng chẳng độc hại gì. Chị anh thậm chí còn tuyên bố rằng anh có thể “ăn tươi nó”, vừa lành vừa thơm chính là loại “phân” này đây.

Dù có thế thì bạn cũng không muốn nó dính dưới móng tay mình và cùng với sự xuất hiện của sữa bột và đồ ăn dặm trong khẩu phần, nó rõ ràng ngày càng giống phân người lớn hơn. Nhóc Jasmine đã tạo ra thứ trông như nửa pao bơ đậu phộng, lúc này đã dính vào lưng nó một ít. Với cái đầu hơi ong ong do uống rượu khi bụng rỗng, anh tìm cách dọn sạch đống phân trong khả năng có thể bằng nửa túi giấy vệ sinh và, khi hết giấy, anh dùng đến chiếc thẻ đi đường hàng ngày của mình. Anh nhét gói phân vẫn còn ấm vào một chiếc túi tã lót có mùi hóa chất rồi thả vào thùng rác, cảm thấy nôn nao khi nhận ra rằng có một ít phân dính trên nắp. Jasmine vẫn khóc nhềnh nhệch. Cuối cùng, khi con bé đã sạch sẽ, anh ẵm nó lên bồng bế trên vai mình, nhún nhảy trên đầu ngón chân cho đến khi hai bắp chân anh đau nhức và thật kỳ diệu, con bé đã im lặng trở lại. Anh bước về phía cũi, đặt con bé xuống, thế là nó bắt đầu hét lên. Anh bế nó lên thì nó im lặng. Đặt xuống thì nó lại hét. Anh nhận thấy việc này cứ lặp đi lặp lại nhưng có vẻ như không hợp lý, rõ ràng là không đúng khi nó đòi hỏi quá nhiều như thế, trong khi món nem của anh bắt đầu nguội đi, chai rượu mở nắp vẫn nguyên đó và căn phòng nhỏ này còn vương mùi phân nóng. Cụm từ “tình yêu không điều kiện” đã được dùng đến rất nhiều, nhưng ngay lúc này anh cảm thấy cần phải đặt ra một số điều kiện. “Thôi nào, Jas. Hãy công bằng chứ. Ngoan nào. Bố đã thức từ năm giờ sáng đến giờ, con nhớ chứ?” Con bé lại im lặng, hơi thở của nó ấm áp và đều đều phả trên cổ anh, và một lần nữa anh tìm cách đặt nó xuống, thật chậm rãi, như một điệu múa uốn người kỳ lạ, chuyển từ tư thế thẳng đứng sang tư thế nằm ngang. Anh vẫn đeo dây đai của em bé, và lúc này đang tưởng tượng mình là một chuyên gia phá gỡ bom mìn; nhẹ nhàng, nhẹ nhàng. Con bé lại bắt đầu khóc oe oe.

Bất cần, anh đóng phắt cửa, nhảy xuống các bậc thang. Anh phải cứng rắn. Cần phải tàn nhẫn đó là những gì sách đã dạy. Nếu nó hiểu được chút ngôn ngữ, anh đã có thể giải thích: Jasmine này, cả hai chúng ta đều cần phải có chút thời gian riêng tư. Anh ngồi ăn trước ti vi, nhưng nuốt không trôi vì cảm thấy thật khó lờ đi tiếng hét của một đứa trẻ. Phải kiềm chế để không bật khóc, mọi người thường nói thế, nhưng anh đã mất kiểm soát và muốn khóc, và bắt đầu cảm thấy một cơn phẫn nộ đối với vợ - cái loại đàn bà đĩ thõa vô trách nhiệm, đàn bà gì mà lại để con nhỏ cho bố nó chăm cơ chứ? Sao cô ta lại dám làm thế? Anh bật ti vi và đi rót thêm một ly rượu nữa, nhưng ngạc nhiên khi thấy rằng chai rượu trống rỗng. Không sao. Trên đời này chẳng có vấn đề nào trong việc nuôi dạy con cái lại không thể giải quyết được bằng cách đưa sữa cho nó. Anh pha thêm một ít sữa bột, sau đó bước lên cầu thang, đầu anh hơi ong ong, máu dồn xuống hai tai. Khuôn mặt bé nhỏ đầy cáu kỉnh đó dịu lại khi anh đặt chai sữa vào tay nó, nhưng rồi nó lại ré lên, một tiếng khóc đau đớn khiến anh nhận ra mình quên vặn nắp bình sữa và lúc này, dòng sữa nóng đã tràn ra làm ướt tấm ga trải giường, tấm đệm, dính cả lên mắt lên mũi con bé, và nó đang la hét, la hét thật sự, sao lại không chứ khi bố nó đã bước vào phòng và quẳng một chai sữa nóng lên mặt nó. Hoảng sợ, anh chộp lấy một miếng khăn vuông nhưng lại cầm phải chiếc áo len đan tay tốt nhất của con bé trên đống quần áo sạch, và lau những phần sữa dính trên tóc, trên mắt con bé, vừa hôn nó vừa tự nguyền rủa bản thân - “Bố là đồ ngốc, đồ ngốc, đồ ngốc,bố xin lỗi, xin lỗi, xin lỗi” - và, với cánh tay còn lại, anh bắt đầu thay bộ ga trải giường, quần áo, tã của con bé, chất thành một đống trên sàn nhà. Lúc này thì anh lại thấy mừng vì nó không biết nói, “Hãy nhìn bố kìa, một tên ngốc,” con bé sẽ nói thế, “thậm chí một đứa trẻ cũng chả chăm sóc được.” Trở xuống nhà, một tay anh pha thêm sữa, một tay ẵm con rồi bế nó lên lầu, cho nó bú trong căn phòng tối đến khi đầu nó tựa lên vai anh, im lặng và thiu thiu ngủ. Anh nhẹ nhàng đóng cửa, sau đó rón rén đi trên cầu thang gỗ giống như một tên trộm trong chính ngôi nhà của mình. Trong bếp, anh khui nắp chai rượu thứ hai và rót cho mình thêm một ly nữa.

Lúc này đã gần mười giờ đêm. Anh cố xem ti vi, chương trình có tên là Big Brother, nhưng anh không thể hiểu được những gì mình đang xem và cảm thấy một sự phản đối cộc cằn về tình hình lạc hậu của ngành truyền hình. “Mình không hiểu,” anh nói thật to. Anh bật nhạc, và miễn cưỡng đọc tờ tạp chí mà lúc nãy Sylvie đã đọc, nhưng ngay cả nó cũng ngoài tầm hiểu của anh lúc này. Anh mở máy trò chơi, nhưng cảMetal Gear Solid, Quake, Doom, thậm chí Tomb Raider ở mức độ khó nhất cũng không khiến anh cảm thấy thanh bình chút nào. Anh cần một người bên cạnh, cần trò chuyện với ai đó không chỉ biết la hét, quấy khóc và ngủ khì. Anh nhấc điện thoại. Lúc này anh đã say mèm, và tình trạng say xỉn đó làm dậy lên những tình cảm cũ: nói điều gì đó ngốc nghếch với một phụ nữ hấp dẫn. Stephanie Shaw vừa mới mua một loại máy hút sữa mới. Loại tốt nhất của Phần Lan, nó kêu vù vù và bình bịch dưới chiếc áo sơ mi của cô như một mô tơ nhỏ gắn đuôi tôm khi họ ngồi trên ghế sofa và cố tiêu hóa chương trình Big Brother. Emma đã tin rằng tối nay sẽ là một bữa tiệc, nhưng sau khi đến Whitehapel, cô nhận thấy là Stephanie và Adam quá mệt để có thể nấu nướng; cả hai hy vọng rằng cô sẽ không buồn. Thay vào đó, họ ngồi xem ti vi và trò chuyện, trong khi chiếc máy hút sữa vẫn kêu vù vù, bình bịch, khiến cho không khí của phòng khách như trong một xưởng vắt sữa. Một đêm trọng đại nữa trong cuộc đời của mẹ đỡ đầu.

Có những cuộc trò chuyện mà Emma không còn muốn tham gia và tất cả chúng đều có liên quan đến em bé. Vài ngày đầu tiên cũng đủ mới lạ, và đúng thế, có điều gì đó kích thích, hài hước và cảm động khi nhìn thấy những đường nét của bạn bè được hòa trộn, thu nhỏ lại trên khuôn mặt những đứa trẻ. Và dĩ nhiên là khi được chứng kiến niềm vui của người khác cũng khiến bạn vui lây. Nhưng không nhiều niềm vui đến thế, và năm nay, dường như mỗi lần cô rời nhà thì có một đứa trẻ mới chào đời được đưa ra trước mắt cô. Cô cảm thấy một nỗi sợ hãi giống nhau khi ai đó trưng ra một đống ảnh chụp kỳ nghỉ của họ: mừng vì các bạn có được thời gian vui vẻ thoải mái nhưng điều đó thì có liên quan gì tới mình? Về điểm này, Emma luôn tạo ra một khuôn mặt say sưa lắng nghe khi ai đó kể với cô về những nỗi khổ của thời kỳ đau đẻ, những loại thuốc họ đã sử dụng, thời kỳ nằm ổ, hay phải gây tê màng cứng, hay nỗi đau đớn lẫn niềm vui của họ. Nhưng không gì có thể thay đổi được sự kỳ diệu của sự sinh nở, hay vai trò của các bậc làm cha mẹ nói chung. Emma không muốn nói về sự căng thẳng của việc bị mất giấc ngủ; chẳng phải họ đều đã được nghe nói trước về điều này sao? Cô cũng không muốn nhận xét về nụ cười của đứa bé, hay việc lúc đầu nó giống mẹ nhưng giờ lại giống bố, hoặc lúc đầu giống bố nhưng giờ lại có cái miệng giống mẹ. Vì sao lại có kiểu ám ảnh với kích cỡ của bàn tay đứa trẻ, bàn tay nhỏ với những móng tay bé xíu, có khi thì phải bàn tay to mới đáng chú ý hơn. “Hãy nhìn vào hai bàn tay to lớn của đứa bé!” Lúc này, điều đó mới đáng bàn.

“Anh ngủ quên,” Adam, chồng của Stephanie nói từ ghế bành, đầu tựa lên nắm tay. “Có lẽ mình nên về thôi,” Emma nói. “Không! Hãy ở lại đi cậu!” Stephanie nói nhưng lại không cho biết lý do.

Emma ăn thêm một miếng khoai tây chiên Kettle nữa. Điều gì đã xảy ra với các bạn của cô? Họ từng là những người hài hước, thích vui vẻ, thích tụ tập và hay ho ra trò, nhưng có quá nhiều buổi tối đã diễn ra như thế này với những chén bột nhão, những cặp vợ chồng mắt trũng sâu đầy cáu kỉnh trong những căn phòng nồng nặc mùi, bày tỏ sự kinh ngạc khi đứa bé mỗi ngày một to lên chứ không phải bé đi. Cô chán ngấy việc phải hét lên vui mừng khi thấy một đứa bé biết bò, như thể cái việc “bò trườn” này là một sự phát triển hoàn toàn ngoài mong đợi. Thế họ mong đợi điều gì, muốn đứa trẻ biết bay chắc? Cô thờ ơ với mùi đầu của em bé. Cô đã thử ngửi một lần, và nó có mùi giống như mặt sau của dây đai đồng hồ. Điện thoại trong túi của cô đổ chuông. Cô cầm nó lên, liếc thấy tên của Dexter nhưng chẳng buồn trả lời. Không, cô không muốn đi cả đoạn đường từ Whitechapel đến Richmond để nhìn anh thổi bong bóng trên bụng của Jasmine bé nhỏ. Cô đặc biệt thấy chán nản với trò này, những người bạn nam giới của cô thể hiện hành động của người bố trẻ: bị quấy rối nhưng vui vẻ, mệt lừ nhưng hiện đại trong chiếc áo khoác với quần jean, với cái bụng phệ trong chiếc áo phanh ngực đầy tự hào, cái vẻ bất cần thứ gì khác trên đời hiện ra khi họ quăng đùa đứa trẻ trên không. Những kẻ tiên phong táo bạo, những người đàn ông đầu tiên trong lịch sử của thế giới dính chút nước tiểu trên quần nhugn kẻ, và một chút chất nôn trớ trên tóc. Dĩ nhiên là cô không thể nói to lên những điều này. Sẽ có điều gì đó bất thường về một phụ nữ cho rằng những đứa bé, hay cụ thể hơn là việc nói về những đứa bé lại nhàm chán. Họ sẽ nghĩ rằng cô cay đắng, ganh tị, và cô đơn. Nhưng cô cũng chẳng lấy làm thích thú khi mọi người nói rằng cô thật may mắn biết bao, vì những giấc ngủ trọn vẹn, với sự tự do và thời gian rảnh rỗi, có thể đi hẹn hò hoặc đến Paris mà không cần phải báo trước. Có vẻ như họ đang an ủi cô, và cô thấy căm ghét điều này, cứ như cô được hạ cố vậy. Cũng chẳng phải là cô sắp đi Paris! Đặc biệt, cô chán ngấy những trò đùa về đồng hồ sinh học từ bạn bè, gia đình, trong các bộ phim và trên truyền hình. Cái từ ngốc nghếch và kém trí tuệ nhất là “đơn thể”, tiếp theo là từ “tín đồ sô cô la”, và cô từ chối tham gia vào “hiện tượng phong cách sống ngày Chủ nhật”. Đúng, cô hiểu được những tranh luận, những yêu cầu cấp bách thực tế, nhưng đó là một tình huống hoàn toàn nằm ngoài tầm kiểm soát của cô. Đúng, cô thảng hoặc cũng hình dung chính mình trong chiếc áo đầm màu xanh dương của bệnh viện, nhễ nhại mồ hôi và đau đớn, nhưng khuôn mặt người đàn ông nắm tay cô vẫn mơ hồ một cách bướng bỉnh, và thật kỳ diệu khi cô chọn cách không nghĩ nhiều đến nó nữa.

Khi nó xảy ra, nếu điều đó xảy ra, cô sẽ yêu thương đứa bé, nhận xét về bàn tay nhỏ xíu của nó, kể cả mùi thơm của cái đầu nhỏ đầy mụn hạch của nó. Cô sẽ nói về việc gây tê màng cứng, tình trạng thiếu ngủ, những cơn đau bụng và bất kỳ cái quái quỷ gì cần nói. Một ngày nào đó, cô thậm chí có thể hôn lên một đôi giày nhỏ. Nhưng lúc này, cô sẽ giữ khoảng cách, giữ bình tĩnh, duy trì trạng thái thanh bình và vượt lên trên tất cả. Chính vì thế mà đứa bé đầu tiên nào gọi cô là dì Emma sẽ phải nhận lấy một cú đấm vào mặt. Stephanie đã vắt sữa xong và đang đưa phần sữa đó cho Adam, giơ nó lên trong ánh điện giống như một loại rượu hảo hạng. Đó là một chiếc máy vắt sữa hết sảy, ai cũng đồng ý như thế. “Đến phiên tôi!” Emma nói, nhưng không ai cười và đúng lúc đó, đứa bé trên lầu thức dậy.

“Thứ ai đó cần phát minh cho trẻ em,” Adam nói, “là một loại khăn lau gây mê.” Stephanie thở dài, đứng lên, và Emma quyết định mình phải về nhà sớm. Cô có thể phải thức khuya viết bản thảo. Điện thoại lại kêu bíp bíp. Một tin nhắn từ Dexter, đề nghị cô chịu khó đến Surrey để bầu bạn với anh. Cô tắt nguồn điện thoại.

“… Mình biết đó là một quãng đường dài, chỉ là mình nghĩ mình đang bị chứng trầm cảm sau khi vợ sinh. Hãy bắt taxi đi, mình sẽ trả tiền. Sylvie không có ở đây? Mình biết điều đó không tạo ra điều gì khác biệt, mình biết, nhưng… có một phòng ngủ trống, nếu cậu muốn ở lại. Dù sao thì hãy gọi cho mình nếu cậu nhận được tin nhắn này. Tạm biệt.” Anh lưỡng lự, nói thêm một lời “Tạm biệt” nữa và tắt máy. Một tin nhắn vô ích. Anh chớp chớp mắt và lắc đầu, rót thêm rượu. Lục tìm trong danh bạ điện thoại của điện thoại, anh mò đến phần chữ S - Suki. Lúc đầu, không có tiếng trả lời, và anh thấy nhẹ cả người bởi suy cho cùng thì một cuộc gọi cho cô bạn gái cũ sẽ đi đến đâu chứ? Anh sắp dập máy thì bỗng nghe thấy một tiếng hét đặc biệt. “CHÀO!”

“Chào!” Anh dùng đến nụ cười của người dẫn chương trình. “AI THẾ?” Cô ta đang hét giữa tiếng ồn ào của một bữa tiệc, có lẽ tại một nhà hàng nào đó. “Cho xin một tràng pháo tay nào!”

“CÁI GÌ? AI ĐẤY?” “Đoán đi!” “GÌ CƠ? TÔI KHÔNG NGHE THẤY ANH NÓI GÌ…”

“Tôi nói là ‘hãy đoán xem ai?...’” “TÔI KHÔNG NGHE THẤY, AI VẬY?” “Đoán đi!”

“AI CƠ?” “TÔI NÓI LÀ CÔ PHẢI…” Trò chơi đã trở nên mệt mỏi, vì thế anh nói. “Dexter đây!” Im lặng.

“Dexter ư? Dexter Mayhew?” “Em quen biết bao nhiêu Dexter hả Suki?” “Không, tôi biết Dexter nào chứ, chỉ là giống như OA, DEXTER! Chào, Dexter! Đợi chút…” Anh nghe tiếng đẩy ghế và hình dung những cặp mắt đang nhìn theo cô một cách tò mò khi cô rời bàn tiệc đi vào hành lang. “Thế anh có khỏe không, Dexter?”

“Anh khỏe, anh khỏe, chỉ là, anh biết đó, gọi để nói rằng anh nhìn thấy em trên ti vi tối nay, và nó khiến anh nghĩ về khoảng thời gian đã qua, nên anh gọi điện để chào thôi. À mà em trông quyến rũ lắm. Trên ti vi ấy. Anh thích chương trình đó. Một format hay.” Format hay? Đúng là thằng hề. “Thế em có khỏe không, Suki?” “Ồ, tôi khỏe, tôi khỏe.” “Em xuất hiện khắp mọi nơi! Em đang làm rất tốt! Thực sự rất tốt!”

“Cảm ơn. Cảm ơn.” Lại im lặng. Ngón cái của Dexter đang nằm ở nút tắc. Tắt máy đi. Vờ như đường dây bị ngắt. Tắt máy, tắt máy, tắt máy… “Dex, đã năm năm rồi!”

“Anh biết, anh đang nghĩ về em bởi vừa nhìn thấy em trên ti vi. Và em trông quyến rũ lắm. Em có khỏe không?” Đừng nói thế, mày đã nói câu này rồi. Tập trung vào! ”Ý anh là em đang ở đâu đấy? Nghe rất ồn…” “Nhà hàng. Tôi đang ăn tối với một vài người bạn.” “Anh có biết ai trong số đó không?”

“Tôi không nghĩ thế. Họ là những người bạn mới.” Bạn mới. Có thể đó là sự trả thù chăng? “Ừ, tốt.” “Vậy anh đang ở đâu, Dexter?”

“Ồ, anh đang ở nhà.” “Ở nhà? Vào tối thứ Bảy? Chẳng giống anh gì cả!” “À, em biết đó…” và anh định nói với cô rằng anh đã kết hôn, đã có một con gái, đang sống ở vùng ngoại ô, nhưng cảm thấy điều đó có thể càng làm tăng thêm sự vô nghĩa của cuộc gọi, vì thế anh im lặng. Một khoảng tạm ngừng. Anh nhìn thấy có một cái cầu vai trên áo khoác bằng cotton mà anh từng mặc để đến Pacha, và anh cảm nhận được loại mùi thơm mới trên các đầu ngón tay, một bữa tiệc cocktail khủng khiếp với giấy lau đít cho trẻ em và bánh phồng tôm.

Suki nói. “Món chính đã đến rồi…” “Được, dù sao thì anh cũng vừa ngẫm nghĩ về quãng thời gian trước đây, và thấy rằng sẽ rất vui nếu được gặp lại em! Em biết đó, ăn trưa hoặc đi uống gì đó…” Nhạc nền giảm xuống như thể Suki vừa bước vào một góc khuất riêng tư. Bằng giọng rắn đanh, cô nói. “Dexter anh biết gì không? Tôi không nghĩ rằng dó là một ý tưởng hay.”

“Ồ, đúng.” “Ý tôi là tôi đã không gặp anh năm năm rồi, và tôi nghĩ khi điều đó xảy ra, thường phải có một nguyên nhân, phải không nào?” “Anh chỉ nghĩ…”

“Ý tôi là hình như anh chưa từng đối xử tốt với tôi, chưa từng quan tâm tôi đến thế, hầu như tối ngày anh chỉ say sưa…” “Ồ, điều dó không đúng!” “Anh thậm chí còn không chung thủy với tôi, lạy Chúa, anh lúc nào cũng có thể ngủ với một người dự phòng nào đó, một người phục vụ hoặc bất cứ loại người nào, vì thế, tôi không biết anh đang nghĩ cái quái gì lúc này, khi gọi điện như những người bạn cũ và tỏ ra luyến tiếcvề ‘thời gian xa xưa’, nói thật nhé,sẽ áu tháng vàng son của chúng ta là một hoảng thời gian vô cùng kinh tởm đối với tôi.”

“Đúng đấy, Suki, em đã bày tỏ được quan điểm của mình.” “Và dù sao thì giờ tôi đang quen với một người khác, một người thật sự rất tốt, và tôi thấy hạnh phúc. Thực ra thì anh ấy đang chờ đợi tôi.” “Tốt! Vậy hãy đi đi! ĐI ĐI!” Trên lầu, Jasmine bắt đầu khóc, có lẽ do không thấy ai.

“Anh không nên cứ thích lên thì gọi điện và mong đợi tôi…” “Anh không, chỉ là, Chúa ơi, được, tốt thôi, hãy quên đi!” Tiếng hét của Jasmine vọng xuống cầu thang gỗ trơn. “Tiếng ồn gì thế?”

“Tiếng đứa bé.” “Đứa bé nào?” “Con anh. Anh có một con gái. Một bé gái. Bảy tháng tuổi.”

Có một khoảng im lặng, đủ lâu để Dexter có thể tiêu tan hết hy vọng, rồi Suki lên tiếng. “Thế thì cái quái quỷ gì khiến anh muốn gặp tôi?” “Chỉ là. Em biết đó. Bạn bè gặp nhau.”

“Tôi thiếu gì bạn bè,” Suki nói rất nhỏ. “Tôi nghĩ anh nên đi xem con gái của mình thế nào, phải không Dex?” và cô dập máy. Anh ngồi đó một lúc và lắng nghe tiếng điện thoại tắt ngỏm. Cuối cùng, anh lấy điện thoại xuống, nhìn chằm chằm vào nó, đoạn lắc đầu thật mạnh như thể vừa bị ăn tát. Anh đã bị tát. “À, cuộc gọi đã diễn ra thật tốt,” anh thì thầm.

Dnah bạ điện thoại, Chỉnh sửa địa chỉ, Xóa liên lạc. “Bạn có muốn xóa sổ điện thoại của Suki không? điện thoại hỏi. Mẹ kiếp, có, có, hãy xóa cô ta đi, có! Anh chọc mạnh vào nút xóa. Số điện thoại đã được xóa, điện thoại thông báo, nhưng vẫn chưa đủ; Số điện thoại đã được tiêu diệt, Số điện thoại đã biến mất, đó là thứ anh cần. Tiếng khóc của Jasmine đã lên đến đỉnh điểm, vì thế anh đột ngột bật dậy ném mạnh chiêc điện thoại vào tường tạo ra một vệt đen trên giấy dán tường Farrow & Ball. Anh ném nó lần nữa tạo ra vệt đen thứ hai. Nguyền rủa Suki, nguyền rủa chính mình vì đã ngu ngốc, anh pha một bình sữa nhỏ, vặn nắp bình thật chặt, cho nó vào túi quần, túm lấy chai rượu và chạy lên cầu thang hướng đến nơi có tiếng khóc của Jasmine, một âm thanh khàn khàn khủng khiếp lúc này dường như đang xé phổi con bé. Anh xông vào phòng. “Chết tiệt, Jsminie, hãy câm miệng lại?!” anh hét lên, nhưng ngay lập tức đưa tay bịt miệng mình một cách hổ thẹn khi nhìn thấy cô bé ngồi dậy trong cũi, hai mắt mở to buồn bã. Bế con bé lên, anh ngồi tựa lưng vào tường, áp mặt nó vào ngực mình, rồi đặt nó vào lòng, xoa xoa trán nó đầy âu yếm, và khi điều đó không giúp ích được gì, anh bắt đầu xoa gáy nó. Chẳng phải là có một huyệt đạo bí mật nào đó để bấm vào sao? Anh day day trong lòng bàn tay con bé còn nó thì cứ mở ra lại nắm vào, nắm mở đầy giận dữ.Không cách nào có tác dụng, những ngón tay to lớn của anh vụng về làm hết cách này đến cách khác, nhưng đều vô ích cả. Có lẽ, con bé không được khỏe, anh nghĩ, hoặc có lẽ anh phải là mẹ nó. Một người cha vô dụng, một người chồng vô dụng, một người bạn vô dụng, một đứa con trai vô dụng.

Nhưng phải làm gì nếu nó không khỏe? Có thể là đau bụng, anh nghĩ. Hay mọc răng, có phải con bé đang mọc răng không? Lo lắng bắt đầu dâng lên. Có cần phải đưa nó đến bệnh viện không? Có lẽ, dĩ nhiên là trừ việc anh quá say nên không thể lái xe được. Một kẻ vô dụng, vô dụng, vô dụng. “Thôi nào, tập trung đi nào,” anh nói vống lên. Có một ít thuốc ngủ trong tủ, trên đó đề dòng chữ “có thể gây buồn ngủ” - những từ ngữ đẹp nhất trong tiếng Anh. Những từ ấy đã từng là “em có cái áo thun nào cho mình mượn không?” Giờ nó là “có thể gây buồn ngủ.” Anh đặt Jasmine lên đầu gối anh cho đến khi con bé im lặng một chút, sau đó bón một muỗng đầy vào miệng nó cho đến khi nghĩ rằng nó đã nuốt được 5ml. Hai mươi phút tiếp theo là làm trò như điên, giả giọng và mấy động tác ve vẩy tay chân của một số con vật trước mặt con bé. Anh thể hiện các kiểu giọng khôi hài ít ỏi mà mình có được, vận dụng âm cao thấp và tất cả những giọng nói địa phương để con bé im lặng, và đi ngủ. Anh cầm những cuốn truyện tranh trước mặt nó, lật từng trang, vừa chỉ vào những bức hình vừa nói “Con vịt! Con bò! Tàu hỏa! Hãy xem con hổ ngộ nghĩnh này. Nhìn đi con!” Anh còn múa rối. Một con tinh tinh nhựa cứ hát đi hát lại đoạn đầu của bài “Wheels on the Bus”, Tinky Winky biểu diễn bài “Old MacDonald”, một con heo vải tặng cho con bé bài “Into the Groove” mà không cần biết lý do. Chúng cùng nhau siết chặt tay bên dưới mái vòm của phòng tập thể dục đồ chơi và cùng vận động. Anh nhét chiếc điện thoại di động của mình vào đôi tay bé nhỏ của con bé, để nó ấn án các nút, làm rớt nước dãi vào các phím, lắng nghe tiếng đồng hồ nói cho đến khi cuối cùng, ơn Chúa, nó im lặng hơn, lúc này chỉ còn thút thít, vẫn thức nhưng đã hài lòng. Trong phòng có một chiếc máy đĩa, loại Fishy Price thấp có hình dáng tàu hỏa hơi nước, anh bèn hất các cuốn truyện, đồ chơi qua một bên để bật đĩa Relaxing Classics for Tots, một phần trong chương-trình-kiểm-soát-trí-não-bé của Sylvie. Bài “Dance of the Sugar Plum Fairy” phát ra từ những chiếc loa nhỏ. “Tuuuuune!” anh reo hò, vặn âm thanh to dần lên như tiếng còi tàu hỏa kêu và bắt đầu say sưa nhảy khắp phòng theo điệu valse, Jasmine vẫn được bế sát ngực anh. Con bé đã duỗi người ra, các ngón tay nắm lại rồi lại thả lỏng, và lần đầu tiên, con bé nhìn lên mặt bố nó với một biểu hiện gì đó không phải là giận dữ. Anh bắt gặp thoáng qua khuôn mặt của chính mình đang nhìn mình mỉm cười. Con bé chép môi, hai mắt mở to. Nó đang cười. “Thế mới là con gái bố chứ!” anh nói, “thế mới là bé cưng của bố chứ.” Anh thấy tâm trạng khá hơn bè nghĩ ra một ý.

Bế Jasmine trên vai, đẩy mạnh thanh cửa, anh chạy vào nhà bếp nơi có ba thùng các tông lớn đựng toàn bộ đĩa CD của anh trong khi chờ dựng các kệ sách lên. Có hàng ngàn chiếc đĩa, chủ yếu là quà tặng, gia tài từ hồi anh còn có sức ảnh hưởng và nhìn thấy chúng khiến anh nhớ lại những ngày tháng làm DJ, thuở đó anh từng tha thẩn quanh Soho với chiếc tai nghe kỳ cục trên đầu. Anh quỳ xuống, một tay sục sạo trong đống đĩa. Mục đích không phải ru ngủ Jasmine, mà là tìm cách cho con bé thức, và nhờ đó, cả hai sẽ có một bữa tiệc, chỉ có hai người, hay ho hơn rất nhiều so với bất kỳ câu lạc bộ đêm nào ở Hoxton có thể mang lại. Quỷ tha ma bắt Suki Meadows, anh sẽ làm DJ cho con gái của anh. Lúc này đã tràn đầy năng lượng, anh lục sâu xuống các lớp đĩa CD từ mười năm trước, nhặt bừa lên một chiếc, xếp đĩa chất đống trên sàn nhà, bắt đầu thực hiện kế hoạch của mình. Thể loại nhạc Acid Jazz và break-beats, funk và acid house của thập niên 70 đã nhường chỗ cho loại nhạc điện tử Balearic có tiết tấu mạnh, và thậm chí còn có cả một sự kết hợp nhỏ giữa trống và bass. Nhìn lại những đĩa nhạc cũ đúng ra phải là một niềm vui, nhưng anh ngạc nhiên khi nhận ra rằng ngay cả hình ảnh của các tác phẩm nghệ thuật cũng khiến anh lo lắng, sợ hãi, và bối rối như thể nó gắn liền với ký ức về những đêm không ngủ, những đêm hoang tưởng với những người lạ trong căn hộ của mình, những cuộc đối thoại ngốc nghếch với những người bạn giờ anh không còn biết là ai nữa. Nhạc dance khiến anh bồn chồn. Hẳn là đây, anh nghĩ mình đang bắt đầu già đi. Sau đó, anh nhìn thấy trên gáy một chiếc CD có một dòng chữ viết tay của Emma. Đó là một chiếc đĩa tổng hợp mà cô làm trên chiếc máy tính mới của mình nhân dịp sinh nhật lần thứ 35 của anh hồi tháng Tám năm ngoái, ngay trước lễ cưới. Chiếc đĩa có tựa đề là “Mười một năm” và phần giấy dán tự làm ở mặt trên của chiếc đĩa là một tấm hình, được in nhem nhuốc từ chiếc máy in rẻ tiền dùng trong gia đình của Emma, tuy nhiên, vẫn có thể nhìn thấy cả hai đang ngồi trên sườn núi, đỉnh núi Arthur’s Seat, ngọn núi lửa đã ngừng hoạt động sừng sững phủ bóng xuống cả Edinburgh. Đó hẳn là buổi sáng sau lễ tốt nghiệp, khoảng, mười hai năm trước thì phải? Trong hình, Dexter mặc áo sơ mi trắng tựa người trên một tảng đá với điếu thuốc lủng lẳng trên môi. Emma ngồi cách đó một quãng, cằm tựa lên hai đầu gối kéo sát ngực. Cô mặc chiếc quần bò Levi’s 501 cạp cao, trông hơi mập so với hiện tại, rụt rè và bối rối với mái tóc cắt ngang trán che cả hai mắt. Đó là kiểu chụp ảnh của cô kể từ đó, mỉm cười nghiêng một bên với cái miệng mím chặt. Dexter nhìn vào khuôn mặt cô rồi cười phá lên. Anh chỉ cho Jasmine xem.

“Hãy nhìn này! Đó là Emma, mẹ đỡ đầu của con đấy! Thấy bố hồi đó gầy không. Nhìn này… xương cổ này. Bố đã từng có xương cổ cơ đấy.” Jasmine cười không ra tiếng. Trở lại phòng ngủ của Jasmine, anh đặt con bé trong một góc và lấy đĩa ra khỏi hộp. Bên trong là một tấm bưu thiếp được viết bằng lời lẽ gọt giũa, tấm thiệp mừng sinh nhật anh từ năm ngoái. Ngày 1 tháng Tám năm 1999. Nó đây - một món quà tự làm. Hãy luôn nhắc nhở chính mình - chính suy nghĩ mới quan trọng, chính suy nghĩ mới quan trọng. Đây là một chiếc đĩa CD được tổng hợp từ các đoạn băng cát sét mà mình đã làm cho cậu từ nhiều năm trước. Không có gì ngớ ngẩn cả; chỉ có những bài hát phù hợp. Hy vọng cậu thích nó. Chúc mừng sinh nhật, Dexter, và chúc mừng tất cả những tin tốt lành của cậu - Một người chồng! Một người cha! Cậu sẽ làm tốt cả hai vai trò này.

Thật vui vì lại là bạn như trước đây. Nhớ là mình yêu cậu rất nhiều. Bạn cũ của cậu. Emma x Anh mỉm cười, đặt đĩa nhạc vào chiếc máy hát có hình giống tàu hơi nước.

Bắt đầu là bài “Unfinished Sympathy” của Massive Attack và anh ẵm Jasmine lên, quỳ gối, thì thầm vào tai con gái. Thể loại nhạc pop cũ, cùng hai chai rượu và không ngủ nghê gì hết, tất thảy kết hợp với nhau khiến anh trở nên nông nổi và ủy mị. Anh bật con tàu Fisher Price to hết cỡ. Tiếp đến là bài “There is a Light That Never Goes Out” củaThe Smiths, và mặc dù chưa bao giờ quan tâm đến nhạc của The Smiths, anh vẫn tiếp tục nhảy nhót quanh phòng, gật gù đầu, như trở lại tuổi đôi mươi, lúc anh say sưa tại bữa tiệc sinh viên. Anh đang hát rất oang oang, thật đáng xấu hổ, nhưng anh chẳng buồn quan tâm. Trong căn phòng nhỏ của ngôi nhà mái ngói, nhảy múa cùng con gái theo tiếng nhạc phát ra từ chiếc tàu lửa đồ chơi, anh bỗng cảm thấy vô cùng mãn nguyện. Còn hơn cả mãn nguyện… đó là cảm giác phấn chấn. Anh xoay tròn, giẫm phải một con chó bằng gỗ dài, và loạng choạng như một gã say rượu trên phố, phải vịn một tay vào tường để giữ thăng bằng. Ha ha cậu bé vững vàng, anh nói thật to, đoạn nhìn xuống Jasmine xem con bé có sao không và nó rất vui vẻ, nó đang cười, cô con gái xinh đẹp như thiên thần của anh đang cười. Có một thứ ánh sáng không bao giờ tắt(35). Vì lúc này là “Walk on by”, một bài hát mà mẹ anh thường mở khi anh còn bé. Anh nhớ Alison đã nhảy múa theo bài hát trong phòng khách, một tay cầm điếu thuốc còn tay kia cầm ly rượu. Anh đặt Jasmine lên vai, cảm nhận hơi thở con bé phả vào cổ mình, nắm lấy bàn tay nó, lướt qua đống vôi vữa, gạch ngói bằng một điệu nhảy chậm rãi, lỗi thời. Trong trạng thái kiệt sức cộng với tác dụng của rượu vang đỏ, anh bỗng muốn nói chuyện với Emma biết nhường nào, nói với cô về những bài hát anh đang nghe, và như thể có điềm báo, điện thoại của anh đổ chuông ngay khi bài hát kết thúc. Anh lục tìm nó giữa đống đồ chơi và sách truyện; có lẽ đó là Emma, cô ấy gọi lại chăng. Màn hình hiển thị “Sylvie”, anh bèn chửi thề; anh phải trả lời. Hãy tỉnh táo, tỉnh táo, anh tự nhủ. Anh tựa người vào chiếc cũi, đặt Jasmine vào lòng và ấn nút nhận cuộc gọi.

“Chào, Sylvie!” Vào lúc đó, bài “Fight the Power” của Public Enemy thình lình phát ra từ chiếc máy Fisher Price, và anh vội ấn vào những cái nút bè bè trên đó. “Tiếng gì thế?”

“Chỉ là một chút nhạc thôi mà. Jasmine và anh đang có một bữa tiệc nhỏ, phải không Jas? Ý anh là Jasmine.” “Nó vẫn còn thức sao?” “Anh e là thế.”

Sylvie thở dài. “Thế anh đã làm gì?” Anh đã hút thuốc, uống rượu, cho con gái của chúng ta uống thuốc ngủ, gọi điện cho bạn gái cũ, lục tung ngôi nhà, vừa lẩm nhẩm vừa nhảy múa khắp nhà. Anh đã ngã như một tên say rượu trên phố. “Ồ, chỉ đi loanh quanh, xem ti vi. Thế còn em? Có vui không?”

“Cũng được. Dĩ nhiên là mọi người đều say cả…” “Trừ em.” “Em quá mệt nên không thể say được.”

“Nghe rất yên tĩnh. Em đang ở đâu đấy?” “Trong phòng khách sạn. Em chỉ đi nằm một chút, sau đó quay lại để tham gia hiệp hai.” Khi cô ấy nói, Dexter quan sát đống đổ nát trong căn phòng của Jasmine - những tấm ga dính đầy sữa, đồ chơi và truyện tranh rải rác khắp nơi, một chai rượu rỗng và một cái ly dính mỡ. “Jasmine thế nào?”

“Con bé đang cười, phải không, con yêu? Mẹ đang gọi điện đấy.” Vẻ nghiêm túc, anh đặt điện thoại vào tai Jasmine, nhưng con bé vẫn im lặng. Chẳng vui vẻ gì, vì thế, anh lấy điện thoại ra. “Anh đây.” “Nhưng anh đã xoay xở được.” “Dĩ nhiên. Em đã nghi ngờ anh sao?” Im lặng trong chốc lát. “Em nên trở lại bữa tiệc đi.”

“Có lẽ em nên đi. Gặp anh vào ngày mai nhé. Vào bữa trưa. Em sẽ về vào khoảng, em không chắc, khoảng mười một giờ.” “Được. Chúc ngủ ngon.” “Chúc ngủ ngon, Dexter.”

“Yêu em,” anh nói. “Em cũng thế.” Cô sắp tắt máy, nhưng anh cảm thấy cần phải nói một điều gì đó. “À Sylvie? Sylvie? Em còn đó không?”

Cô đưa điện thoại lên tai. “Ừm?” Anh nuốt nước miếng và liếp môi. “Anh chỉ muốn nói rằng… anh biết mình cư xử chưa tốt lắm làm vào thời gian này, với vai trò người chồng, người cha. Nhưng anh đang cố gắng, anh đang nỗ lực. Anh sẽ làm tốt hơn, Sylv ạ. Anh hứa đấy.” Dường như cô cảm nhận từng lời anh nói bởi có một khoảng im lặng ngắn ngủi trước khi cô nói, giọng cô hơi đanh lại. “Dex, anh đang làm tốt mà. Chỉ là… chúng ta cảm nhận theo cách của riêng mình, chỉ có vậy.”

Anh thở dài. Dù sao thì anh đã hy vọng nhiều hơn. “Em nên quay lại bữa tiệc đi.” “Gặp anh ngày mai nhé.” “Anh yêu em.”

“Em cũng vậy.” Và rồi cô tắt máy. Ngôi nhà dường như rất yên tĩnh. Anh ngồi đó chừng một phút, cô con gái lúc này đã ngủ ngon lành trong lòng anh, lắng nghe tiếng rền của máu và rượu trong đầu anh. Trong khoảnh khắc, anh cảm nhận một nỗi sợ hãi và cô đơn, nhưng anh lắc đầu cho qua, sau đó đứng dậy nâng khuôn mặt cô con gái đang ngủ lên để nhìn, lúc này nó ngoan ngoãn như một chú mèo con. Anh hít hà mùi thơm của nó: mùi sữa, cảm giác ngọt ngào, con bé là máu thịt của anh. Máu thịt. Cụm từ này nghe sáo rỗng nhưng đúng là có những khoảnh khắc thoáng qua, anh bắt gặp hình ảnh của chính mình trong khuôn mặt này, anh trở nên nhận thức rõ về thực tế này và không không hoàn toàn tin rằng nó là sự thật. Dù tốt hay xấu thì nó là một phần của anh. Anh nhẹ nhàng đặt con bé xuống cũi.

Anh giẫm phải một con lợn nhựa, cứng như đá, nó cứa vào gót chân đau buốt, anh tự chửi thề, sau đó tắt đèn phòng ngủ. Trong một căn phòng khách sạn ở Westminster, khoảng mười dặm về phía Đông dọc bờ sông Thames, vợ anh đang ngồi trần truồng trên mép giường với chiếc điện thoại cầm hờ hững trong tay và lặng lẽ khóc. Từ phòng tắm vang lên tiếng nước chảy. Sylvie không thích những gì mà sự khóc lóc gây ra cho khuôn mặt mình, vì thế, khi nghe tiếng nước ngừng chảy, cô vội vàng dùng mu bàn tay chùi nước mắt và thả điện thoại đống quần áo xuống sàn. “Mọi thứ ổn cả chứ?”

“Ồ, anh biết đó. Không được thế đâu. Anh ấy có vẻ ngà ngà rồi.” “Anh biết chắc cậu ấy sẽ chẳng sao đâu?” “Không, nhưng đúng là anh ấy đã say. Giọng anh ấy nghe lạ lắm. Có lẽ em nên về nhà.”

Callum đang buộc thắt lưng áo choàng tắm, bước vào phòng ngủ và nghiêng người hôn vào tấm vai trần của cô. “Anh đã nói rồi còn gì, anh biết chắc là cậu ấy không sao.” Cô không nói gì, vì thế anh ta ngồi xuống và lại hôn cô. “Hãy cố quên nó đi. Vui vẻ một chút. Em có muốn uống một ly nữa không?” “Không.”

“Em có muốn nằm xuống không?” “Không. Callum!” Cô hất cánh tay anh ta ra khỏi người mình. “Vì Chúa!” Anh cố kìm nén để không nói ra điều gì đó, đoạn quay người bước vào phòng tắm để đánh răng, thế là hy vọng về một buổi tối tuyệt vời đã tan biến. Anh có một cảm giác kinh khủng rằng cô sắp nói về những thứ như “điều đó thật không công bằng, chúng ta không thể tiếp tục, em nên nói thật với anh ấy,” những điều đại loại thế. Thay vì hét to, anh nghĩ trong đầu đầy căm phẫn. Tôi đã bố trí cho cậu ta một công việc rồi. Như thế chưa đủ hay sao?

Anh khạc nhổ và súc miệng, đoạn trở lại phòng ngủ, ngồi phịch xuống giường. Với tay lấy điều khiển, anh ấn nút chuyển kênh vẻ giận dữ trong khi Sylvie Mayhew ngồi nhìn ra cửa sổ theo hướng ánh sáng dọc bờ sông Thames và tự hỏi phải làm gì với chồng mình..

Quảng Cáo

0908746000
 

Liên Hệ

0908746000
 

Quảng Cáo

0908746000