Hôm nay bạn muốn đọc gì?

Nụ hôn của Casanova - Chương 19

el.

Hắn biết tất cả về mình! Chương 26 Bác sĩ Kate McTiernan ngủ thiếp đi. Tỉnh dậy. Lại ngủ thêm chút nữa. Cô tự chế giễu mình. Gọi mình là “cô nàng lười nhác”. Cô không bao giờ ngủ nướng. Từ trước khi vào trường y cũng vậy.

Cô dần cảm thấy đầu óc sáng suốt và tỉnh táo, kiểm soát được bản thân hơn, ngoại trừ việc mất khái niệm về thời gian. Cô không biết lúc này là buổi sáng, buổi chiều hay ban đêm. Hay hôm nay là ngày nào. Cho dù thằng con hoang ấy là ai thì hắn đã ở trong căn phòng bí ẩn, đáng khinh bỉ này trong khi cô ngủ. Ý nghĩ ấy khiến cô thấy phát ớn. Có mẩu giấy đặt trên cái bàn cạnh giường ngủ, nơi mà cô dễ dàng nhìn thấy. Một lá thư tay. Đầu thư viết Kate yêu dấu. Tay cô run lên khi đọc tên của chính mình.

Tôi muốn em đọc bức thư này, để em có thể hiểu rõ tôi hơn cũng như các quy định chung trong nhà. Đây có lẽ là bức thư quan trọng nhất mà em từng nhận được, do đó em cần đọc cẩn thận. Và hãy nhớ cho kỹ. Không, tôi không hề điên khùng hay mất kiểm soát. Trên thực tế, tôi hoàn toàn ngược lại. Hãy dùng trí thông minh xuất chúng để chấp nhận rằng tôi không điên, và tôi biết chính xác những gì mình muốn. Hầu hết mọi người đều không biết những gì họ muốn. Em có vậy không Kate? Chúng ta sẽ nói về chuyện đó sau. Đó là một chủ đề cần một cuộc thảo luận sinh động và thú vị. Em có biết những gì mình muốn không? Em đạt được chưa? Tại sao không? Vì lợi ích xã hội? Mà xã hội của ai? Chúng ta đang sống cuộc đời của ai?

Tôi không định giả vờ rằng em hạnh phúc khi ở đây, nên sẽ không có màn chào mừng giả tạo đâu. Không có giỏ trái cây tươi và rượu sâm banh bọc trong giấy bóng kính. Như chẳng bao lâu nữa em sẽ nhận thấy, hoặc đã nhận thấy, tôi đã cố gắng hết sức khiến cho em thoải mái khi ở đây. Đây chính là một điểm quan trọng, có lẽ là điểm quan trọng nhất trong nỗ lực đối thoại đầu tiên giữa chúng ta. Em sẽ không ở đây lâu đâu. Em sẽ ra khỏi đây - nếu, NẾU - em lắng nghe những gì tôi nói… vì thế hãy lắng nghe cho kỹ nhé Kate. Em vẫn nghe đấy chứ? Hãy lắng nghe đi, Kate. Xua đi những giận dữ chính đáng và những thanh âm hỗn loạn trong đầu mình. Tôi không điên khùng hay mất kiểm soát.

Đây là điểm chính: Tôi là người kiểm soát! Thấy sự khác biệt chưa? Tất nhiên là em thấy. Tôi biết em thông minh như thế nào. Sinh viên đạt giải thưởng quốc gia và những điều đại loại như vậy. Quan trọng là em phải biết với tôi, em đặc biệt đến thế nào. Đó là lý do tại sao em hoàn toàn an toàn khi ở đây. Đó cũng là lý do tại sao, cuối cùng em sẽ ra khỏi đây. Cũng phải nói rằng tôi đã chọn em từ hàng ngàn phụ nữ trước mắt. Tôi biết, em sẽ nói “tôi may mắn đấy nhỉ”. Tôi biết em hài hước, và hay giễu cợt thế nào. Tôi thậm chí còn biết rằng em dùng tiếng cười để vượt qua những thời điểm khó khăn. Tôi bắt đầu hiểu em nhiều hơn bất cứ ai từng hiểu em. Cũng gần giống như em hiểu chính mình vậy, Kate.

Bây giờ là đến tin xấu. Và Kate này, những tin tiếp theo cũng quan trọng chẳng kém gì những tin tốt tôi đã nêu ở trên. Đây là những quy tắc của ngôi nhà, và em cần phải nghiêm túc tuân theo: 1. Nguyên tắc quan trọng nhất: Em không bao giờ được tìm cách chạy trốn - nếu không tôi sẽ xử lý em chỉ trong vài giờ, dù điều đó có đau đớn cho cả hai chúng ta đến thế nào. Tin tôi đi, chuyện này có tiền lệ rồi đấy. Cố tình chạy trốn sẽ không được tha thứ.

2. Quy tắc đặc biệt này chỉ dành cho em thôi Kate: Em không bao giờ được dùng các chiêu karate với tôi. (Tôi suýt mang theo đồng phục của em, bộ đồng phục karate trắng tinh ấy, nhưng sao lại phải xúi giục em chứ.) 3. Em không bao giờ được kêu cứu - Em kêu cứu là tôi biết ngay - và em sẽ bị trừng phạt với khuôn mặt và bộ phận sinh dục bị biến dạng. Em muốn biết nhiều hơn - em muốn biết tất cả mọi thứ cùng một lúc. Nhưng như vậy không được. Đừng cố gắng tìm hiểu em đang ở đâu. Em không đoán ra đâu, chỉ tổ khiến em nhức đầu vô ích thôi.

Bây giờ cứ thế đã. Tôi đã nói với em nhiều hơn cần thiết. Em hoàn toàn an toàn ở đây. Tôi yêu em nhiều hơn em tưởng. Tôi nóng lòng chờ đến lúc chúng ta nói chuyện, một cuộc nói chuyện thực sự. Casanova Và mày đang quẫn trí một cách tuyệt vọng! Kate McTiernan nghĩ khi cô đi lại quanh căn phòng khoảng năm mươi mét vuông. Nhà tù ngột ngạt của cô. Địa ngục trần gian của cô.

Cơ thể cô như đang nổi lềnh phềnh, như bị bao quanh bởi chất lỏng nhớt ấm. Cô tự hỏi liệu có phải mình đã bị chấn thương đầu trong cuộc tấn công. Cô chỉ có một suy nghĩ: làm thế nào để chạy trốn. Cô bắt đầu phân tích tình hình theo mọi cách có thể. Cô đảo ngược những giả định thông thường, và phân tích từng chi tiết. Chỉ có một cánh cửa gỗ dày, hai lần khóa.

Không có cách nào ra khỏi đây trừ phi qua cánh cửa đó. Không! Đó chỉ là cách phán đoán thông thường. Phải có một cách khác. Cô nhớ lại một câu đố giải quyết tình huống trong khóa học đại học vô bổ về logic mà cô đã từng theo học trước đây. Câu đố bắt đầu với mười que diêm được sắp xếp theo chữ số La Mã trong một phương trình toán học:

XI + I = X Vấn đề là làm sao sửa lại phương trình thành đúng mà không chạm vào bất cứ một que diêm nào. Không thêm vào những que mới. Không rút đi bất kỳ que nào. Không một phương án dễ dàng.

Không một giải pháp khả thi. Rất nhiều sinh viên không thể giải được câu đố nhưng cô đã phát hiện ra cách giải tương đối nhanh chóng. Lời giải chính ở chỗ không ai ngờ tới. Cô giải quyết nó bằng cách đảo ngược giả thuyết thông thường. Cô lộn ngược trang giấy lại: X = I + IX

Nhưng cô không thể làm cho căn phòng giam cầm mình lộn ngược. Hay, biết đâu đấy? Kate McTiernan kiểm tra từng tấm sàn và mỗi một phân tường. Gỗ có mùi rất mới. Có lẽ hắn là thợ xây, chủ thầu, hoặc kiến trúc sư chăng? Không lối thoát. Không một giải pháp khả thi.

Cô không thể, sẽ không chấp nhận câu trả lời. Cô nghĩ đến việc quyến rũ hắn ta - nếu cô miễn cưỡng phải làm điều đó. Không. Hắn quá thông minh. Hắn sẽ biết. Tệ hơn nữa, cô sẽ biết. Nhất định phải có cách. Cô sẽ tìm ra.

Kate nhìn chằm chằm vào mảnh giấy trên bàn cạnh giường ngủ. Em không bao giờ được tìm cách chạy trốn - nếu không tôi sẽ xử lý em chỉ trong vài giờ. Chương 27

Buổi chiều hôm sau, tôi đến vườn Sarah Duke, nơi Naomi đã bị bắt cóc sáu ngày trước. Tôi cần phải đến đó, đến thăm hiện trường, để nghĩ về cháu gái tôi, để lặng lẽ khóc thương. Bên cạnh trung tâm y tế Đại học Duke là khu vườn rừng rộng khoảng hơn hai mươi hécta với phong cảnh tuyệt đẹp, những lối đi với hàng cây dọc hai bên đường dài đúng hàng cây số. Còn vị trí nào thuận lợi hơn để Casanova tiến hành vụ bắt cóc. Hắn đã tính toán kỹ càng. Quá hoàn hảo, cho đến lúc này. Sao hắn có thể làm được điều đó? Tôi đã nói chuyện với các giáo viên và một số sinh viên có mặt ở khu vườn vào ngày Naomi mất tích. Những khu vườn xinh xắn chính thức mở cửa từ sáng sớm cho đến chiều tối. Lần cuối cùng có người nhìn thấy Naomi là khoảng bốn giờ. Casanova đã bắt cóc cô bé giữa ban ngày ban mặt. Tôi không hiểu hắn làm thế nào. Vẫn chưa hiểu nổi. Cảnh sát Durham hay FBI cũng vậy.

Tôi đi quanh khu rừng và vườn trong gần hai giờ. Tôi không thể gạt khỏi đầu suy nghĩ Scootchie bị đưa đi ngay tại đây. Một nơi được gọi là sân vườn mới tuyệt đẹp làm sao. Khách tham quan bước vào sẽ đi qua một giàn dây đậu tía leo. Cầu thang gỗ xinh xắn dẫn xuống một ao cá hình dạng kỳ lạ, ngay đằng sau là một khu vườn đá. Nhìn bao quát, sân vườn là những dải đá xếp ngang, nổi bật với những sọc màu đẹp nhất. Hoa tulip, đỗ quyên, hoa trà, diên vĩ, và mẫu đơn thi nhau khoe sắc. Trực giác mách tôi rằng Scootchie rất thích chốn này.

Tôi quỳ xuống gần một khóm hoa tulip vàng và đỏ tươi hết sức sặc sỡ. Tôi mặc bộ vest xám với áo sơ mi trắng hở cổ. Nền đất mềm làm bẩn quần, nhưng tôi không quan tâm. Tôi cúi đầu xuống. Cuối cùng, tôi khóc vì thương nhớ Scootchie. Chương 28 Tích tắc. Tích tắc

Kate McTiernan nghĩ mình nghe thấy gì đó. Cũng có thể là do cô tưởng tượng. Chắc chắn ở nơi này người ta chỉ muốn phát điên. Lại âm thanh đó. Sàn gỗ phát ra những âm thanh kẽo kẹt nhỏ xíu. Cửa mở, hắn bước vào phòng mà không nói một lời. Hắn kia rồi! Casanova. Hắn đã đeo một chiếc mặt nạ khác. Trông hắn giống như một loại chúa tể hắc ám - xương xương, dẻo dai. Đây là hình ảnh tưởng tượng của hắn về chính mình hay sao?

Về mặt hình thể, hắn có lẽ được coi là một gã lực lưỡng tại trường đại học, hay thậm chí là một xác chết trong phòng khám nghiệm tử thi, cách ví von thứ hai cô thấy đúng hơn. Cô để ý tới quần áo của hắn: quần jean xanh bó sát, bạc phếch, ủng cao bồi đen lấm lem đất, không mặc áo sơ mi. Hắn có cơ thể cực kỳ săn chắc, ắt hẳn rất tự hào về bộ ngực cuồn cuộn của mình. Cô cố gắng nhớ tất cả mọi thứ - để chờ đến giây phút chạy trốn. “Tôi đã đọc tất cả các quy tắc,” Kate nói, cố hết sức tỏ ra bình tĩnh dù người run lẩy bẩy. “Rất tỉ mỉ, rõ ràng.”

“Cảm ơn. Không ai thích quy tắc cả, tôi lại càng không. Nhưng đôi khi lại cần thế.” Chiếc mặt nạ che giấu khuôn mặt hắn và thu hút sự chú ý của Kate. Cô không cách nào rời mắt khỏi nó. Nó gợi cho cô nhớ về những chiếc mặt nạ trang trí tinh xảo ở Venice. Một chiếc mặt nạ vẽ tay, đầy tính lễ nghi trong từng chi tiết nghệ thuật, và đẹp kỳ lạ. Có phải hắn ta đang cố tỏ ra quyến rũ? Kate tự hỏi. Thật sao? “Tại sao anh lại đeo mặt nạ?” cô hỏi, giữ giọng nói ra vẻ khúm núm, tò mò, nhưng không vặn vẹo.

“Như tôi đã nói trong mảnh giấy đó, sẽ có ngày em được tự do. Em sẽ được thả. Đó là tất cả những gì trong kế hoạch dành cho em. Tôi thật không chịu nổi khi thấy em tổn thương.” “Nếu tôi ngoan ngoãn. Nếu tôi tuân lệnh.” “Ừ. Nếu em ngoan thì tôi cũng không khó khăn lắm đâu Kate ạ. Tôi thích em vô cùng.”

Cô muốn tấn công hắn, muốn tóm hắn. Bây giờ chưa phải lúc, cô cảnh cáo bản thân. Đợi đến khi mày chắc chắn đã. Mày sẽ chỉ có một cơ hội đánh bại hắn thôi. Hắn dường như đọc được ý nghĩ của cô. Hắn rất nhanh trí, rất sáng suốt. “Không karate,” hắn nói, và cô cảm thấy hắn đang mỉm cười phía sau mặt nạ. “Hãy nhớ điều đó, Kate. Tôi đã chứng kiến bài biểu diễn của em trên võ đường. Tôi đã dõi theo em. Em rất nhanh nhẹn, mạnh mẽ. Tôi cũng vậy. Tôi chả lạ gì võ thuật đâu.”

“Tôi có nghĩ thế đâu.” Kate cau mày nhìn lên trần nhà. Cô trợn ngược mắt. Cô nghĩ trong trường hợp đầy căng thẳng này thì diễn như vậy là hợp lý. Emma Thompson hay Holly Hunter[1] không bị đe dọa, nhưng phải tử tế. [1] Emma Thompson (1959), diễn viên, nhà biên kịch người Anh. Holly Hunter (1958), diễn viên Mỹ. “Nếu vậy thì tôi xin lỗi. Tha lỗi cho tôi,” hắn nói. “Tôi không nên suy bụng ta ra bụng người. Tôi sẽ không làm như vậy nữa. Hứa đấy.”

Đôi lúc, hắn xem ra khá bình thường, nhưng đó lại là điều khiến cô khiếp sợ hơn bất cứ thứ gì khác cho đến lúc này. Trông họ cứ như đang trò chuyện thân tình trong một ngôi nhà xinh xắn bình thường, chứ không phải ở ngôi nhà kinh dị của hắn. Kate nhìn bàn tay hắn. Các ngón tay khá dài, thậm chí có thể được coi là thanh lịch. Bàn tay của một kiến trúc sư? Của bác sĩ? Hay của nghệ sĩ? Chắc chắn không phải bàn tay của người lao động chân tay. “Vậy anh muốn gì ở tôi?” Kate quyết định hỏi trực tiếp hắn. “Tại sao tôi ở đây? Tại sao là căn phòng này, những bộ quần áo này? Tất cả những gì về tôi?”

Giọng hắn vẫn nhẹ nhàng, bình tĩnh. Đúng là hắn đang cố gắng quyến rũ cô. “Ồ, tôi đoán tôi muốn yêu, và được đắm chìm trong tình yêu một thời gian. Mỗi ngày, tôi muốn cảm nhận sự lãng mạn thực sự khi còn có thể. Tôi muốn cảm thấy một cái gì đó thật đặc biệt trong cuộc sống. Tôi muốn được gần gũi người khác. Tôi không khác người. Ngoại trừ việc tôi hành động thay vì mơ mộng…” “Anh không cảm thấy bất cứ điều gì sao?” cô hỏi, vờ quan tâm đến hắn. Cô biết rằng những kẻ tâm thần xã hội thì không thể có cảm xúc, ít nhất theo sự hiểu biết của cô. Hắn nhún vai. Cô cảm thấy hắn đang mỉm cười lần nữa, cười cô. “Đôi khi tôi có rất nhiều cảm xúc. Tôi nghĩ mình quá nhạy cảm. Tôi có thể nói với em rằng em đẹp thế nào không?”

“Trong hoàn cảnh hiện tại thì tôi mong là không.” Hắn cười thoải mái và nhún vai lần nữa. “Được rồi. Thỏa thuận vậy nhé? Ta không nói chuyện ngọt nhạt. Ít nhất không phải bây giờ. Hãy nhớ rằng tôi có thể lãng mạn. Tôi thích thế lắm.” Cô không kịp chuẩn bị cho hành động bất ngờ, nhanh như sóc của hắn. Khẩu súng gây mê bỗng đâu thò ra bắn trúng cô, nòng súng giật mạnh. Cô nhận ra tiếng súng lách cách, ngửi thấy mùi ozone. Kate ngã dúi dụi vào tường phòng ngủ, cộc đầu vào tường. Cú va chạm khiến cả ngôi nhà rung chuyển - dù cô đang bị giam giữ ở đâu chăng nữa.

“Ôi! Chúa, không,” Kate khẽ rên rỉ. Hắn đang đè lên người cô. Tay chân vung lên, tất cả trọng lượng của hắn đổ dồn xuống người cô. Hắn sẽ giết cô ngay bây giờ. Ôi Chúa ơi, cô không muốn chết như thế này, kết thúc cuộc sống của mình theo cách này. Thật là vô nghĩa, ngớ ngẩn, thê thảm. Cơn thịnh nộ dữ dội bừng bừng trào lên trong người cô. Với một nỗ lực tuyệt vọng, cô cố tung chân đá, nhưng không thể cử động cánh tay. Ngực cô nóng ran. Cô cảm thấy hắn xé tung áo, rờ rẫm cơ thể cô. Hắn đang lên cơn dục tính. Cô cảm thấy hắn đang cọ xát vào cô.

“Không, xin đừng,” cô rên rỉ. Giọng cô nghe mơ hồ. Hắn dùng cả hai tay bóp vú cô. Cô nếm thấy vị máu, những giọt máu ấm nhỏ từ khóe môi. Cuối cùng Kate khóc. Cô uất nghẹn, hầu như không thở được. “Tôi chỉ cố gắng tỏ ra thân thiện thôi mà,” hắn nói qua hàm răng nghiến chặt.

Hắn bất ngờ dừng lại. Hắn nhổm dậy và cởi phắt chiếc quần jean xanh xuống mắt cá chân. Hắn không thèm cởi hẳn quần ra. Kate nhìn chằm chằm lên hắn. Dương vật của hắn rất lớn. Cương cứng hết cỡ, tươi sáng với máu rần rật và tĩnh mạch dày. Hắn gieo mình xuống người cô và cọ xát vào cơ thể cô, dần dần từ vú, lên cổ, rồi đến mắt môi. Kate bắt đầu chìm vào trạng thái nửa tỉnh nửa mê, giữa hư và thực. Cô cố gắng bám vào mỗi suy nghĩ chợt đến với mình. Cô cần cảm thấy được kiểm soát, dù chỉ là kiểm soát suy nghĩ của chính mình.

“Mở mắt ra đi,” hắn cảnh báo cô với một tiếng gầm sâu trong cổ họng. “Hãy nhìn tôi này, Kate. Đôi mắt của em đẹp lắm. Em là người phụ nữ đẹp nhất mà tôi từng biết. Em biết không? Em có biết em khêu gợi thế nào không?” Hắn đang đê mê. Kate dường như cũng tê dại. Cơ thể mạnh mẽ của hắn uốn éo, trườn bò, quằn quại khi hắn ra vào cửa mình cô. Hắn ngồi dậy mân mê bộ ngực cô lần nữa. Hắn vuốt tóc rồi rờ khắp mặt cô. Những va chạm dần trở nên nhẹ nhàng. Điều đó chỉ làm cô khổ sở hơn. Cô cảm thấy nhục nhã và xấu hổ kinh khủng. Cô căm thù hắn. “Tôi yêu em nhiều lắm, Kate ạ. Tôi yêu em nhiều đến mức không diễn đạt nổi. Chưa bao giờ tôi cảm thấy như thế này. Tôi đảm bảo là chưa bao giờ. Chưa bao giờ giống như thế này.”

Kate nhận ra hắn không định giết cô. Hắn sẽ để cô sống. Hắn sẽ trở lại nhiều lần nữa bất cứ khi nào hắn muốn cô. Cảm xúc sợ hãi lấn chiếm khiến Kate cuối cùng cũng ngất đi. Cô để mặc mình chìm vào vô thức. Cô không hề hay biết lúc hắn đặt lên môi cô nụ hôn tạm biệt nhẹ nhàng nhất. “Tôi yêu em, Kate yêu dấu. Và tôi thực sự xin lỗi về điều này. Tôi có thể cảm thấy… tất cả.” Chương 29

Tôi nhận được điện thoại khẩn từ một sinh viên luật và cũng là bạn cùng lớp của Naomi. Cô gái tự xưng là Florence Campbell và cần phải nói chuyện với tôi càng sớm càng tốt. Cô gái nói, “Cháu cần nói chuyện với chú, tiến sĩ Cross. Việc cấp bách lắm ạ.” Tôi gặp cô bé trong khuôn viên Duke, gần trung tâm Đại học Bryan. Florence hóa ra là một cô gái da đen khoảng ngoài hai mươi tuổi. Chúng tôi đi giữa những cây mộc lan và toà nhà học đường vững chãi mang phong cách Gothic. Cả hai chúng tôi đều trông lạc lõng với nơi này. Florence là một cô gái cao ráo, rụt rè và ban đầu có phần bí ẩn. Cô bé có mái tóc cứng cắt cao khiến tôi liên tưởng đến nữ hoàng Ai Cập Nefertiti. Vẻ ngoài của cô rõ ràng là kỳ quặc, hoặc có thể nói là quê mùa, làm tôi liên tưởng đến những người giống như vậy vẫn còn tồn tại ở vùng nông thôn Mississippi hay Alabama. Florence đã tốt nghiệp đại học bang Mississippi, cách rất xa đại học Duke.

“Cháu rất, rất xin lỗi, tiến sĩ Cross,” cô bé nói sau khi chúng tôi ngồi xuống chiếc ghế băng bằng đá và gỗ, tay vịn khắc đầy những sự kiện đáng nhớ của sinh viên. “Cháu xin lỗi chú và gia đình chú.” “Cháu xin lỗi về điều gì chứ, Florence?” tôi hỏi cô bé. Tôi không hiểu ý cô. “Cháu đã không đến nói chuyện với chú khi chú tới trường ngày hôm qua. Chẳng ai biết chắc Naomi có bị bắt cóc hay không. Cảnh sát Durham chắc chắc không biết. Họ chỉ suy nghĩ đơn giản mà thôi. Họ còn không cho rằng Naomi đang gặp rắc rối thực sự nữa kìa.”

“Tại sao cháu nghĩ vậy?” tôi hỏi Florence điều đang khiến tôi băn khoăn. Cô bé nhìn sâu vào mắt tôi. “Bởi vì Naomi là một phụ nữ Mỹ gốc Phi. Cảnh sát Durham, FBI, họ không quan tâm tới chúng cháu như phụ nữ da trắng.” “Cháu tin là vậy à?” tôi hỏi cô bé.

Florence Campbell trợn tròn mắt. “Đó là sự thật, sao lại không tin chứ? Frantz Fanon cũng chỉ rõ rằng nạn phân biệt chủng tộc vĩnh viễn tồn tại trong nền kinh tế, tâm lý, và văn hóa của xã hội. Cháu cũng nghĩ như vậy.” Florence là một phụ nữ rất nghiêm túc. Cô bé kẹp cuốn The Omni-Americans của Albert Murray dưới cánh tay. Tôi bắt đầu thích phong cách ấy. Đã đến lúc tìm hiểu cô bé biết bí mật gì về Naomi. “Nói cho chú biết ở đây có chuyện gì đi, Florence. Cháu không cần phải đắn đo suy nghĩ vì chú là chú của Naomi, hoặc bởi chú là thám tử điều tra. Chú cần ai đó giúp mình thoát ra khỏi mớ bòng bong này. Chú đang phải chống lại cả một hệ thống quan chức ở Durham đấy.”

Florence mỉm cười, khẽ vuốt mớ tóc lòa xòa trước mặt. Cô bé có nét giống triết gia Đức Immanuel Kant, lại có nét giống nhân vật Prissy trong Cuốn theo chiều gió. “Cháu sẽ nói cho chú những gì cháu biết cho đến nay, Tiến sĩ Cross. Đây là lý do tại sao mấy cô bạn ở ký túc xá không hài lòng về Naomi.” Cô hít một hơi thơm mùi mộc lan. “Mọi chuyện bắt đầu với một người tên là Seth Samuel Taylor. Anh ấy là nhân viên xã hội trong khu ổ chuột Durham. Cháu đã giới thiệu Naomi với Seth. Đó là anh họ cháu.” Đang nói, Florence đột nhiên tỏ ra hơi ngập ngừng. “Chú vẫn chưa thấy vấn đề nằm ở đâu,” tôi nói với cô bé.

“Seth Samuel và Naomi yêu nhau từ khoảng tháng Mười hai năm ngoái,” cô bé nói tiếp. “Naomi cứ mơ mộng vẩn vơ, chẳng giống cô ấy chút nào, như chú biết đấy. Đầu tiên, Seth đến ký túc xá chơi nhưng sau đó bạn ấy bắt đầu đến sống tại căn hộ của anh ấy ở Durham.” Tôi hơi ngạc nhiên khi biết Naomi giấu kín chuyện yêu đương với Cilla. Tại sao cô bé không nói với bất kỳ ai trong chúng tôi? Nhưng tôi vẫn không hiểu điều ấy thì có liên quan gì đến các cô bạn khác ở ký túc xá. “Chú chắc rằng Naomi không phải nữ sinh đầu tiên biết yêu tại Duke. Hoặc vời đàn ông con trai đến nhà uống trà, ăn bánh hay bất kỳ việc gì,” tôi nói.

“Cô ấy không chỉ mời đàn ông con trai đến nhà làm bất kỳ việc gì mà là mời một người đàn ông da đen đến làm bất kỳ việc gì. Seth thường từ khu ổ chuột đến, vận nguyên bộ áo liền quần và đôi ủng bụi bặm cùng áo khoác da lao động. Naomi bắt đầu đội mũ rơm tá điền đi lại xung quanh khuôn viên. Đôi khi Seth đội một chiếc mũ bảo hiểm lao động với dòng chữ “lao động nô lệ”. Anh ấy dám có những lời nhận xét hơi mỉa mai châm biếm về hoạt động xã hội của các nữ sinh cũng như nhận thức xã hội của họ, phỉ phui quá. Anh ấy mắng mỏ những người giúp việc da đen khi họ cố gắng làm tốt công việc của mình.” “Cháu nghĩ gì về Seth, anh họ cháu?” tôi hỏi Florence. “Seth rất dễ bị kích động. Anh ấy tức giận về nạn phân biệt chủng tộc đến nỗi đôi khi nó lấn át lý trí của anh ấy. Ngoài điều đó ra thì anh ấy thực sự tuyệt vời. Anh ấy là người sẵn sàng hành động, không ngại khó ngại khổ. Nếu anh ấy không phải là anh họ xa của cháu thì…,” Florence nháy mắt nói.

Tôi bật cười vì khiếu hài hước ngầm của Florence. Cô là một cô gái nhỏ rụt rè vùng Mississippi nhưng lại rất thẳng thắn. Tôi thậm chí bắt đầu thích kiểu tóc cắt cao của cô bé. “Cháu và Naomi kết thân rất nhanh phải không?” tôi hỏi cô bé. “Ban đầu thì không ạ. Cháu nghĩ chúng cháu đều cảm thấy phải cạnh tranh nhau trong môn Rà soát luật. Có lẽ chỉ duy nhất một phụ nữ da đen làm được điều đó, chú biết đấy. Nhưng năm đầu tiên qua đi, chúng cháu trở nên gần gũi dần. Cháu yêu quý Naomi. Bạn ấy là người tuyệt vời nhất.”

Đột nhiên tôi băn khoăn lẽ nào sự biến mất của Naomi có liên quan tới bạn trai của cô bé, mà không liên quan gì tới kẻ giết người nhởn nhơ ở Bắc Carolina. “Anh ấy là người rất tốt. Chú đừng làm anh ấy tổn thương nhé,” Florence cảnh cáo tôi. “Thậm chí chú cũng đừng nghĩ đến chuyện đó.” Tôi gật đầu. “Chú sẽ chỉ bẻ gãy một chân của anh ta thôi.”

“Anh ấy khỏe như trâu,” cô bé đáp lại tôi. “Còn chú là trâu đấy,” tôi nói với Florence Campbell, chia sẻ với cô bé bí mật nhỏ của riêng tôi. Chương 30

Tôi nhìn chằm chằm vào đôi mắt đen của Seth Samuel Taylor. Anh ta nhìn lại tôi. Tôi vẫn không rời mắt. Đôi mắt anh như hai hạt hạnh nhân bằng đá cẩm thạch màu đen huyền. Bạn trai Naomi cao to, cơ bắp cuồn cuộn, và là típ người người lao động chăm chỉ. Tôi thấy anh ta giống sư tử non hơn là trâu bò. Trông anh ta thật phiền muộn, hỏi cung chắc là khó đây. Tôi có linh cảm rằng Naomi sẽ biến mất mãi mãi. Seth Taylor không cạo râu, nhìn là thấy ngay nhiều ngày qua anh ta không ngủ. Chắc anh ta cũng chẳng buồn thay quần áo. Anh ta mặc sơ mi ca rô nhăn nheo màu xanh dương bên ngoài áo phông, và quần jean Levi’s dòng 501 thủng lỗ chỗ. Anh ta vẫn đi đôi bốt lao động bụi bặm. Trông Seth Taylor có vẻ đau buồn cùng cực, trừ phi anh ta là một diễn viên xuất sắc.

Tôi đưa tay ra, anh ta liền bắt chặt tay tôi. Tôi cảm thấy như thể bị kẹp tay vào ê tô của thợ mộc. “Trông chú khiếp quá” là những từ đầu tiên Seth Taylor nói với tôi. Bài hát “Humpty Dance” của nhóm nhạc Digital Underground oang oang đâu đó quanh khu phố. Như ở D.C. vậy, chỉ có điều hơi quê mùa. “Cậu cũng thế.”

“Vâng, mẹ kiếp,” anh ta nói. Đó là lời chào quen thuộc trên đường phố, cả hai chúng tôi đều biết nên cùng cười. Nụ cười của Seth ấm áp, và có đôi chút lan tỏa. Anh ta có vẻ quá tự tin về bản thân, nhưng tính ấy cũng không khó chịu lắm. Vẫn là hình ảnh quen thuộc tôi từng thấy trước đây. Tôi đoán chiếc mũi to của anh ta đã bị gãy vài lần, nhưng trông vẫn đẹp trai theo phong cách bụi bặm. Sự hiện diện của anh ta bao trùm lên căn phòng giống như Naomi vậy. Bản năng thám tử trong tôi tò mò về Seth Taylor.

Seth sống trong vùng dành cho dân lao động ở phía Bắc trung tâm Durham. Trước đây, vùng này toàn công nhân nhà máy thuốc lá. Căn hộ của anh ta nằm trong ngôi nhà ván ốp cũ được tách thành hai. Áp phích phim Arrested Development và nhạc sĩ kiêm diễn viên Ice-T treo khắp tường hành lang. Một áp phích có đề: Từ thời kỳ nô lệ đến giờ, người da màu chưa từng phải gánh chịu tai ương nào lớn đến thế. Bạn bè và hàng xóm ngồi đầy trong phòng khách. Loa đang phát những bài ca buồn của Smokey Robinson. Bạn bè đến để giúp tìm kiếm Naomi. Cuối cùng, có lẽ tôi đã có một số đồng minh ở phía Nam này. Tất cả mọi người trong căn hộ đều muốn tâm sự với tôi về Naomi. Không ai trong số họ tỏ ý nghi ngờ Seth Samuel.

Tôi đặc biệt ấn tượng với một người phụ nữ có đôi mắt lanh lợi, nhạy cảm, và làn da màu cà phê kem. Keesha Bowie ngoài ba mươi tuổi, là nhân viên bưu điện tại Durham. Naomi và Seth đã thuyết phục cô trở lại trường học để lấy tấm bằng tốt nghiệp ngành tâm lý học. Cô và tôi nhanh chóng làm thân. “Naomi là người có học thức, ăn nói rất lưu loát, nhưng anh biết rồi còn gì.” Keesha kéo tôi ra một góc mà nghiêm túc nói. “Nhưng Naomi không bao giờ lấy khả năng và học thức của mình ra để hạ thấp người khác, hoặc tỏ vẻ kênh kiệu. Khi gặp cô ấy, chúng tôi ai ai cũng ấn tượng. Cô ấy sống thật lắm, Alex ạ. Lòng dạ cô ấy không có tí giả tạo nào. Chuyện xảy ra với cô ấy quả là đáng tiếc.” Tôi nói chuyện với Keesha thêm một lát và thấy rất mến cô. Cô thật thông minh, xinh đẹp, nhưng giờ không phải lúc cho chuyện đó. Tôi tìm Seth thì thấy anh ta lên tầng hai một mình. Cửa sổ phòng ngủ mở, anh ta ngồi trên mái nhà hơi dốc. Robert Johnson đang hát giai điệu blues ám ảnh của mình đâu đó trong màn đêm.

“Tôi ra ngoài ngồi cùng cậu thì có phiền không? Cái mái nhà cũ này đủ cho cả hai chúng ta chứ?” tôi nói vọng ra từ cửa sổ. Seth mỉm cười. “Cùng lắm thì chúng ta trượt xuống hiên trước, rồi mọi người sẽ có trò vui mà xem đây. Có ngã gãy cổ cũng đáng. Nếu chú muốn thì ra đây với cháu.” Giọng anh ta cất lên ngọt ngào, du dương, hơi ê a. Tôi có thể hiểu tại sao Naomi thích anh chàng này. Tôi leo ra ngoài ngồi với Seth Samuel trong bóng tối bao trùm lên Durham. Chúng tôi nghe thấy còi xe cảnh sát phiên bản tỉnh lẻ và tiếng hò hét phấn khích trong vùng nội đô.

“Chúng cháu từng ngồi ở đây,” Seth thì thà thì thầm. “Naomi và cháu.” “Cậu không sao chứ?” tôi hỏi anh ta. “Có sao đấy. Đời cháu chưa gặp chuyện gì tồi tệ đến thế. Còn chú?”

“Chưa bao giờ tồi tệ hơn.” “Sau khi chú gọi,” Seth nói, “cháu đã suy nghĩ về chuyến thăm này, về cuộc nói chuyện mà chúng ta cuối cùng phải có. Cháu đã cố gắng suy nghĩ theo cách của chú. Chú biết đấy, giống như thám tử cảnh sát. Nhưng xin chú đừng nghĩ rằng cháu có liên quan gì đến việc Naomi mất tích. Đừng phí thời gian vào việc đó.” Tôi nhìn sang Seth Samuel. Anh ta khom người, cúi đầu gần sát vào ngực. Ngay cả trong bóng tối, tôi cũng thấy đôi mắt đó đang đẫm lệ. Trông anh ta đau buồn cùng cực. Tôi muốn nói với anh ta rằng chúng tôi sẽ tìm ra cô bé và rằng mọi việc sẽ được giải quyết, nhưng bản thân tôi còn không biết chắc.

Cuối cùng, chúng tôi ôm lấy nhau. Chúng tôi đều nhớ Naomi theo cách riêng của mình, cùng nhau thương nhớ, trên mái nhà tối. Chương 31 Tối đó, người bạn của tôi ở FBI cuối cùng cũng trả lời một trong các cuộc gọi của tôi. Lúc ấy tôi đang đọc sách: Sách chẩn đoán và thống kê về chứng rối loạn tâm thần. Tôi đang lập hồ sơ về Casanova và mọi việc vẫn tiến triển hết sức chậm chạp.

Tôi gặp đặc vụ Kyle Craig lần đầu trong cuộc săn lùng tên bắt cóc hàng loạt Gary Soneji dai dẳng, đầy gian khổ. Kyle là người trung thực, thẳng thắn. Anh không địa phương chủ nghĩa như hầu hết các đặc vụ FBI khác, và cũng không quá cứng nhắc với tiêu chuẩn của Cục. Đôi khi tôi nghĩ anh không thuộc về FBI. Anh quá nhân hậu. “Cảm ơn vì cuối cùng đã trả lời cuộc gọi của tôi, người lạ ạ,” tôi nói qua điện thoại. “Lâu nay anh làm việc ở đâu thế?” Câu trả lời của Kyle khiến tôi ngạc nhiên. “Tôi ở Durham, Alex ạ. Nói chính xác hơn, tôi đang ở trong tiền sảnh khách sạn anh đang ở. Xuống đây nhâm nhi vài cốc bia trong căn phòng Bull Durham tầm thường này đi. Tôi cần phải nói chuyện với anh. Tôi chuyển lời nhắn đặc biệt của chính J.Edgar[1] cho anh đấy.”

[1] John Edgar Hoover (1895-1972), giám đốc đầu tiên của FBI, một người có sự nghiệp hiển hách nhưng cũng đầy tai tiếng. “Tôi xuống ngay đây. Tôi cứ tự hỏi chuyện gì xảy ra với lão huênh hoang ấy kể từ khi lão ta giả chết.” Kyle ngồi bên chiếc bàn hai người kế cửa sổ lớn lồi ra ngoài. Cửa sổ nhìn thẳng ra bãi cỏ xanh của sân golf trường đại học. Một người cao gầy lêu nghêu trông giống nam sinh đang chỉ dẫn một sinh viên trường Duke cách đẩy nhẹ bóng vào lỗ trong bóng tối. Nhà thể thao đứng sau một người phụ nữ, hướng dẫn những động tác đẩy nhẹ bóng chính xác nhất.

Kyle xem bài học trên sân golf với vẻ thích thú ra mặt. Còn tôi nhìn Kyle cũng với vẻ thích thú ra mặt. Anh quay ra như cảm nhận được sự hiện diện của tôi. “Giời ạ, anh luôn đánh hơi được chuyện xấu đấy nhỉ,” anh nói thay cho lời chào. “Tôi rất tiếc khi biết cháu gái anh mất tích. Rất vui được gặp anh, dù trong hoàn cảnh đáng buồn, trái ngang hết sức này.” Tôi ngồi xuống đối diện với viên đặc vụ, và chúng tôi bắt đầu hỏi thăm tình hình của nhau. Như mọi khi, anh cực kỳ lạc quan và tích cực mà không ngờ nghệch. Đó là biệt tài của anh. Một số người cho rằng Kyle có thể lên chức giám đốc Cục, và đó sẽ là điều tốt đẹp nhất từng xảy ra.

“Đầu tiên, ngài Ronald Burns đáng kính xuất hiện ở Durham. Bây giờ là anh. Có chuyện gì vậy?” tôi hỏi Kyle. “Hãy nói cho tôi anh biết gì nào,” anh đáp. “Đổi lại tôi sẽ cho anh biết những gì tôi biết.” “Tôi đang lập hồ sơ tâm lý về những phụ nữ bị sát hại,” tôi nói với Kyle. “Cái được gọi là người bị loại bỏ ấy. Trong hai vụ, những người phụ nữ bị loại bỏ có tính cách rất mạnh mẽ. Chắc họ đã gây cho hắn nhiều rắc rối. Có lẽ vì vậy mà hắn giết họ, trừ khử họ. Trường hợp ngoại lệ là Bette Anne Ryerson. Cô ấy là một người mẹ, đang điều trị, chắc hẳn đã bị suy nhược thần kinh.”

Kyle đưa tay xoa da đầu, đồng thời lắc đầu. “Những điều anh vừa nói không có gì mới và cũng không giúp được gì cho tôi. Nhưng ố ồ” - anh mỉm cười với tôi “anh vẫn đi trước người của chúng tôi nửa bước. Đây là lần đầu tiên tôi nghe đến thuyết ‘người bị loại bỏ’. Nó khá thú vị đấy, Alex, đặc biệt nếu hắn là một gã thích kiểm soát.” “Hắn chắc chắc là một gã thích kiểm soát, Kyle ạ. Đó là lý do hoàn toàn hợp lý cho việc hắn trừ khử ba người phụ nữ kia. Bây giờ đến lượt anh nói cho tôi những điều tôi chưa biết.” “Tôi có thể nói nhưng anh cần trả lời tôi một số câu hỏi đơn giản nữa, anh bạn ạ. Ngoài ra anh còn phát hiện điều gì nữa?”

Tôi vừa lừ mắt nhìn Kyle vừa từ tốn uống một hớp bia. “Anh biết không, tôi tưởng anh chơi được, nhưng anh cũng lại là một gã khó chịu khác của FBI thôi.” “Tôi được lập trình sẵn ở Quantico mà,” Kyle ngọng nghịu nhại giọng của máy vi tính. “Anh đã lập xong hồ sơ tâm lý về Casanova chưa?” “Tôi đang làm.” Tôi nói với anh ta điều anh ta cũng đã biết. “Cố gắng hết sức trong khi hầu như chẳng có thông tin gì.”

Kyle khum khum mấy ngón tay phải, ra hiệu cho tôi nói. Anh muốn biết tất, và sau đó có lẽ sẽ chia sẻ điều gì đó với tôi. “Hắn phải là người có khả năng hòa nhập cộng đồng tốt,” tôi nói. “Thậm chí chẳng có ai đến gần bắt hắn được. Hắn có thể bị chi phối bởi những ảo tưởng tình dục ám ảnh tương tự mà mình từng có hồi nhỏ. Có lẽ hắn từng là nạn nhân của lạm dụng tình dục, hoặc loạn luân. Hắn từng là kẻ thị dâm, cưỡng dâm hoặc hiếp dâm qua hẹn hò cũng nên. Bây giờ hắn là kẻ cuồng sưu tập những phụ nữ vô cùng xinh đẹp; có vẻ như hắn chỉ chọn những người đặc biệt. Hắn đang nghiên cứu họ, Kyle ạ. Tôi gần như chắc chắn về điều đó. Hắn cô đơn. Có lẽ vì thế mà hắn tìm kiếm người phụ nữ hoàn hảo.” Kyle gật đầu lia lịa. “Anh xuất sắc bỏ cha. Anh nghĩ giống hắn!”

“Không buồn cười đâu.” Tôi kẹp má Kyle bằng ngón cái và ngón trỏ. “Bây giờ hãy nói cho tôi biết cái mà tôi không biết đi chứ.” Kyle giằng ra khỏi gọng kìm của tôi. “Vậy thì thỏa thuận nhé Alex. Đây là một thỏa thuận có lợi, do đó đừng nghi ngờ tôi.” Tôi giơ tay ra hiệu gọi phục vụ bàn. “Tính tiền! Ai trả tiền người nấy.”

“Không, không. Chờ đã. Đây là một thỏa thuận có lợi, Alex. Tôi ghét phải nói, ‘Hãy tin tôi,’ nhưng thực sự là hãy tin tôi. Và để chứng minh cho lòng trung thực của mình, tôi chỉ là không thể nói cho anh biết tất cả mọi điều ngay bây giờ. Tôi thừa nhận vụ này chắc chắn lớn hơn bất cứ vụ nào từ trước đến nay. Anh đã đúng về Burns. Ngài phó giám đốc không phải tự nhiên mà lại xuống đây.” “Tôi đoán Burns không đến đây để xem đỗ quyên[2].” Tôi gần như hét toáng lên với Kyle bên trong quầy bar yên tĩnh của khách sạn. “Được rồi, hãy nói cho tôi biết một điều mà tôi không biết đi.” [2] Lễ hội hoa đỗ quyên được tổ chức hằng năm tại thành phố Wilmington, Bắc Carolina. Lễ hội bao gồm hoạt động triển lãm nghệ thuật địa phương, các vườn hoa nghệ thuật và lịch sử thành phố Wilmington.

“Tôi không thể nói với anh nhiều hơn những gì tôi vừa nói.” “Chết tiệt, Kyle. Anh có nói cho tôi cái quái gì đâu.” Tôi lên giọng. “Vậy thỏa thuận của anh với tôi là gì thế hả?” Anh đưa một tay lên, ngụ ý tôi phải bình tĩnh. “Nghe đây. Như anh đã biết hoặc nghi ngờ, vụ này là một cơn ác mộng kinh hoàng, nhiều cơ quan phải nhảy vào cuộc, và nó vẫn chưa nóng hẳn lên đâu. Hãy tin tôi đi. Chưa ai đạt được gì cả, Alex ạ. Còn đây là điều tôi muốn anh cân nhắc.”

Tôi trợn mắt. “Tôi vui lòng ngồi lại vì chuyện này,” tôi nói. “Đây là một đề nghị tuyệt vời mà một người ở vị trí của anh nên cân nhắc. Bởi vì anh đứng ngoài mớ pháp quyền hỗn loạn này và do đó không bị ảnh hưởng, vậy tại sao lại không tiếp tục như thế. Cứ đứng ngoài mà làm việc trực tiếp với tôi.” “Làm việc với Cục Liên bang ư?” Tôi sặc cả bia. “Cộng tác với các đặc vụ sao?”

“Tôi có thể cung cấp cho anh tất cả thông tin ngay khi chúng tôi vừa nhận được. Cho anh mọi thứ anh cần dưới dạng nguồn lực, thông tin, tất cả các dữ liệu chúng tôi hiện có.” “Và anh không cần phải chia sẻ bất cứ điều gì tôi có. Ngay cả với cảnh sát địa phương hay cảnh sát bang chứ?” tôi hỏi. Kyle lại trở nên nghiêm nghị. “Nghe này Alex, vụ điều tra này lớn và tốn kém thật nhưng vẫn chưa có kết quả gì. Các quan chức vẫn đấu đá nhau trong khi phụ nữ ở khắp miền Nam, trong đó có cháu gái anh, đang dần biến mất ngay trước mũi chúng ta.”

“Tôi hiểu vấn đề mà Kyle. Hãy để tôi suy nghĩ về giải pháp của anh. Cho tôi suy nghĩ thêm một chút.” Kyle và tôi tiếp tục nói chuyện thêm về lời đề nghị của anh, và tôi cũng buộc anh phải tiết lộ thêm một vài chi tiết cụ thể. Mặc dù về cơ bản tôi cũng để lộ khá nhiều điều mình biết. Làm việc với Kyle sẽ giúp tôi có được một đội ngũ hỗ trợ hàng đầu, và tôi sẽ được yểm trợ bất cứ khi nào cần. Tôi sẽ không đơn độc nữa. Chúng tôi gọi bánh mì kẹp thịt, thêm mấy vại bia, tiếp tục nói chuyện và cuối cùng đi đến thỏa thuận của tôi với quỷ dữ. Lần đầu tiên kể từ khi đến miền Nam, tôi cảm thấy có chút hy vọng. “Tôi còn một điều muốn cho các anh biết,” cuối cùng tôi nói với anh ta. “Đêm qua hắn để lại cho tôi một lời nhắn. Đó là lời nhắn thân thiện ân cần, chào đón tôi đến vùng này.”

“Chúng tôi biết.” Kyle cười toe toét như Andy Hardy[3] tuổi trưởng thành. “Thực ra đó là một tấm bưu thiếp. Trên đó có ảnh một thị tỳ, một nô lệ tình dục trong hậu cung.” [3] Nhân vật hư cấu trong series phim cùng tên của hãng Metro-Goldwyn-Mayer (Mỹ). Chương 32

Khá muộn mới trở về phòng, nhưng tôi vẫn gọi cho Nana và các con. Khi đi công tác, tôi vẫn thường xuyên gọi điện về nhà hai lần một ngày, sáng và tối. Chưa khi nào tôi quên cả, và cũng không có ý định bỏ thói quen ấy vào tối hôm nay. “Con có nghe lời Nana và ngoan hơn không con gái?” tôi hỏi Jannie khi con bé cầm máy. “Con lúc nào cũng ngoan mà bố!” Jannie thét lên với niềm vui sướng trẻ thơ. Con bé thích nói chuyện với tôi. Tôi cũng vậy. Thật lạ là hai cha con vẫn vô cùng quấn quýt sau năm năm bên nhau.

Tôi nhắm mắt lại tưởng tượng ra hình ảnh cô con gái nhỏ. Tôi có thể thấy lồng ngực bé nhỏ phập phồng, khuôn mặt đầy ương ngạnh, nhưng miệng cùng lúc lại cười toe toét khoe hàm răng nhọn mọc lổn nhổn. Naomi đã từng là một cô bé ngọt ngào như thế. Tôi nhớ tất cả mọi thứ vào thời gian đó. Tôi xua tan những suy nghĩ cùng hình ảnh rõ mồn một về Scootchie. “Vậy anh trai con thì sao? Damon nói rằng anh ấy cũng ngoan lắm. Anh còn bảo hôm nay Nana gọi con là ‘bé hư’ nữa. Có phải như vậy không?” “Ứ phải thế bố ơi. Đó là Nana gọi anh ấy đó chứ. Trong nhà này Damon mới là bé hư. Con luôn luôn là thiên thần của Nana. Con là thiên thần ngoan ngoãn của Nana Mama. Bố hỏi cụ mà xem.”

“À há. Thế thì tốt rồi,” tôi nói với cô bé giỏi chống chế của mình. “Thế hôm nay con có giật tóc anh Damon một tí tại nhà hàng ăn nhanh Roy Rogers không?” “Không phải đồ ăn nhanh đâu, bố yêu ạ! Mà anh ấy giật tóc con trước. Damon gần như giật hết tóc của con rồi, bây giờ trông con chả khác gì Baby Clare không có tóc vậy.” Baby Clare là con búp bê mà Jannie yêu quý nhất từ lúc mới hai tuổi. Con búp bê đó là “em bé” của Jannie, luôn có ý nghĩa thiêng liêng với con bé. Thiêng liêng với cả chúng tôi. Một lần chúng tôi để Baby Clare ở Williamsburg trong một chuyến dã ngoại, và đã phải quay xe trở lại. Kỳ diệu thay, Clare lúc đó đang chờ chúng tôi tại phòng bảo vệ, và đang trò chuyện vui vẻ với chú bảo vệ.

“Dù sao thì con cũng không giật được tóc của anh Damon. Anh ấy gần như trọc mà bố. Nana đã cắt tóc kiểu mùa hè cho anh ấy rồi. Bố cứ chờ đến lúc nhìn thấy anh trai trọc lóc của con mà xem. Anh ấy đúng là một quả bóng bi-a!” Tôi có thể nghe tiếng con bé cười. Tôi có thể nhìn thấy Jannie cười. m thanh nền là tiếng Damon muốn giành lấy điện thoại. Nó muốn bác bỏ lời của con bé về mái tóc mới cắt của mình. Sau khi xong chuyện với các con, tôi nói chuyện với Nana.

“Mọi chuyện thế nào rồi, Alex?” bà đi thẳng vào vấn đề như mọi khi. Lẽ ra bà có thể trở thành một thám tử xuất sắc, hoặc bất cứ ai bà muốn. “Alex, bà hỏi mọi chuyện sao rồi?” “Mọi việc rất ổn bà ạ. Cháu yêu công việc của mình,” tôi nói với bà. “Còn bà khỏe không ạ?” “Đừng bận tâm tới chuyện đó. Ta có thể trông hai đứa bé kể cả khi ta đang ngủ. Nhưng nghe giọng cháu có vẻ không được khỏe. Cháu không ngủ được và mọi việc chưa có tiến triển gì phải không?”

Chúa ơi, bà thật mạnh mẽ nếu muốn. “Không được tốt như cháu kỳ vọng,” tôi nói với bà. “Nhưng tối nay cũng đã có tín hiệu tốt.” “Bà biết,” Nana nói, “thế nên cháu mới gọi điện muộn như thế này. Nhưng cháu không định chia sẻ những tin tức tốt lành với bà nội của cháu. Cháu sợ bà gọi đến tòa báo Washington Post.” Chúng tôi luôn đề cập đến vấn đề này trước mỗi vụ việc mà tôi thực hiện. Bà luôn luôn muốn biết thông tin mật, mà tôi lại không thể nhân nhượng.

“Cháu yêu bà,” cuối cùng tôi nói. “Đó là điều tốt nhất cháu có thể làm ngay bây giờ.” “Bà cũng yêu cháu, Alex Cross à. Đó là điều tốt nhất bà có thể làm.” Bà đành phải dừng lại cuộc nói chuyện tại đây.

Sau khi gọi điện xong cho Nana và lũ trẻ, tôi nằm trong bóng tối trên chiếc giường khách sạn bừa bộn, chẳng mấy dễ chịu. Tôi không muốn phục vụ phòng hay bất cứ ai khác vào phòng mình, nhưng tấm bảng Đừng Làm Phiền không phải là vấn đề đối với FBI. Tôi đặt một chai bia dựng đứng ngay trên ngực. Tôi thở chậm chạp, giữ chai bia cân bằng ở vị trí đó. Tôi chưa bao giờ thích ở trong khách sạn, kể cả khi đi nghỉ. Tôi lại bắt đầu suy nghĩ về Naomi. Khi còn nhỏ như Jannie, cô bé thường ngồi trên vai tôi để có thể nhìn thấy “xa, rất xa trong Thế Giới Người Lớn”. Tôi nhớ trước đây Naomi nghĩ rằng Giáng sinh là “Ngày để hôn”, vì vậy cô bé cứ hôn mọi người trong suốt kỳ nghỉ.

Cuối cùng, tôi tập trung suy nghĩ về gã quái vật, kẻ đã cướp Scootchie khỏi tay chúng tôi. Cho đến nay, gã quái vật vẫn đang giành phần thắng. Hắn dường như bất khả chiến bại, không ai tóm được hắn; hắn chưa hề phạm sai lầm, và không để lại bất kỳ một manh mối nào. Hắn hoàn toàn tin tưởng vào bản thân mình… hắn thậm chí còn giễu cợt tôi bằng cách để lại một tấm bưu thiếp nhỏ xinh xắn trong phòng tôi. Điều đó có nghĩa gì? Có thể hắn đã đọc cuốn sách của tôi về Gary Soneji, tôi nghĩ. Chắc hắn đã đọc cuốn sách của tôi. Hắn bắt Naomi để thách thức tôi? Có lẽ để chứng minh hắn giỏi ra sao. Tôi không thích ý nghĩ này chút nào.

Chương 33 Mình vẫn còn sống, nhưng mình đang ở địa ngục! Kate McTiernan thu hai chân vào sát ngực, rùng mình. Cô chắc chắn mình đã bị đánh thuốc mê. Dù có cố gắng thế nào thì cảm giác run lẩy bẩy đi kèm với cơn buồn nôn cồn cào vẫn không ngừng ồ ạt xâm chiếm toàn thân cô.

Cô không biết mình đã ngủ trên sàn nhà lạnh giá bao lâu, hay lúc này là mấy giờ. Liệu hắn có đang theo dõi cô? Liệu có cái lỗ nhòm nào trong những bức tường kia? Kate gần như cảm thấy đôi mắt hắn quét khắp cơ thể mình. Cô nhớ từng chi tiết kinh khủng gớm ghiếc của vụ hãm hiếp. Cảm giác ấy vẫn còn nguyên vẹn. Ý nghĩ bị hắn chạm vào da thịt thật ghê tởm, và những hình ảnh kinh hoàng nhất đang ám ảnh cô. Cảm giác giận dữ, tội lỗi, bị xúc phạm cùng lúc bùng nổ trong đầu cô. Chất adrenaline mạnh mẽ dâng trào toàn thân. “Kính mừng Maria đầy ơn phúc… Đức Chúa Trời ở bên Người.” Cô nghĩ mình đã quên phải cầu nguyện như thế nào. Cô hy vọng mình sẽ không bị Chúa bỏ quên.

Đầu Kate quay cuồng. Chắc chắc hắn đang cố gắng bẻ gãy ý chí cùng sức kháng cự của cô. Đây liệu có phải là kế hoạch của hắn? Cô phải nghĩ, bắt buộc bản thân mình phải suy nghĩ. Nhưng mọi thứ trong căn phòng không còn rõ nét. Những viên thuốc! Kate ráng đoán xem hắn đã sử dụng cái gì. Thuốc gì? Loại nào đây?... Có lẽ đó là Forane, một loại thuốc làm giãn cơ khá mạnh được dùng cho bệnh nhân trước khi gây mê. Loại thuốc này đựng trong chai một trăm mililít, có thể xịt trực tiếp vào mặt nạn nhân, hoặc đổ lên một miếng vải rồi phủ lên mặt nạn nhân. Cô cố nhớ những biểu hiện của thuốc. Run rẩy và buồn nôn. Khô cổ. Hoạt động thần kinh suy giảm trong một đến hai ngày. Cô có những triệu chứng này! Tất cả!

Hắn là bác sĩ! Ý nghĩ đó khiến cô bàng hoàng như bị giáng một cú đấm móc. Thế nhưng lại hoàn toàn hợp lý. Còn ai có thể tiếp cận với loại thuốc như Forane? Tại võ đường ở đồi .