Hôm nay bạn muốn đọc gì?

Người Đàn Ông Mỹ Cuối Cùng - Chương 3

Chương Ba

Được ở đó, trong vùng hoang dã bao la cách xa gia đình hàng trăm dặm, tôi tin ít ai được hưởng niềm hạnh phúc như chúng tôi đã trải. Tôi thường vui hỏi em trai, em có thấy rằng ta đâu cần nhiều thiên nhiên lắm thì mới được thỏa mãn không? Niềm sung sướng, bạn đồng hành của thỏa nguyện, tồn tại trong lồng ngực chúng ta chứ không phải trong hưởng thụ ngoại vật. - Daniel Boone Davy Crockett bỏ nhà đi khi ông mười ba tuổi, để thoát khỏi người cha hung dữ. Cha của Daniel Boone thường đánh các con trai đến mức chúng phải xin tha, nhưng Daniel không bao giờ hé răng. (“Không van xin đi à?” người cha thường hạch hỏi.) Thay vì vậy, cậu bé Daniel dành những ngày dài một mình trong rừng để thoát khỏi tầm tay người cha, và, năm mười lăm tuổi, cậu đã có tiếng là một trong những tay thợ săn cừ khôi nhất vùng hoang dã Pennsylvania. Nhà thám hiểm John Frémont mất cha khi mới lên năm. Kit Carson mất cha (người cha chết vì bị một cành cây đang bốc cháy đổ lên người, để lại người vợ một mình nuôi nấng tám đứa con), và Kit thoát ly khi ông mười sáu tuổi. Sơn nhân Jim Bridger tự lập khi lên mười bốn.

Không ví dụ nào trong số này là chuyện lạ vào thời đó. Đoàn xe ngựa về miền Tây chở đầy những chàng trai trẻ bỏ nhà đi vì không biết bao nhiêu lý do - nhưng chúng ta có thể đoan chắc không ít người trong số đó đi tới vùng biên bởi họ tin rằng dù nơi ấy tiềm ẩn nhiều nguy hiểm nhất thế giới thì vẫn lôi cuốn hơn bất cứ điều gì đang diễn ra trong căn nhà nhỏ ấy ở New England hay Virginia hay Tennessee quê nhà. Có rất nhiều chương đoạn trong những cuốn sách sử của chúng ta nói về động cơ kéo thiếu niên tới vùng biên, nhưng tôi sẽ không ngạc nhiên chút nào nếu mối quan hệ tồi với người cha hà khắc là một trong những nhân tố chính đẩy họ ra ngoài đó. Và thế cho nên mỗi thế hệ lại thấy một làn sóng mới những thiếu niên vùng chạy khỏi nhà, đơn giản là khao khát đi đến bất cứ nơi nào đưa họ đi xa khỏi người cha. Nhanh nhanh chóng chóng đến định cư ở vùng sơn dã rõ ràng là một phương cách tốt, tuy có lẽ không phải là lý tưởng đối với những người thân dễ xúc động trong gia đình. Eustace Conway cũng thử làm đúng như vậy - cố trốn thoát. Những năm thiếu thời là nỗi tổn thương bất tận, và anh luôn luôn mơ đến chuyện bỏ trốn. “Ngay trước khi tôi đi ngủ,” anh viết trong nhật ký năm mười bốn tuổi, “bố vào phòng mà lên lớp tôi về chuyện khi hành động tôi nên nghĩ tới người khác và chuyện tôi chỉ quan tâm đến bản thân ra sao. Ông nói rằng sẽ chẳng ai thích tôi, rằng tôi ưa điều khiển mọi ngưòi, rằng tôi chẳng làm bất cứ cái gì cho bất kỳ ai. Mặc dù bỏ trốn là điều rất ngớ ngẩn, tôi nghĩ ở bất cứ đâu trong rừng mình cũng sẽ hạnh phúc hơn. Nếu thật sự ra đi, tôi sẽ nỗ lực hết mình để không quay lại, dù cho tôi có chết đói đi nữa. Bất cứ cái gì cũng đều tốt hơn thế này.”

Nhưng anh không chạy trốn. Anh gồng mình chịu đựng thêm ba năm nữa. Chỉ khi đã cần mẫn hoàn thành xong bậc trung học Eustace Conway mới thoát ly. Anh lấy cái lều vải anh tự làm bằng tay (một phụ nữ thổ dân biết Eustace hồi đó đã miêu tả cái lều là “thứ xinh đẹp nhất tôi từng thấy”) và lấy con dao cùng mấy quyển sách rồi ra đi. “Tôi hy vọng mình đúng,” anh thổ lộ trong nhật ký khi rời khỏi nhà bố mẹ, “và tôi đang đi theo con đường thực sự tốt đẹp cho tôi.” Tiếp sau đó có lẽ là những năm tháng hạnh phúc nhất trong cuộc đời Eustace. Và tự do nhất. Anh sở hữu một căn lều và anh sở hữu một chiếc mô tô, chỉ thế thôi. Anh sống trong vùng núi gần Gastonia. Anh lắp ráp lại chiếc xe máy để học cách vận hành của một động cơ. Anh tự khâu lấy tất cả quần áo. Anh ăn cây tầm ma và săn thú nhỏ bằng ống xì đồng của người Cherokee, dùng mũi tên làm bằng thanh gỗ, bông kế và gân nai. Anh đẽo bát đĩa từ gỗ được đánh bóng bằng mỡ hải ly. Anh làm bình đựng nước bằng đất sét đào được từ dưới lòng các con lạch, cũng chính con lạch ấy là nơi anh tắm. Anh ngủ giữa đất, trên lớp da thú. Anh bện dây thừng bằng vỏ cây và chính tóc của mình. Anh xẻ cây sồi trắng lấy nguyên liệu đan giỏ. Anh nấu nướng và sưởi ấm bên đống lửa, và suốt ba năm liền anh không động đến diêm.

“Cái lều của tôi trông hình dáng cũng được,” anh viết trong nhật ký, khi nhà mới của anh đã đâu vào đó. “Và tôi hy vọng rằng tôi sẽ dần dần hiểu nó và hiểu bản thân nhiều hơn qua lối sống mà tôi đang chọn.” Cuộc sống mới của anh quả thực có một số thứ phải tập quen (“Nửa đêm trời bắt đầu mưa thế nên tôi phải miễn cưỡng ra khỏi giường và kéo các nắp thông khói lại, lẽ ra phải quan tâm đến chuyện này sớm hơn”), nhưng Eustace Conway gần như ngay lập tức cảm thấy cuối cùng thì anh đang sống trên trái đất này đúng như anh lẽ ra cần phải sống. “Tôi ngủ đến bảy giờ sáng,” anh viết sau một trong những đêm đầu trong lều vải, “khi ánh nắng tràn xuống trên gian lề mờ sương khói đánh thức tôi nhìn ra thế gian. Tôi trở dậy ra suối rửa mặt. Ôi, cơ thể tôi mới ưu ái tôi làm sao! Một ngày hạnh phúc cho tất cả!” Cái lều vải của anh thật tuyệt diệu - một pháo đài và một thánh đường, một căn nhà nhẹ tênh trong suốt đến độ không hề gây tác động ức chế tâm lý như nhà cửa thông thường vốn dĩ quá cố định. Anh có thể dựng nó lên hoặc tháo nó ra trong vài phút. Anh có thể xếp lại, chất lên nóc xe của một người bạn, chở nó tới một ngôi trường tiểu học rồi lại dựng nó trên sân chơi làm mê mẩn một số học sinh đã thuê anh dạy cho về tự nhiên ngày hôm đó. Anh có thể chở cái lều của mình tới buổi hội họp tế lễ ở một bang khác vào một dịp cuối tuần nhảy nhót và giao hảo với những thổ dân anh đã kết bạn qua nhiều năm. Anh có thể cuộn nó lại trong toa kho trong khi anh quá giang xuyên đất nước từ một ý thích nảy sinh bất chợt, hoặc cũng có thể trú dưới chiếc lều, ẩn nấp đâu đó giữa rừng, hoàn toàn sung sướng biết rằng sẽ không ai tìm ra anh. Sau khi học xong trung học anh nhận việc làm, nhưng chỉ trong một thời gian ngắn. Anh đi thẳng xuống Tennessee để làm nhà giáo dục môi trường cho những đứa trẻ ngỗ ngược và thiếu khả năng tiếp thu tại một nơi tên là Trường Bodine. Anh thật xuất sắc với đám học sinh, mặc dù anh chẳng lớn tuổi hơn chúng là bao. Anh có mối quan hệ tuyệt vời với chúng, tuy nhiên anh lại không tâm đầu ý hợp cho lắm với các ông chủ. Có thể nói Eustace Conway không ưa nổi chuyện làm việc dưới trướng của người khác. Điều đó khiến anh bực bội. Chẳng bao lâu anh sa vào vụ tranh cãi với ông hiệu trưởng, người đã hứa hươu hứa vượn với Eustace rằng anh có thể sống trong lều vải trên khuôn viên nhà trường nhưng rồi lại nuốt lời. Mà Eustace Conway thì không ưa nổi những kẻ nuốt lời.

Thế là, sốt ruột và cáu tiết, anh bỏ đi thăm một thanh niên sống trong rừng mà anh quen biết tên là Frank, chàng trai này sắp vào đại học ở Alabama. Họ có một dịp gặp gỡ cuối tuần thật tuyệt vời. Đi khắp rừng, săn bắn bằng súng trường nạp thuốc súng kiểu cũ, vui đùa. Nhưng Eustace có cảm giác bạn mình phiền muộn vì điều gì đó, và thực vậy, qua cuộc trò chuyện sau đó anh biết Frank vừa chia tay bạn gái và đang vô cùng rối trí - đã thôi chơi thể thao, thôi đến trường, rồi thôi cả việc. Anh chàng thậm chí không biết sau đây phải làm gì với bản thân mình. Khi Frank kể xong câu chuyện buồn của mình, Eustace nói (“và từ ngữ cứ thế vọt ra khỏi miệng tôi như con ếch vọt ra khỏi chiếc chảo rán nóng bỏng”), Bọn mình đi bộ Đường mòn Appalachia nhé. Eustace còn không biết cái ý tưởng ấy từ đâu ra. Nhưng tự dưng nó đã ở đó. “Đi chứ,” Frank nói. “Chúng ta cùng đi.”

Thế là Eustace gọi điện cho ông hiệu trưởng Trường Bodine để báo ngừng việc dạy (chuyện vặt; hắn ta là một kẻ ngu ngốc nuốt lời, vả chăng ai mà cần một công việc chẳng ra gì?), và bốn ngày sau hai chàng thanh niên đã đứng tại một trạm xe buýt ở Montgomery, Alabama, chờ một chuyến xe khách đưa họ lên vùng Bangor, Maine. Quyết định đột ngột và ngông cuồng làm ngạc nhiên ngay cả mẹ Eustace, đáng ra bà sẽ khuyến khích những cuộc phiêu lưu như thế này mới phải. “Cuộc gọi báo tin của con làm mẹ rất bất ngờ,” bà viết vội vài dòng cho anh, cố đến kịp trước khi anh đi. “Về chuyến đi con đã trù tính, cảm xúc của mẹ thật là lẫn lộn. Mẹ có thể hiểu tại sao con muốn thực hiện một chuyến đi như thế và mẹ đồng ý với những mặt tích cực của nó, nhưng mặt kia của cái trò bấp bênh này cho thấy con thiếu trách nhiệm, không biết giữ lời và không biết đặt chuyện quan trọng lên hàng đầu.” Rồi bà thêm vào vài lời nói khích (bên cạnh những câu thẳng thừng) nhưng có lẽ bà nói ra những lời ấy là để nhấn mạnh nỗi lo lắng của chính bà: “Bố con cảm thấy con là một đứa trác táng và sẽ không bao giờ ổn định được nếu như con không bắt đầu tiếp nhận cuộc đời một cách nghiêm túc và suy nghĩ chín chắn hơn về việc chuẩn bị cho tương lai. Ông ấy nghĩ con nên làm việc nhiều hơn và trở nên đáng tin cậy hơn để giữ lời hứa sẽ cần cù tận tụy. Ông ấy không tán thành!” Chà, thật khắc nghiệt. Người ta bước sang tuổi mười chín để rồi nhận những điều như vậy đó.

Cuộc phiêu lưu của họ khởi sự ngay lập tức bằng một cuộc phiêu lưu. Eustace và Frank mua vé xe buýt nhưng chỉ có thể lên xe khi một trở ngại cuối cùng được giải quyết. Họ đứng ở trạm xe buýt đợi một cô gái, một người bạn của Frank, tới mang cho anh chàng cái túi ngủ, một trang bị hết sức cần thiết. Họ chờ mãi chờ mãi, nhưng cô gái không đến. Họ nài xin người lái xe khách khoan đi vội, nhưng cuối cùng ông phải khởi hành để kịp lịch trình. Frank và Eustace đã tuyệt vọng. Thế rồi, chỉ giây lát sau khi xe buýt khởi hành, cô gái mới mang chiếc túi ngủ tới. Frank và Eustace nhảy vào xe ô tô của cô và lái xuống con đường liên bang, đuổi theo chiếc xe khách. Khi họ đuổi kịp, Eustace bảo cô gái vượt lên bên cạnh. Họ bấm còi và vẫy tay, nhưng mặc dù hành khách trên xe thảy đều dán mắt nhìn chăm chăm, tay lái xe vẫn vờ như họ không tồn tại. Eustace Conway không để bị người ta đi lờ đi đâu và nhất là anh không để lỡ chuyến xe khách đến Maine này. Thế nên anh bảo cô gái tạt chiếc xe - đang phóng với vận tốc bảy mươi lăm dặm một giờ - ngay sát dưới cửa sổ buồng lái chiếc xe khách. Eustace hạ cửa lánh bên cạnh ghế của mình phía sau, chui ra ngoài, đứng lên nóc chiếc xe con, một tay tóm lấy cái giá sắt trên nóc còn tay kia giữ chặt vé xe khách của hai người. Anh vẫy vẫy hai tấm vé trước mặt tay tài xế và không ngừng hò la vào gió, “Để chúng tôi lên xe!” “Đến lúc này,” Eustace nhớ lại, “tay tài xế quyết định có lẽ tốt hơn hết là nên dừng xe cho chúng tôi lên. Tất cả hành khách reo hò, và khi chúng tôi đi dọc lối đi thì một bà to béo kêu lên, ‘Trời ơi! Mấy cậu chắc đang đóng phim!’ ” Họ đến Maine rồi đi nhờ xe lên Bangor và nhận ra họ đã tới vùng này quá sớm trong năm. Những người qua lại cảnh báo họ thậm chí đừng nghĩ đến chuyện đi quá vành đai cây khi mặt đất đang dày tuyết và băng nặng trịch. Tất nhiên, họ bỏ qua lời cảnh báo mà thẳng tiến đến vùng núi trước khi bình minh ló rạng, và chiều hôm đó họ thấy một con đại bàng đầu trắng chao mình trong không khí mỏng tang lạnh lẽo, và thế là họ đang trên hành trình, sớm hơn những tay leo núi khác một tháng.

Đây là điều họ đã không tính trước được: họ không bao giờ có đủ thức ăn trên con đường mòn đó. Không bao giờ, không bao giờ, không bao giờ. Họ đói cồn cào. Họ đi bộ hai lăm rồi ba mươi dặm mỗi ngày mà hầu như chẳng ăn gì. Họ mang theo ít bột yến mạch, tất cả chỉ có thế. Mỗi người mỗi sáng làm một bát bột yến mạch. Frank thường húp đánh soạt khẩu phần ít ỏi của mình và rồi chằm chằm nhìn Eustace một cách khổ sở, trong khi đó Eustace nhấm nháp từng vảy bột như thể nó là một vuông sô cô la quý báu. Chặng đầu của chuyến đi họ thấy hầu như không có con vật nào trên đường mòn để săn; thời điểm này trong năm còn quá sớm nên các loài thú hãy còn chưa vượt qua vành đai cây mà lên tới độ cao này, đã vậy mặt đất đóng băng cứng ngắc, chẳng có bóng dáng một loài cây nào ăn được. Khi họ tới New Hampshire, sắp phát điên vì đói, Eustace phát hiện ra mấy con gà gô trong bụi cây. Anh rút một sợi dây dài luôn thủ sẵn trong túi quần ra, làm một cái thòng lọng có đường kính chừng hai mươi phân, quấn sợi dây quanh một cái que dài, rồi rón rén tiến lại gần con gà gô tiếp theo mà anh trông thấy. Anh thả cái thòng lọng vào cổ con gà, thít chặt sợi dây, chộp lấy và bẻ cổ nó. Frank kêu toáng lên, hò la, nhảy múa, ôm chầm và hôn hít Eustace trong khi con gà vẫn đang vẫy cánh phun máu xuống mặt tuyết trắng đóng băng. “Chúa tha tội,” Eustace nhớ lại, “nhưng chúng tôi đã ăn kiệt cả conà.” Họ ăn thịt nó; họ ăn óc nó; họ ăn chân nó; và, vẫn đói rạc, họ ăn nhẵn cả xương của nó. Bị cơn đói ghê người thôi thúc, họ trở thành những thợ săn tài ba. Eustace dạy Frank cách bắt chim bằng thòng lọng (tạ ơn trời đã ban cho anh kỹ năng này, một trò cũ Eustace vẫn thường chơi với Randy Cable), và cùng nhau họ sục sạo con đường mòn khi đi về hướng Nam. Họ cũng ăn cả tôm hùm đất, cá hồi, quả mọng, tầm ma, bất cứ thứ gì. Họ giết rắn chuông và mổ ruột xem liệu có thỏ con hay thức gì đó ngon bên trong không; họ ăn con rắn cùng bất kể thứ gì con rắn vừa ăn. Thậm chí có hôm Eustace còn hạ được một con gà gô đẹp mã bằng một hòn đá. Anh trông thấy con gà và thầm nghĩ, Mình cần xơi nó, rồi chộp lấy hòn đá gần nhất, liệng hòn đá, ghì con gà cho chết hẳn, và rồi ăn sạch con vật trời ban đó chỉ trừ lông.

Họ có bản năng của kẻ săn bắn và hái lượm. Thử làm điều đó ở cái nơi này là thật kỳ quặc, thật khó khăn: hành lang Đường mòn Appalachia xe cộ nườm nượp đã trơ trụi bởi bàn tay con người đến độ thức ăn khó kiếm hơn ở những khu rừng bình thường. Và Eustace biết rõ rằng nếu như người đi bộ nào trên Đường mòn Appalachia cũng đều vắt kiệt vùng đất này thêm nữa bằng cách làm những việc như anh đang làm thì rồi đây nơi này sẽ chẳng còn gì là môi trường nữa.) Ý thức được tất cả những điều này, và có lẽ cảm thấy hơi có lỗi vì đã khai thác thái quá một mảnh đất vốn đã bị khai thác thái quá, anh tiếp tục cuộc thử nghiệm. Anh biết rằng trong quá khứ hàng ngàn năm trước người nguyên thủy đã đi bộ qua những chặng đường dài dằng dặc, chỉ ăn những gì họ tìm được dọc đường, và anh tin chắc anh và Frank rồi cũng sẽ chịu đựng được. Nhưng niềm tin đó không thay đổi được sự thật là họ đang đói sắp chết. Họ ăn bất cứ thứ gì họ săn bắn, lượm nhặt, bới tìm được, hoặc đôi khi là đi cuỗm. Khi họ tới Công viên Bear Mountain ở bang New York, tình cờ họ lại hòa vào dòng người đi chơi ngày Quốc khánh mùng Bốn tháng Bảy, khi hàng trăm gia đình người Dominica và Puerto Rico đang tổ chức dã ngoại kỷ niệm. Đó là một đại yến cho Eustace và Frank. Họ hoa cả mắt khi phát hiện thấy thùng rác nào trong công viên cũng đầy ắp những chiếc hộp xinh xắn đựng nào com nào đậu nào thịt gà ăn dở cùng bỏng ngô và bánh ngọt. Hai anh chàng chẳng khác nào chú chuột Templeton giữa cảnh hội chợ liên bang trong cuốn Charlotte và Wilbur - một đôi động vật ăn tạp gặp chốn thiên đàng, hét toáng lên với nhau từ hai thùng rác cách xa nhau qua tiếng nhạc salsa ầm ĩ “Tớ tìm thấy cái đùi lợn muối còn nguyên này! Ôi trời ơi! Khoai lang!” Song không khi nào họ đói ăn cho bằng lúc ở Maine, khi họ rời đường mòn mấy ngày và vào ở trong một thị trấn nhỏ cùng với một gia đình nuôi con lợn cộng đồng ở sân sau nhà. Hệ thống nuôi con lợn cộng đồng này hoạt động theo cách mọi người trong thị trấn cho con lợn ăn đồ ăn thừa của nhà mình, rồi đến lúc mổ lợn thì họ lại tới để xẻ thịt để dành cho mùa đông. Frank và Eustace biết về phong tục thú vị này vào cái ngày bà chủ nhà nướng mấy cái bánh táo và đưa hai chàng trai một giỏ vỏ táo để mang ra sân sau cho lợn ăn. Ra đến bên ngoài, Frank và Eustace nhìn nhau, nhìn chỗ vỏ táo, và nói, “Tợp thôi.” Họ trốn ra sau nhà kho rồi nuốt trộm đống vỏ. Sau hôm đó, họ nhã nhặn ngỏ lời lãnh việc cho lợn ăn. Tới hôm nay, cả hai chàng trai sẽ thuật lại về trải nghiệm đó rằng những con người đáng mến ở thị trấn nhỏ bang Maine ấy rõ ràng là đã ném bỏ rất nhiều thức ăn tuyệt hảo, và con lợn cộng đồng đáng yêu đó chắc chắn đã không béo lên tẹo nào trong những ngày mà Eustace Conway và Frank Chambless ở đó.

Trên mọi phương diện, chuyến đi đó là một thắng lợi. Việc đi bộ, niềm vui thích, sự khám phá, sự thử thách, và sự khải ngộ - ngày nối ngày. Frank và Eustace đã tìm thấy trọn sự giao cảm ngày càng sâu đậm giữa họ, một cảm giác tình thân gần gũi. Họ có cùng quan niệm về tự nhiên và những điều sai lầm ở nước Mỹ, và cả hai người rất say mê nền tri thức và những giáo huấn của thổ dân da đỏ. Eustace có thể nói với Frank về những rắc rối với cha mình, còn Frank có thể nói cho Eustace nghe về những vấn đề với cha chính anh và về tình cảm của anh với cô bạn gái Lori. Hai chàng trai trẻ hết sức nghiêm túc, hoàn toàn không có cái vẻ khinh khỉnh ngạo đời, thờ ơ và lãnh đạm vốn đặc trưng cho cả thế hệ họ nói chung. Hai người không ngại ngần mở lòng cùng nhau. Họ thậm chí không ngượng ngùng khi bàn luận về Chúa. Cả hai đều sinh trưởng trong những gia đình theo dòng Baptist miền Nam, nơi lòng mộ đạo và trào lưu chính thống giáo là nền tảng mặc định. Ông ngoại của Eustace, Tư lệnh Johnson là một tín đồ Thiên Chúa giáo kiên định, một con người đức hạnh mãnh liệt đến mù quáng, và mẹ Eustace luôn cố truyền những đức tin ấy sang cậu con trai đầu lòng. Khi còn nhỏ Eustace đã rất nổi bật trong các sinh hoạt giáo hội. Anh là sao mai của lớp học giáo lý ngày Chủ nhật ở nhà thờ - thông minh, ham hiểu, chuyên tâm. Anh luôn luôn là con chiên ngoan đạo của Chúa. Eustace vô cùng thích thú ý niệm Chúa đi vào ngôi đền của những người cho vay và “lật nhào tất tật mấy cái bàn khốn kiếp”[1] và anh đặc biệt thích chỗ Chúa Cứu thế đi sâu vào rừng thẳm để tìm kiếm những câu trả lời lớn. [1] Hằng năm có rất nhiều người khắp nơi trên thế giới hành hương về Jerusalem dâng tế lễ. Tương truyền những kẻ trông coi ngôi đền thiêng ở đây đã không chịu nhận tiền ngoại quốc và bắt người nước ngoài đổi hoặc vay với giá cắt cổ. Chúa đã hiển linh, tiến vào đền hất tung mấy chiếc bàn bọn chúng đang ngồi, đánh đuổi chúng ra ngoài để bảo vệ sự sạch sẽ của ngôi đền và quyền lợi của mọi người hành hương.

Nhưng khi lớn lên, anh trở nên vỡ mộng với giáo đoàn và ban hành giáo ở nhà thờ anh đi lễ. Anh nghe thấy mùi giả tạo và sự lừa dối ở khắp nơi. Anh vẫn ngồi giữa bố và mẹ mỗi Chủ nhật khi họ cúi đầu tiếp nhận bài thuyết giảng đạo đức giả. Chủ nhật này qua Chủ nhật khác, Eustace dần dà buồn bã nhận ra trò này mới phờ phỉnh làm sao, và sự tương phản giữa hình ảnh công khai này về sự hòa hợp gia đình thiêng liêng và sự thực về mối bất hòa gia đình là thật kinh khủng - một mối bất hòa cay nghiệt đã được đóng gói trong hộp kín vào mỗi ngày của Chúa để không quấy rầy hàng xóm láng giềng. Không lâu sau, anh bắt đầu nhìn khắp lượt những gia đình có vẻ thánh thiện khác đang yên vị trên ghế nguyện, thảy đều phục sức lịch lãm, đầu cúi thấp, và anh không thể không tự hỏi có những chuyện kinh khủng nào ẩn giấu đằng sau những lời thánh ca họ hát. Anh cũng ngày càng bất đồng với cái vòng cầu nguyện-phạm tội-sám hối-cầu nguyện-phạm tội-sám hối-cầu nguyện-phạm tội-sám hối. Dường như đối với anh, cái vòng luẩn quẩn này chẳng là gì khác hơn một thứ đạo đức giả. Ta phạm tội; ngay lập tức ta được tha thứ; ta đi ra ngoài gây thêm tội lỗi, sẵn biết ta sẽ lại được tha thứ thôi. Anh thấy điều này thật ngớ ngẩn, hèn yếu, rẻ mạt. Sao lại có cái ý niệm mặc định rằng con người sinh ra để phạm tội cơ chứ? Eustace tự hỏi, nếu con người thực sự trân trọng Kinh thánh thì tại sao họ không tuân thủ những lời huấn thị rõ ràng trong đó mà thôi không nói dối, lừa bịp, trộm cướp, sát nhân và đàng điếm nữa? Người ta cần phải đọc Mười Điều răn của Chúa bao nhiêu lần thì mới chịu sửa mình? Thôi phạm lỗi đi! Hãy sống theo cách ta đã được chỉ dạy! Khi đó ta sẽ chẳng phải tới nhà thờ mỗi Chủ nhật để quỳ khóc ăn năn. Và ta sẽ có thêm bao nhiêu thời gian dạo ngoài rừng, nơi mà theo Eustace tin thì “chỉ có sự thật - không gian dối, không vờ vĩnh, không ảo tưởng, không đạo đức giả. Chỉ có một mảnh đất tuyệt nhiên chân thật, nơi muôn loài được cai trị bởi một hệ thống luật lệ hoàn hảo chưa từng và sẽ không bao giờ thay đổi.” Tất nhiên bởi thiên hướng và sức mạnh cá nhân của Eustace, chẳng bao lâu anh thôi không đi nhà thờ nữa mà bắt đầu tìm kiếm câu trả lời của chính mình. Suốt thời niên thiếu, anh miệt mài nghiên cứu mọi tôn giáo mà anh có thể tìm ra, giữ lại những bài dạy của Thiên Chúa giáo mà anh thích và bồi đắp thêm những phần hay của các tôn giáo khác. Anh đặc biệt hứng thú với những lễ hội tình yêu thăng hoa của người theo giáo phái Sufi cổ thần bí, trong khi con người đòi hỏi sự tập trung tuyệt đối trong anh theo bản năng lại hưởng ứng nguyên lý trung tâm của Phật giáo - cụ thể là, con người chỉ đạt được đại giác thông qua thường xuyên duy trì giác niệm. Anh thích quan điểm Lão giáo rằng con người nên “hành như thủy”, nên chảy vòng qua những bề mặt cứng, biến thể để phù hợp với các hình dạng của tự nhiên và nhẫn nại bào mòn đá. Anh thích những bài học tinh thần trong võ thuật phương Đông, lấy nhu chế cương để đối phương tự thương vong mà mình không tốn sức.

Trong hầu hết mọi tôn giáo anh đều tìm thấy điều gì đó để gìn giữ, và anh sẽ nói với bất kỳ ai (tín đồ giáo hội Mormon, người theo phái Chứng nhân Jehovah, các tín đồ An giáo ở sân bay) về Thượng đế. Tuy nhiên trên tất cả, tinh thần của các bộ tộc thổ dân bản địa Mỹ được Eustace hưởng ứng trọn vẹn hơn cả. Anh đã thấm nhuần tinh thần này thông qua tiếp xúc với các thủ lĩnh thổ dân Mỹ địa phương anh từng gặp tại Viện bảo tàng Scheile và thông qua nghiên cứu ngành nhân học. Anh hoàn toàn tán thành ý niệm rằng Thượng đế - đúng hơn là thần tính - tồn tại ở trong mọi sinh linh trên hành tinh này, và mọi thứ trên hành tinh này đều là một sinh thể. Không chỉ động vật mà cả cây cối và không khí và thậm chí đất đá, tất cả mọi thứ đều đã có từ ngàn xưa và thiết yếu tồn tại. Và đây là điểm giao thoa tín ngưỡng của Eustace và Frank, người bạn đồng hành của anh trên Đường mòn Appalachia: họ cùng tin rằng Thượng đế chỉ tồn tại trong tự nhiên. Điều đó quả thực chính là nguyên do tại sao họ làm cuộc hành trình trên đường mòn ấy, cách tốt hơn để tìm kiếm thần tính trong bản thân họ và trong thế giới rộng lớn hơn. Cả hai chàng trai không ngại ngần nói về thần tính đêm này qua đêm khác. Hay tối tối lại lôi tẩu thuốc kiểu thổ dân mà họ tự làm ra để vừa hút vừa cầu nguyện, giao kết với nhau thông qua niềm tin chung rằng tẩu thuốc là phương tiện của người cầu nguyện và khói thuốc chẳng qua là sự biểu đạt thiêng liêng cái họ đang dâng lên vũ trụ. Họ biết rằng một số người có thể cho ý tưởng hai thanh niên da trắng đang cầu nguyện với cái tẩu thuốc thổ dân da đỏ là rất ngớ ngẩn hay thậm chí xúc phạm, nhưng Eustace và Frank không đơn thuần đang đóng vai thổ dân - họ đang tiệm cận nhân tính của mình, sống một cách cường liệt nhất trong khả năng mình, cùng nhau đối diện những điều khai trí và thách thức mỗi ngày. Và, vượt trên tất cả mọi thứ, sự gắn bó tri kỷ này chính là điều Eustace trân trọng nhất trong chuyến đi. Thế rồi, ở Pennsylvania, Eustace Conway gặp một cô gái.

Cô tên là Donna Henry. Cô mười chín tuổi, là sinh viên ở Pittsburgh, cô và Eustace tình cờ gặp nhau ở chặng Pennsylvania trên Đường mòn Appalachia. Donna đang đi bộ nhân dịp nghỉ cuối tuần cùng với dì và em họ, cuộc hành trình nho nhỏ của họ đang trở nên vô cùng tồi tệ bỏi vì dì và em họ cô kiệt sức trong khi họ lại mang theo quá nhiều thức ăn cùng với đồ dùng trong ba lô. Thế nên, giây phút Donna Henry và Eustace nhìn thấy nhau, cô không đi bộ mà đang ngồi bên đường mòn để nghỉ ngơi theo yêu cầu của những người thân đi cùng. Cô ngồi đó, cố bỏ ngoài tai tiếng than vãn của dì và em họ những là chân nhức rồi lưng đau, và Eustace Conway xuất hiện. Đến lúc đó thì Eustace đã bắt đầu vứt bỏ bất kỳ thứ đồ gì mang theo mà anh cho là vô dụng. Khi anh đi xa về phía Nam và tới gần Georgia hơn, anh trở nên mệt mỏi vì phải mang đồ đạc, thế nên - hành động theo nguyên tắc cũ mà anh yêu thích “hiểu biết càng nhiều, nhu cầu càng ít” - dần dần anh tống khứ mọi thứ ngoại trừ chiếc túi ngủ, một con dao, mấy sợi thừng và một cái nồi nhỏ. Anh còn vứt cả một số quần áo. Anh hoàn thành chặng đường một nghìn dặm cuối cùng của cuộc hành trình mà không mặc gì ngoài hai tấm khăn tay buộc vào nhau để che chỗ kín. Anh thậm chí chẳng giữ lấy một chiếc áo khoác để giữ ấm. Khi đi thì anh không thấy lạnh; khi không đi thì anh ngủ. Khi trời mưa, anh trùm lên người một cái túi ni lông. Khi anh thấy oải với bước chân buồn tẻ của bản thân (dù là bước chân của một người ngốn tới gần ba mươi dặm đường mỗi ngày), anh liền vận hết tốc lực chạy dọc đường mòn. Thế nên đây là hình ảnh dần dần xuất hiện trước mặt Donna Henry ngày hôm ấy trên đường mòn: một con người hoang dã, gầy, da nâu, râu ria bờm xờm, gần như trần trụi, đi giày đế mềm, đang phóng từ rừng ra như con chó sói. Anh rõ là rất gầy, nhưng cuồn cuộn cơ bắp. Anh có khuôn mặt thật xuất thần. Anh ngừng chạy khi trông thấy Donna. Cô chào. Eustace chào. Rồi anh nở nụ cười tuyệt trần, và Donna cảm thấy dì cùng em họ cô và chiếc ba lô nặng trĩu đều biến mất trong vầng hào quang của nụ cười đó, tất cả được thế chỗ bởi một điều hiển nhiên là từ nay cuộc đời cô sẽ không bao giờ còn như trước nữa.

Tôi có thói quen suy đoán về đời sống tình dục của từng người tôi gặp. Cứ xem đó là một cái thú; cứ xem đó là một sự lệch lạc - tôi không tự bào chữa. Tôi đang nói sự thật. Tuy nhiên, tôi phải thú nhận rằng sau mấy tháng trời suy ngẫm về con người Eustace Conway tôi mới chớm nghĩ đến khả năng anh thực sự có thể là một sinh vật có nhục cảm. Đặc biệt khi so sánh với Judson em trai anh, một sinh vật tuyệt đối thuộc về nhục cảm, Eustace có vẻ như vượt lên trên cái thứ vật chất thường tình trần tục như thế. Làm như anh chẳng cần tới nó. Lần đầu tôi gặp cả hai anh em, tôi để ý thấy sự tương phản tột độ đó. Kia là Judson ở quán bar tại East Village, tán tỉnh và khiêu vũ với mọi cô gái đi qua tầm mắt anh, còn kia là Eustace, ngồi ngay ngắn trong góc, nhiệt tình kể với tôi về niềm vui thú được uống nước thẳng từ lòng đất, về chuyện phẩm tính của ánh nắng xuyên qua tán cây vùng Appalachia làm thay đổi hóa chất trong cơ thể con người, về chuyện chỉ những người sống trong rừng hoang mới có thể nhận ra chân lý trung tâm của sự tồn tại, ấy là cái chết luôn luôn tồn tại ngay bên cạnh ta, gần gũi và ràng rịt như chính sự sống, và thực tế này chẳng phải điều đáng sợ mà là một chân lý thiêng liêng đáng để ngợi ca. Tôi là Thầy của Nhân loại, anh dường như muốn nói vậy khi anh trôi ra khỏi thế giới của bản thân mà vãng lai trên đầu chúng ta. Tôi sinh ra để người ta tin tưởng và nghe theo chứ không phải để được yêu đương…

Và suy cho cùng, anh quả đã tắm trong những dòng suối lạnh ngắt, thế nên toàn bộ vấn đề nhu cầu tình dục này trở nên hơi khó nắm bắt đối với anh. Tuy nhiên - và đây là điều tôi lưu tâm nhất - Eustace Conway biểu hiện như một trang nam nhi anh kiệt kiểu sử thi Mỹ, mà toàn bộ ý niệm về tình yêu lãng mạn hay xác thịt lại là một thứ tuyệt nhiên không tồn tại trong sử thi nam nhi Mỹ cổ điển. Như nhà văn Leslie Fielder chỉ ra trong pho sách có ảnh hưởng sâu rộng của mình Tình yêu và cái chết trong tiểu thuyết Mỹ, người Mỹ chúng ta là dân tộc lớn duy nhất trên thế giới có nền văn hóa không bao giờ xem tình yêu lãng mạn là một quy tắc thiêng liêng. Thế giới còn lại có Don Juan; chúng ta có Paul Bunyan. Không có chuyện tình nào trong Moby-Dick[2]; Huckleberry Finn[3] không có được người con gái khi câu chuyện khép lại; John Wayne[4] không bao giờ nghĩ tới chuyện từ bỏ lưng ngựa lấy những ràng buộc của một bà vợ; còn Davy Fuckin' Crockett thì không hẹn hò. ác phẩm nổi tiếng của nhà văn Mỹ Herman Melville (1819-1891), xuất bản năm 1851. Câu chuyện kể về cuộc phiêu lưu của người thủy thủ Ishmael trên con tàu đi săn con cá voi đặc biệt tên là Moby-Dick.

[3] Nhân vật chính trong tác phẩm trứ danh Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn của nhà văn Mỹ Mark Twain (1835-1910). [4] John Wayne (1907-1979): một trong những diễn viên vĩ đại nhất lịch sử điện ảnh Mỹ, từng đoạt giải Oscar. Ông nổi tiếng với hình ảnh cao bồi miền Tây. Ông kết hôn ba lần. Cho dẫu những người đàn ông này đã trải qua xung đột nào và thực hiện bước tiến nào đi chăng nữa, họ đều luôn luôn trong sự đồng hành với thiên nhiên, tình yêu chung thủy duy nhất của họ, và hoặc chỉ tự mình mình hoặc với sự giúp sức của một cậu bạn tri kỷ cẩn tín. Phụ nữ là để ta cứu nguy, cũng để ta nghiêng mũ chào khi ta phóng ngựa vào hoàng hôn bỏ lại họ đằng sau. Và đôi khi điều này dẫn đến một tình thế rất lạ đời - đó là, trong khi hầu hết các nền văn chương thế giới đều mô tả phụ nữ giữ gìn cẩn trọng trinh tiết thiêng liêng, thì trong những câu chuyện anh hùng của người Mỹ, đàn ông cũng thường gìn giữ sự trinh bạch từ đầu chí cuối như thế.

Hãy xem xét, như một ví dụ trong sách giáo khoa, Người săn nai của James Fenimore Cooper[5]. Đẹp trai, thông minh, dũng cảm, đáng mơ ước, thế nhưng anh chàng Natty Bumppo chẳng bao giờ lấy vợ, bởi nếu kết hôn anh sẽ phải từ bỏ cuộc sống hoàn toàn một mình ở ven vùng biên, nơi anh luôn được tự do. Không chỉ không lấy vợ, Người săn nai còn có vẻ chẳng hứng thú gì với phụ nữ. Khi Judith Hutter, nhân vật nữ vô cùng xinh đẹp, can đảm và mạnh mẽ, gần như buông tấm thân mảnh dẻ, ngăm đen, với đôi mắt sáng rực xuống chân anh ta, anh lịch sự từ chối lời mời mọc ấy, mặc dù anh đã sống trên núi mà không có phụ nữ bầu bạn trong suốt một khoảng thời gian dài dằng dặc. Anh tuyên bố rằng anh sẽ luôn tôn trọng cô gái và sẽ luôn sẵn sàng có mặt để cứu mạng cô nếu cô cần đến anh. [5] James Fenimore Cooper (1789-1851): nhà văn Mỹ nổi tiếng. Người săn nai là tác phẩm lớn. Judith tất nhiên là không hiểu nổi. Trang anh hùng hoang dã quấn tấm da hoẵng này là một người đàn ông mới bí ẩn làm sao! Thật khác xa những tay đại úy bảnh bao sinh trưởng ở thành thị sống trong các trại lính lân cận, ưa tán tỉnh và khiêu vũ! Cô gái thậm chí còn ngỏ lời được sống giữa rừng cùng Natty trọn đời, cách biệt những tiện nghi của văn minh, thế mà anh vẫn khước từ cô. Người săn nai chưa bao giờ biết đến tình yêu sao?

“Vậy thì người yêu của anh ở đâu hở, Người săn nai?” Judith muốn biết, cố hiểu cho được sự tình. “Nàng ở trong rừng kia, Judith ạ,” Người săn nai trả lời (với một lối nói không chỉ điển hình cho mối quan hệ của người đàn ông Mỹ sử thi này với phụ nữ và với môi trường tự nhiên, mà còn điển hình cho thứ văn phong thực sự dở tệ), “treo mình trên những nhánh cây, trong cơn mưa dịu - giữa làn sương trên đám cỏ thưa - trong vầng mây trôi lang thang giữa trời xanh thẳm - chim chóc hót ca trong rừng - những dòng suối ngọt lành nơi tôi giải khát - và trong tất cả món quà tuyệt diệu khác trời ban!” “Ý anh là cho tới tận giờ anh chưa từng yêu cô gái nào mà chỉ dành yêu những nơi anh qua cũng như cách sống của chính mình hơn hết?” Judith hỏi. (Phụ nữ trong những tiểu thuyết kiểu này đôi khi có thể hơi chậm hiểu nhưng họ rất được việc khi giúp trần tình vấn đề.)

“Chính thế - chính thế,” Người săn nai đáp lời. Và đến đó anh để cô gái Judith xinh đẹp lên đường mà thỏa cơn khát tại dòng suối ngọt lành của một chàng nào khác. Thế đấy. Tôi vốn đọc khá nhiều và cực kỳ dễ bị ảnh hưởng. Ai có thể trách cứ tôi khi ban đầu đã tưởng tượng Eustace Conway là người giống với Natty Bumppo, Người săn nai? Hai người còn trông giống nhau nữa (“mang giày da đanh, cao trên mét tám, nhưng thân hình lại khá nhẹ nhàng và mảnh dẻ, lộ ra cơ bắp cuồn cuộn hứa hẹn sự lanh lợi phi thường”) và cả cách ăn mặc cũng giống nhau. Và Eustace, xin nhớ, thường viết cho tôi những lá thư đầy những thông tin quyến-rũ-mà-trong-sáng kiểu như “Bình minh ló rạng khi tôi đang nhìn xuống con ngựa đã thắng yên của mình từ trên ngọn cây anh đào trĩu trái chín - trong miệng, trên tay đầy ắp quả - và còn bao nhiêu quả nữa để hái.” Phải chứ, thiên nhiên hoang dã hẳn là tình yêu duy nhất của Eustace và là tặng phẩm trời ban duy nhất anh cần.

Ồ, tôi lầm rồi. Kia là Eustace Conway trên Đường mòn Appalachia năm 1981, tương ngộ Donna Henry. Donna với vẻ ngoài hết sức dễ thương, thân thiện và khỏe khoắn, thu hút ánh mắt Eustace, và ngược lại. Có tiếng chào, rồi nụ cười. Donna không hiểu tại sao anh chàng lại quấn hai chiếc khăn tay nhưng cô lập tức mê mẩn, mời anh ăn. Cô mời Eustace ăn phần là để giữ chân anh lâu hơn, bởi vì ngay tức thì anh đã hớp hồn cô; phần vì cô muốn nhẹ bớt túi đồ của bà dì hay than thở và đứa em họ ưa kêu ca. Bất kể cô đưa cho Eustace món gì anh cũng ăn sạch. Anh ăn như chẳng biết no, như thể anh sắp chết đói. Mà quả có thế thật. Khi anh bảo anh phải đi lấy nước, Donna nói, “Em cũng thế!” rồi họ cùng đi một dặm tới con suối gần đó trong khi anh kể về những câu chuyện phiêu lưu anh đã trải qua trong chuyến bộ hành kể từ Maine. Quá say mê, Donna Henry mời anh lưu lại đêm đó dùng bữa tối cùng cô và hai mẹ con nhà dì. Một lần nữa, anh ăn sạch sành sanh đồ họ mời, vừa ăn vừa kể thêm về những hành động phiêu lưu táo bạo, về chiếc lều vải và lối sống nguyên sơ của anh.

Donna bảo họ cũng sẽ rất vui nếu Eustace cắm trại cùng họ đêm đó. Eustace nhận lời, rồi khi bầu trời êm ả tối thẫm lại và đống lửa êm ả cháy liu riu, Eustace luồn vào lều Donna và áp tấm thân dài mảnh dẻ lên người cô. Và thế là cô được Eustace săn sóc. Ngày hôm sau, giờ đã chính thức yêu nhau, Donna tiễn dì và em họ rời đường mòn cùng với tất cả đồ đạc của họ, rồi cô đi bộ hai mươi lăm dặm tiếp theo cùng với Eustace. Cô rất sung sức - mùa hè năm trước cô đã hành quân cùng một số bạn cùng đại học - thế nên cô bắt kịp anh chẳng khó khăn gì. Họ vừa đi vừa nói chuyện, cùng ăn quả mọng hái ngay trong bụi cây, và Eustace dạy cô về mọi loài cây và đá và cành nhánh mà họ đi ngang qua dọc đường. Đến cuối đoạn đường, Donna phải trở về với cuộc sống thực ở Pittsburgh, nhưng cô không muốn rời xa. Eustace nói với cô họ rất hợp cạ, và cô tán thành - phải, chính thế! Mà thời điểm cũng tuyệt vời luôn. Bởi vì hóa ra Eustace sắp mất người ạn đồng hành. Frank Chambless đang chào từ biệt chuyến đi vì anh chàng nhớ cô bạn gái Lori da diết, và Frank cảm thấy ngay lúc này anh có cơ hội để đưa tình yêu giữa họ tiến triển, chỉ cần anh dừng cuộc đi bộ lại và dành hết tâm huyết làm hòa với cô. Eustace hiểu và chấp nhận lời xin lỗi cáo từ tha thiết của bạn. Tuy nhiên anh thấy vô cùng tiếc nuối khi mất đi người bạn đồng hành vào lúc họ vẫn còn 1.000 dặm phải hoàn thành. Thế nên - tất nhiên rồi - thấy Donna là một người đi bộ tuyệt vời (chưa kể còn là cô bạn-cùng-lều quyến rũ), anh nghĩ ra một ý hay. Anh hỏi Donna xem liệu cô có muốn gặp anh ở Virginia trong vài tuần nữa và nhập cuộc bộ hành chăng. Cô hết sức sẵn lòng. Donna Henry, vào thời điểm ấy, hẳn sẽ vui sướng nhận lời đi bộ tới tận Islamabad để được gặp lại Eustace Conway.

Mấy tuần sau, mang theo ba lô và túi ngủ, nửa đêm cô đón xe buýt đi về phía Nam để gặp anh. Mẹ cô giận dữ vì cô tự nhiên nổi hứng bỏ nhà đi với một gã gầy còm quấn trên mình hai cái khăn tay đến nỗi bà còn không thèm chào tạm biệt. Ô, thật khắc nghiệt. Người ta bước sang tuổi mười chín để đón nhận những điều như thế. Đây là điều Donna tưởng tượng về cuộc bộ hành trên Đường mòn Appalachia với Eustace Conway - lại trò chuyện và đi bộ và hái quả mọng và quan sát tự nhiên và chuyện tình lãng mạn, cứ thế suốt quãng thời gian còn lại. Thế rồi quả nhiên, ngày thứ nhất của cuộc bộ hành, Eustace thực sự ở bên cô, anh dạy cô rất nhiều điều về cây cỏ lá hoa. Nhưng đến sáng ngày thứ hai của hành trình, anh dậy sớm mà nói, “Hôm nay anh sẽ đi trước em. Anh muốn hoàn thành ba mươi dặm. Anh sẽ gặp em ở điểm cắm trại để ăn tối.” Thế là họ không bao giờ đi cùng nhau nữa. Ngày nối ngày, cô không nhìn thấy anh trên con đường. Anh lên đường từ lúc bình minh và cô sẽ đi theo sau. Mối liên lạc duy nhất của họ là những lời nhắn hướng dẫn ngắn gọn anh để lại cho cô dọc con đường: “Donna - rẽ trái đi xuống 6 mét sẽ có nước. Chỗ này nghỉ ngơi tốt đấy.” Hay, “Anh biết đoạn này leo trèo rất vất vả - em giỏi lắm!”

Hằng đêm, khi khuya muộn, cô bắt kịp anh tại gian trại anh đã cắm sẵn cho họ. Họ ăn bất cứ thứ gì săn được hoặc bới móc được hoặc thức ăn thối rữa xung quanh rồi đi ngủ. Thỉnh thoảng Eustace thức khuya mà kể say sưa suốt đêm về hoài bão thay đổi thế giới của anh, điều mà Donna rất thích nghe. Cô chẳng khi nào thấy hạnh phúc hơn những khoảnh khắc ấy, có lẽ trừ lúc Eustace tự hào nói với cô rằng cô là “cô gái Ý nhỏ nhắn dẻo dai” của anh. Tất cả mọi điều thuộc về thiên nhiên này đều mới mẻ đối với Donna (có lần cô hỏi Eustace, khi họ đi ngang qua một bầy gia súc giữa đồng cỏ trên núi, “Này, bò hay ngựa kia vậy anh?”), nhưng cô sẵn sàng tiếp nhận và chơi hết mình. Một hôm, sau khi đi hai mươi lăm dặm, họ ăn tối cùng nhau vào lúc vầng dương đang lặn và bầu trời trông tuyệt đẹp. Donna nói, “Này, Eustace, ta chạy lên ngọn núi kia ngắm mặt trời lặn đi!” Sau hai mươi lăm dặm đường! Đúng như anh thường bảo, cô là “một bức tượng cơ bắp rắn rỏi” đồng thời cũng là một người bạn đồng hành không bao giờ gây cản trở. Không có việc gì cô không làm để có thể theo kịp chàng trai của cô. Hơn nữa, Donna tin vào mọi giấc mơ Eustace Conway ấp ủ và muốn giúp anh đạt được. Cô được anh truyền cảm hứng và tiếp sinh lực. Khi ban mai hé rạng, anh sẽ vút đi trước cô trên con đường mòn, và cô lại sẽ đi theo mà không do dự hay hoài nghi - và đó, Donna giờ đây vẫn nói, “chính là biểu tượng của mối quan hệ ấy.” “Tôi cứ bám lấy mối quan hệ đó,” cô nhớ lại. “Tôi bị cuốn theo sau anh như một từ lực, đi bộ hai lăm, ba mươi dặm mỗi ngày. Tôi gầy còm tong teo nhưng vẫn háo hức cho anh thấy mình có thể theo kịp. Tôi yêu người con trai ấy vô cùng. Tôi muốn theo anh tới cùng trời cuối đất.”

Khi hồi tưởng lại về chuyến đi xuôi Đường mòn Appalachia ấy, Eustace Conway không mường tượng đến Donna Henry hay Frank Chambless. Tuy anh hào phóng trao cho các bạn đồng hành phần thưởng xứng đáng cho việc họ cần mẫn đi mà chẳng bao giờ than phiền, song những gì anh nhớ nhất về những tháng tuyệt vời trong rừng đó lại là hình ảnh chính anh, một mình. Rốt cuộc - một mình. Xa khỏi mái nhà, xa khỏi tầm kiểm soát của người cha và cuối cùng đã được sống theo cách của mình. Anh nhớ đôi chân mình đau tới mức nước mắt chảy đầm đìa trên mặt trong khi đi, nhưng anh không bao giờ dừng bước, bởi vì từ khi còn nhỏ anh đã tự dạy mình chịu đựng nỗi đau thể xác như một chiến binh da đỏ. Anh nhớ bao nhiêu lần anh bị mất nhiều nước đến hoa cả mắt. Anh nhớ mình đã đi bộ vào thị trấn Pearisburg, Virginia nằm ngay dọc con đường mòn, có một nhà trọ và một cửa hàng tạp hóa. Đã đói khát quá lâu rồi thế nên anh quyết định - kinh đây - đãi mình một bữa ra trò. Một bữa ăn thực sự, được trả bằng Mỹ kim, chứ không một bữa ăn cứu đói chết tiệt với một con thỏ con chưa tiêu hóa hết mượn ở dạ dày của một con rắn chuông. Những thứ anh mua gồm có: “Quả dưa đỏ chín nhất, to đẹp nhất trần đời. Tôi mua một rổ trứng hai mươi lăm quả. Không phải trứng nhỏ đâu nhé. Trứng vừa vừa cũng không. Trứng to cũng chả phải. Mà là cực to. Tôi mua ổ bánh mì lớn nhất có thể kiếm được. Tôi mua một bình sữa tướng và một thùng sữa chua. Tôi mua một khoanh bơ thực vật, một tảng pho mát và một củ hành to tướng. Rồi tôi vào gian bếp của nhà trọ, tôi phi hành với bơ và trộn chỗ trứng đó làm một đĩa ốp lết khổng lồ rồi phết nửa tảng pho mát lên. Tôi ăn món ấy. Rồi tôi nướng từng lát bánh mì lên và phết chỗ pho mát còn lại lên lát bánh mì nướng. Tôi uống cạn bình sữa. Rồi tôi ăn sữa chua. Sau đó tôi ăn quả dưa chín mọng đẹp tuyệt trần. Khi tôi ăn xong, tất cả thức ăn đã trôi vào bụng, thế mà tôi vẫn chưa hẳn no nê. Tôi chỉ cảm thấy thỏa mãn lần đầu tiên trong suốt nhiều tháng qua. Tôi cảm thấy, Thế đấy, giờ thì cuối cùng mình đã có đủ đồ ăn.”

Anh nhớ một ngày dài nữa ở Virginia, đêm muộn hôm đó anh vẫn còn đi bộ vì phải hoàn thành cho xong số dặm đường phân chia cho mỗi ngày, anh đang đi dọc con đường tối mù tối mịt ở một miền quê vô cùng thôn dã. Ấy là đêm thứ Sáu, thế nên tất cả dân quê trong vùng đánh xe tải chạy lòng vòng, nghe nhạc, uống rượu và hướng đến chỗ tụ tập tiệc tùng. Họ cứ dừng xe lại để xem Eustace đi đâu. “Lên xe không chàng trai?” đám trai quê miền Nam cất tiếng hỏi. “Không, cảm ơn,” Eustace trả lời.

“Anh đi từ đâu tới vậy?” “Maine.” Câu trả lời đó chẳng gây ấn tượng là bao với các cậu trai quê miền Nam.

“Ờ, thế anh đi tới đâu?” “Georgia,” Eustace trả lời họ, và tới đây thì đám thanh niên tỏ ra kinh ngạc cực độ, hét toáng lên không tin nổi. “Chàng điên này đang cuốc bộ thẳng cánh tới Georgia!”

Rõ ràng là họ ừng nghe tới địa danh Maine. Rồi, thương cảm Eustace, họ cho anh một chai bia rồi vút đi. Eustace đi bộ một mình trong bóng tối, uống bia, ngâm nga một mình và lắng nghe tiếng râm ran của côn trùng đêm vùng Virginia. Khi anh uống hết chai bia, lại một chiếc xe tải nữa chở đám dân quê đi qua. “Lên xe không chàng trai?”

Và cuộc hội thoại ấy lặp lại, đúng từng từ một, dẫn đến câu kết của đoạn hài kịch. “Chàng điên này đang cuốc bộ thẳng cánh tới Georgia!” Eustace hoàn tất chuyến đi bộ trên đường mòn vào tháng Chín năm 1981, ngay sát ngày sinh nhật thứ hai mươi của anh. Anh mất bốn tháng rưỡi để hoàn thành cả hành trình. Anh viết cho chính mình một lá thư chúc mừng - một lá thư đầy xúc động mà người ta chỉ có thể viết vào sinh nhật thứ hai mươi của mình, thiết tha, tự hào và đầy kinh ngạc trước tầm vóc lớn lao của việc mình vừa hoàn thành. Mặt trời vừa lặn sau đỉnh núi và những chiếc bóng bắt đầu chơi ú tim trong rừng. Đây là đêm cuối trên Đường mòn Appalachia, “Một hành trình dài mãi mãi bất tử.” Tôi đã khởi hành từ khá lâu, tất cả dường như chỉ là mộng ảo. Cuộc đời của tôi đã thay đổi. Tôi đã trở thành một người đàn ông. Theo cách của thổ dân, tôi lấy một cái tên mới - đó là Người Săn Đại Bàng. Tôi đang hướng tới mục tiêu và phẩm hạnh cao nhất của Chúa tể các vị Thần Sáng Tạo[6]. Bao nhiêu câu chuyện tôi có thể kể. Tôi đã thấy bao miền đất, bao con người, tất cả thật khác nhau nhưng đều rất tuyệt vời. Tôi đã học cách cầu nguyện thường xuyên và đã đón nhận vô số tặng phẩm trời ban. Tôi tin Thượng đế đã giúp trù tính chuyến đi này trước cả khi tôi nghĩ đến nó... Lý do tôi chinh phục con đường mòn ban đầu rất đơn giản rồi dần trở nên sâu sắc hơn theo thời gian và trải nghiệm. Đầu tiên tôi muốn đến gần hơn với thiên nhiên theo một cách thức tuyệt đối lành mạnh, và thứ hai là để nhận chân chính mình rõ hơn. Tôi tin rằng tôi đã làm tốt cả hai điều này. Tôi vô cùng mãn nguyện. Tôi mong ánh sáng ban ngày sẽ cho tôi thêm sức mạnh để viết kỳ hết những suy tưởng này ra giấy nhưng màn khuya đang kéo đến và những chiếc bóng không còn rõ hình thù nữa. Lũ thú ăn đêm đã mò ra và tôi phải bước vào chu trình tôi đã chọn

Eustace R. Conway. [6] Nguyên văn “Winged Beings”: những hình ảnh được khắc họa trên các hang động cổ xưa, thường mang thân người, đầu thú, và có cánh. Truyền thuyết xem đây là những vị Thần Sáng Tạo. Và quả thực anh đã bước vào chu trình anh đã chọn. Mọi chuyến đi và thành tựu khác trong đời anh đều phát triển lên từ chuyến đi thành công này. Ví như, mấy tháng sau đó, khi Eustace đang ngồi trên chiếc bàn dã ngoại ở Bắc Carolina, lột da một con gấu mèo thì một chàng trai bước lại chỗ anh mà nói, “Cậu là Eustace Conway phải không? Lần cuối tớ thấy cậu là trên Đường mòn Appalachia, khi ấy cậu đang lột da một con rắn. Tớ nhớ đã trò chuyện với cậu về cuộc phiêu lưu vào vùng hoang dã.” Cậu thanh niên tự giới thiệu là Alan York, hai người nói chuyện một hồi, rồi Alan bảo, “Này, ta cùng đi bộ vượt Alaska nhé.” Eustace đáp, “Đi bộ vượt Alaska thì chắc không được đâu, nhưng chèo xuồng qua vùng đó thì tớ nghĩ chắc là được,” và họ làm đúng như thế. Eustace và Alan lướt từ đầu này tới đầu kia bang Alaska, vật lộn với con sóng giá băng hung dữ, trên đầu lũ cá trích, cá hồi, tảo bẹ và cá voi chưa đầy nửa gang tay.

Sau chuyến đó thì đi vào vùng nông thôn Mexico để nghiên cứu nghề gốm và đan dệt liệu có gì là khó khăn nữa? Và cuộc hành trình thành công tới Mexico ấy cho chàng trai trẻ quả cảm này sự vững tin để bay tới Guatemala, bước xuống máy bay là hỏi, “Người nguyên thủy sống tập trung ở đâu?” Tuy nhiên, tất cả đều khởi nguồn từ Đường mòn Appalachia. Và hình ảnh Eustace hay mường tượng đến nhất khi anh nghĩ về thời mười chín tuổi trên Đường mòn Appalachia chính là khoảnh khắc ấy, một khoảnh khắc anh sẽ luôn luôn xem như niềm hạnh phúc lớn lao nhất đời mình. Lúc đó anh đang ở New Hampshire. Anh đã rời Maine để tới được đó mà không chết đói hay chết rét. Anh leo lên một đỉnh núi. Ngút tầm mắt anh thấy ánh ban mai hồng rực đẹp tuyệt vời bao phủ tuyết, băng và đá. Bao la nhất sắc. Khung cảnh điển hình của dãy White Mountain vào cuối đông. Theo năm tháng, Eustace sẽ đi tới bao nhiêu miền đất thú vị hơn nơi đây, và anh sẽ được chiêm ngưỡng nhiều quang kỳ vĩ trên thế giới, từ Alaska tới Úc tới Arizona, thế nên có lẽ đây không phải là cảnh đẹp nhất anh thấy. Mà khoảnh khắc này cũng không mãnh liệt và rạo rực bằng khoảnh khắc anh sẽ trải nghiệm mấy tháng sau đó khi anh kết thúc chặng đường mòn, xuống tới Georgia, nơi anh liên tục được hùng hồn trình bày “bao nhiêu câu chuyện tôi có thể kể”. Nhưng quang cảnh này vẫn tuyệt hơn. Bởi vì đây là phông nền cho khoảnh khắc khi Eustace Conway lần đầu tiên nhận thức được rằng anh đang tự do. Anh là một người đàn ông, và anh đang ở đúng nơi anh muốn ở, đạt tới điều anh luôn biết mình có thể đạt tới nếu bản thân anh tự quyết. Anh trở nên khiêm nhường hơn, phúc lạc hơn, giản dị hơn, thanh khiết hơn và được cứu thoát nhờ khoảnh khắc này bởi vì nó nắm giữ sự thật rằng - xa tận trên dãy núi hùng vĩ này - cha anh hoàn toàn khuất tầm mắt. Cha anh không thể chạm đến anh nữa. Không ai có thể chạm đến anh nữa. Không ai còn có thể điều khiển anh và không ai còn có thể phạt anh nữa. Eustace đứng đó, ngây ngất hoan hỉ, chìm đắm trong sự kỳ diệu. Anh thấy mình như vừa bước ra khỏi một đám linh toan khai hỏa xử bắn anh nhưng súng đều bị tịt nòng, anh đang kiểm tra thân thể mình tìm vết đạn nhưng chẳng thấy vết nào. Hương vị không khí thật ngọt lành, anh có thể nghe được tiếng tim mình đập và anh cười vang, cười mãi vì nhận ra mình còn nguyên vẹn.

Đó là khoảnh khắc viên mãn nhất trong đời Eustace Conway, bởi vì đó là khoảnh khắc khi lần đầu tiên anh thấu hiểu cảm giác mình vừa được sống sót..