Hôm nay bạn muốn đọc gì?

Người Đàn Ông Mỹ Cuối Cùng - Chương 2

Chương hai

Con trai ta, đao phủ của ta, Ta ôm con trong vòng tay, Lặng lẽ, nhỏ bé, run rẩy,

Trong tay ta, thân thể con ấm dậy. - “My Son, My Executioner,” Donald Hall[1] [1] Donald Hall sinh năm 1928, là một nhà thơ Mỹ.

> Mùa đông năm 1975, khi Eustace Conway mười bốn tuổi, anh bắt đầu ghi một cuốn nhật ký mới và viết những lời bày tỏ này làm lời tựa: “Tôi, Eustace Conway, sống trong một ngôi nhà rộng rãi tươm tất ở Gastonia, Bắc Carolina. Hiện tôi có mẹ và có cha sống cùng, và tôi còn có hai em trai (Walton và Judson) và một em gái (Martha). Tôi vô cùng yêu thích kho tri thức cũng như nghề thủ công của thổ dân da đỏ. Tôi đã lập một nhóm nhảy kiểu thổ dân da đỏ gồm bốn người. Những người đó là: tôi, Walton - đứa em lớn hơn trong hai em trai tôi, Tommy Morris là thằng bạn thân sống cách đó hai khu nhà, và cả Pete Morris em trai của nó. Bố của hai đứa này tự sát hai năm trước nhưng mẹ bọn nó sắp tái hôn. Cứ có dịp là tôi tới Viện bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Scheile bởi vì tôi thích chốn ấy và con người nơi đó. Tôi gần như đã thành một người trong đội ngũ nhân sự… Phòng ngủ của tôi cũng là một viện bảo tàng. Tôi phủ khắp phòng những tranh ảnh của thổ dân da đỏ, mấy bộ lông gấu bác tôi ở Alaska gửi cho, và rất nhiều đồ thủ công kiểu thổ dân mà tôi tự làm. Phòng tôi chẳng còn chỗ cho bất cứ thứ gì khác, nó thực sự đầy ứ cả lên mà tôi thì còn rất nhiều thứ nữa không thể nhét vào.”

Ngày ấy Eustace là một cậu bé đặc biệt. Lúc nào cậu cũng bận bịu. Cậu vẫn đến trường hằng ngày, tất nhiên, nhưng chỉ vì người ta ép buộc cậu. Tan trường, cậu thường đạp xe tới Viện bảo tàng Scheile, một viện bảo tàng lịch sử tự nhiên nhỏ đầy ắp những sa bàn đầy bụi bặm dựng từ thời Thế chiến Thứ nhất về hệ thực vật và hệ động vật vùng Bắc Carolina. Và đó chính là nơi việc học hành thực sự bắt đầu với Eustace; ông Alan Stout, giám đốc viện bảo tàng, rất yêu mến cậu và luôn đón chào cậu vào khu vực nội bộ rất ư tuyệt vời của Scheile. Làm sao khước từ Eustace cho được. Cậu bé có nụ cười rạng rỡ tuyệt vời, những khi cậu thực sự cười. Một đứa trẻ hội tụ nhiều phẩm chất lạ thường! Đầy động lực và ham thích địa chất học, nhân học, lịch sử, sinh vật học - bất cứ gì ta có thể đưa ra cho cậu. Ông Stout thường để Eustace lang thang trong các phòng sau của viện bảo tàng hàng giờ mỗi ngày, khiến cậu bé vui sướng vô cùng. (“Ông Stout hiểu biết về thổ dân da đỏ sâu sắc hơn bất kỳ ai mà tôi biết,” Eustace say sưa kể trong nhật ký. “Và ông là một họa sĩ vẽ màu nước rất giỏi, thường vẽ tranh phong cảnh Tennessee, miền đất nơi ông sinh trưởng.”) Eustace không giống bất kỳ đứa trẻ nào Stout từng gặp; thực sự là không bất kỳ đứa trẻ nào ông từng gặp trong đời. Nếu có ai đưa cho cậu xem một cuốn sách, cậu sẽ nghiền ngẫm nó, đặt hàng loạt câu hỏi, và rồi chiều hôm sau lại yêu cầu cuốn nữa. Nếu ông Warren Kimsey, người nhồi xác thú của viện bảo tàng, cho Eustace thấy cách lột da và làm thịt thỏ, cậu bé sẽ làm việc đó với sự hoàn thiện đầy đam mê cuồng nhiệt, rồi xin thêm một con thỏ nữa để cậu thực hành nâng cao kỹ năng. “Tôi quen Warren chưa được bao lâu,” Eustace tâm sự trong nhật ký, “nhưng ông đã nhanh chóng trở thành người gần gũi tôi nhất. Trên thực tế, tôi thích ông hơn bất kỳ ai khác trên đời.”

Và ông là một người giúp việc tuyệt vời. Một tay râu quai nón dễ ưa. Lúc nào cũng vui vẻ quét dọn khắp các phòng kho hay đảm nhiệm bất kỳ việc vặt nào mà chẳng ai thèm làm. Ông Stout thậm chí còn cho Eustace sử dụng viện bảo tàng làm nơi luyện tập cho nhóm nhảy kiểu thổ dân. Eustace là trưởng nhóm nhảy, nhưng Stout mới là người huấn luyện vũ công, đánh xe chở họ tới các cuộc thi, giúp chỉ cho các cậu trai cách khâu và kết hạt cho trang phục nhảy truyền thống cực kỳ phức tạp của thổ dân. Khi Eustace lớn lên, ông Stout đưa cậu theo cùng những chuyến chạy ca nô trên sông Catawba, South Fork để thu thập mẫu nước phục vụ các nghiên cứu về môi trường của chính phủ. Thỉnh thoảng ông đưa một mình Eustace cùng đi cắm trại, và im lặng quan sát trong niềm thán phục khi cậu bé bắt, giết, lột da, nấu nướng và ăn thịt rắn chuông. Ông Stout không chỉ thích Eustace; ông kính trọng cậu. Ông nghĩ cậu thật xuất sắc. Ông theo dõi sự phát triển của cậu cũng cẩn trọng như Thomas Jefferson[2] theo dõi sự phát triển của cậu bé hàng xóm tên là Meriwether Lewis[3] (một đứa trẻ mà về sau vị tổng thống luôn nhớ lại là “phi thường, thậm chí ngay từ thuở ấu thơ, nhờ sự táo bạo, lòng dũng cảm và tính tự quyết”). Và, dù sao, ông Stout có cảm giác Eustace rất cần một nơi nào đó để tới mỗi buổi chiều, nơi nào đó không phải là nhà. Ông không biết rõ về hoàn cảnh gia đình cậu, nhưng ông đã gặp cha cậu, và chẳng cần thông minh gì nhiều cũng nhận ra rằng cuộc sống không đơn giản trong ngôi nhà rộng rãi trên phố Deerwood Drive. [2] Thomas Jefferson (1743-1826): Tổng thống thứ ba và người đã chấp bút bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ.

[3] Meriwether Lewis (1774-1809): một nhà thám hiểm tài ba niềm tin tưởng hình thành từ khi còn là láng giềng, năm 1801, Tổng thống Thomas Jefferson chọn ông làm sĩ quan phụ tá và giao cho ông nhiều trọng trách. Ông chết khi còn trẻ; cái chết của ông đến nay vẫn còn là một bí ẩn. Thế nên Eustace dành những buổi chiều ở viện bảo tàng rồi sau đó ra về và thẳng tiến về hướng khu rừng nhỏ sau nhà cậu. Kiểm tra bẫy, bắt rùa, phát đường mòn. Cậu ghi chép lại những điều nhìn thấy trong suốt những lần vào rừng ấy. Cậu đã ghi nhật ký nhiều năm, nhưng nó không phải là một phương tiện thể hiện bản thân, mà là một cuốn sổ ghi chép bắt buộc về mọi việc cậu đã hoàn thành ngày hôm đó (dù liên quan đến sinh vật hoang dã hay đến những việc bình thường hơn) và một danh sách dài ngoằng những việc cậu dự định hoàn thành trong ngày hôm sau. “Hôm nay tôi cho chú rùa con ăn sâu. Tôi xem một bộ phim về một cậu bé với con bồ câu đưa thư, tập biểu diễn múa vòng, bắt tay làm lông trang trí cho chiếc gậy kiểu thổ dân của tôi. Sau đó tôi nâng cao kỹ năng bóng bàn. Tôi đã khá giỏi rồi. Tôi sẽ đọc Kinh thánh hằng đêm cho đến khi đọc hết. Tôi có thể làm một chòm lông mào từ những chiếc lông đuôi của một con gà tây.”

“Hôm nay tôi tìm thấy một lốt chân báo sư tử đã ở đó 3 ngày. Tôi bắt được một con rắn chuột đỏ dài một mét bảy. Tôi còn đặt một cái bẫy bắt gấu mèo Bắc Mỹ ở chỗ tôi đã thấy những vết chân gấu đi qua 3 ngày trước. Tôi mong bắt được nó để lấy da.” “Tôi bắt đầu đọc cuốn sách Chiến binh da đỏ ở miền Tây. Sau khi đọc được một lúc, tôi chuyển sang treo cất hai cái chân hươu... Martha nói với tôi có con sóc bị chẹt trên đường Công viên Gardner. Tôi lột da nó, phần thịt thì ướp lạnh để dành.” Cả một trang trong một cuốn nhật ký thời thơ ấu của Eustace có đề mục là ẾCH, đầy thông tin và nhận xét về ếch. (“Hôm nay tôi bắt được 3 con nhái bén cho vào trong bể kính thể tích 10 galông. Ngày hôm sau tôi thấy mấy chùm trứng trong bình nước. Tôi còn bắt được một con kỳ nhông và cho vào đó cùng với bọn ếch. Tôi nghĩ một trong mấy con ếch đã chết, vì đã lâu tôi không thấy cả ba con cùng một lúc ở gần nhau...”)

Có vẻ như Eustace là một kiểu tiểu Thoreau[4] cũng có thể không phải. Mặc dù rất lưu tâm đến môi trường sống quanh mình, khi ấy Eustace không có, và rồi đây sẽ không bao giờ có được, mối giao hòa ủy mị kiểu Thoreau với tự nhiên. (Ví dụ: “Thỉnh thoảng, một sáng mùa hạ, sau khi tắm mát như thường lệ,” Thoreau suy tưởng, “tôi ngồi từ bình minh cho tới giữa trưa trên bậu cửa chan hòa ánh nắng, chìm đắm trong mơ màng, giữa bạt ngàn thông, mại châu, cây muối, trong yên lặng và tĩnh mịch không gì quấy quả.”) Eustace Conway không tài nào chịu được kiểu nghỉ ngơi bạc nhược đó. Ngay từ khi còn nhỏ, anh đã không bao giờ buộc được mình ngồi không hàng tuần liền mà ngắm ánh sáng biến đổi. Thay vào đó, Eustace chỉ thích dấn thân. Nói đúng hơn là anh giống với Teddy Roosevelt thời trẻ, một cậu bé mạnh mẽ và quả quyết, cũng học tập dưới sự hướng dẫn của một người nhồi xác thú tài ba, cũng chăm chút tạo nên một viện bảo tàng lịch sử tự nhiên trong phòng ngủ của mình, và cũng ghi chép lại những quan sát tỉ mỉ và khoa học trong nhật ký từ thời thiếu nhi. Giống như Teddy Roosevelt, có thể mô tả cậu bé Eustace Conway là một người “thuần hành động”. [4] Henry David Thoreau (1817-1862): nhà thơ, nhà văn hóa lớn người Mỹ. Môi trường tự nhiên là chủ đề quan trọng trong các tác phẩm của ông. Eustace không có nhiều bạn. Cậu chẳng mấy giống với bất kỳ ai khác, và cậu cũng đã biết điều này, từ khi chỉ mới lên mười. Khi nhìn những cậu bé đồng trang lứa, Eustace thấy những đứa dành hàng giờ xem ti vi, kể về những thứ chúng thấy trên ti vi, và bắt chước các nhân vật trên ti vi. Cậu thấy những chuyện chúng nói chẳng có nghĩa lý gì cả.

Bọn con trai khác cũng có những sở thích kỳ lạ. Trong căng tin, chúng thích chơi trò bẻ bút chì rất tinh vi, cố trộm bút chì của đứa khác rồi bẻ đôi, đếm xem mỗi thằng bẻ được bao nhiêu chiếc. Trò này khiến Eustace thấy vừa khó hiểu vừa đáng bực. Sao người ta lại có thể khinh thường của cải đến thế? Suy cho cùng thì bút chì được làm từ cây cối và là thứ hữu dụng. Cậu còn thấy bọn trẻ trong lớp phung phí cả học kỳ chỉ để vẽ vời trong vở hết hình này đến hình khác về xe đua - mà lại còn chỉ sử dụng một mặt giấy! Eustace, ngay từ thời ấy, đã biết nghĩ. Thật phí thời gian... và thật phí giấy. Những cậu bé ấy đơn giản là dường như quá ư buồn tẻ. Tất cả những gì chúng có thể nghĩ ra mà làm là đấu đá và phá của. Trong khi Eustace lúc nào cũng nghĩ ra những việc có ích; số giờ trong ngày không đủ cho cậu làm và học tất cả những điều mình muốn. Nhiều đứa trẻ trong xóm biết Eustace và có dự phần vào cuộc sống của cậu, nhưng chúng không phải là bạn theo đúng kiểu trẻ con; chúng giống kiểu những người học việc thời xa xưa hơn. Eustace thường làm những chuyện kiểu như đi dạo trên vỉa hè khu phố với một con rắn chuột to đùng đen nhánh vòng quanh cổ, điều đó hiển nhiên thu hút sự chú ý. Bọn trẻ sẽ xúm lại hỏi han đủ thứ và Eustace sẽ nói cho chúng nghe về những thói quen và đặc tính của loài rắn, giao việc cho bọn chúng kiếm thức ăn cho con vật, hoặc - nếu chúng tỏ ra thật sự hứng thú - dẫn chúng vào trong rừng và chỉ cho chúng cách tự bắt rắn. Ngay cả những đứa lớn hơn Eustace cũng theo cậu vào rừng để xây chốt gác dưới sự trông coi của cậu hoặc lội qua đầm lầy để kiếm thức ăn cho bọn rùa của cậu. Nhưng còn ở trường? Eustace chẳng có người bạn nào cả. Không có mẩu trò chuyện nào về rắn, không có rừng làm phông để chứng tỏ sự thông tuệ của cậu, Eustace chẳng tài nào giao tiếp được với những đứa đồng trang lứa. Cậu ngồi ở bàn ăn trưa với những đứa không ai chơi khác - những đứa thiểu năng trí tuệ, những đứa đeo nẹp nạng ở chân, những đứa con nhà nghèo nhất vùng Gastonia lúc nào cũng buồn rầu ủ dột. Cậu không phải là bạn của những đứa này. Chúng thậm chí chẳng biết tên nhau. Ngày nào cũng ngồi ăn cùng nhau thế nhưng khi có đứa nào bị tỉa ra để bắt nạt thì chúng lại ngoảnh mặt đi với cảm giác nhẹ nhõm đáng xấu hổ.

Tuy nhiên có một cậu này. Randy Cable, mới đến Gastonia. Bố mẹ cậu là dân miền núi, vốn sống ở vùng thôn dã trên dãy Appalachia, nay xuống núi tới thị trấn ngoại ô sầm uất này để tìm việc trong các nhà máy trong vùng. Randy cũng không quen biết một ai. Năm lớp bảy, có một hôm như thường lệ vào giờ giải lao, Randy đang chơi một mình bên lề sân trường, nơi mặt sân lát gạch kết thúc và cánh rừng bắt đầu. Những đứa trẻ khác đang chơi bóng chày và hò hét ầm ĩ, nhưng Randy Cable không biết chơi bóng chày. Cậu đang tha thẩn ở bìa rừng thì thấy một con rùa. Cậu đang quấy con rùa, chọc chọc vào nó thì Eustace Conway, một cậu bé đen giòn, gầy, dáng vẻ nghiêm nghị, bước đến. “Cậu thích rùa à?” Eustace hỏi. “Phải,” Randy trả lời.

“Tớ biết mọi điều về rùa. Tớ có hơn một trăm con rùa ở sân sau nhà,” Eustace nó “Ôi làm sao có thể thế được.” “Có đấy. Nếu cậu qua nhà tớ, tớ sẽ cho cậu xem.”

Randy Cable nghĩ, Được, hay đấy. Nhưng chiều hôm ấy cậu đạp xe tới đó thì thấy quả đúng thế thật. Ở sân sau nhà Eustace là một hội rùa đông đúc nhưng có trật tự. Được tưới tắm và che mát, đó là một mạng lưới hàng chục cái lồng và sọt chứa hơn một trăm con rùa thuộc nhiều giống khác nhau mà Eustace đang nuôi nấng và chăm sóc theo một hệ thống luân phiên được ghi chép tỉ mỉ từ khi cậu lên sáu. Eustace thích mê bọn rùa. Cậu yêu tính cách của chúng, yêu sự điềm tĩnh, sự thăng bằng tinh thần toàn hảo và thần thái an nhàn cổ kính nơi chúng. Cậu bắt rùa rất tài. Cậu có thể tìm ra rùa ở bất cứ đâu. Cậu có thể nhận ra con rùa ngụy trang nấp trong bụi cây rậm rạp, chỉ cần một mảnh bé bằng móng tay của tấm mai nó lộ ra. Hồi nhỏ, Eustace đã nhiều lần nghe thấy rùa. Một mình lặng bước trong rừng, cậu có thể nghe thấy thoáng phụt gió hầu như không thành tiếng khi con rùa vội vã rụt đầu và chân vào mai. Eustace bèn dừng lại, đứng bất động, nhìn quanh cho tới khi cậu phát hiện ra nó. Quả nhiên có một con rùa hộp nhỏ cách cậu một mét, trốn giữa đống lá rừng khô, rúc cả mình vào mai.

Eustace đã phát triển một hệ thống để bắt đám rùa sọc đầm lầy bất kham trong các chuôm hồ. Cậu nấp trong đám cây cối ven mép nước với chiếc cần câu móc sẵn mồi là một miếng thịt ba chỉ xông khói. Cậu sẽ giăng miếng thịt tới cách con rùa đang phơi nắng chừng nửa mét rồi chầm chậm kéo lê miếng thịt trước mắt con vật cho tới khi rùa ta đánh hơi thấy miếng mồi và trườn mình xuống nước bò theo. Từng chút từng chút một, Eustace nhử con rùa vào gần bờ hơn, rồi cậu nhảy ra khỏi đám cây, cầm một mảnh lưới lao xuống nước chộp lấy con rùa trước khi nó sợ hãi lặn mất. Trở về nhà, cậu cho con vật mới bắt được vào một trong những chiếc thùng gỗ dán, mỗi thùng được thiết kế riêng theo yêu cầu về độ cân bằng giữa bóng râm, nước và cỏ phù hợp cho từng loài. Cậu có rùa bùn, rùa xạ, rùa hộp, rùa sọc. Cậu cho chúng ăn tôm, rau và côn trùng (thu hoạch từ dưới hàng chục khúc thân cây được Eustace sắp ngay ngắn trong khu rừng phía sau nhà cậu), và b những y rùa của cậu hài lòng với chỗ ở của mình tới nỗi trong tình trạng giam cầm như vậy chúng vẫn sinh sôi. Trên sân sau nhà cậu còn có mấy con rắn nhốt trong chuồng, với cả một con cáo nhỏ mồ côi mà cậu đặt tên là Sputnik. (Ông Stout đã cho Eustace con cáo đó sau khi một người bản địa Gastonia tìm thấy con vật và đưa nó tới cho Viện bảo tàng Scheile chăm sóc.) Vương quốc hết sức quy củ này là thứ cậu đã cho người bạn mới Randy Cable xem chiều hôm ấy. Và với một cậu bé sơn dã như Randy thì tất cả những thứ này thật chẳng khác gì thiên đường. Hai đứa trở thành đôi bạn rất thân. “Hôm nay là ngày đầu tiên tôi tới nhà Randy Cable,” Eustace viết trong nhật ký không lâu sau hôm khoe rùa. “Cậu ta chỉ cho tôi mảnh rừng nhà cậu và con suối nơi chúng tôi trông thấy dấu chân chuột xạ, gấu mèo, chim chóc và mèo. Cậu ta chỉ cho tôi một cái hang chuột xạ trên dải đất sét bên bờ suối. Chúng tôi lấy một cái giỏ làm thành bẫy chim và đặt mồi bằng bánh mì. Chúng tôi dùng một sợi dây dài và một thanh gạt bẫy bằng gỗ. Có rất nhiều chim hét lảng vảng quanh bẫy nhưng chúng tôi không bắt được con nào vì chúng không sa chân. Chúng tôi làm một bộ gậy dùng cho cái bẫy giật dây. Tôi lột da một con thỏ đuôi bông để làm cái áo ghi lê.”

Và thế là tình bạn ấy đã thắm thiết trong nhiều tháng rồi nhiều năm. Randy nhớ về Eustace như một cậu bé lạ lùng đầy sức mê hoặc, am hiểu và nhạy bén sắc sảo về thế giới của bản thân theo một cách không giống như hầu hết trẻ mười hai tuổi khác. Cậu luôn chăm chú tập trung cao độ trước từng chi tiết nhỏ. Một ví dụ, Eustace từng nói với Randy, “Cậu có thích sô cô la không? Cậu có muốn biết ăn thế nào là ngon nhất không? Chỉ đặt một vuông bé tí dưới lưỡi thôi rồi để cho nó tan ra. Với cách ấy, cậu sẽ cảm nhận được tối đa hương vị thật lâu và chẳng bao giờ phí phạm một tí gì.” Eustace mê tít Randy Cable và bố Randy, một người sinh trưởng ở vùng núi, biết mọi điều về săn bắn và câu cá, tường tận loại thực vật dại nào ven bờ sông có thể hái làm thức ăn. Cứ có thời gian là Eustace sang nhà Randy. Randy lại rất hiếm khi sang nhà Conway. Ở đó không thoải mái. Bà Conway rất hòa nhã nhưng ông Conway thì thật đáng sợ. Giờ ăn tối là sự kiện đặc biệt kinh khủng. Lũ trẻ hiếm khi nói gì trong suốt bữa ăn, bà mẹ cũng vậy. Ông Conway ngồi ở đầu bàn, dáng vẻ vừa lạnh lùng vừa mai mỉa, vói tâm thế sẵn sàng bắt bẻ bất kỳ điều gì. Dường như ông dồn mọi chú ý vào Eustace. Chỉ cần cậu bé mở miệng là ông Conway liền châm chọc ngữ pháp của cậu. Nếu cậu bé đề cập tới chuyện gì trong ngày, ông sẽ cười nhạo “nực cười quá đấy nhóc con ạ.” Nếu ông Conway hỏi Eustace làm bài kiểm tra môn toán vừa rồi thế nào và nhận được câu trả lời mà ông không thích, ông sẽ xổ ra một trận nhiếc móc và giễu cợt. “Mày đúng là ngu,” Eustace nhắc lại lời cha mình. “Tao chưa bao giờ thấy đứa con nít nào xuẩn hơn. Tao không hiểu sao mình có thể đẻ ra một thằng con đần độn tới vậy. Chúng ta phải phỏng đoán thế nào đây nhỉ? Tao tin mày đơn giản là tối dạ và rồi sẽ chả học được cái gì đâu.”

Sau đó ông Conway sẽ khuyến khích mấy đứa em Eustace cùng ông cười nhạo sự trì độn lố bịch của cậu anh cả vô tích sự của chúng. Chuyện này thì lũ em sẵn lòng làm, hệt như những đứa trẻ chân nẹp nạng không ai thèm chơi luôn thở phào nhẹ nhõm khi thấy đứa khác bị bắt nạt chứ không phải là mình. Một điều khác nữa cản trở Randy Cable là những lời lải nhải không ngớt về cách xử sự ở bàn ăn. Trước đây cậu chưa bao giờ tới một gia đình “chuẩn mực” và phải hứng chịu những quy tắc cứng nhắc đến thế trong giờ ăn. Nếu Eustace ăn nhanh quá hoặc dùng đồ không đúng cách, ông bố sẽ xỉ vả cậu vì cung cách “ngớ ngẩn và mọi rợ” bên bàn ăn. Điều đó khiến Randy cảm thấy căng thẳng khi cầm dĩa; cậu chẳng bao giờ gặp rắc rối với chuyện gì kiểu thế ở nhà. Ba mươi năm sau, Randy vẫn không tài nào hiểu nổi tại sao ông Conway lại quan trọng hóa nghi thức trong ăn uống như thế. “Tại bàn ăn nhà chúng tôi thì mạnh ai nấy làm mạng ai nấy giữ,” Randy nhớ lại. À, phải. Cũng có điều gì đó kiểu như thế ở bàn ăn nhà Eustace.

Nguyên do đằng sau quyết định của một người đàn ông lấy tên mình đặt cho con trai đầu lòng, theo tôi nghĩ, có rất nhiều yếu tố. Tôi hiểu phong tục này thường được xem là một tục lệ xã hội đơn thuần (đặc biệt ở miền Nam nước Mỹ), nhưng với tôi thì dường như nó chứa đựng nhiều hơn thế. Một số người coi phong tục này chỉ là sự tự phụ, nhưng tôi tự hỏi phải chăng đúng hơn là ngược lại với sự tự phụ: thiếu tự tin. Với tôi, đó dường như là một mong mỏi đầy kỳ vọng và cảm động, như thể người cha - cảm thấy lo sợ vì tầm quan trọng của việc tạo ra một sự sống mới, một người đàn ông mới, một kình địch mới - lẩm nhẩm một lời cầu nguyện nho nhỏ rằng trong cách đặt tên ấy cho đứa bé sẽ tồn tại một kiểu mối quan hệ song sinh giữa ông ta và đứa con. Mang cái tên gần như giống hệt này, đứa bé không còn là người xa lạ hay kẻ có khả năng tiếm đoạt nữa. Kiểu như người cha có thể không hề lo sợ nhìn đứa con sơ sinh mà tuyên bố: Con là ta; ta là con. Nhưng mà đứa con đâu phải ông bố, và ông bố cũng chẳng phải là đứa con. Điều này là lý do tại sao phong tục này nguy hiểm hơn là dễ chịu. Ông Conway tên đầy đủ là Eustace Robinson Conway III, và ông đặt tên cậu con trai là Eustace Robinson Conway IV. Ban đầu, hai người được phân biệt chỉ bởi một tính từ: Cha so với Con. Hai người thậm chí còn trông giống nhau, Eustace Cha và Eustace Con, cùng có đôi mắt nâu dày mí to tròn và thông minh. Hồi đầu, Eustace mừng rơn vì có Eustace Con trong nhà. Ông rất mê đứa nhỏ, bị nó hút hồn, rất đỗi tự hào, ân cần, kiên nhẫn, trìu mến, khoe khoang kể lể suốt ngày. Muốn chơi với nó suốt. Rồi khi đứa bé lớn hơn một chút, ông dẫn nó vào khu rừng sau nhà, chỉ vào cây cối mà bảo, “Nhìn này...”

Eustace Con sắc sảo và nhạy bén, và điều này đương nhiên dễ hiểu, bởi vì Eustace Cha là một tài năng được thừa nhận. Là niềm tự hào của một dòng họ miền Nam giàu có, lâu đời toàn những địa chủ và thương nhân, Eustace Cha là một kỹ sư hóa học có tấm bằng tiến sĩ từ Học viện Công nghệ Massachusetts. (Ông nhảy lớp ở trường trung học, nhảy lớp còn nhanh hơn ở đại học, và tốt nghiệp Học viện với tấm bằng tiến sĩ khi chỉ mới hai mươi mấy tuổi.) Ông có năng khiếu thật sự về những con số và khoa học. Còn hơn cả năng khiếu, đó là tình yêu. Toán học, với Eustace Cha, mở những bí ẩn của nó ra cũng dễ dàng như hòa âm mở ra cho những ai may mắn có tài năng âm nhạc thiên bẩm. Còn vật lý thì sao? Xuất sắc. Lượng giác học? Một niềm vui thú. Hóa học? À, chẳng có gì ẩn trong hóa học ngoài sự dễ dàng, vẻ quyến rũ và sự hứng thú. Ông say đắm những câu hỏi hóc búa, những con số, bảng biểu, phương trình. Theo lời tự mô tả bản thân mà Eustace Cha tâm đắc nhất, ông là một người đàn ông “hoàn toàn chịu sự điều khiển của logic thuần túy.” Ông tự phụ ư? Có lẽ. Nếu đúng thế thì âu chỉ vì cũng thật logic khi tự phụ như vậy trong một thế giới nơi mà mọi người khác đều là những kẻ vô tâm đến nực cười, chuyên lựa chọn dựa trên ngẫu hứng hay xúc cảm thay vì lý trí chính xác. Trong suốt những năm tuổi hai mươi, Eustace Robinson Conway III là giảng viên ở Đại học Bắc Carolina và Nam Carolina, ở đó ông dạy môn hóa công nghệ cho những sinh viên chỉ thua ông vài ba tuổi. Đó là một công việc tốt, nhưng ông không thích cái giới học thuật đã bị chính trị hóa. Ông luôn gặp rắc rối khi làm việc chung với người khác. Cuối cùng ông thôi dạy và tìm việc trong khu vực kinh tế tư nhân, tại một nhà máy hóa chất. Ông cũng chẳng hòa nhập được với đồng nghiệp ở đó, nhưng người ta kính trọng và có phần e s của ông. Một đồng nghiệp cũ, người luôn nhớ về Eustace Cha như là Tiến sĩ Conway, nhớ lại chuyện có hôm tới gặp ông để hỏi nhanh một câu về một công thức hóa học cụ thể. Hăm hở đưa ra một câu trả lời thật kỹ lưỡng rõ ràng, Tiến sĩ Conway bắt đầu viết một phương trình lên bảng, rồi cứ thế tiếp tục viết thêm nhiều dữ kiện cho tới khi phương trình đó ngoằn ngoèo khắp mặt bảng, mở rộng sang những khái niệm hóa học mới, cho đến khi, phấn khích quá, ông viết tràn cả ra ngoài tấm bảng. Tới chỗ này thì, tất nhiên, người đồng nghiệp của ông đã chẳng hiểu gì tự lâu rồi. Nói rõ ra thì, ông yêu bộ não của mình, thế nên ông hẳn nhiên phải ham thích quan sát quá trình tiến triển não bộ con trai. Chắc chắn là ông vô cùng hứng thú khi người mang tên ông khéo léo giải quyết đâu ra đó tất cả những tình huống khó khăn xuất hiện trong quá trình phát triển của tuổi nhi đồng. Thấy thằng bé học cách phân biệt ánh nắng với chỗ râm như thế nào chưa? Thấy nó học cách phân biệt mặt người và các đồ vật như thế nào chưa? Thấy cách nó tự vươn người đứng dậy chưa? Cách nó cố nói câu ra câu? Cách nó nói được tên của loài cây khi ta cho nó xem hình dạng lá? Quả là một thiên tài! Chẳng mấy nữa nó sẽ giải toán khó làm vui cho xem!

Thế rồi Eustace lên hai. Trong bữa sáng hôm sinh nhật ấy, Eustace Cha tặng quà cho con trai, cậu bé bấy giờ vẫn đang ngồi trong xe nôi. Eustace Cha háo hức muốn thấy con chơi với món quà trước khi ông đi làm. Đó là một bộ lắp hình. Nhưng trò đó quá phức tạp đối với một đứa bé lên hai, và Eustace Con, thất vọng sau vài lần nỗ lực lắp ghép, chẳng mấy chốc đã thấy mất hứng thú. Theo bà Conway nhớ, chồng bà đã nổi trận lôi đình với đứa bé. “Ông ấy bắt đầu la mắng thằng bé ầm ĩ và nói những điều thật kinh khủng.” Đứa trẻ, khiếp đảm và bối rối, liền khóc thét lên, và khi bà Conway cố can, chồng bà la mắng luôn cả bà vì tội làm hư thằng bé và khuyến khích nó trở thành một đứa chưa đánh đã thua và xuẩn ngốc. Chúa ơi! Trò ghép hình này quá đơn giản! Dễ ợt! Có thứ trẻ con chậm trí nào mà không ráp nổi một bộ ghép hình đơn giản cơ chứ? Khỏi cần phải nói, mọi chuyện chẳng tốt đẹp lên theo thời gian. Mà chỉ tệ hại hơn. Ông Conway cho rằng cậu con trai chỉ vì “cứng đầu” mà muốn trêu cho ông điên lên bằng cách cư xử ngu xuẩn và bởi thế cho nên thứ thằng bé cần là nhiều kỷ luật hơn nữa. Cho nên Eustace nhớ - và mẹ anh cùng mấy người em đều xác nhận - đó là nền giáo dưỡng giống một giai đoạn bị giam trong trại tù binh hơn là tuổi thơ thực sự. Chỉ cần Eustace Con chưa xin phép mà đã động vào cái búa trong kho của Eustace Cha thôi, cậu sẽ bị tống lên phòng và buộc phải ở yên đó hàng giờ không được cho ăn uống. Nếu Eustace Con không ăn cho hết thức ăn trong khoảng thời gian đã định, Eustace Cha sẽ bắt cậu ngồi ở bàn ăn suốt đêm, ngay cả khi điều đó có nghĩa là cậu phải ngủ ngồi trên ghế. Nếu Eustace Con mải chơi mà vô tình đá bay một khóm cỏ trên bãi cỏ của cha cậu, cậu sẽ bị đánh bằng sào gỗ. Nếu Eustace Con, trong khi làm việc nhà, dám cắt cỏ ngược chiều kim đồng hồ thay vì theo chiều kim đồng hồ như bố cậu ra lệnh thì sẽ có một cảnh tanh bành kinh khủng.

Giờ đây khi nhìn lại - và thật ngạc nhiên là ông sẵn lòng làm như thế - ông Conway công nhận là có thể ông đã phạm sai lầm. Có thể ông đã hơi hà khắc với cậu bé. Nhưng ông chỉ muốn nuôi dạy được một đứa trẻ hoàn hảo, và ông tức giận là - vì ông phải chịu đựng nỗi thất vọng sâu sắc sau những thất bại khó ngờ của cậu con trai. “Nghĩ mình có thể điều khiển được con cái là chuyện rất con người,” ông bảo tôi, “nhưng giờ tôi nhận ra đó là một nhiệm vụ bất khả. Kế hoạch tốt nhất là chẳng có kế hoạch nào cả; cứ để chúng bước đi và trở thành con người như chúng muốn. Nhưng tôi đã không nhận ra điều đó hồi tôi còn là một ông bố trẻ. Tôi đã rất sung sướng khi có một cậu con trai, và tôi nghĩ mình có thể điều khiển Eustace phát triển theo cách mà tôi mong muốn. Nhưng hóa ra nó lại có bao nhiêu vấn đề cá nhân như thế. Tôi chỉ muốn nó giống y như mình!” “Cụ thể là thế nào ạ?” tôi hỏi.

“Tôi mong nó ít nhất cũng phải là một học sinh giỏi, giống tôi trước đây. Tôi đương nhiên nghĩ rằng con trai mình thì phải biết làm tính! Tôi thường chỉ bảo cho nó hàng giờ đồng hồ, cố dạy nó cách tính một cột tiền xu, nhưng nó không có khả năng tiếp thu. Nó ngược hẳn với đứa con mà tôi mong đợi. Tôi cố gắng dạy bảo nó theo kế hoạch, nhưng nó không theo được. Luôn là một đứa trẻ có vấn đề. Tôi chẳng tài nào hiểu nổi nó. Chúng tôi không thể hiểu nhau.” Vào một dịp khác, tôi hỏi ông Conway, “Bác có khi nào ước sao mọi chuyện giữa bác và Eustace đã khác đi không?” Ông trả lời ngay lập tức, như thể ông đang chờ đợi chính câu hỏi này.

“Có mối quan hệ rạn nứt như vậy với Eustace là nỗi thất vọng thật sự đối với tôi. Đó là nỗi thất vọng lớn nhất đời tôi. Và tôi không biết phải làm sao nữa. Tôi nghĩ không thể trông mong gì có được mối quan hệ tốt đẹp giữa tôi với nó.” “Không trông mong? Không có hy vọng gì cả sao?” “Tôi không mấy sẵn sàng đồng ý với ý kiến cho là tôi không yêu thằng bé. Có lẽ mọi người sẽ nói đúng là như thế. Tôi cũng không biết nữa. Nhưng tôi tin rằng tôi yêu con trai mình rất mực. Tôi đã rất sung sướng khi có đứa con trai. Tôi nói với cô điều này chưa nhỉ? Tôi đã nóng lòng sốt ruột biết bao chờ nó chào đời.”

Phải nói là, Eustace cũng nhớ những cột tiền xu đó. Đêm này qua đêm khác, trên sàn nhà phòng khách, giờ nọ qua giờ kia, bố cậu gom lại rồi chia ra từng đống tiền xu và yêu cầu Eustace giải các bài toán cộng trừ nhân chia. Anh nhớ cái khoảng trống không đáng sợ mà trí não anh ẩn nấp vào những khi đó và nhớ chừng nào anh còn chưa tính đúng thì bố anh không cho phép anh đi ngủ, bắt anh thức quá nửa đêm với những cột tiền xu kinh khủng đó. Rồi nước mắt của anh và tiếng la hét của bố. Sự xúc phạm và những lời xỉa xói không ngớt. Có gì đó vừa thái quá vừa ích kỷ trong cách ông Conway đối xử vói cậu con cả. Cứ như thể ngay từ đầu ông đã quyết định từ chối thừa nhận đứa trẻ này, đến mức hoàn toàn kỳ quặc. Khi ảnh của Eustace bắt đầu xuất hiện trong những bài báo viết về sự thành công của nhóm nhảy kiểu thổ dân, bố cậu không thèm đọc các bài đó. (“Lố bịch, quan điểm của tôi là thế,” ông nói, “nhưng không ai nghe tôi cả.”) Khi Eustace được Viện Smithsonian vinh danh với giải thành tựu thế hệ trẻ quốc gia, bố cậu không đến dự buổi lễ. Năm nọ vào dịp Giáng sinh, Eustace Con gom hết tiền dành dụm đem mua lạc và kẹo cao su làm quà cho bố vì cậu biết bố thích lạc và kẹo cao su. Buổi sáng hôm Giáng sinh, cậu hồi hộp mang món quà tặng cho bố. Eustace Cha nhận lấy cái gói, nói “Cảm ơn” rồi bỏ qua một bên nhưng không bao giờ mở ra.

Mọi sự càng tệ hơn khi Eustace không phải một học sinh giỏi. Cậu khá ổn ở trường mẫu giáo (sổ liên lạc cho biết cậu nhảy nhót tưng bừng, biết thắt dây giày, hòa đồng với trẻ khác, vui vẻ tuân thủ nội quy, thuộc số điện thoại nhà), nhưng lên lớp hai cậu nhận toàn điểm C, chỉ tiến bộ ở mức trung bình, và giáo viên của cậu đề nghị giúp em làm bài tập về nhà nhiều hơn nữa.” “Eustace quá thiếu cố gắng học hành,” cô giáo lớp ba viết. “Em cần ghi nhớ các phép tính cộng.” Quả là một yêu cầu kinh khủng! Cậu bé lên bảy bị buộc phải ngồi tại bàn dưới bếp suốt bốn giờ mỗi tối cùng với bố. Ông bố thường đóng cửa ra vào và sập mành cửa sổ xuống (để cách ly cả Eustace Cha và Eustace Con khỏi những người còn lại trong gia đình) rồi thì, ở chốn tách biệt hoàn toàn ấy, ông thét lác cậu con về các bài tập số học. Gia đình cần giúp đỡ nhiều hơn? Eustace căng lên như chiếc đồng hồ chạy tám tiếng không ngừng với toàn bộ cái khái niệm trường, sợ chết khiếp bài tập về nhà, phát ốm vì hãi hùng trước cái vòng luẩn quẩn đáng sợ hằng đêm gồm nỗ lực rồi thất bại rồi bị phạt. Chuyện này không giống kiểu chuyện những đứa trẻ bị bạo hành mà ta đọc trên báo chí; chẳng phải là Eustace đang lãnh những vết thuốc lá đốt trên cánh tay. Nhưng đừng nhầm lẫn về điều đó: cậu bé vô cùng tổn thương. Cậu đau đớn tới mức nỗi khiếp sợ của cậu thể hiện thành một sự kìm kẹp thể xác khác thường; cậu bị táo bón suốt những năm tuổi thơ, sợ đến không ị được.”

“Đêm này qua đêm khác,” Eustace nhớ lại, “tuần này qua tuần khác, tháng này qua tháng khác, năm này qua năm khác, cứ như thể bố tôi sẽ chặt gãy cẳng chân tôi. Sau đó ông sẽ chặt nốt tới tận bẹn. Rồi ông sẽ chặt tay tôi. Rồi ông sẽ bổ gươm dọc người tôi vậy.” Trong nhà còn có ba đứa trẻ khác nữa - Walton, Martha và em bé đáng yêu Judson. Những trải nghiệm của chúng là hoàn toàn khác, điều đó cũng dễ hiểu thôi nếu ta tán thành ý kiến cho rằng về cơ bản mỗi đứa trẻ trong mỗi gia đình được nuôi nấng trong một môi trường hoàn toàn khác nhau, bởi vì các sự kiện có thể biến đổi vô cùng qua năm tháng. Khi những đứa trẻ khác nhà Conway lớn lên, chúng không bao giờ phải hứng chịu kiểu kỷ luật thép của người bố mà Eustace phải chịu đựng. Judson, cậu con út, dường như ít phải dự phần hơn cả trong vở kịch khắc nghiệt nhất của gia đình, đúng kiểu của những đứa con út may mắn hiếm khi bị soi mói trong nhà. Bố cậu “ngang bướng và ích kỷ” nhưng Judson không bao giờ sợ ông. Cậu là một chú bé đáng yêu được bố thương chiều gọi là Bọ Nhỏ. Dù sao, đến khi Judson ra đời thì bố cậu về căn bản đã thôi chuyện giáo dưỡng những đ con hoàn hảo, để bọn chúng cho vợ ông coi sóc, và theo lời chính ông, ông đã “thoái vị xuống tầng hầm” để suy ngẫm trong lặng im phẫn uất. Thế nên Judson không bao giờ thấy phần tồi tệ nhất của màn kịch đó.

Thực sự thì tuổi thơ của Judson là một trại hè bất tận, bởi vì cậu có Eustace, người anh cả dẫn cậu vào rừng, cho cậu leo núi và dạy cậu bao điều tuyệt diệu về tự nhiên. Ngay từ khi sinh ra Judson đã là dự đồ đặc biệt của Eustace; Eustace luôn kéo cậu em ra khỏi nhà để đi vào rừng, nơi mọi thứ an toàn hơn. Eustace giúp Judson trốn khỏi tầm kiểm soát của Eustace Cha. Eustace đến giờ vẫn nhớ rõ đó là một quyết định có chủ đích. Cậu biết cứu Walton và Martha thì đã quá muộn (cậu biết hai đứa em này đã bị bố “tẩy não”), nhưng khi Judson sinh ra, vừa nhìn thấy em là Eustace đã tự nhủ, “Đứa em này sẽ là của mình. Mình sẽ cứu đời nó.” Đáp lại, Judson tôn thờ Eustace, mặc dù Judson phải thừa nhận, “Tôi chẳng bao giờ thành công được như Eustace mong đợi ở tôi. Tôi lười biếng. Ví như khi anh ấy bảo 'Dậy lột da hoẵng đi!' thì tôi lại muốn ở trong phòng ngủ chơi với mấy bức tượng nhỏ các nhân vật trong phim Chiến tranh giữa các vì sao. Nhưng tôi sẵn lòng làm bất cứ gì để được bên anh.” Martha, cô con gái duy nhất trong gia đình, là một cô bé nghiêm túc và có trách nhiệm, nhớ mình đã có một tuổi thơ hoàn toàn khác với các bạn gái của cô - tuổi thơ đồng hành với những rắn và rùa và cáo nhỏ phải được cho ăn bằng chim còn sống, cùng những cuộc thám hiểm với Eustace (“thủ lĩnh”) trong rừng, nơi sẽ diễn ra những cuộc phiêu lưu công phu ấy. Cô nhớ những nguy hiểm mà cô và các anh em trai phải đối mặt. Tất cả những buổi chiều ấy, nô đùa cùng những con sông hung dữ, những con nhện độc và những ngôi nhà tự dựng trên cây! Giờ đã là một bà mẹ thị thành quen bảo bọc con cái nghiêm ngặt và rất trật tự, cô thậm chí không cách gì hiểu tại sao cô và các anh em trai được phép góp nhặt những trải nghiệm như thế mà không có ai giám sát. Cô nhớ sự khắc nghiệt của người cha, phải, nhưng cũng nhớ cả sự thoải mái đối lập hoàn toàn của người mẹ, và những cuộc cãi vã giữa cha mẹ trong việc nuôi dạy con cái. (“Bố mẹ quyết định đi!” Martha luôn muốn hét lên với họ như thế.) Và cô nhớ về Eustace như một cậu anh luôn “tự chuốc họa” vì không học giỏi như bố mong đợi và vì “cứng đầu”. Còn với Walton Conway, anh nhớ chẳng được bao nhiêu những chi tiết trong tuổi thơ của mình. Tất cả chỉ là “một vùng nhạt nhòa, kiểu như những vệt màu u tối”. Điều đó, cộng với cơn ác mộng triền miên suốt thời thơ ấu rằng bố anh sẽ lôi anh xuống tầng hầm, trói anh vào bàn rồi cưa hết chân tay anh. Điều đó, cộng với một đoạn đặc trưng vào lúc nửa đêm khi mà bố mẹ anh cãi và bố anh thét lên với mẹ anh rằng ông sẽ “bổ rìu ngập trái tim bà”. Điều đó, cộng với ký ức nhìn thấy bố đứng sừng sững trước anh trai lên mười là Eustace, hăm dọa “đánh anh ấy bầm máu”.

Nhưng không khủng khiếp như Eustace giờ đây vẫn kể lại, Walton nói. Bố anh đương nhiên cũng có thể có những lúc nhẹ nhàng, ví như khi lau nước mắt cho một đứa con bị trầy đầu gối. Thế còn cái đêm khủng khiếp đó thì sao, cái đêm Walton dọa bỏ nhà đi bụi và bố anh đã phá cửa phòng ngủ, bắt quả tang đứa con đang trượt người qua bậu cửa sổ để chạy trốn, và rồi xô nhào Walton ra ngoài cửa sổ? À thì không hẳn là xô nhào. Không hẳn là ông Conway chủ ý ném đứa con trai nhỏ qua cửa sổ; ông “chỉ kiểu như đẩy tôi một chút”. Dù thế nào đi nữa. Điều Walton không nhớ là cái cảm thức rằng bố anh chính là căn nguyên của những rắc rối và bất mãn trong gia đình. Không, là Eustace mới đứng. Eustace luôn là rắc rối. Từ khi còn nhỏ xíu anh đã làm cho mọi thứ nặng nề hơn mức cần thiết. Anh sưng sỉa, buồn bã, cứng đầu, và anh “không làm bài tập về nhà”. Bố thất thường và nghiêm khắc, phải, nhưng có thể đấu dịu bố bằng cách vâng lời. Với cả Walton lẫn Martha, những học sinh xuất sắc luôn đứng đầu lớp, thì giải pháp cho những bất hạnh của gia đình thật quá rõ ràng: nếu Eustace nổi bật ở trường, bố sẽ rất vui. Nếu Eustace thôi cứng đầu cứng cổ, bố sẽ không còn quát mắng mẹ và mọi người khác trong nhà. “Tại sao anh không thể cho bố chút uy quyền?” Walton gặng hỏi Eustace nhiều năm sau đó. “Tại sao anh không thể nhún nhường? Tại sao ngay từ khi còn chập chững anh đã luôn phải làm mọi thứ theo ý mình chỉ để chọc giận bố? Tại sao anh luôn phải đối đầu vói bố và làm cho bố phát điên lên?”

Tuy nhiên khi được yêu cầu đưa ra ví dụ, Walton chẳng thể nhớ nổi một dẫn chứng nào cho thấy Eustace từng đối đầu vói bố. Thế nhưng anh vẫn cảm thấy rõ ràng điều đó hẳn đã xảy ra. Thực sự, hình ảnh Eustace trong đầu Walton như một kẻ hung hăng thách thức bố mình, như một kẻ đối nghịch cứng đầu cứng cổ và xứng tài cân sức (“ngay từ khi còn chập chững”) cũng là hình ảnh mà ông Conway mô tả và là hình ảnh cố định dai dẳng trong cả mấy đứa em. Tuy nhiên, ý niệm về một Eustace Con hiếu chiến không hề nhất quán với lời kể của những người lớn không phải trong gia đình tới thăm nhà Conway trong những năm đó. Ông Stout ở Viện bảo tàng Scheile nhớ đã được mời tới nhà Conway ăn tối, khi ấy ông quan sát cậu bé Eustace ăn trong lặng im như gỗ đá, tuân phục, căng thẳng và cẩn thận cố sao cho “không bao giờ chạm mắt b Một người cô của Eustace nhớ lại có hôm cô tới chơi, ông Conway đã đánh thức cậu bé lên bốn Eustace vào lúc khuya muộn và dẫn cậu xuống nhà dưới để gặp cô, rồi tung ra những bài toán khó và bắt cậu phải giải. Mỗi lần Eustace Con trả lời sai, cậu sẽ bị Eustace Cha cười nhạo và châm biếm, bởi vì cuộc chiến bằng ngôn từ này được xem là trò mua vui cho khách, xin nhớ cho. Và cứ thế trò đó tiếp diễn, không ngừng không nghỉ, cho đến khi cậu bé òa lên tức tưởi, tới lúc ấy thì người cô bỏ đi, thầm nghĩ cô không thể nhìn cảnh này thêm một chút nào nữa, thầm nghĩ đây là “sự hành hạ tàn độc nhất đối với trẻ em” mà cô từng chứng kiến, và tự hứa cô sẽ không bao giờ quay lại ngôi nhà này nữa. Và, cũng giống như ông Stout, cô nhớ hình như Eustace Con không có lúc nào trong đêm đó nói vói bố bất kỳ câu gì kiểu như “Thôi đi bố”.

Tuy nhiên, khi nhớ lại lúc nghe bố dọa đánh anh trai bầm máu, Walton tự hỏi, Lúc đó Eustace đã làm gì khiến bố giận dữ đến thế? Khi nhớ lại lúc nghe bố dọa bổ rìu ngập tim mẹ, Walton nghĩ, Chắc chắn bố mẹ lại đang cãi nhau về Eustace. Và nếu Eustace bị nhốt trong phòng nhiều giờ không có đồ ăn nước uống, À lần đó anh ấy hẳn đã cư xử gì đó tệ hại vô cùng. Có lẽ phần khó hiểu nhất trong câu chuyện này là người mẹ đã ở đâu trong suốt tất cả nỗi đau đó. Làm sao mà Karen Conway - một thời là Karen Johnson, cô gái ngổ ngáo kiên cường, vô địch cưỡi ngựa, có sức khỏe dẻo dai của người đi rừng, đã từng bán cây sáo bạc để lấy lộ phí đi Alaska khi mới hai mươi hai tuổi - có thể thành ra một phụ nữ không bảo vệ nổi con mình? Tại sao bà không bao giờ che chở được Eustace Con trước Eustace Cha? Bây giờ chính bà cũng không thể giải thích nổi. Đó chính là những bí ẩn của hôn nhân, tôi nghĩ thế, và chính là những bi kịch gia đình. Giờ đây bà Conway nói bà đã sợ chồng. Bà đã phải hứng chịu nhiều hành hạ cùng một kiểu không khác gì cậu con trai. (Chồng bà dường như không thích thú gì hơn là xúi mấy đứa con cười nhạo mẹ chúng bằng cách gọi bà là “con hà mã béo bự”.) Bạn bè và gia đình khuyến khích bà rời bỏ cuộc hôn nhân, nhưng bà không bao giờ có can đảm đi đâu lâu. Một phần là bởi lòng trung thành của bà Conway với giáo lý Cơ đốc, nó khiến bà tin chắc rằng ly hôn là trọng tội. Và một phần trong chuyện này là bởi... ai mà biết được? Ai mà hiểu được tại sao phụ nữ ở lại? Bà còn nhớ rõ cứ khi nào bà cố bảo vệ con thì chỉ khiến chồng bà thêm nổi khùng mà phạt nặng Eustace Con hơn nữa. Vì thế bà sớm quyết định tốt hơn hết là không can ngăn hay cản trở.

Thay vào đó, bà nghĩ cách kín đáo giúp cậu con trai. Tuồng như Eustace là một nhà bất đồng chính kiến đang chịu án biệt giam trong một nhà tù của chế độ toàn trị, bà sẽ “luồn” những lời cổ vũ động viên tới cậu, từ dưới khe cửa hoặc qua những vết nứt trên tường. Đôi khi bà còn nhét cả những mẩu giấy vào cho cậu (“với tình yêu từ người tin tưởng con và thương con nhiều nhất…”), và bà cũng kín đáo thể hiện niềm yêu thương với cậu khi không có ai nhìn nhỏ. Bà trao cho cậu các kỹ năng cùng sự tự do để khám phá rừng xanh, nơi cậu không chỉ có thể thể hiện khả năng vượt trội, mà còn được hít thở trong cảm giác an toàn được xa khỏi con ngõ bão táp là chính ngôi nhà mình. Và điều mà bà cũng đã trao cho cậu con trai, quan trọng hơn bất kỳ gì khác, là ý niệm ẩn mật nhưng dai dẳng rằng bất kể người cha có làm gì hay nói gì, Eustace Robinson Conway IV lớn lên sẽ trở thành Người Mang Sứ Mệnh. Thuyết Người Mang Sứ Mệnh không phải là phát kiến của Karen Conway. Bà hấp thu ý tưởng đó từ cha mình, một nhà lý tưởng chủ nghĩa phi thường tên là C. Walton Johnson. Nhân vật này, ông ngoại của Eustace, là một cựu binh Thế chiến Thứ nhất, tính tình cương trực, được mọi người gọi là Tư lệnh. Ngay sau khi từ cuộc chiến trở về nhà, Tư lệnh Johnson thành lập chi nhánh Bắc Carolina của hội Nam Hướng đạo Mỹ. Ông muốn làm việc với các cậu bé bởi trong ông dấy lên mạnh mẽ một ý niệm – không, từ giờ chúng ta hãy gọi đó là một niềm tin bất di bất dịch, mang tính giáo điều - về tiến trình mà theo đó những cậu trai bé nhỏ ốm yếu có thể được chuyển hóa thành những Người Mang Sứ Mệnh đầy uy lực. Ông tin sự tiến triển này được hoàn thành tốt nhất trong những thử thách của môi trường kiểu vùng biên, và giống như nhiều người Mỹ trước và sau ông, ông lo sợ sự biến mất của rừng núi hoang dã sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của tư chất đàn ông Mỹ. Và Tư lệnh Johnson không có ý định khoanh tay làm ngơ để những thiếu niên Mỹ lớn lên trở nên kiệt quệ, suy đồi và hư hỏng bởi “ảnh hưởng của thành thị làm hạn chế tầm nhìn và nhu nhược hóa con người”. Không, thưa quý vị. Dưới sự coi sóc của ông thì không thể như vậy.

Ban đầu hội Nam Hướng đạo ở Bắc Carolina là một khởi sự tốt đẹp, nhưng Tư lệnh chẳng mấy chốc đã vỡ mộng với chương trình đó, cảm thấy nó chỉ làm cho các cậu bé hư thân thêm. Bởi vậy, vào năm 1924, ông thành lập một trại hè tư nhân hết sức nghiêm khắc trên mảnh đất vùng núi 125 mẫu gần thành phố Asheville. Ông đặt tên là [5] Cho Thiếu Niên: Nơi Người Yếu Trở Nên Mạnh và Người Mạnh Trở Thành Vĩ Đại. (Thật không may, chẳng có ghi chép nào cho biết đã từng có Người Yếu trở thành Người Vĩ Đại hay chưa, nhưng tôi sẵn sàng đánh cược rằng họ đã cố gắng để được vậy.) Ông đòi hỏi các trại viên và nhân viên duy nhất một điều: họ sẽ không ngừng nỗ lực để đạt được sự hoàn thiện về thể chất, tinh thần và trí tuệ trong mọi mặt cuộc sống của họ. Bấy giờ, và chỉ bấy giờ, họ mới có thể trở thành Người Mang Sứ Mệnh. [5] Sequoyah (khoảng 1767-1843): một thợ bạc người Cherokee (một nhánh của tộc người Iroquois bản địa sống ở phía Đông miền Nam nước Mỹ). Ông đã sáng tạo ra hệ chữ cái Cherokee, giúp mọi người có thể đọc và viết ngôn ngữ này. Sequoyah được xem là người bản địa duy nhất đưa được ngôn ngữ mẹ đẻ đến với cộng đồng bằng cách này. “Thời nào cũng cần có Người Mang Sứ Mệnh,” Tư lệnh viết, trong một trong nhiều cuốn tiểu luận đã được xuất bản của ông về đề tài này, “và mỗi thời đại đều có một số người sẽ đáp ứng được nhu cầu ấy, ví như Aristotle, Galileo, và Wilson… Những người này tin họ là Người Mang Sứ Mệnh, và tự chuẩn bị cho nhiệm vụ đặt ra trước mắt. Họ bị ghìm chặt bởi một sự cưỡng bách mà họ không thể chối từ. Không ai có thể trở thành Người Mang Sứ Mệnh trừ phi anh ta tin, với niềm tin không thể lay chuyển, rằng anh ta là nhân tố không ai thay thế được kiến tạo nên xã hội trong thời mình. Quá ngạo mạn? Không! Chỉ là một cảm thức sứ mệnh và sự can trường để theo đuổi đến cùng. Kẻ nào bị thôi thúc bởi một niềm xác tín nội tại rằng anh ta có một sứ mệnh phải hoàn thành, rằng anh ta được sinh ra vì mục đích này, anh ta phải và sẽ theo đuổi đến cùng; kẻ đó sẽ là Người Mang Sứ Mệnh.”

Tư lệnh tin rằng cách tốt nhất để trang bị cho những nhân vật anh hùng như thế là khởi đầu từ người trẻ, và trong rừng hoang. Rốt cuộc, ông viết, “những cậu bé Mỹ đích thực đã thừa hưởng quá nhiều tinh thần của người khai khẩn tiên phong nên không thể cảm thấy thoải mái khi ru rú trong thành phố”. Thế nên ông đề nghị các bậc cha mẹ giải phóng con trai mình khỏi “sự căng thẳng cảm xúc trong đời sống” và đưa chúng đến “một Khu trại có Mục đích”, nơi “sự hùng vĩ của núi rừng” kết hợp với sự chỉ bảo của những người hướng dẫn được giám đốc lựa chọn dựa trên “ đầy tinh thần trách nhiệm, thông minh, lành mạnh, chín chắn” sẽ giúp các thiếu niên khôn trưởng, “như tự nhiên và Chúa trù định, có được tầm vóc viên mãn của người đàn ông.” Trại Sequoyah không phải một kiểu Trại Thanh Thiếu Niên Hitler. Tư lệnh tin rằng, thông qua việc tham dự Trại Sequoyah, không một cậu bé nào trên đất Mỹ, bất kể ốm yếu hay kém hoàn thiện ra sao (hay bất kể chủng tộc hay tôn giáo nào, dù điều này thật kỳ cục, thời đại này mà vẫn thế), bị tước bỏ cơ hội trở thành Người Mang Sứ Mệnh. Con trai bạn là một “cậu bé thường xuyên khỏe mạnh” vốn đã may mắn có được “thể chất tuyệt vời” ư? Thế thì, cậu ấy sẽ từ Sequoyah trở về “với những khả năng xuất chúng nhân lên gấp bội.” Con trai bạn “quá khôn, sưng sỉa và đôi khi trái khoáy?” Đừng chần chừ cho cậu bé vào Sequoyah; không khí trong lành sẽ dạy cậu bé “sự cần thiết phải phát triển thể chất và giữ cho nó ngang tầm với trí tuệ”. Con trai bạn “nhút nhát, rụt rè và khó kết bạn?” Sequoyah sẽ dạy cho cậu bé hòa nhập cộng đồng. Con trai bạn là một đứa đầu bò đầu bướu? Các hướng dẫn viên của Sequoyah sẽ dạy cho cậu bé rằng bắt nạt người khác là “hèn hạ và đáng khinh”. À, ngay cả khi con trai bạn “béo bệu và chuyên bị trêu chọc”, Trại Sequoyah là nơi thằng bé nên đến, nếu không phải để có một vóc dáng tuyệt vời thì chí ít cũng để học cách “biết đùa và suy nghĩ tích cực khi bị trêu chọc.” Mẹ Eustace Conway là con gái duy nhất của Tư lệnh Johnson. (Có một bức ảnh tuyệt đẹp chụp Sequoyah vào thập niên 1940, với toàn trại tập hợp lại thành từng hàng theo tuổi. Tất cả là những người đàn ông đứng thẳng tắp và những cậu con trai để tóc húi cua nghiêm chỉnh cười tươi rói với máy ảnh; chỉ có một ngoại lệ - bé gái tóc vàng óng, mặc váy trắng, ngồi giữa cả nhóm, con gái của Tư lệnh, mẹ của Eustace, lúc đó lên năm.) Karen lớn lên ở Trại Sequoyah, bao bọc không chỉ bởi núi rừng và các cậu trai, mà còn bởi những lý tưởng. Bà yêu cha mình, và hơn các anh trai mình, bà ngoan ngoãn tiếp nhận đức tin của cha. Khi đến tuổi kết hôn, bà thậm chí đã chọn một hướng dẫn viên được cha mình yêu mến làm chồng. Bà phải lòng chàng Eustace Conway III sáng láng, người mà, với kỷ luật cá nhân nghiêm khắc, phong thái uyển chuyển tự nhiên, tấm bằng Học viện Công nghệ Massachusetts, và tình yêu tha thiết với thiên nhiên, chắc hẳn đúng là hiện thân của những nguyên tắc mà Tư lệnh nâng niu nhất.

Và mặc dù chồng bà dẹp qua bên những mơ ước giảng dạy về thế giới tự nhiên khi ông bước vào đời đi làm, bà không bao giờ đánh mất đức tin của mình vào rừng. Thế nên khi cậu con trai đầu lòng chào đời, không có gì băn khoăn về chuyện bà sẽ nuôi dạy cậu ra sao. Tự do, đầy thách thức, đầy nghị lực thực hiện được những kỳ công phi thường, và luôn sống giữa thiên nhiên. Chính nhờ bàn tay của mẹ mà năm lên bảy Eustace có thể ném dao đủ chính xác để găm phập một con sóc chuột vào thân cây. Và hạ một con sóc đang chạy cách xa mười lăm mét bằng bộ cung tên, năm anh lên mười. Và đi vào rừng, một mình với hai bàn tay không, khi anh lên mười hai, sống được ở đó và xây cho mình một cái chòi. Trong khi ông Conway cứ kiên trì nói cho cậu bé Eustace rằng cậu là một đứa ngớ ngẩn nhu nhược tới cỡ nào, bà Conway lại ngày ngày tới thư viện mang về từng chồng từng chồng ngày càng cao những cuốn tiểu sử về những người Mỹ trứ danh cho Eustace đọc. George Washington, Davy Crockett, Daniel Boone, Abraham Lincoln, Kit Carson, John Frémont, Andrew Jackson, Geronimo, Red Cloud, Bò Ngồi - những câu chuyện chân thực, quả cảm về chủ nghĩa anh hùng và núi rừng hoang dã và sự ngoan cường. Đây là những cuộc đời ta phải cố gắng noi theo, bà nói vói con trai như vậy, khi Eustace Cha không nghe thấy. Đây là kiểu đàn ông mà con có thể trở thành: Người Mang Sứ Mệnh. Eustace Conway là một người có tư duy đơn giản, ít tưởng tượng ngay từ khi còn nhỏ (đặc biệt là lúc nhỏ), và cậu hấp thụ bài học từ những câu chuyện đó một cách nguyên thuần như thể mẹ cậu đang kê một chiếc phễu vào tai cậu và rót chúng thẳng vào trong não cậu. Khi cậu đọc thấy những dũng sĩ da đỏ thử thách khả năng chịu đựng của tinh thần và thể chất bằng cách chạy hàng dặm trường băng qua sa mạc, ngậm nước trong miệng mà không nuốt, cậu đã thử chạy hàng dặm trong rừng với cách tương tự. Khi cậu đọc thấy những tráng sĩ vùng biên thường mặc độc một chiếc quần da hoẵng trong suốt nhiều năm liền, cậu quyết định làm cho mình một chiếc và không bao giờ mặc gì khác. Khi cậu đọc thấy Lewis và Clark[6] mang theo nhiều giấy mực cũng nhiều như thức ăn và đạn dược trong chuyến thám hiểm, cậu bắt đầu ghi nhật ký. Khi cậu đọc về một dũng sĩ da đỏ - bị thương và bị bỏ rơi với một viên đạn xuyên gối - rớt lại phía sau chiến tuyến quân thù trong một trận đánh với những người định cư, anh ta đã sống sót qua cả mùa đông bằng cách trốn trong chiến hào, phủ lá kín người, ăn thịt những con vật gặm nhấm bò qua người... tất nhiên, không thể diễn tả lại chính xác cảnh tượng đó, nhưng Eustace đã bắt chước tinh thần của câu chuyện bằng cách đề nghị nha sĩ của gia đình làm ơn không sử dụng thuốc tê Novocain khi trám răng cho cậu. Cậu muốn học cách chịu đựng nỗi đau thể xác.

[6] Cuộc thám hiểm của Lewis và Clark (1804-1806) là cuộc thám hiểm bằng đường bộ đầu tiên tới vùng duyên hải Thái Bình Dương chính phủ Hoa Kỳ tổ chức, đứng đầu là hai nhà thám hiểm Meriwether Lewis và William Clark. Dạo còn học tiểu học, mỗi ngày Eustace thường mang tới lớp khoảng sáu cuốn tiểu sử của những người anh hùng và truyện phiêu lưu như thế. Cậu mải mê đọc một cuốn cho đến khi giáo viên tịch thu nó, và rồi cậu bắt đầu qua cuốn khác. Khi cô giáo lấy đi cuốn sách, cậu lại bắt đầu qua cuốn khác rồi lại cuốn khác nữa. Khi tất cả sách bị tịch thu sạch, cậu nhìn chăm chăm ra ngoài cửa sổ mà lên những kế hoạch có cảm hứng từ những cuốn sách đã đọc. Ví như, Eustace mới học lớp hai khi cậu khởi công xây cho mình một ngôi nhà năm tầng trên cây (đủ bộ với một tầng hầm và những lối đi kéo dài sang các cành nhánh của cây kế bên), làm theo các hình mẫu trong cuốn tiểu thuyết The Swiss Family Robinson. Cố nhiên, thầy cô chẳng biết phải làm gì với cậu bé kỳ quái này, người không bao giờ tập trung trong giờ học. Khi cậu học lớp năm, cô giáo phải mời bà Conway đến thảo luận.

Cô giáo nói, “Tôi nghĩ là Eustace không có khả năng học hỏi.” Nhưng quá muộn rồi; cậu bé đã học hỏi được, tất nhiên là từ trong những kỹ năng và những bài học mà mẹ đã dạy cậu. Và nếu những ý tưởng nuôi dạy con của bà đối nghịch với những ý tưởng của chồng, bí quyết ở đây không phải là kết hợp hai triết lý sống của họ lại thành một lý thuyết nuôi dạy con cái, mà là áp dụng riêng rẽ từng triết lý đó - một bên đao to búa lớn và công khai, bên kia bí mật nhưng kiên định. Những trò xúc phạm cay nghiệt của người cha chỉ áp dụng vào ban đêm và cuối tuần; những thách thức đầy phấn khích của người mẹ được dành cho những ngày dài tự do trong rừng. Hai bậc cha mẹ này chia sẻ duy một điểm là sự chú tâm tuyệt đối. Cả hai đều đặt Eustace ở trung tâm chú ý, nơi cậu nhận được hoặc khen ngợi đánh giá cao hoặc nỗi tủi hổ bẽ bàng. Mẹ Eustace bảo cậu là Người Mang Sứ Mệnh và chẳng có thành tựu nào trên hành tinh này là vượt quá tầm tay cậu; bố cậu lại bảo cậu là đồ vô dụng. Bởi là người ít tưởng tượng, cậu bé Eustace tội nghiệp tin cả hai. Thật khó nói làm sao mà đầu cậu lại không nổ tung vì những tư tưởng đối lập đó. Nhưng có điều ít phải nghi ngờ là suốt thời niên thiếu Eustace đã từng suy ngẫm hàng giờ liền về cái khả năng mình hẳn có thể là đối tượng của một cuộc nghiệm khoa học vĩ đại và tàn bạo. Có thể cả cuộc đời cậu đang diễn ra trong một buồng thí nghiệm rộng lớn nào đó, nơi cậu bị đem ra xét nghiệm, các phản ứng của cậu được nghiên cứu kỹ lưỡng bởi những nhà khoa học mà cậu không thể trông thấy hay hiểu nổi. Còn cách giải thích nào khác để hiểu được chuyện này? Một chiều Eustace nhận được một lá thư bí mật từ người mẹ bảo cậu là “một cậu con trai đẹp đẽ, đầy yêu thương, hấp dẫn, dũng cảm, can trường của người luôn tự hào và hàm ơn vì có con trên đời,” thế rồi có thể ngay đêm hôm đó, cậu ghi lại trong nhật ký rằng người cha vừa nói cậu “không sáng dạ gì ‘hơn thằng mọi đen trong khu ổ chuột.’ Tôi thấy muốn giết ông ta. Tôi tự hỏi chuyện gì sẽ xảy ra với mình.”

Eustace chỉ ngủ vài tiếng mỗi đêm. Sau khi mọi người trong nhà đi ngủ hết, Eustace thường thức đến hai, ba, bốn giờ sáng. Cậu làm xong bài vở, một công việc luôn vô cùng nặng nhọc đối với cậu trừ vài trường hợp hiếm hoi khi cậu có cơ hội viết những bài luận cuối học kỳ về các chủ đề kiểu như “Lều vải Xưa và Nay.” Khi bài tập về nhà xong xuôi, cậu sẽ viết nhật ký, phủ đầy các trang giấy những gì cậu đã làm và quan sát được. “Hôm nay, tôi tới hồ Robinwood lần đầu tiên trong năm và bắt được một con rùa sọc cái lớn mà mùa đông năm ngoái tôi đã không tóm vì nó đang ngủ đông.” “Hôm nay, cuối cùng thì tôi đã thấy cả ba con nhái bén trong nhà kính cùng một lúc.”

“Hôm nay, Randy Cable bắt được một con kỳ nhông bạch tạng và tôi cho nó vào ngâm rượu.” “Con rắn chuột đen đang rất vui vẻ trong cái lồng mới.” Cậu thường đọc lại nhật ký, cố gắng ghi chép tỉ mỉ quá trình cậu trở thành một người đi rừng thành thạo. Mỗi ngày cậu lại đặt ra những thử thách cao hơn cho bản thân trong rừng hoang, như sau này Eustace kể lại, “Tôi sinh trưởng trong một nền văn hóa và một gia đình không có cách nào cung cấp cho tôi những nghi thức trở thành người đàn ông, vì thế tôi phải sáng tạo những nghi thức ấy cho chính mình.”

Sau khi viết xong nhật ký, Eustace còn thức đến khuya muộn, cần mẫn hoàn thiện các kỹ năng dệt và xâu cườm. Đôi khi cậu dành hàng tháng trời làm một đôi giày bằng da hoẵng, khuây lãng đầu óc bằng cách ngồi trong ánh sáng lờ mờ với một cuốn sách cũ mở ra trên giường viết về những vật chế tác của thổ dân da đỏ vùng đồng bằng, để làm theo những hoa văn xâu cườm phức tạp trong tranh vẽ trang phục của thổ dân thời xa xưa. Thế giới bất hạnh đầy khắc nghiệt của Eustace đã nuôi dưỡng trong cậu tính cầu toàn mãnh liệt. Sống từng giây phút trong đời sao cho hoàn toàn không phạm lỗi là điều hết sức quan trọng với Eustace, vừa để giảm thiểu cơ hội để người cha cười nhạo cậu, vừa để chứng minh với người mẹ rằng lời tán dương hùng hồn của bà là xứng đáng. Tiêu chuẩn cậu đặt ra cho mình cao đến khó tin. (Nhiều năm sau cậu than van trong nhật ký là cậu không bao giờ cảm thấy “niềm tự do bất tận của tuổi thơ” mà thay vào đó là bị ám ảnh bởi “nỗi đe dọa treo lơ lửng là chưa hoàn thiện.”) Ngay trong những khoảnh khắc riêng tư, ngay cả lúc nửa đêm, khi cậu đang âm thầm làm công việc ưa thích là xâu cườm kiểu thổ dân, những nỗ lực của cậu vẫn phải được thực hiện một cách hoàn hảo, nếu không công trình sẽ chẳng thể khiến cậu khuây khỏa. Bứt hết những đường khâu chưa toàn mỹ và cố làm lại, Eustace trau chuốt từng đường cườm chạy ngang đôi giày da đanh cho tới khi các hoa văn giống hệt như trên đôi giày của các bậc thầy thổ dân Cheyenne thời xưa. Ở đó, trong phòng ngủ của mình trên đường Deerwood, cậu đang sáng tạo nghệ thuật, một việc mà một đứa bé chẳng có nhiệm vụ phải làm hay thậm chí thử làm. Khi cuối cùng cũng kiệt sức, cậu tắt đèn và tính chuyện ngủ. Thỉnh thoảng, nằm trong bóng tối, cậu nghe thấy tiếng bố mẹ cãi nhau. Thường thường, cậu khóc. Thường thì khi đó cậu cầm một con dao săn ấn vào cổ họng trong khi trôi vào giấc ngủ. Cảm giác lưỡi dao ngang cổ mới khuây khỏa kỳ lạ làm sao. Nhận thức rằng mình có thể tự sát tức thì nếu như mọi chuyện trở nên quá tồi tệ khiến Eustace thấy khuây khỏa. Không hiểu sao, nhờ có thể chọn giải pháp đó, cậu có sự bình yên cậu cần để cuối cùng cũng ngủ thiếp đi.

.