fa-bars

Một ngày - Chương 4

Chương 2.

Trở lại cuộc sống Thứ Bảy, ngày 15 tháng Bảy năm 1989. Wolverhampton và Rome

Phòng thay đồ dành cho nữ Trường Tổng hợp Stoke Park Wolverhampton

Ngày 15 tháng Bảy năm 1989. Chào “người đẹp”! Cậu khỏe không? Rome thế nào? Thành phố vĩnh cửu(3) thì quả thật là rất đẹp, nhưng mình đã ở Wolverhampton hai ngày nay rồi nên giờ cũng cảm thấy khá là “vĩnh cửu” đây (dù mình có thể bật mí với cậu là bánh Pizza Hut ở đây ngon tuyệt, đúng là tuyệt vời.”

Kể từ lần trước gặp cậu, mình đã quyết định sẽ làm công việc mà mình đã kể với cậu, với Tổ hợp Nhà hát Sledgehammer ấy, và trong bốn tháng qua bọn mình đã lên kế hoạch, diễn tập và đi lưu diễn vở “Cruel Cargo” (Chuyến hàng nghiệt ngã), một kiệt tác do Hội đồng Nghệ thuật tài trợ, chủ đề nói về nạn buôn bán nô lệ được thể hiện thông qua một câu chuyện kể; với phần hát dân gian và kịch câm khá là bất ngờ. Mình gửi kèm một bản phô tô tờ rơi không được đẹp lắm để cậu hình dung ra đẳng cấp thật sự của nó. Cruel Cargo là một vở kịch mang tính giáo dục kiểu TIE (hay ta còn biết đến với cái tên là Theatre-in-Education(4)) hướng đến thanh thiếu niên từ mười một đến mười ba tuổi - những đối tượng với tư tưởng kích động cho rằng nạn chiếm hữu nô lệ là Điều Xấu. Mình đóng vai Lydia, ừm, thật ra đó là VAI CHÍNH, một cô gái kiêu căng và hư hỏng, con gái Ngài Obadiah Grimm độc ác (có lẽ chỉ cái tên cũng đủ cho cậu biết ông ấy không phải là người tử tế?) và trong phân đoạn cao trào nhất của vở kịch, mình đã nhận ra rằng tất cả những thứ đẹp đẽ của mình, từ váy áo (mình chỉ vào chiếc váy) cho đến trang sức (cũng làm tương tự) đều được mua bằng máu và nước mắt của đồng loại (hu hu) và mình cảm thấy mình dơ bẩn (nhìn vào tay như thể NHÌN THẤY MÁU) dơ bẩn đến tận TM HỒN. Đó là một thứ cảm xúc rất mãnh liệt, mặc dù tối qua đã bị một vài tên nhóc làm hỏng khi chúng ném sô cô la Maltesers vào đầu mình. Nhưng thật ra, nói một cách nghiêm túc, điều này cũng không tồi tệ đến thế, không phải trong hoàn cảnh ấy, mà không hiểu sao mình lại cay độc như vậy, có lẽ đó là cơ chế tự vệ. Thật ra, bọn mình nhận được phản hồi tốt từ đám trẻ xem kịch - những đứa không ném đá lên sân khấu, bọn mình đã tổ chức những buổi hội thảo cực kỳ gây phấn khích tại trường học. Mình đã rất bất ngờ khi thấy những đứa trẻ này, kể cả những đứa gốc Caribe, biết rất ít về di sản văn hóa cũng như nơi xuất thân của chúng. Mình cũng thích viết về điều đó và nó giúp mình thai nghén nhiều ý tưởng cho các vở kịch khác. Thế nên, mình nghĩ việc viết lách đó cũng đáng làm đấy chứ mặc dù cậu cho rằng mình đang lãng phí thời gian. Dexter à, mình thật sự nghĩ rằng bọn mình có thể thay đổi mọi thứ. Ý mình là họ có hàng tá rạp hát cấp tiến ở Đức trong thập niên 1930 và hãy xem sự khác biệt mà CHÚNG đã tạo nên. Bọn mình sẽ xóa bỏ định kiến về màu da ở miền tây trung du, dù phải tuyên truyền với từng đứa trẻ một.

Nhóm diễn viên của mình có bốn người. Kwame là Nô lệ Quý tộc, và cho dù trong kịch bọn mình diễn vai chủ tớ, bọn mình thật sự hòa hợp (mặc dù có một lần trong quán cà phê, mình bảo cậu ấy đưa mình bịch khoai tây chiên, cậu ấy nhìn mình như thể mình đang ÁP BỨC cậu ấy vậy). Nhưng cậu ấy là người tử tế và nghiêm túc trong công việc mặc dù cậu ấy khóc rất nhiều trong các buổi diễn tập, điều mà mình cho là hơi thái quá. Nếu cậu hiểu ý mình thì đúng là cậu ấy hơi mít ướt. Trong vở kịch có một cảnh yêu đương mãnh liệt giữa bọn mình, nhưng một lần nữa, cuộc sống không thể nào giống như nghệ thuật được. Tiếp đến là Sid, người đóng vai ông bố Obadiah độc ác của mình. Mình biết suốt thời tuổi thơ cậu ấy chỉ toàn chơi trò crikê kiểu Pháp trên cánh đồng hoa cúc tuyệt vời khủng khiếp và cậu ấy không phải làm những việc tầm thường như xem ti vi, nhưng Sid đã từng khá nổi tiếng, trong một chương trình truyền hình có tên gọi là City Beat và cậu ấy chẳng buồn che giấu sự kinh tởm khi phải hạ mình diễn vai NÀY. Cậu ấy thẳng thừng từ chối diễn kịch câm vì cho rằng thật không xứng tầm khi phải diễn với một vật thể không thật sự tồn tại ở đó cho người khác xem, và mỗi một câu nói bắt đầu bằng “hồi tôi lên truyền hình” có nghĩa là cậu ấy đang nói “khi tôi hạnh phúc.” Sid đi tiểu trong chậu rửa mặt và có những chiếc quần bằng vải polyester trông phát sợ - thứ mà ta chỉ cần CHÙI thay vì giặt và tồn tại nhờ những miếng bánh nhân thịt bò tại các cửa hàng thực phẩm, còn mình và Kwame thì cho rằng cậu ấy thực sự là một kẻ phân biệt chủng tộc bí mật, nhưng ngoài điều đó ra thì cậu ấy đích thì là một người đàn ông rất rất đáng yêu. Và còn có Candy, à Candy. Cậu sẽ thích Candy cho mà xem, cô ta ngọt ngào đúng như tên gọi. Cô ta đóng vai Người hầu hỗn xược, một Chủ điền trang và Ngài William Wilberforce, Candy đẹp, có tâm hồn và, dù mình không tán thành từ này lắm, rất lẳng lơ. Cô ta cứ luôn hỏi mình là thật sự mình bao nhiêu tuổi và rằng mình trông mệt mỏi, rằng mình sẽ xinh ra phết nếu mình đeo kính áp tròng, dĩ nhiên và MÌNH RẤT THÍCH điều này. Cô ta rất háo hức thể hiện cho mọi người thấy rằng cô chỉ làm điều này để nhận được Thẻ thành viên của Hiệp hội Diễn viên Hollywood và giết thì giờ trong lúc đợi được một nhà sản xuất Hollywood phát hiện ra khi người này tình cờ đi ngang qua Dudley vào một buổi chiều thứ Ba ẩm ướt để tìm kiếm tài năng của TIE. Diễn xuất là chuyện tầm phào phải không? Khi bắt đầu làm việc cho Tổ hợp nhà hát Sledgechammer, bọn mình thật sự háo hức muốn thiết lập nên một tập thể nhà hát tiên tiến không chứa đựng những tư tưởng đại loại như cái tôi - danh vọng - xuất hiện trên ti vi - thể hiện cái tôi - phô bày mấy chuyện nhảm nhí, và mang tính chính luận đầy phấn khích. Có thể đối với cậu, tất cả những điều đó nghe thật ngớ ngẩn, nhưng đó là những gì bọn mình muốn làm. Nhưng vấn đề với những tập thể theo chủ nghĩa bình dân chủ nằm ở chỗ ta phải lắng nghe mấy kẻ ưa kiếm chuyện như Sid và Candy. Mình sẽ chẳng than phiền nếu như cô ta có khả năng diễn xuất, nhưng chất giọng vùng Đông Bắc của cô ta thật không thể chịu được, giống như đang bị nghẹn ấy, và còn một điều này nữa là cô ta mặc đồ lót để khởi động trước khi tập yoga. Điều này thu hút sự chú ý của cậu phải không? Đó là lần đầu tiên mình nhìn thấy có người mặc đồ lót liền làm động tác Tôn thờ thần Mặt trời. Làm vậy là không đúng phải không? Lão Sid tội nghiệp còn không nhai nổi miếng thịt bò nấu cà ri, cứ há hốc miệng lên nhìn. Cuối cùng khi cô ta phải chịu mặc thêm đồ vào để lên sân khấu, thì thế nào cũng có một đứa trẻ bên dưới huýt sáo trêu chọc hoặc làm một tiếng động tương tự, và sau đó, khi đã yên vị trên xe buýt, cô ta luôn làm ra vẻ thật sự bị xúc phạm và làm như một nhà nữ quyền. “Mình ghét lúc nào cũng bị đánh giá qua vẻ bề ngoài. Cả đời mình luôn bị phê phán vì khuôn mặt quá xinh đẹp và cơ thể trẻ trung săn chắc,” cô ta vừa nói vừa chỉnh lại đai tất, giống như đó là một vấn đề CHÍNH TRỊ to lớn, giống như bọn mình đang dựng lại một vở kịch kể về cảnh ngộ của những người phụ nữ bị nguyền rủa do có bộ ngực đồ sộ. Không hiểu mình có đang cường điệu hóa chuyện không nữa? Cậu đã mê cô ta chưa? Có lẽ mình sẽ giới thiệu với cậu khi cậu trở về. Mình có thể hình dung được vẻ mặt cậu lúc đó, bạnh quai hàm ra, nghịch môi rồi hỏi về sự nghiệppppp của cô ta. Có lẽ, tốt hơn hết là mình sẽ không giới thiệu cậu...

Emma Morley úp lá thư xuống khi Gary Nutkin bước vào, gầy trơ xương và đầy lo lắng, và đó là lúc vị đạo diễn kiêm đồng sáng lập viên của Tổ hợp Nhà hát Sledgehammer này tiến hành trao đổi chuẩn bị cho buổi diễn. Phòng thay đồ tập thể không còn là phòng thay đồ nữa mà chỉ là phòng dành cho nữ tại một trường tổng hợp nội thành, nơi thậm chí cuối tuần vẫn còn vương mùi trường học: chất kích thích tố, nước xịt xà phòng màu hồng, những chiếc khăn tắm mốc meo. Ngay lối vào, Gary Nutkin hắng giọng; khuôn mặt nhợt nhạt và nhẵn nhụi, cúc áo trên cùng của chiếc sơ mi đen được cài chặt, biểu hiểu của phong cách George Orwell(5). “Các bạn ạ, tối nay rất đông! Gần nửa nhà hát, không phải là tệ, xét đến!” mặc dù xét đến cái gì thì anh ta không nói, có lẽ vì mất tập trung bởi Candy đang biểu diễn màn lắc hông trong bộ váy liền thân chấm bi. “Hãy cùng mang đến cho họ một màn trình diễn tuyệt vời đi các bạn. Hãy cùng khiến cho mọi người kinh ngạc!” “Mình chỉ muốn đập chết bọn họ,” Sid làu bàu, vừa nhìn Candy vừa nhặt mấy mẩu vụn bánh mì. “Gậy đánh crikê có gắn đinh, bọn khốn.”

“Làm ơn suy nghĩ tích cực chút đi Sid,” Candy dài giọng. Gary tiếp tục, “Hãy nhớ là luôn duy trì vẻ tươi trẻ, luôn gắn kết, luôn sôi nổi, thể hiện lời thoại như thể đó là lần đầu tiên bạn diễn và quan trọng hơn cả là đừng để khán giả dọa dẫm hay kích động các bạn dưới bất kỳ hình thức nào. Tương tác là điều cần thiết nhất. Không được trả đũa. Đừng để họ khiến các bạn tức giận. Đừng để họ đạt được điều đó. Còn mười lăm phút nữa nhé!” Nói xong, Gary bước ra và đóng cửa phòng lại, chẳng khác nào một tên cai ngục. Bây giờ là lúc Sid bắt đầu khởi động buổi tối, một tràng tụng niệm tôi-ghét-công-việc-này-tôi-ghét-công-việc-này. Ngồi cạnh cậu ta là Kwame, cởi trần với dáng vẻ đau khổ trong chiếc quần rách tả tơi, hai tay khoanh vào kẹp dưới nách, đầu ngửa ra sau, trầm tư suy nghĩ hoặc có lẽ đang cố kìm nén không phải để hét lên. Bên trái Emma, Candy đang hát những ca khúc trích từ vở Những người khốn khổbằng chất giọng nữ cao, mỏng, đứng bằng mũi ngón chân mà cô ấy đã có được nhờ mười năm múa ba lê. Emma quay lại ngắm mình trong chiếc gương đã nứt, xoắn hai ống tay áo bồng của chiếc đầm dài thời Victoria lên, tháo kính và buông một tiếng thở dài kiểu Jane Austen.

Năm vừa qua là một năm đầy những thất bại, lựa chọn sai lầm, và những dự án bị lãng quên. Cô đã từng đảm nhận vai trò giọng nữ trầm trong một nhóm nhạc nữ được gọi bằng nhiều tên gọi khác nhau như Throat, Slaughterhouse Six và Bag Biscuit, ngay cả cái tên còn chưa quyết định được chứ đừng nói đến định hướng âm nhạc. Làm việc ở một hộp đêm nơi không ai buồn đặt chân đến, cuốn tiểu thuyết thứ hai cùng chung số phận, vài công việc mùa hè khốn khổ như bán khăn cashmere và khăn choàng kẻ cho khách du lịch. Vào thời kỳ khốn khổ nhất của mình, cô đã tham gia một khóa đào tạo kỹ năng làm xiếc cho đến khi thực tế chứng minh rằng cô chẳng có chút tài nghệ làm xiếc nào hết cả. Mấy trò nhào lộn đu quay này không phải là giải pháp cho cuộc sống khốn khổ của cô. Chương trình Second Summer of Love(6) được quảng cáo rầm rộ là một trong những chương trình nhàm chán và vô bổ. Ngay cả thành phố Edinburgh thân yêu của cô cũng bắt đầu khiến cô thấy buồn chán. Sống trong khu đại học mà cô có cảm giác như mình đang nán lại một bữa tiệc khi mọi người đã về hết, và vì thế vào tháng Mười, cô đã từ bỏ căn hộ tai phố Rankeillor và chuyển về sống cùng bố mẹ suốt một mùa đông dài ẩm ướt với những lời buộc tội nhau, những tiếp dập cửa phòng và những chương trình truyền hình buổi chiều trong ngôi nhà dường như càng ngày càng trở nên chật chội hơn bao giờ hết. “Nhưng con được nhận bằng danh dự hạng nhất mà! Chuyện gì đã xảy ra với tấm bằng của con vậy?” mẹ cô hỏi mỗi ngày, cứ như thể tấm bằng của Emma có một sức mạnh siêu phàm mà cô bướng bỉnh không đem ra sử dụng. Em gái cô, Marianne, cô y tá có cuộc sống hôn nhân hạnh phúc và một bé gái mới chào đời, thường xuyên ghé chơi mỗi tối chỉ để hả hê nhìn thấy cô con gái vàng của bố mẹ đang bị bẽ mặt. Nhưng thỉnh thoảng còn có Dexter Mayhew. Vào ít ngày ấm áp cuối cùng của mùa hè sau lễ tốt nghiệp, cô đã đến thăm ngôi nhà xinh đẹp của gia đình cậu hay nói đúng hơn đó là một tòa biệt thự tại Oxfordshire. Tòa nhà rất rộng, được xây vào thập niên hai mươi với những tấm thảm đã bạc màu, những bức tranh trừu tượng khổ lớn treo trên tường, và đồ uống dùng kèm với đá. Trong khu vườn rộng bát ngát thơm mùi cây cỏ, họ đã trải qua một ngày dài chậm chạm hết ở hồ bơi rồi lại đến sân tennis, và đây là lần đầu tiên trong đời, cô được nhìn thấy những thứ không phải do chính quyền địa phương xây dựng nên. Ngả người lên những chiếc ghế mây, uống rượu gin, nước tăng lực và ngắm nhìn khung cảnh xung quanh, cô đã nghĩ về cuốn Đại gia Gasby. Dĩ nhiên là cô đã làm hỏng không khí đó, cô trở nên căng thẳng và uống quá nhiều rượu tại bữa tối, lại còn hét vào mặt bố của Dexter - một người rất chừng mực và biết lý lẽ - về Nicaragua, trong khi đó Dexter luôn nhìn cô với ánh mắt vừa chán nản vừa trìu mến, như thể cô là một chú cún con vừa làm bẩn tấm thảm trải sàn. Có thật sự là cô đã ngồi vào bàn ăn và ăn thức ăn của họ rồi gọi bố cậu ấy là người theo chủ nghĩa phát xít? Đêm hôm đó, cô nằm trong căn phòng ngủ dành cho khách với tâm trạng bàng hoàng, nuối tiếc, chờ đợi tiếng gõ cửa nhưng rõ ràng điều đó không bao giờ xảy ra; thế là những khoảnh khắc lãng mạn đã tiêu tùng vì những kẻ Nicaragua theo đảng Sandinistas, mà họ thì khó có khả năng biết ơn cô về điều đó.

Họ gặp lại nhau ở Luân Đôn vào tháng Tư, tại bữa tiệc sinh nhật lần thứ hai mươi ba của một người bạn chung có tên Callum, cùng nhau trải qua một ngày tiếp theo tại Kengsington Gardens, uống rượu bằng chai và trò chuyện không ngớt. Rõ ràng, cô đã được tha thứ, nhưng cả hai cũng bắt đầu bước vào giai đoạn thân mật đáng bực mình của tình bạn; ít ra là đáng bực mình đối với cô, nằm trên thảm cỏ xanh ngát, tay họ gần chạm nhau khi cậu bắt đầu kể về Lola, cô gái tuyệt vời người Tây Ban Nha mà cậu đã gặp trong lần trượt tuyết trên núi Pyrenees. Và rồi cậu lại lên đường, đi đây đó để mở mang đầu óc. Trung Quốc hóa ra lại quá xa lạ và mang tư tưởng quả là mới mẻ đối với Dexter, nên thay vào đó, cậu đã thực hiện chuyến đi nhàn nhã kéo dài một năm trời đến tất cả những nơi mà sách hướng dẫn du lịch gọi là “Những thành phố tiệc tùng.” Vì thế, giờ họ là bạn bè qua thư từ, Emma viết hàng đống thư dài ngoằng tràn trề cảm xúc kèm theo những câu bông đùa, những chữ gạch chân phía dưới, cộng thêm cả sự giễu cợt gượng gạo và không hề che giấu nỗi khát khao; mọi cử chỉ yêu thương đều bộc lộ trên trang thư dài hai nghìn tư. Những lá thư, giống như những cuộn phim tài liệu, thật sự là phương tiện đắc lực để thể hiện những cảm xúc bị che giấu, và rõ ràng, cô đang dành quá nhiều thời gian và công sức cho việc đó. Đổi lại, Dexter chỉ gửi cho cô những tấm bưu thiếp bị trả lại do không đủ bưu phí: “Amsterdam ĐIÊN KHÙNG”, “Barcelona ĐIÊN LOẠN”, “Dublin TUYỆT CÚ MÈO. Sáng nay mệt như CHÓ.” Về khoản viết nhật ký đi đường cậu ấy chẳng hề giống Bruce Chatwin(7), song cô vẫn nhét những tấm bưu thiếu đó vào túi áo bành tô trong những chuyến đi bộ dài đầy cảm xúc trên vùng dầm lầy Ilkley Moor, tìm hiểu ẩn ý của câu “VENICE HOÀN TOÀN CHÌM TRONG NƯỚC!!!”. “Thế Dexter là ai?” Mẹ cô hỏi, mắt nhìn chăm chăm mặt sau của những tấm bưu thiếp. “Bạn trai hả?” Tiếp theo là một ánh mắt quan tâm. “Đã bao giờ con nghĩ sẽ làm việc cho Cơ quan cung ứng khí đốt của Anh chưa?” Emma đã làm công việc rót rượu tại một quán bar địa phương, và theo thời gian, cô cảm thấy não của mình bắt đầu nhũn ra giống như một thứ gì đó bị bỏ quên dưới đáy tủ lạnh.

Khi ấy, Gary Nutkin đã gọi điện, tay đạo diễn theo chủ nghĩa Trotsky gầy gò đã hướng dẫn cô trong quá trình dàn dựng vở kịch chán ngắt Nỗi sợ hãi và đau khổ của Đế chế thứ ba của Brecht vào năm 1986, và sau đó hôn cô suốt ba tiếng đồng hồ cũng chán ngắt tại bữa tiệc cuối cùng. Ngay sau đó, anh ta đã đưa cô đi xem hai vở kịch liên tiếp của Peter Greenaway, chờ đợi suốt bốn tiếng đồng hồ trước khi đưa tay qua và lơ đãng đặt lên ngực trái của cô như thể đang điều chỉnh công tắc đèn điện. Tối hôm đó, họ đã làm tình theo phong cách Brecht trên chiếc giường đơn cũ rích bên dưới tấm áp phích quảng cáo bộ phim Trận chiến thành Algiers. Gary đã chăm sóc thật cẩn thận để đảm bảo rằng cô không cảm thây sức mạnh bị xem như một món đồ đem ra đổi chác. Sau đó, không ai liên lạc với ai, cũng không có gì khác lạ xảy ra, mãi cho đến tháng Năm cô nhận được một cuộc gọi lúc nửa đêm, bằng giọng nhẹ nhàng lẫn chút do dự, anh ta nói, “Cô có muốn làm việc cho tổ hợp nhà hát của tôi không?” Emma không có tham vọng trở thành diễn viên cũng như không có bất kỳ tình yêu vĩ đại nào đối với nhà hát, có điều cô xem nó là phương tiện thể hiện các ý tưởng và quan điểm. Và Sledgehammer là một tổ hợp nhà hát tiên tiến kiểu mới có thể cùng chia sẻ những ý tưởng, lòng nhiệt huyết, tuyên bố và cam kết thay đổi cuộc sống của những người trẻ tuổi thông qua nghệ thuật. Có lẽ còn có chút lãng mạn nào đó nữa, Emma đã nghĩ thế, hay chí ít là một chút tình dục. Cô gói ghém hành lý, chào tạm biệt hai bậc phụ huynh đầy hoài nghi của mình, và bước lên xe buýt như thể đang dấn thân vào một sự nghiệp cao cả nào đó, đại loại như một vở kịch về cuộc nội chiến Tây Ban Nha do Hội đồng Nghệ thuật tài trợ. Nhưng ba tháng sau, điều gì đã xảy ra với sự ấm áp, tình thân thiết, ý nghĩa của những giá trị xã hội, những lý tưởng cao đẹp xen lẫn niềm vui thích? Họ đúng là một tổ hợp. Đó chính là những gì được viết ở thùng xe tải, chính cô đã tô màu lên trên đó. Tôi-ghét-công-việc-này-tôi-ghét-công-việc-này, Sid nói. Emma lấy tay bịt tai lại và tự hỏi bản thân một số câu hỏi cơ bản.

Vì sao mình lại ở đây? Liệu mình có tạo ra sự khác biệt? Cái mùi gì thế không biết?

Mình muốn ở đâu vào lúc này? Cô muốn ở Rome với Dexter Mayhew. Trên giường. “Đại lộ Shaf-tes-bury.”

“Không phải, Shafts-bury. Ba âm tiết.” “Quảng trường Lychester.” “Quảng trường Leicester, hai âm tiết.”

“Sao không phải là Ly-chester?” “Không rõ nữa.” “Nhưng anh là giáo viên của em, anh phải biết chứ?”

“Xin lỗi,” Dexter nhún vai. “Thôi được, em nghĩ đó là thứ ngôn ngữ ngốc nghếch,” Tove Angstom nói và đập vào vai Dexter. “Thứ ngôn ngữ ngốc nghếch. Hoàn toàn đồng ý. Nhưng dù sao thì không cần phải đánh anh như thế.”

“Xin lỗi,” Tove nói, hôn vào vai, rồi hôn vào cổ và miệng Dexter, và một lần nữa, Dexter lại bất ngờ trước sự tưởng thưởng xứng đáng của việc dạy học. Trong căn phòng nhỏ của cậu, họ nằm giữa những đống chăn gối trên sàn gạch, không còn cần đến chiếc giường đơn vì cho rằng nó không đủ đáp ứng nhu cầu của hai người. Trong cuốn sách về Percy Shelly của trường Anh ngữ Quốc tế, chỗ ở của giáo viên được mô tả là “ấm cúng với nhiều đặc điểm mang tính xoa dịu” và điều này đã mô tả chính xác thực tế của căn phòng. Căn phòng của cậu ở Centro Storico trông ảm đạm và giống như phòng làm việc, nhưng ít ra nó còn có ban công, một ô cửa rộng ba mươi xen ti mét nhìn ra một khu đất xinh đẹp, mà theo phong cách rất Rome thì nơi đó còn có chức năng làm bãi đậu xe. Mỗi sáng, cậu đều bị đánh thức bởi âm thanh của các nhân viên văn phòng khi họ vội vàng quay đầu xe và đụng phải nhau. Nhưng trong không khí ẩm ướt của buổi chiều tháng Bảy, âm thanh duy nhất là tiếng bánh xe của những chiếc va li du lịch kéo lê trên con đường rải sỏi bên dưới, và họ nằm đó, cửa sổ mở toang và hôn nhau một cách lười biếng, tóc cô gái vướng vào mặt cậu, mái tóc dày, đen và thơm mùi dầu gội Đan Mạch: mùi gỗ thông nhân tạo và mùi thuốc lá. Với tay qua ngực cậu, cô lấy gói thuốc trên sàn, đốt hai điếu và đưa cho cậu một điếu rồi cậu ngả người lên trên những chiếc gối, để cho điếu thuốc đung đưa trên môi giống như Belmondo hay nhân vật nào đó trong một bộ phim của Fellini, nhưng rất quen thuộc với những tấm bưu thiếp: rất phong cách, đen và trắng. Dexter không thích ý nghĩ rằng mình là kẻ kiêu ngạo, nhưng đôi lúc, cậu muốn một ai đó có mặt ngay tức thì để ghi lại hình ảnh của mình.

Họ lại hôn nhau, và cậu mơ hồ tự hỏi liệu có tiêu chuẩn đạo đức hay cách đối nhân xử thế nào trong tình huống này hay không. Dĩ nhiên, đây không phải là lúc để lo lắng về việc nên hay không nên ngủ với sinh viên mà phải là ngay sau bữa tiệc tốt nghiệp đại học, trong lúc Tove còn đang lảo đảo ngồi vào mép giường để tháo khóa đôi bốt của cô. Thậm chí khi đó, trong trạng thái lẫn lộn giữa rượu và ham muốn cậu thấy mình nghĩ về Emma Morley và tự hỏi cô ấy sẽ nói gì. Ngay cả khi Tove xoắn lưỡi cô quanh tai cậu, cậu vẫn có vẻ phản đối: cô ấy mười chín tuổi, đã trưởng thành, và dù sao thì mình không phải là giáo viên thật sự của cô ấy. Hơn nữa, lúc đó Emma đang ở rất xa, đang thay đổi thế giới trên chuyến xe buýt nhỏ dọc đường vành đai của một tỉnh lị, và dù sao đi nữa thì tất cả những điều này có liên quan gì đến Emma? Lúc này, đôi bốt cao đến đầu gối của Tove đã nằm ở một góc căn phòng, trong một nhà nghỉ nơi cấm khách viếng thăm ở lại qua đêm. Cậu nhích người ra chỗ gạch mát hơn, nhìn ra ngoài cửa sổ để ước lượng thời gian qua khoảng trời nhỏ, hình vuông, xanh biếc tươi tắn. Nhịp thở của Tove thay đổi khi cô chìm vào giấc ngủ, nhưng cậu lại có một cuộc hẹn quan trọng. Cậu thả phần thuốc lá còn lại vào ly rượu, và với tay lấy đồng hồ đang đặt trên cuốn sách Có được là người của Primo Levi vẫn còn chưa đọc trang nào. “Tove, anh phải đi rồi.”

Cô kêu lên tỏ vẻ phản đối. “Anh hẹn gặp bố mẹ. Anh phải đi bây giờ.” “Em đi cùng được không?”

Cậu cười lớn. “Không được Tove. Hơn nữa em còn có bài kiểm tra ngữ pháp sáng thứ Hai. Hãy ôn bài đi.” “Anh kiểm tra đi. Kiểm tra ngay bây giờ đi.” “Được rồi, động từ nhé. Thì hiện tại tiếp diễn.”

Cô vòng một chân quanh người cậu để lấy đà trườn lên trên. “Em đang hôn, anh đang hôn, anh ấy đang hôn, cô ấy đang hôn…” Cậu chống tay nhổm đầu dậy. “Nghiêm túc nào Tove…” “Thêm mười phút nữa,” cô thì thầm vào tai cậu, và cậu ngả người ra sàn nhà. Sao lại không chứ, cậu nghĩ? Suy cho cùng thì mình đang ở Rome, và hôm nay là một ngày đẹp trời. Mình đã hai mươi tư tuổi, kinh tế ổn định, sức khỏe hoàn toàn bình thường. Mình đang khao khát và đang làm điều mà mình không nên làm, và mình rất, rất may mắn.

Một ngày nào đó, sức hấp dẫn của việc sống theo cảm xúc, thú vui và ý thích của bản thân có thể sẽ không còn nữa, nhưng vẫn còn nhiều thời gian để điều đó xảy ra. Rome thế nào? La Dolce Vita thế nào? (tra từ điển đi). Mình hình dung lúc này cậu đang ngồi tại một quán cà phê, uống một trong những loại cappuccino mà chúng ta thường nghe nhắc đến, và huýt sáo khi nhìn thấy bất cứ điều gì. Có lẽ cậu đang đeo kính râm khi đọc lá thư này. Thế thì bỏ nó xuống, trông cậu buồn cười lắm. Cậu có nhận được những cuốn sách mình gửi không? Primo Levi là một nhà văn tài hoa người Ý. Nó sẽ nhắc nhở cậu rằng cuộc sống không phải lúc nào cũng đầy những sắc màu rực rỡ. Cuộc sống không thể lúc nào cũng giống như phần mở đầu của phim Betty Blue(8). Còn việc dạy học của cậu thế nào? Hãy hứa với mình là cậu sẽ không ngủ với sinh viên. Điều đó quả thật rất… đáng thất vọng. Phải đi đây. Sắp hết chỗ viết rồi, và mình có thể nghe tiếng rì rầm đầy phấn khích của khán giả ở phòng bên cạnh vì họ đang ném ghế vào nhau. Mình sẽ kết thúc công việc này trong hai tuần nữa TẠ ƠN CHÚA, sau đó Gary Nutkin, giám đốc của bọn mình, muốn mình lên kế hoạch cho một buổi diễn về Nạn phân biệt chủng tộc ở Apartheid phục vụ các trường mầm non. Quỷ quái, lại còn phải có mấy CON RỐI nữa. Sáu tháng di chuyển trên đường M6 với một con rối Desmond Tutu đặt trong lòng. Mình có thể bỏ qua điều đó. Ngoài ra, mình đã viết một vở kịch chỉ có hai nữ chính Virginia Woolf và Emily Dickinson(9), đặt tên là “Hai cuộc đời” (hoặc “Hai người đồng tính đau khổ”). Có lẽ mình sẽ đưa vở kịch này vào một nhà hát công cộng nào đó. Khi mình giải thích với Candy rằng Virginia Woolf là ai, cô ấy nói rằng cô ấy thật sự, thật sự muốn đóng vai này, nhưng với điều kiện là có thể cởi áo ra,vì thế phần phân vai đã được quyết định theo cách đó. Mình sẽ đóng vai Emily Dickinson, và vẫn mặc áo. Mình sẽ đặt chỗ cho cậu.

Trong khi chờ đợi, mình phải lựa chọn giữa việc ký hợp đồng làm việc ở Leeds hoặc ở Luân Đôn. Lựa chọn, lựa chọn. Mình đã tìm cách tránh đến Luân Đôn - ở đó thật CHẲNG CÓ GÌ BẤT NGỜ - nhưng cô bạn cùng phòng trước đây. Tilly Killick (còn nhớ cô ấy không? Người có cặp mắt kính to màu đỏ, giọng nói lanh lảnh, tóc mai dài?) có một căn phòng trống ở Clapton. Cô ấy gọi nó là “phòng hộp”, nơi đến mà không cần báo trước. Clapton thế nào? Cậu sẽ sớm trở lại Luân Đôn chứ? Này, có thể chúng ta sẽ làm bạn cùng phòng? “Bạn cùng phòng ư?” Emma do dự, lắc đầu và làu bàu, sau đó viết “Chỉ đùa thôi!!!!” Cô lại rên lên lần nữa, “Chỉ đùa thôi” chính là thứ người ta viết để bào chữa cho những gì thật lòng muốn nói. Quá muộn để xóa nó, và nên chúc như thế nào đây? “Tất cả những điều tốt đẹp nhất” nghe quá trang trọng, “Tout mon amour(10)” nghe quá giả tạo, “All my love” nghe quá ủy mị, và lúc này Gary Nutkin lại đang đứng trước cửa. “Được rồi, mọi người vào vị trí nào!” Vẻ buồn rầu, anh ta mở rộng cửa như thể đưa họ ra pháp trường xử bắn, và trước khi kịp đổi ý, cô vội viết ngay…

Chúa ơi, mình nhớ cậu, Dex. … sau đó ký tên và kèm theo một nụ hôn lên tờ giấy viết thư màu xanh lá nhạt. Tới quảng trường Piazza della Rotunda, mẹ Dexter ngồi trong một quán cà phê nhỏ, tay cầm hờ hững cuốn tiểu thuyết, mắt lim dim, đầu hơi ngửa ra sau và nghiêng sang một bên giống như một chú chim đang đón ánh nắng cuối ngày. Thay vì đi thẳng đến chỗ mẹ, Dexter thư thả ngồi xuống bậc thềm của ngôi đền Pantheon cùng đám khách du lịch, và nhìn về phía đó khi người phục vụ tiến đến nhấc chiếc gạt tàn thuốc lên khiến mẹ cậu giật mình. Cả hai cùng cười lớn, và từ cách cử động tay và miệng vẻ rất kịch của bà, đặt tay mình lên tay người nam phục vụ và vỗ một cách yêu thương, cậu có thể đoán được bà đang nói thứ tiếng Ý khủng khiếp. Rõ ràng là chẳng hiểu bà nói gì nhưng người phục vụ vẫn mỉm cười đáp lại, sau đó bỏ đi, không quên ngoái đầu nhìn lại người phụ nữ Anh xinh đẹp đã chạm vào tay mình và nói thứ tiếng mà anh ta không tài nào hiểu nổi.

Dexter nhìn thấy tất cả và mỉm cười. Theo quan điểm cũ của Freud mà Dexter nghe thấy lần đầu tiên khi còn học trong trường nội trú thì con trai thường yêu mẹ hơn bố, và điều đó hoàn toàn đúng với cậu. Tất cả những người cậu từng gặp đều yêu thích Alison Mayhew, và thú vị hơn cả là cậu cũng thật lòng rất yêu bố; cậu rất may mắn. Thông thường, vào bữa tối hay trong khu vườn rộng lớn cây cối um tùm tại ngôi nhà ở Oxfordshire, hay trong suốt những ngày nghỉ tại Pháp, khi bà nằm ngủ dưới ánh mặt trời, cậu để ý thấy bố mình ngắm bà với ánh mắt say mê và sự ngưỡng mộ kín đáo. Lớn hơn bà mười lăm tuổi, dáng người cao ráo, khuôn mặt dài và tính tình sống hướng nội, có vẻ như Stephen Mayhew không thể tin là mình lại được sở hữu thứ tài sản đặc biệt này. Tại các buổi tiệc của mẹ, nếu phải ngồi yên để không bị bắt đi ngủ sớm, Dexter thường quan sát thấy những người đàn ông ngoan ngoãn, sốt sắng lập thành một vòng tròn quanh bà, những người thông minh, có học vấn, các bác sĩ, luật sư và những người làm việc bên đài truyền thanh cho đến những cậu bé độ tuổi trăng tròn. Cậu ngồi nhìn bà nhảy múa theo những bài hát của nhóm nhạc Roxy Music thời kỳ đầu, tay cầm một ly cocktail, say sưa và chủ động trong khi những bà vợ khác trông thật chán nản và chậm chạp. Các bạn học, kể cả những người điềm tĩnh nhất, cũng biến thành những con rối khi ở cạnh Alison Mayhew, đùa giỡn với bà, rủ tham gia vào các trò bắn nước, khen ngợi tài nấu nướng khủng khiếp của bà - món trứng tráng không ra hình thù gì, tiêu đen mà nhìn như thể tàn thuốc lá. Bà đã từng học về thời trang tại Luân Đôn, nhưng thời gian này đang rất thành công với cửa hàng đồ cổ trong một ngôi làng, chuyên bán các loại thảm và đèn chùm đắt tiền cho giới thượng lưu ở Oxford. Ở bà vẫn toát lên sự lộng lẫy của thập niên 60 - Dexter đã nhìn thấy những bức ảnh, những mẩu báo được cắt ra từ các mục báo đã phai màu - nhưng rõ ràng là bà không có gì buồn bã hay hối tiếc vì đã từ bỏ điều đó để đổi lấy một cuộc sống gia đình hết sức ấm cúng, bình yên và đáng trân trọng. Dường như bà đã dự cảm được chính xác đâu là thời điểm để rút lui khỏi bữa tiệc. Dexter không khỏi hoài nghi rằng bà đã có những lúc bù khú với các tay bác sĩ, luật sư và các nhân viên của đài phát thanh, nhưng cậu thấy khó có thể nổi giận với bà. Và lúc nào mọi người cũng nói giống nhau - rằng cậu thừa hưởng điều đó từ bà. Không ai nói rõ “đó” là điều gì nhưng dường như ai cũng biết; dĩ nhiên đó là vẻ bề ngoài, là năng lượng tràn trề và sức khỏe tốt, nhưng ngoài ra còn có một sự tự tin đến độ thờ ơ nhất định, là trung tâm của đám đông, luôn thuộc nhóm những người chiến thắng.

Thậm chí lúc này, khi bà ngồi đó trong chiếc váy mùa hè xanh dương đã bạc màu, đang lục tìm những que diêm trong chiếc túi xách to đùng, dường như cuộc sống ở Piazza chỉ đang xoay quanh bà. Đôi mắt màu nâu sắc sảo trên khuôn mặt hình trái tim, cùng mái tóc đen được chải rối rất tốn kém, một chiếc cúc áo không cài để hở khá nhiều khuôn ngực, quả là một sự lộn xộn không chê vào đâu được. Bà thấy cậu tiến đến và khuôn mặt bà giãn ra với nụ cười rộng hết cỡ. “Trễ bốn năm phút, chàng trai. Con đã ở đâu thế?” “Ngồi đằng kia nhìn mẹ trò chuyện với những người phục vụ.”

“Đừng nói cho bố con biết.” Bà dùng hông đẩy chiếc bàn để đứng lên và ôm cậu. “Nhưng con đã ở đâu?” “Chỉ là chuẩn bị bài vở thôi mà.” Tóc cậu vẫn còn ướt sau khi tắm cùng Tove Angstrom, và khi Tove hất nó ngược lên trán cậu, lấy tay trìu mến ôm một bên má cậu, cậu nhận ra rằng cô vẫn chưa tỉnh rượu ahwrn. “Rất bù xù. Con đang gặp rắc rối với ai vậy? Trò quậy phá gì nữa đây?”

“Con đã nói với mẹ là chuẩn bị bài vở rồi mà.” Bà bĩu môi hoài nghi. “Thế tối qua con đi đâu? Bố mẹ đã đợi con ở nhà hàng.” “Con xin lỗi, con bị trễ do tham dự buổi khiêu vũ của trường.”

“Một buổi khiêu vũ. Thật giống năm 1977. Nó như thế nào?” “Hai trăm cô gái Scandinavia say xỉn nhảy nhót theo phong cách vogue.” “Phong cách vogue? Xin thông báo là mẹ chẳng hiểu từ đó nghĩa là gì. Thế có vui không?”

“Chán không buồn nói.” Bà vỗ vỗ vào đầu gối cậu. “Thật tội nghiệp.” “Bố đâu ạ?”

“Bố con phải về khách sạn nằm nghỉ. Trời nóng, cộng với đôi xăng đan làm chân ông ấy phồng lên. Con biết bố con mà, ông ấy là người xứ Wales.” “Thế bố mẹ đã làm gì?” “Thì chỉ đi dạo quanh khu di tích. Mẹ nghĩ nó đẹp nhưng ông bố Stephen của con lại thấy chán phèo. Tất cả mớ lộn xộn đó, những cái cột nằm lăn lóc khắp nơi. Mẹ cho rằng ông ấy muốn họ san bằng tất cả và dựng lên một khu thật đẹp hoặc tương tự thế.”

“Bố mẹ nên đi thăm Palatine. Nó ở trên đỉnh đồi kia kìa…” “Mẹ biết Palatine ở đâu, Dexter. Mẹ đã đến Rome trước khi con chào đời.” “Vâng, thế thời đó ai là hoàng đế?”

“Ha ha. Đây, uống giúp mẹ chỗ rượu này, đừng để mẹ uống cả chai nhé.” Bà đã uống gần hết, khá nhiều, nhưng cậu vẫn rót phần rượu cuối cùng vào cốc và với tay lấy thuốc lá. Alison tặc lưỡi. “Con biết đó, đôi lúc mẹ nghĩ bố mẹ đã quá dễ dãi với con.” “Hoàn toàn đồng ý. Bố mẹ đã làm hư con. Đưa cho con ít diêm nào.” “Nhìn chẳng tử tế chút nào, con biết đó. Mẹ hiểu con cho rằng nó khiến con giống như một ngôi sao điện ảnh, nhưng thực ra không phải thế, trông thật khủng khiếp.”

“Vậy sao mẹ lại làm thế?” “Bởi vì nó khiến mẹ trông mạnh mẽ.” Bà đưa thuốc lên môi để cậu châm lửa. “Dù sao thì mẹ cũng sắp bỏ rồi. Đây là lần cuối cùng. Giờ thì nhanh lên, nhân lúc không có bố con ở đây…” Rồi chồm người lại gần hơn, thủ thỉ vẻ bí mật. “Kể cho mẹ nghe chuyện tình cảm của con đi.” “Không!”

“Thôi nào, Dex! Con biết là mẹ chỉ có thể trải nghiệm cuộc sống gián tiếp qua các con, nhưng chị gái con thì cứ e ấp như trinh nữ…” “Mẹ say rồi phải không?” “Mẹ không thể nào biết được bằng cách nào nó lại có hai đứa con…”

“Mẹ say rồi.” “Mẹ không uống rượu, con không nhớ sao?” Khi Dexter mười hai tuổi, một tối nọ, bà nghiêm nghị dắt cậu vào bếp và với giọng nhẹ nhàng, hướng dẫn cậu cách pha một cốc martini nguyên chất, như thể đó là một nghi thức trang trọng. “Thôi nào. Hãy khai báo ngay, không được bỏ sót một chi tiết nào.” “Con không có gì để nói cả.”

“Không có ai ở Rome sao? Không có cô gái nào tử tế sao?” “Không có ai cả.” “Mẹ hy vọng không phải là một sinh viên.”

“Dĩ nhiên là không.” “Thế còn ở nhà? Ai là người đã viết cho con những lá thư dài sướt mướt mà bố mẹ cứ phải gửi chuyển phát đến địa chỉ của con?” “Không phải việc của mẹ.”

“Đừng để mẹ lại phải mở thư ra đọc, hãy kể cho mẹ biết đi nào.” “Không có gì để kể hết mà lại.” Bà tựa lưng vào ghế. “Được, mẹ thật thất vọng về con. Thế còn cô gái đã ở lại nhà chúng ta lần trước?”

“Cô gái nào?” “Cô gái xinh xắn, tử tế, người miền Bắc. Say rượu và hét vào mặt bố con về những người Sandinista.” “Đó là Emma Morley.”

“Emma Morley. Mẹ thích cô gái ấy. Bố con cũng thích dù cô ấy đã gọi ông là kẻ ủng hộ chủ nghĩa phát xít.” Dexter cau mày khi nhớ lại chuyện đó. “Mẹ không phiền. Ít ra là cô gái đó còn có chút nhiệt huyết, chút đam mê. Không giống như những cô gái hở hang mà chúng ta thường gặp ở bàn ăn sáng. Vâng thưa bà Mayhew, không thưa ông Mayhew. Con biết đó, mẹ đã nghe tiếng con rón rén đến phòng ngủ dành cho khách vào lúc nửa đêm…” “Đúng là mẹ đã say rồi phải không?” “Vậy cô Emma này thế nào?”

“Emma chỉ là bạn.” “Giờ vẫn thế à? Mẹ không chắc. Thực ra mẹ nghĩ là con bé thích con.” “Mọi người đều thích con. Đó là lời nguyền.”

Trong đầu cậu, điều đó nghe có vẻ ổn: hèn hạ và tự dối lừa bản thân, nhưng lúc này, họ ngồi im lặng và cậu lại thấy mình thật ngốc nghếch, giống như tại những buổi tiệc nơi mẹ cậu cho phép cậu ngồi cùng với người lớn, để cậu thể hiện bản thân và khiến bà thất vọng. Bà mỉm cười vẻ độ lượng, và nắm chặt tay cậu trên bàn. “Hãy sống tử tế nhé, con trai?” “Con luôn tử tế, lúc nào cũng thế mà.”

“Nhưng đừng quá tử tế. Ý mẹ là đừng xem nó như một niềm tin tôn giáo, sự tử tế ấy.” “Con sẽ không như thế.” Cảm thấy không thoải mái, cậu bắt đầu nhìn quanh quảng trường. Bà thúc vào cánh tay cậu. “Vậy con muốn gọi một chai nữa, hay chúng ta trở về khách sạn xem mấy ngón chân của bố con thế nào?”

Họ bắt đầu đi về hướng Bắc trên những con đường chạy song song với phố Via Del Corso, hướng đến quảng trường Piazza del Popolo, Dexter vừa đi vừa thay đổi lộ trình để khiến cho quãng đường trở nên thú vị, và cậu bắt đầu cảm thấy dễ chịu hơn, hài lòng khi thấy mình đã thông thạo về thành phố này. Mẹ cậu ôm choàng lấy cánh tay cậu. “Thế con định ở đây bao lâu?” “Con không biết, có lẽ đến tháng Mười.”

“Nhưng sau đó con sẽ về nhà và ổn định cuộc sống chứ?” “Dĩ nhiên.” “Ý mẹ không phải là bắt con sống với bố mẹ. Mẹ sẽ không làm thế với con. Nhưng con biết đó, bố mẹ sẽ giúp con tìm một căn hộ.”

“Không cần vội mà mẹ.” “Thôi nào Dexter, đã một năm rồi đấy. Con cần nghỉ ngơi bao lâu nữa? Cũng không có vẻ gì là con đã làm việc cật lực ở trường đại học…” “Không phải nghỉ ngơi, con đang làm việc.”

“Thế còn nghề báo thì sao? Chẳng phải con đã nói về nghiệp báo chí là gì? Cậu đã đề cập đến nó một cách tình cờ, chỉ như một hành động làm xao lãng và viện cớ. Có vẻ như càng về cuối những năm tháng tuổi thanh niên thì cơ hội của cậu dường như càng thu hẹp lại. Những cơ hội nghề nghiệp đáng tự hào như bác sĩ phẫu thuật tim, kiến trúc sư đã hoàn toàn khép lại trước mắt cậu và giờ đây, có vẻ như nghề báo cũng đang diễn ra theo cách tương tự. Anh không phải là người giỏi viết lách, không am hiểu nhiều về chính trị, khả năng nói tiếng Pháp tồi, lại thiếu mọi kỹ năng chuyên môn, cậu chỉ có duy nhất một tấm hộ chiếu và một hình ảnh mạnh mẽ của chính mình đang nằm hút thuốc dưới quạt trần tại những nước khí hậu nhiệt đới, một chiếc máy ảnh Nikon đã biến dạng và một chai rượu Whisky cạnh giường ngủ. Dĩ nhiên, điều cậu thật sự thích làm là trở thành nhiếp ảnh gia. Năm mười sáu tuổi, cậu đã hoàn thành một đồ án ảnh có tên gọi “Texture” với đủ các tấm hình đen trắng chụp cận cảnh những loại vỏ cây và vỏ sò, ốc khiến cho giáo viên nghệ thuật của cậu phải “kinh ngạc”. Kể từ đó, chưa có điều gì khiến cậu cảm thấy hài lòng như đối với “Texture” cũng như những bức tranh có độ tương phản cao mô tả cảnh tuyết phủ trên cửa sổ và lối đi rải sỏi. Còn làm nghề báo nghĩa là phải vật lộn với những khó khăn như từ ngữ và ý tưởng, nhưng cậu cho rằng mình có tố chất của một nhiếp ảnh gia, bởi cậu thấy mình có những cảm xúc mạnh mẽ mỗi khi mọi thứ ở vào trạng thái thích hợp của chúng. Tại thời điểm này, chỉ tiêu chọn nghề chính của cậu là nghề đó phải nghe thật “kêu” trong quán rượu, rót thẳng vào tai một cô gái nào đó, và không thể phủ nhận rằng “Tôi là một nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp” là một tuyên bố thú vị, gần giống với câu “Tôi cung cấp hình ảnh từ các vùng chiến sự” hay “Thật ra, tôi làm phim tài liệu.”

“Có khả năng làm nghề báo.” “Hay kinh doanh. Chẳng phải con và Callum định làm ăn với nhau sao?” “Tụi con đang suy nghĩ về điều đó.”

“Tất cả có vẻ hơi mơ hồ, chỉ là ‘làm ăn’ thôi sao.” “Con đã nói là tụi con đang suy nghĩ thêm.” Thật ra Callum, bạn cùng phòng trước đây của cậu, đã một mình bắt tay vào kinh doanh rồi, làm gì về mông má máy tính mà Dexter chẳng hơi đâu mà hiểu. Callum đã khẳng định rằng họ sẽ trở thành triệu phú vào năm hai mươi nhăm tuổi, nhưng nghề đó nghe như thế nào trong quán rượu? “Thật ra tôi làm mông má máy tính.” Không, nhà nhiếp ảnh chuyên nghiệp vẫn là lựa chọn tốt nhất của cậu. Cậu quyết định sẽ tìm cách nói thật to về lựa chọn nghề nghiệp của mình. “Thật ra, con đang nghĩ về nghề nhiếp ảnh.”

“Nhiếp ảnh ư?” Mẹ cậu cười như điên dại. “Này, con là một tay nhiếp ảnh cừ khôi đấy!” “… Khi con nhớ cất ngón tay mình ra khỏi ống kính.”

“Chẳng phải mẹ có ý khuyến khích con sao?” “Thể loại nhiếp ảnh gia nào? Vẻ đẹp huyền bí?” Bà buông tiếng cười ùng ục. “Hay con định tiếp tục đề án Texture!” và họ phải dừng lại trên con phố để bà đứng cười một lúc, gập cả người xuống mà cười, rồi bám lấy cánh tay cậu để giữ thăng bằng - “Tất cả những bức ảnh về sói!” - cho đến khi cười xong, bà đứng thẳng dậy và nghiêm mặt. “Dexter, mẹ rất xin lỗi…” “Thật ra khả năng của con lúc này đã khá hơn nhiều.”

“Mẹ biết, mẹ xin lỗi. Mẹ thật sự xin lỗi.” Họ lại tiếp tục bước đi. “Con phải làm Dexter ạ, nếu đó là thứ con muốn.” Bà thúc khuỷu tay vào cánh tay cậu, nhưng Dexter tỏ ra hờn dỗi. “Bố mẹ luôn nói với con rằng con có thể làm được bất cứ thứ gì con muốn, nếu con làm việc thật chăm chỉ.” “Đó chỉ mới là suy nghĩ thôi,” cậu nói giọng giận dỗi. “Con đang cân nhắc các lựa chọn, tất cả chỉ có thế.” “Được rồi, mẹ cũng hy vọng thế, bởi dạy học là một nghề tốt, nhưng nó đúng là không hợp với con, phải không? Dạy những bài hát Bealtes cho các cô gái tuổi trăng tròn ở Bắc u.”

“Đó là một công việc cực nhọc mẹ à. Ngoài ra, nó còn giúp con có chút gì đó dự phòng khi khẩn cấp.” “Ừm, đôi khi mẹ tự hỏi liệu con có quá nhiều thứ để dự phòng khi khẩn cấp không.” Bà nói mắt nhìn xuống đất và lời nhận xét đó dường như xới tung những viên đá lát đường. Họ bước thêm vài bước nữa trước khi Dexter nói. “Và điều đó nghĩa là gì?”

“Ồ, ý mẹ chỉ là…” Bà thở dài và tựa đầu vào vai cậu. “Ý mẹ chỉ là vào một lúc nào đó, con sẽ phải suy nghĩ nghiêm túc về cuộc đời mình, chỉ thế thôi. Con còn trẻ, khỏe mạnh và mẹ cho rằng trông cũng tử tế đấy chứ, nếu xét ở góc độ dưới trung bình. Mọi người có vẻ thích con, con thông minh, hoặc đủ thông minh, có lẽ không phải thông minh về mặt lý thuyết nhưng con biết cái gì là cái gì. Và con có được sự may mắn, quá nhiều may mắn, Dexter ạ, con không phải bận tâm về nhiều thứ, về trách nhiệm, tiền bạc. Nhưng giờ con đã trưởng thành, và ngày nào đó, mọi thứ sẽ không như thế này nữa…” Bà nhìn quanh, ý muốn ám chỉ con đường nhỏ xinh mà cậu đã đưa bà đi qua. “… sự thanh bình này. Sẽ rất tốt nếu con có sự chuẩn bị trước. Sẽ tốt nếu con tự trang bị kỹ càng hownc ho bản thân.” Dexter cau mày. “Ý mẹ là nghề nghiệp sao?” “Một phần đúng.”

“Mẹ đúng là giống hệt bố.” “Lạy Chúa, giống thế nào?” “Một công việc ổn định, thứ gì đó dự phòng, thứ gì đó để mong đợi.”

“Không chỉ có thế, không chỉ có công việc. Một định hướng. Một mục tiêu. Vài động lực, chút ít tham vọng. Khi bằng tuổi con, mẹ đã muốn thay đổi cả thế giới.” Cậu khịt khịt mũi. “Cho nên mới mở cửa hàng bán đồ cổ,” và bà thúc khuỷu tay vào sườn cậu. “Đó là hiện tại, đằng này mẹ đang nói là quá khứ. Và đừng làm ra vẻ thông minh với mẹ.” Bà khoác tay cậu và cả hai lại cùng sánh bước chậm rãi. “Mẹ chỉ muốn con khiến mẹ tự hào thôi. Ý mẹ là mẹ đã tự hào về con, và chị con, nhưng, à, con biết ý mẹ muốn nói gì mà. Mẹ hơi say một chút. Hãy đổi đề tài đi. Mẹ muốn nói với con một điều khác.”

“Điều gì hả mẹ?” “Ồ… quá muộn rồi.” Lúc này, họ đã nhìn thấy khách sạn, đạt chuẩn ba sao, sang trọng nhưng không phô trương. Qua khung cửa sổ bằng kính mờ mờ, cậu có thể thoáng thấy bố cậu đang cúi người trên chiếc ghế bành ngoài hành lang, một chân gác lên đầu gối, một tay túm bít tất khi ông chăm chú xem xét lòng bàn chân. “Chúa ơi, ông ấy đang nhể những cục chai chân ngoài hành lang khách sạn. Một chút phong cách Swansea ở Via del Corso. Quyến rũ, đúng là quyến rũ.” Mai đi ăn trưa với mẹ nhé? Trong khi bố con đang ngồi trong căn phòng tối và nhể những cục chai chân. Chúng ta hãy ra ngoài, chỉ có con và mẹ, đâu đó bên ngoài một quảng trường thật đẹp. Khăn trải bàn trắng. Nơi nào thật đắt tiền, mẹ sẽ đãi. Con có thể mang theo những bức ảnh về những viên sỏi thú vị mà con đã chụp.”

“Được thôi,” cậu hờn dỗi trả lời. Mẹ cậu mỉm cười nhưng cũng chau mày, hơi siết chặt tay cậu, và cậu bỗng cảm thấy có chút gì lo lắng. “Vì sao?” “Vì mẹ muốn nói chuyện với cậu bé đẹp trai của mẹ và lúc này mẹ nghĩ là mẹ hơi say.” “Chuyện gì vậy? Mẹ hãy nói ngay đi.”

“Không có gì, không có gì.” “Không phải bố mẹ sắp ly dị chứ?” Bà cười nhẹ. “Đừng có ngớ ngẩn thế, dĩ nhiên là không.” Trên hành lang khách sạn, bố cậu đã nhifnt hấy hai người, và bắt đầu đứng lên vặn núm cửa. “Làm sao mẹ có thể bỏ một người đàn ông lúc nào cũng nhét áo sơ mi vào trong quần lót?”

“Vậy đó là chuyện gì, mẹ nói cho con biết đi?” “Không có gì tồi tệ đâu con yêu, không có gì đâu.” Vẫn đứng trên đường, bà trao cho cậu một nụ cười an ủi và đặt tay lên phần tóc ngắn phía sau gáy cậu và kéo cậu xuống ngang tầm chiều cao với bà để cả hai có thể cụng trán vào nhau. “Con không phải lo gì hết nhé. Ngày mai. Mai chúng ta sẽ nói chuyện nghiêm túc.”.

Quảng Cáo

0908746000
 

Liên Hệ

0908746000
 

Quảng Cáo

0908746000