Hôm nay bạn muốn đọc gì?

Năm cô gái trường bay - Chương 22

.

Chỉ nghe tiếng rít rất mạnh như tiếng bom nổ xé nát máy bay.

Gió xộc vào, nghe như tiếng sấm rền giận dữ.

Toàn bộ các ca

-bin tối mò đầy bụi.

Các mảnh vỡ bay tứ tung, giấy báo bay vù vù theo gió.

Tôi thấy Frank chạy về buồng lái, rúm người lại trong bóng tối đầy bụi đất.

Tai tôi ù đặc, các bộ phận trong ngực như đổ vỡ.

Tôi nghĩ trong khoảnh khắc đó chỉ có Arnie Garrison, Peg Webley, Janet Pierce và Ann Shearer mới đang thực sự tồn tại bởi vì sau giây phút sững sờ, tôi mất hết mọi cảm giác, tôi hầu như không còn là người, mà trở thành một loại máy

- các bánh xe và các tay đòn trong tôi lập tức hoạt động.

Bởi cái tiếng rít chát chúa ấy là do không khí trong máy bay chúng tôi phụt ra ngoài khoảng không.

Cái tiếng như sấm rền ấy cũng chính là tiếng không khí từ trong máy bay phụt ra; cái không khí đã giữ ấm cho chúng tôi, đã giữ cho tim làm việc bình thường, cung cấp năng lượng cho bộ não và giúp chúng tôi nghe thấy tiếng của nhau.

Tất cả đều đã mất.

Áp lực trong máy bay hầu như ngang áp lực của khoảng không gian tối đen bên ngoài, loãng và băng giá, không giúp ích gì cho sự sống.

Garrison và hãng đã cầm chắc cho tôi biết cách xử trí trong tình huống này.

Nhanh chóng làm giảm áp lực trong máy bay.

Lạy Chúa, tôi biết rõ cách làm giảm nhanh áp lực như biết rõ bảng chữ cái vậy.

Trên các giá ở hàng ghế thứ bảy giữa khoang trước và hàng ghế thứ 23 ở cuối khoang sau có các chai ôxy rời

- nhưng khoang sau là của Janyce và Jurgy, nếu họ vẫn còn đứng vững được.

Tôi tới ghế số 7 lôi chai ôxy ra, khoác dây qua vai, điều chỉnh mặt nạ thở, xoay chiếc nút vàng ngược chiều kim đồng hồ để ôxy thoát ra

- ngược chiều kim đồng hồ, ngốc ạ, giống như mở nắp thùng rượu ấy.

Tôi kiểm tra dòng phun của khí ôxy bằng cách bóp cái ống ghen dưới đáy túi thở, chiếc túi bắt đầu căng lên, thế là ổn.

Cạnh tôi, Kay cũng đang làm như vậy.

Tôi không ngạc nhiên khi thấy cô ta ở đây

- cô ta buộc phải ở đây cũng giống như tôi.

Tôi cũng biết các việc đang diễn ra trong buồng lái.

Máy bay đang giảm độ cao rất nhanh, không phải cắm mũi xuống như tàu ngầm khi lặn gấp, mà là từ từ trên một khoảng đường dài.

Trong vòng một phút, máy bay có thể từ độ cao 30 000 fut xuống tới độ cao 5000 fut, và ở độ cao này, chúng tôi có thể sống nếu như chúng tôi vẫn còn tỉnh táo qua cái phút đầu tiên không có không khí và áp lực trong ngoài bằng nhau ấy.



Qua màn bụi mờ hiện rõ đèn hiệu: "Không hút thuốc lá, cài dây an toàn".

Các cửa ngăn chứa đồ thở ôxy trên đầu các ghế đã tự động mở ra, từ mỗi cửa rơi ra 4 mặt nạ thở ôxy treo lủng lẳng trước mặt đám người đang kinh hoảng.

Kay vẫy tay ra hiệu cho tôi tới phía cuối khoang, sau đó cô đi lên phía trước.

Ông Barney tội nghiệp đang từ sàn cố bò lên ghế; cô lấy tay xốc nách lôi ông ta dậy và dúi mặt nạ thở ôxy vào tay ông.

Luke vẫn trong cơn bàng hoàng, cô cũng dúi vào tay ông ta bộ đồ thở.

Ray Duer đang đứng đó nhìn chúng tôi, giống hệt một nhà khoa học ngốc nghếch đang theo dõi một thí nghiệm lý thú.

Và đội ơn Chúa, cô không phí thời gian vào chuyện xã giao lịch thiệp; cô để tay lên ngực anh và ấn xuống ghế rồi chụp luôn chiếc mặt nạ ôxy lên mặt anh.

Sau đó, cô tới lô ghế đầu.

Hầu như không nghe ai nói, không thấy ai động đậy.

Trong khoang lạnh buốt như băng, các cửa sổ mờ đi vì đọng hơi nước.

Một vài người ngồi rũ ra trên ghế, tôi vội vàng chạy đến từng ghế, nhấc đầu họ lên, giữ mặt nạ đúng vị trí mũi và mồm cho họ thở đến khi họ có thể tự giữ nó được.

Mắt họ dõi theo từng hành động của tôi, họ đều trong tình trạng bị choáng, không hiểu chuyện gì đã xảy ra, không đoán được điều sắp xảy ra.

Tôi có thể nhìn thấy Janyce và Jurgy ở khoang sau, với bộ đồng phục và mặt nạ với chai ôxy, trông họ càng tuyệt vời, cứ như hai cô gái đẹp nghiêng nước nghiêng thành từ Sao Hoả đến.

Họ cũng đang làm những gì chúng tôi làm, đi dọc các hàng ghế, cúi xuống giúp một người nào đó, để ông ta có thể hít thở sự sống làm hồi tỉnh bộ óc, sau đó họ lại chuyển qua người khác.

Lạy Chúa, họ làm rất khéo, rất tuyệt vời với vẻ đầy tự tin, cứ như họ đã quen phân phát ôxy từ thuở mới lọt lòng.

*

Mới có một phút mà cảm thấy dài hơn cả một năm.

Đây là một phút dài nhất, lạnh nhất và đen tối nhất mà tôi đã trải qua trong cả cuộc đời.

Nhưng cần phải sống qua cái phút này.

Ông cơ trưởng nói trên loa, giọng rin rít và nghiêm trang: "Thưa các vị, tôi nghĩ chúng ta đã qua được phút hiểm nghèo".

Rồi vài giây sau, ông nói: "Mời hai cô lớn tới gặp tôi".

Chúng tôi có thể nghe thấy tiếng ông, thật là kỳ diệu.

Đã có không khí để truyền âm thanh, để thở, để làm cơ thể chúng tôi đỡ lạnh.

Tôi tháo mặt nạ, khoá chốt chai ôxy và đặt nó lại vị trí trên giá ở hàng ghế số 7.

Tôi bỗng nhận thấy nó nặng đến cả tấn, bỏ nó ra, người tôi bỗng nhẹ như lông hồng.

Janyce đi ngang qua chỗ tôi trên đường vào buồng lái, cô ta vỗ vào sườn tôi và bảo: "Thế nào, cô bạn?".

Tôi đáp: "Bình thường, còn cô thế nào?".

Cô ta đáp: "Không đến nỗi, không đến nỗi nào".

Những người xung quanh bắt đầu thở mạnh và duỗi chân tay, một số vẫn còn đeo mặt nạ thở ôxy, vài người cười sợ sệt, nói thầm thì với nhau.

Một vài người ngỏ lời cảm ơn tôi.

Một ông dúi vào tay tôi tờ 20 đôla và tôi hết sức nhã nhặn từ chối.

Tôi đưa mắt quan sát rất nhanh: tất cả mọi người hình như đều còn sống và khá mạnh khoẻ.

Người có cặp mắt nâu rất lẳng xem ra hồi phục nhanh tới mức kỷ lục

- tôi đoán là ôxy đã kích thích các tuyến nội tiết của ông ta hay sao đó.

Ông ta dán mắt nhìn vào ngực tôi, cười nhăn nhở và nói: "Cô em này, ta uống chút gì trong khi chờ đợi chứ?.

Chờ đợi gì mới được chứ, tôi nghĩ bụng.

Ông ta có vẻ như sắp vồ lấy tôi.

Tôi đáp: Tôi còn phải gặp cơ trưởng, thưa ông", rồi đi luôn.

Hai người đàn ông đang dùng chiếc bàn đánh bài bịt cửa sổ bị vỡ.

Tôi nói: "Cám ơn các ông đã giúp đỡ" và họ nhìn tôi cười.

Một ông bảo: "Cần phải làm chứ cô.

Gió lọt qua hơi mạnh".



Và cuối cùng, tôi thấy Ray.

Anh ngồi, còn tôi đứng cạnh và chúng tôi nhìn nhau.

Mặt anh phờ phạc.

Anh dịu dàng hỏi: Em không sao chứ?" "Vâng.

Còn anh?"

"Bình thường" Anh đưa mắt nhìn ra chỗ khác.

Tôi không nói nên lời, tôi không biết phải nói gì.

Tình cảm dâng trào trong tôi và tôi biết anh cũn đang ở trong tâm trạng như thế.

Chúng tôi vừa cùng nhau trải qua cơn hoạn nạn.

Anh bảo: "Đúng lúc mình đang bàn kế hoạch tối nay thì bị dừng lại.

Em nhận lời đi ăn tối với anh chứ?"

"Vâng, Ray ạ".

"Nhà hàng Maxim?" "Vâng"

"Anh nghĩ chúng ta sẽ uống sâmbanh, được chứ?" "Thế thì tuyệt vời".

Tôi đứng nhìn anh một lúc, không nói gì bởi vì bây giờ không cần phải nói nữa.

Sau đó tôi qua hàng ghế khác, nơi Luke đang ngồi.

Hai bàn tay xương xẩu của ông để hờ trên mắt.



Tôi không kịp nói chuyện với ông, vì Jurgy đang đi tới.

Mặt nó tái đi vì tức giận.

Tôi nói: "Chào Jurgy" nhưng nó không hé môi trả lời.

Nó nhìn Luke trừng trừng.

Ông ta biết có Jurgy ở đó, song vẫn giữ tay che mắt như thể không dám nhìn cảnh xung quanh.

Nó bảo: "Luke, tôi vừa nghe mấy người nói ông đã đập vỡ cửa sổ nên mới có sự cố vừa rồi".

"Đúng vậy, Mary Ruth", ông từ từ bỏ tay xuống.



"Thật vậy à?" "Thật, Mary Ruth ạ".

Nó tháo chiếc nhẫn có tảng đá eo biển Gibralta ra khỏi ngón tay giữa của bàn tay trái và đưa cho ông ta: "Này, cầm lấy".



Ông ta đờ đẫn nhìn nó, giọng nài nỉ: "Mary Ruth, tình yêu của tôi.

.

.

" "Tôi không muốn cãi lộn.

Cầm lấy".

Giọng ông thật tội nghiệp: "Nhưng Mary Ruth, tình yêu của tôi.

Ai cũng có thể phạm sai lầm nhỏ".



"Sai lầm nhỏ!", nó điên tiết hét lên.

"Đồ sâu rượu ngu ngốc! Suýt nữa ông đã giết chết tất cả mọi người trên máy bay này".

Nước mắt chảy dài trên má ông.

Nó bảo: "Tôi hy vọng họ tống ông vào tù ít ra là 5 năm.

Ông đáng được như thế.

Đấy còn là nhẹ".



"Em nói đúng, Mary Ruth ạ.

Tôi biết điều đó".

Nó khóc và bảo: "Luke Lucas, hãy nghe tôi nói.

Tôi thề có trời chứng giám, nếu tôi còn thấy ông nốc rượu, tôi sẽ lột da ông.

Tôi thề sẽ làm thế, ông nghe rõ chưa?" Tôi cảm thấy thương hại ông già tội nghiệp.

Nếu Jurgy đã nói sẽ lột da ông, nó sẽ chẳng ngại cầm dao đâu.

Ông ta đã chọn cho mình thứ đó ở Mary Ruth Jurgens.



Tôi trở lại khoang bếp.

Kay đang dọn sạch các mảnh vỡ.

Cô ta bảo: "À, cậu đây rồi.

Chuẩn bị đi cô bạn, chúng ta đổi hướng bay tới Shannon".

Tôi hỏi: "Chúng ta làm sao?" "Chúng ta đổi hướng bay tới Shannon để sửa chữa và kiểm tra lại máy bay.

Chúng ta sẽ nghỉ đêm ở đó".



Tôi thở dài.

Đời là thế.

Tôi chỉ mới bắt đầu quen với các trò trớ trêu của nó.

Bạn chuẩn bị sẵn sàng cho câu chuyện tình lãng mạn vào mùa xuân ở Paris để rồi thấy mình lưu lạc ở Shannon.

Bạn hẹn hò ăn tối có sâmbanh ở nhà hàng Maxim, để rồi cuối cùng ngồi nhai bánh mì kẹp thịt ở một phòng chờ lộng gió nào đó.

Nhưng cũng đâu có sao? Ở Shannon chắc cũng phải có khách sạn, phải có chỗ dành cho chuyện riêng tư chứ.

Ray và tôi vẫn có thể có chỗ ngồi riêng với nhau.

Kay bảo: "Này, cậu định đứng đó mà mơ mộng suốt đêm sao? Hai mươi phút nữa máy bay hạ cánh, và chúng ta phải thu dọn cabin cho gọn gàng".



"Tất nhiên rồi", tôi đáp.

Và chúng tôi xắn tay áo lao vào việc.

HẾT.