Hôm nay bạn muốn đọc gì?

Nụ hôn của Casanova - Chương 3

el, cả hai đều ăn mặc hợp mốt. Roe diện váy xếp ly màu đen, khoác áo lụa màu kem, đeo bông tai bạc hình vỏ sò và chuỗi ngọc trai của cô bạn cùng phòng. Bộ cánh hoàn hảo cho buổi đi chơi thuyền.

Kẻ Lịch Thiệp đoán chắc bộ vest xám mà Tom Hutchinson đang mặc thậm chí còn không phải của anh ta. Tom từ Pennsylvania đến. Anh ta là con trai của một thợ sửa chữa ô tô, là độ trưởng đội bóng bầu dục của Đại học Duke mà vẫn đạt suýt soát mức điểm tối đa là 4.0. Tom và Roe là một cặp “trai tài gái sắc”. Đó là điều duy nhất mà sinh viên trường Duke và trường đại học Carolina cùng công nhận. “Xì căng đan” về việc đội trưởng đội bóng bầu dục đại học Duke cặp kè với hoa khôi trường đại học Carolina khiến câu chuyện càng trở nên thi vị. Họ lóng ngóng cởi bỏ những chiếc cúc và phécmơtuya vướng víu trong khi chiếc thuyền dập dềnh trên hồ. Trên người Roe chỉ còn lại mỗi đôi bông tai cùng chuỗi ngọc trai đi mượn. Tom vẫn mặc sơ mi trắng bật hết cúc, để che chắn lúc anh ta vào trong Roe. Dưới ánh trăng vằng vặc, họ bắt đầu làm tình.

Hai cơ thể chuyển động nhịp nhàng trong khi thuyền bồng bềnh tinh nghịch trên mặt nước. Roe phát ra những tiếng rên khe khẽ, hoà lẫn với điệp khúc inh ỏi của đàn ve sầu phía xa. Kẻ Lịch Thiệp không nén nổi cơn thịnh nộ đang đùng đùng trỗi dậy. Phần đen tối trong gã muốn nổ tung: một con thú hung bạo bị kìm hãm, một con ma sói thời hiện đại. Bỗng nhiên, Tom Hutchinson rời khỏi người Roe Tierney với một tiếng phập nhỏ. Một cái gì đó rất mạnh mẽ đẩy anh ta ra khỏi thuyền. Trước khi anh ta rơi tõm xuống hồ, Roe nghe thấy anh ta la lên một tiếng kì quặc nghe như oáiii.

Tom uống đầy nước hồ, rồi nôn oẹ dữ dội. Cổ họng anh ta đau rát đến xé ruột, vết thương cục bộ nhưng rất sâu và đáng sợ. Và rồi cái sức mạnh vô hình nào đó đã đẩy anh ta xuống hồ bỗng buông tha anh ta. Giống như ai đó đang bóp cổ mà thả tay ra. Anh ta được tự do. Bàn tay to khoẻ của tiền vệ đội bóng sờ lên cổ họng mình, chạm vào cái gì đó âm ấm. Máu trào ra từ cổ họng lan ra khắp mặt hồ. Khiếp đảm thật sự, cảm giác gần như hoảng loạn bao trùm lên anh ta.

Anh ta sợ sệt sờ lên cổ họng lần nữa, và thấy con dao cắm ngay tại đó. Anh ta nghĩ, Ôi Chúa Jesus, mình vừa bị đâm, mình sẽ chết dưới đáy hồ mà thậm chí không biết vì sao. Trong khi đó trên con thuyền dập dềnh, lững lờ trôi, Roe Tierney quá bối rối và sửng sốt nên thậm chí không hét lên được. Tim cô đập mạnh liên hồi, cô hầu như không thở nổi. Cô đứng trên thuyền, hốt hoảng tìm xem Tom ở đâu.

Cô nghĩ bụng, đây đúng là trò đùa bênh hoạn. Mình sẽ không bao giờ hẹn hò với Tom Hutchinson nữa. Không bao giờ lấy anh ta. Trò này chẳng có gì hay ho cả. Cô lạnh cóng người nên bắt đầu mò mẫm lấy váy áo ở cuối thuyền. Thoắt cái, bên cạnh thuyền đã có người hay vật gì đó vụt khỏi mặt nước đen ngòm. Giống như một vụ nổ ngay dưới lòng hồ. Roe trông thấy một cái đầu trồi lên mặt hồ. Chắc chắn là đầu đàn ông… nhưng mà không phải là Tom Hutchinson.

“Tôi không cố ý doạ em.” Kẻ Lịch Thiệp nhẹ nhàng nói như đang tâm tình. “Đừng sợ,” gã thầm thì khi chạm đến mép con thuyền tròng trành. “Ta là bạn cũ. Hết sức thành thật mà nói, tôi đã theo dõi em từ hơn hai năm nay rồi.” Đột ngột, Roe la hét như thể không có ngày mai. Và sự thật là ngày mai không tồn tại đối với Roe Tierney.

Phần một: Scootchie Cross Chương 1 Washington, D.C., tháng 4 năm 1994

Khi chuyện xảy ra, tôi đang ở ngoài hàng hiên lắp kính trong nhà tôi trên phố Năm mươi. Trời lúc đó đang “mưa như trút nước” theo cách nói của cô con gái Janelle bé bỏng của tôi, và ngồi ngoài hiên quả là thú vị. Bà tôi từng dạy một câu cầu nguyện mà tôi không bao giờ quên được: “Cảm ơn Chúa vì tất cả những gì mà Người ban tặng cho chúng con”. Vào ngày hôm đó, câu nói này có vẻ đúng - gần như vậy. Trên bức tường hiên có treo bức tranh biếm hoạ Far side của Gary Larson. Nó kể về buổi tiệc thường niên mang tên “Những quản gia của thế giới” trong đó một quản gia bị sát hại. Một con dao xuyên thẳng vào ngực anh ta. Một thám tử trong tranh thốt lên, “Chúa ơi, Collings, tôi ghét phải khởi đầu tuần mới với những vụ thế này!” Đặt bức tranh ở đó là tôi muốn nhắc nhở chính mình rằng cuộc sống không chỉ có công việc của một thám tử D.C. chuyên điều tra án mạng. Đính bên cạnh là một bức tranh hai năm tuổi của Damon với dòng chữ “Tặng người cha vĩ đại nhất”. Đó lại là một lời nhắc nhở khác. Tôi chơi những bản nhạc của Sarah Vaughan, Billie Holiday, Bessie Smith trên chiếc đàn piano cũ kỹ. Gần đây, nhạc Blues đối với tôi bỗng trở nên buồn bí ẩn. Hình ảnh của Jezzie Flanagan cứ luẩn quẩn trong tâm trí tôi. Đôi lúc khi đưa mắt nhìn ra xa, tôi lại tưởng tượng ra khuôn mặt xinh đẹp đầy ám ảnh của nàng, vì vậy mà tôi cố gắng hạn chế nhìn mông lung.

Hai đứa con tôi, Damon và Janelle, đang ngồi bên cạnh tôi trên chiếc ghế chơi đàn khá bền, tuy hơi bị lung lay. Cánh tay nhỏ xíu của Janelle rướn hết cỡ để vòng quanh lưng tôi, nhưng nó cũng chỉ được một phần ba lưng. Tay kia nó cầm một túi kẹo Gummi Bears. Nó lại chia cho mọi người như thường lệ. Tôi từ tốn ngậm một chiếc Gummi màu đỏ. Jannie và Damon huýt sáo theo tiếng đàn, mặc dù đối với con bé, huýt sáo cũng chẳng khác gì phun phì phì vào một giai điệu có sẵn. Trên nóc chiếc piano là quyển truyện tranh Green Eggs & Ham nhàu nhĩ, rung lên theo từng nhịp đàn.

Cả Jannie và Damon đều biết dạo này tôi gặp trục trặc trong cuộc sống, ít nhất vài tháng gần đây. Chúng luôn cố gắng làm tôi vui. Chúng tôi chơi nhạc và huýt sáo theo những giai điệu blues, soul và cả thứ nhạc kết hợp, nhưng chúng tôi cũng cười vang và tỏ ra phấn khích như trẻ con. Tôi yêu những lúc ở bên bọn trẻ hơn bất cứ lúc nào khác trong đời, tôi ngày càng dành nhiều thời gian bên chúng hơn. Những bức ảnh chụp bọn trẻ bằng máy Kodak luôn nhắc nhở tôi rằng các con tôi chỉ có một lần năm và bảy tuổi trong đời thôi. Tôi sẽ không để lỡ giai đoạn này. Cuộc vui của chúng tôi bị ngắt quãng bởi tiếng chân chạy nặng nề trên cầu thang gỗ hiên sau. Và rồi tiếng chuông cửa reo: một, hai rồi ba hồi chuông nhỏ. Người ở ngoài kia dù là ai thì chắc hẳn cũng đang rất vội vã.

“Bing boong, mụ phù thuỷ đã chết.” Đúng lúc này, Damon lại chia sẻ suy nghĩ ngẫu hững của nó. Nó đeo kính râm ốp sát mặt, ra dáng anh chàng xì ngầu. Thực ra nó là một cậu nhóc xì ngầu. “Không, mụ phù thuỷ chưa chết,” Jannie phản đối. Gần đây, tôi để ý thấy con bé bảo vệ khá quyết liệt giới tính của mình. “Có khi đó không phải tin về mụ phù thuỷ đâu,” tôi nói gần như cùng lúc. Bọn trẻ cười phá lên. Chúng khá hiểu câu đùa của tôi, nghĩ mà thấy sợ.

Có ai đó liên tục đập vào khung cửa, hét gọi tên tôi một cách bi thương và hoảng hốt. Khốn thật, hãy để chúng tôi được yên. Chúng tôi không cần điều gì bi thương hay hoảng hốt trong cuộc sống của mình lúc này. “Tiến sĩ Cross, hãy tới đây! Xin ông! Tiến sĩ Cross,” tiếng hét tiếp tục vang lên. Tôi không nhận ra giọng của người phụ nữ nhưng rõ ràng người đó gọi đích danh tôi bởi danh vị tiến sĩ. Tôi bỏ bọn trẻ xuống, hai tay áp chặt lên khuôn đầu nhỏ xinh của chúng. “Bố là tiến sĩ Cross cơ mà, có phải hai con đâu. Cứ ngồi đây ngân nga và giữ chỗ cho bố nhé. Rồi bố sẽ trở lại ngay.”

“Rồi bố sẽ trở lại ngay!” Damon nhắc lại với giọng điệu của Kẻ huỷ diệt. Tôi phì cười với câu đùa của nó. Nó đúng là một đứa trẻ lớp hai láu lỉnh. Tôi chạy nhanh ra cửa sau, đồng thời vớ lấy khẩu súng cảnh sát. Tình làng nghĩa xóm sẽ chẳng có nghĩa gì trong trường hợp này kể cả với một cảnh sát như tôi. Tôi nheo mắt nhìn qua tấm kính phủ đầy sương mù và bụi để xem ai đang đứng trên bậc hiên. Tôi nhận ra cô gái đó. Cô ta sống trong khu ổ chuột Langley. Rita Washington, hai mươi ba tuổi, nghiện thuốc phiện và sống vật vờ trên đường phố như một bóng ma xám ngoét. Rita đủ khôn ngoan và xinh đẹp nhưng dễ bị dụ dỗ và lôi kéo. Cô ta đã lầm đường lạc lối, dần đánh mất vẻ ngoài xinh đẹp và bây giờ có lẽ còn đang gặp hạn.

Tôi mở cửa ra thì bị một luồng gió ẩm lạnh táp thẳng vào mặt. Máu nhỏ thành dòng từ cổ tay lẫn bàn tay của Rita và cả mặt chiếc áo choàng du lịch giả da màu xanh lá cây. “Rita, có chuyện gì xảy ra với cô thế?” tôi hỏi. Tôi đoán cô ta đã bị bắn hoặc bị đâm liên quan tới ma tuý. “Xin ông hãy đi cùng với tôi.” Rita Washington vừa ho khan vừa nức nở. “Là Marcus Daniels nhỏ bé,” cô ta nói và thậm chí còn khóc to hơn. “Thằng bé bị đâm! Nó hiện đang rất nguy kịch! Nó cứ gọi tên ông, nó muốn gặp ông, tiến sĩ Cross.”

“Các con ở đó nhé! Bố sẽ quay lại ngay.” Tôi hét lên át tiếng gào khóc cuồng loạn của Rita Washington. “Nana ơi, trông chừng bọn trẻ con nhé!” Tôi gào lên thậm chí còn to hơn. “Con phải ra ngoài có chút việc!” Tôi vớ lấy áo choàng rồi cùng Rita Washington bước ra ngoài dưới cơn mưa lạnh tầm tã. Tôi tránh không giẫm lên những vết máu đỏ tươi nhỏ xuống như vệt sơn ướt trên khắp bậc hiên. Chương 2

Tôi chạy hết tốc lực dọc con phố Năm mươi. Tôi cảm thấy tim mình đập thình thịch, thình thịch, thình thịch và mồ hôi chảy ròng ròng dù mưa xuân lạnh lẽo vẫn tầm tã rơi. Máu chảy rần rật lên đầu. Cơ bắp, gân cốt trong cơ thể căng hết ra, dạ dày quặn thắt lại. Tôi bế Marcus Daniels mười một tuổi trong tay, ghì chặt cậu bé vào ngực. Cậu bé đang chảy máu lênh láng. Rita Washington đã bắt gặp Marcus ở góc cầu thang tối tăm, dính nhớp dẫn xuống tầng hầm trong toà nhà, nên vội đưa tôi đến chỗ cơ thể co quắp này. Tôi chạy như gió, cố gắng kìm nén sự thương xót khi đang làm nhiệm vụ ở bất kì đâu, như đã được đào tạo.

Những con người Đông Nam vốn không hay có tính soi mói cũng phải nhìn chằm chằm vào tôi khi tôi chạy sầm sập về phía trước như một chiếc bán rơ moóc mười bánh lao thục mạng vào thành phố. Tôi vượt qua những chiếc taxi, quát tất cả mọi người tránh đường. Tôi chạy qua hết cửa hàng hoang phế này đến cửa hàng hoang phế khác, được lót bằng những tấm gỗ dán đen sì, mục nát vẽ đầy hình graffiti nguệch ngoạc. Tôi lướt chân qua đống thuỷ tinh vỡ cùng đá vụn, những chai rượu Irish Rose và đôi lúc là đám cỏ dại và bụi lả tả đầy ảm đạm. Đây là nơi chúng tôi sống, phần của chúng tôi trong giấc mơ Mỹ, thủ đô của chúng tôi.

Tôi nhớ một câu nói mà tôi từng được nghe về D.C.: “Nếu cúi xuống bạn sẽ bị đè bẹp, còn nếu đứng thẳng lên bạn sẽ bị bắn.” Trong khi tôi chạy, Marcus tội nghiệp cứ túa máu ra như một chú cún con với bộ lông ướt nhẹp rỏ nước tong tong. Cổ và tay tôi nóng như thiêu, cơ tiếp tục căng ra. “Cố lên cháu,” tôi nói với đứa trẻ. “Cố lên cháu,” tôi cầu nguyện.

Đi được nửa đường, Marcus khẽ rên lên, “Trời, tiến sĩ Alex!” Đó là tất cả những gì cậu bé nói với tôi. Tôi biết tại sao. Tôi hiểu rõ Marcus bé bỏng. Tôi leo lên con đường dốc mới trải nhựa dẫn vào bệnh viện St. Anthony hay còn gọi là St. Tony’s Spaghetti House như trong một số công trình. Một xe cứu thương vượt qua chúng tôi, hướng về phía thành phố L.

Tài xế đội chiếc mũ Chicago Bulls lệch sang một bên, vành mũ lạ thay lại quay hướng vào tôi. Tiếng nhạc Rap vọng ra inh ỏi, chắc hẳn bên trong nghe rất chói tai. Tài xế và bác sĩ không dừng lại, mà hình như cũng chẳng có ý định dừng. Cuộc sống ở vùng Đông Nam đôi khi là vậy. Người ta không dừng lại vì mọi vụ trộm cướp hay giết người mà ta bắt gặp trong cuộc sống thường nhật. Tôi biết đường đến phòng cấp cứu ở St. Anthony bởi đã từng đến đó rất nhiều lần. Tôi dùng vai mở cánh cửa kính xoay quen thuộc. Trên đó có in chữ ĆP CỨU nhưng mấy chữ đó đã bị bong tróc, và có những vết móng tay cào lên tấm kính. “Chúng ta ở đây rồi, Marcus. Chúng ta đang ở bệnh viện,” tôi thì thầm với cậu bé nhưng cậu bé không nghe thấy tôi nói gì. Giờ đây, cậu bé đã rơi vào tình trạng bất tỉnh.

“Chúng tôi cần giúp đỡ! Mọi người, hãy giúp tôi cứu chú bé này với!” Tôi gào lên. Có lẽ người giao pizza là chú ý hơn cả. Một gã bảo vệ mặt mày chán chường liếc về phía chúng tôi, ném cho tôi cái nhìn đăm đăm thường trực. Ai đó đặt chiếc cáng cũ kỹ đánh cạch xuống sảnh bệnh viện. Tôi trông thấy các y tá tôi quen. Cụ thể là Annie Bell Waters và Tanya Heywood.

“Đưa đứa trẻ đến đây mau.” Annie Waters nhanh chóng mở đường ngay sau khi xem tình hình. Chị không hỏi tôi bất kỳ một câu nào trong khi dẹp nhân viên bệnh viện cùng những bệnh nhân khập khiễng sang bên để lấy đường đi. Chúng tôi đi qua bàn lễ tân với biển ĐĂNG KÝ TẠI ĐY bằng ba thứ tiếng: Anh, Tây Ban Nha, và Hàn Quốc. Tôi ngửi thấy mùi thuốc khử trùng bệnh viện ở khắp mọi nơi. “Tự cứa cổ bằng một con dao trọng lực. Tôi nghĩ nó đã cắt động mạch cảnh,” tôi nói khi chúng tôi hối hả bang qua hành lang màu xanh xỉn đông nghịt người, đầy những tấm biển bạc màu: TIA X-QUANG, CH́N THƯƠNG, THU NGN.

Cuối cùng, chúng tôi cũng dừng lại ở một căn phòng có kích cỡ gần bằng cái tủ quần áo. Vị bác sĩ nom khá trẻ vừa vội vã bước vào bảo tôi ra ngoài. “Thằng bé mười một tuổi.” Tôi nói, “Tôi nhất định phải ở đây. Cả hai cổ tay đều bị cứa. Đây là một vụ tự sát. Cố lên cháu,” tôi thì thầm với Marcus. “Cố lên cháu.” Chương 3

Cạch! Casanova bật chốt cốp xe, và nhìn xoáy vào đôi mắt to nhoà lệ đang giương giương nhìn hắn. Thật đáng thương. Thật đáng tiếc, hắn nghĩ khi nhìn xuống cô gái. “Ú oà,” hắn nói. “Bắt được rồi nhé.” Hắn đã hết tình cảm với cô sinh viên đại học hai mươi hai tuổi đang bị trói trong cốp xe. Hắn căm giận cô. Cô đã phá bỏ luật lệ. Cô đã làm tan giấc mộng hiện tại của hắn. “Trông cô đúng là đồ quỷ cái chết tiệt,” hắn nói. “Tất nhiên, đó là cách nói tương đối thôi.”

Bị nhét giẻ ướt vào miệng, cô gái không thể đáp lời, chỉ trừng trừng nhìn hắn. Đôi mắt nâu đen của cô hiện rõ vẻ sợ sệt và đau đớn, nhưng hắn vẫn nhận ra nét bướng bỉnh, ngoan cố trong cái nhìn đó. Đầu tiên hắn lấy chiếc túi xách màu đen ra, rồi thô bạo nhấc cô gái nặng năm mươi cân ra khỏi xe. Đến lúc này hắn cũng chẳng cần tỏ vẻ tử tế làm gì nữa. “Chào mừng cô,” hắn nói sau khi để cô xuống. “Quên cách chúng ta đối xử với nhau rồi phải không?” Chân cô run rẩy và gần như ngã quỵ nhưng Casanova đã dễ dàng nâng cô dậy chỉ với một tay.

Cô mặc một chiếc quần soóc chạy bộ màu xanh sẫm của đại học Wake Forest, áo ba lỗ trắng, và một đôi giày thể thao mới hiệu Nike. Hắn thừa biết cô thuộc loại sinh viên hư hỏng điển hình nhưng có sắc đẹp tuyệt trần. Một sợi dây da dài khoảng nửa mét buộc quanh đôi mắt cá chân thanh mảnh. Hai bàn tay bị trói quặt ra sau cũng bằng một sợi dây da. “Việc của cô là đi đằng trước tôi. Tôi không bảo gì thì cứ đi thẳng. Nào, đi đi,” hắn ra lệnh. “Nhấc cặp chân dài yêu kiều của cô đi. Bước, bước, bước.” Họ bắt đầu di chuyển qua khu rừng rậm, rừng còn trở nên rậm rạp hơn khi họ từ từ tiến về phía trước. Càng lúc càng um tùm, tăm tối. Càng lúc càng rùng rợn. Hắn vung vẩy cái túi đen như đứa trẻ tung tăng cầm hộp cơm trưa. Hắn yêu những rừng cây tối. Luôn luôn là vậy.

Casanova có vóc dáng cao to lực lưỡng, và khuôn mặt ưa nhìn. Hắn biết hắn có thể câu không ít đàn bà, nhưng không theo cách mà hắn muốn. Không phải như thế này. “Chẳng phải tôi đã nói với cô rồi sao? Nhưng cô có nghe đâu.” Hắn nhẹ nhàng nói, vẻ hờ hững. “Tôi đã nói với cô về các quy tắc trong gia đình. Nhưng cô lại muốn tỏ ra khôn ngoan. Vậy thì cứ khôn ngoan đi. Và đây là phần thưởng cho cô đấy.” Cô gái bước về phía trước với nỗi sợ hãi tăng dần, gần như khiếp sợ. Rừng cây giờ trở nên rậm rạp hơn, đám cành thấp cứa vào cánh tay trần của cô, để lại những vết xước dài. Cô biết tên kẻ bắt cóc mình: Casanova. Hắn tự nhận mình là người tình vĩ đại nhất, và thực sự hắn có khả năng cương cứng lâu hơn bất cứ gã đàn ông nào cô biết. Hắn luôn tỏ ra tỉnh táo và tự chủ nhưng cô biết hắn chắc chắn bị điên. Mặc dù đôi khi hắn cũng có những biểu hiện khá bình thường. Một khi ta chấp nhận lý lẽ của riêng hắn, điều mà hắn từng nói vời cô vài lần: “Đàn ông sinh ra là để săn… đàn bà.”

Hắn đưa ra luật lệ trong ngôi nhà của hắn. Hắn cảnh báo rõ với cô là phải tuân theo. Cô đã không làm vậy. Cô bướng bỉnh, ngu ngốc và đã mắc phải một sai lầm chiến thuật vô cùng lớn. Cô cố gạt đi ý nghĩ về những gì hắn định làm với cô ngoài đây trong khu rừng kiểu tranh tối tranh sáng rùng rợn này. Chắc chắn nó sẽ khiến cô vỡ tim. Cô sẽ không để cho hắn mãn nguyện khi nhìn thấy cô sợ hãi và khóc lóc. Giá như hắn cởi cái khăn bịt miệng cho cô. Miệng cô khô khốc, cô khát không chịu nổi. Có lẽ cô phải tự mình thoát khỏi tình cảnh này - khỏi những gì mà hắn định làm với cô.

Cô dừng bước, và quay lại đối diện với hắn. Đây là thời khắc mang-tính-quyết-định. “Cô muốn dừng ở đây sao? Tốt thôi. Mặc dù thế tôi cũng không cho cô nói đâu. Không một lời trăng trối nào đâu em yêu. Không có lệnh ân xá nào của chính quyền cả. Cô mắc sai lầm quá lớn rồi. Nếu ta dừng lại ở đây thì chưa chắc cô đã khoái đâu. Còn nếu cô muốn đi tiếp thì cũng tốt thôi. Chỉ là tôi thích những cánh rừng này, cô hiểu chứ?” Cô phải nói với hắn, phải giao tiếp với hắn bằng cách nào đó. Hãy hỏi hắn tại sao. Biết đâu lại làm hắn sao lãng. Cô cố gọi tên hắn, nhưng chỉ phát ra những tiếng nghèn nghẹt qua chiếc khăn bịt miệng ẩm ướt.

Hắn có vẻ tự tin, và thậm chí còn bình thản hơn thường lệ. Hắn đi với điệu bộ vênh váo. “Tôi chẳng hiểu cô nói gì. Mà dù tôi có hiểu đi chăng nữa thì cũng chẳng thay đổi được gì đâu.” Hắn đeo một trong những chiếc mặt nạ kỳ quái mà hắn thường trưng ra. Hắn nói với cô đây là mặt nạ xác chết, thường được dùng để tái tạo khuôn mặt trong bệnh viện hoặc nhà xác. Màu da của chiếc mặt nạ xác chết rất thực, và từng chi tiết trên đó giống thật đến đáng sợ. Khuôn mặt hắn chọn trông trẻ đẹp, hoàn toàn thuần Mỹ. Cô thắc mắc thực sự thì hắn trông ra sao. Hắn là gã quái nào? Tại sao hắn lại đeo mặt nạ?

Dù thế nào mình cũng phải trốn đi, cô tự nhủ. Rồi cô sẽ làm cho hắn phải ngồi tù rục xương. Không có án tử hình - phải để hắn chịu đựng. “Nếu đây là lựa chọn của cô thì được thôi,” hắn nói, rồi đột ngột đá khuỵu chân cô. Cô ngã đập mạnh lưng xuống đất. “Cô sẽ chết ở chính chỗ này.” Từ chiếc túi y tế màu đen sờn rách vẫn mang theo bên mình, hắn rút một cây kim ra. Hắn khua kim như thể nó là một thanh kiếm tí hon. Hãy cho cô ta thấy.

“Cây kim này gọi là Tubex,” hắn giải thích. “Nó đã bơm sẵn thiopental sodium, một loại thuốc an thần. Có tác dụng xoa dịu.” Hắn phụt ra một ít chất lỏng màu nâu nhìn giống như trà đá và đó là thứ cô không đời nào muốn tiêm vào tĩnh mạch của mình. “Nó để làm gì? Anh định làm gì tôi?” Cô hét lên sau chiếc giẻ bịt chặt. “Làm ơn bỏ cái giẻ ra khỏi miệng tôi.” Người cô đẫm mồ hôi, hơi thở khò khè. Toàn bộ cơ thể cứng đờ, tê dại, mê man. Tại sao hắn lại tiêm thuốc an thần cho cô?

“Nếu tôi có sai sót nào, cô sẽ chết ngay lập tức,” hắn nói. “Cho nên đừng có động đậy.” Cô lắc đầu quầy quậy. Cô đang ra sức cho hắn biết rằng cô sẽ ngoan ngoãn nằm yên, thậm chí rất ngoan. Làm ơn đừng có giết tôi, cô thầm cầu nguyện. Đừng làm thế. Hắn chích vào tĩnh mạch ở phần gập khuỷu tay, và cô cảm thấy đau nhói ở chỗ đó.

“Tôi thật chẳng muốn để lại vết bầm tím khó coi,” hắn thầm thì. “Sẽ không lâu đâu. Mười, chín, tám, bảy, sáu, năm, em, thật, xinh, đẹp, hết. Tất cả đã kết thúc.” Cô gái giờ đang khóc. Cô không thể kìm nén được nữa. Nước mắt lăn dài từng vệt trên má. Hắn bị điên. Cô nhắm nghiền mắt, không muốn nhìn hắn chút nào nữa. Xin Chúa, đừng để con phải chết như thế này, cô cầu nguyện. Không phải ở một nơi cô độc như vậy. Thuốc nhanh chóng có tác dụng, gần như ngay lập tức. Cô cảm thấy toàn thân ấm dần, ấm dần và cô muốn ngủ. Cô trở nên tê liệt.

Hắn cởi phẳng chiếc áo ba lỗ của cô và mơn trớn bầu vú như một nghệ sĩ xiếc tung hứng với những trái bóng. Cô không thể ngăn cản được hắn nữa. Hắn xếp đôi chân của cô gái như thể cô là một tác phẩm nghệ thuật, một tác phẩm điêu khắc bằng con người, kéo căng chiếc dây da hết cỡ. Hắn vuốt ve giữa hai chân cô gái. Cú thọc đột ngột khiến cô mở choàng mắt, nhìn trừng trừng vào cái mặt nạ khủng khiếp. Hắn trợn mắt lại với cô. Đôi mắt hắn vô cảm, trống rỗng, nhưng sắc lạnh kỳ lạ. Hắn vào trong cô, cô choáng váng như bị một dòng điện cực mạnh chạy dọc toàn thân. Hắn rất khoẻ, lúc này bị kích thích cao độ. Hắn thoả sức khám phá cơ thể cô khi cô đang chết dần vì thuốc an thần. Hắn đang nhìn cô chết. Đó là tất cả những gì hắn muốn.

Cơ thể cô quằn quại, vật vã, và rung lên từng đợt. Dù đã quá yếu, cô vẫn cố gắng hét lên. Không, xin anh, xin anh, xin anh. Đừng làm vậy với tôi. Nhẫn tâm thay, chỉ có bóng đen bao trùm lấy cô. Cô không biết mình đã bất tỉnh trong bao lâu. Không quan tâm. Cô tỉnh dậy và vẫn còn sống.

Cô bắt đầu khóc, những âm thanh bị bóp nghẹt trong chiếc khăn bịt miệng nghe thật đau khổ. Nước mắt chảy dài trên má. Cô nhận ra mình muốn sống biết bao. Cô nhận ra mình đã bị di chuyển. Hai tay cô bị trói ra phía sau, buộc vào một cái cây. Chân cô vắt chéo, buộc vào nhau, và miệng vẫn đang bị bịt chặt. Hắn đã lột trần cô. Cô chẳng thấy quần áo của mình đâu cả. Hắn vẫn ở đó!

“Cô hét tôi cũng chả quan tâm,” hắn thản niên nói. “Ở đây chả có ma nào nghe thấy đâu.” Ánh mắt hắn loé lên qua lớp mặt nạ giống y như thật. “Tôi không muốn xua đuổi lũ chim và thú rừng háu đói kia.” Hắn thoáng liếc nhìn cơ thể tuyệt mỹ của cô gái. “Thật đáng buồn vì cô đã không nghe lời tôi, phá bỏ luật lệ,” hắn nói. Hắn cởi bỏ mặt nạ, và lần đầu tiên hắn cho cô gái nhìn khuôn mặt mình. Hắn khắc lại hình ảnh cô trong trí nhớ. Rồi hắn cúi xuống, hôn lên môi cô gái. Hôn người con gái.

Cuối cùng, hắn bỏ đi. Chương 4 Lúc bế Marcus Daniels trên tay, hầu như toàn bộ cơn giận dữ của tôi đều dồn vào những bước chân chạy đến bệnh viện St. Anthony. Bây giờ khi luồng adrenaline đã hạ xuống, tôi lại cảm thấy mệt mỏi kỳ lạ.

Khu vực chờ của phòng cấp cứu ồn ào nhốn nháo kinh khủng. Tiếng trẻ con khóc, tiếng rền rĩ của các ông bố bà mẹ, loa phóng thanh không ngừng gọi bác sĩ. Một người đàn ông bị chảy máu liên tục rên rỉ, “Ôi mẹ kiếp, ôi mẹ kiếp.” Tôi vẫn thấy đôi mắt buồn và đẹp của Marcus Daniels. Tôi vẫn nghe được giọng nói nhẹ nhàng của cậu bé. Tối hôm đó, khoảng hơn sáu rưỡi một chút, người đồng sự của tôi trong các vụ án đột ngột xuất hiện tại bệnh viện. Tôi cảm nhận có chuyện gì đó không ổn nhưng trong lúc này tạm thời lờ nó đi.

John Sampson và tôi thân nhau kể từ khi lên mười, cái thuở còn chạy trên chính những con phố này ở Đông Nam D.C. Bằng cách nào đó, chúng tôi đã sống sót qua thời thơ ấu mà không phải cắt cổ họng. Tôi theo học ngành tâm lý bất thường và có được bằng tiến sĩ ở trường Johns Hopkins. Sampson vào quân đội. Và rồi một cách hết sức bí ẩn và lạ lùng, cuối cùng chúng tôi lại làm việc cùng nhau trong lực lượng cảnh sát D.C. Tôi ngồi trên chiếc băng ca không trải khăn đặt phía ngoài phòng Chấn thương. Bên cạnh tôi là “bàn thuốc di động” mà họ vừa dùng cho Marcus. Những dây garô cao su treo ở tay cầm màu đen như đám cờ đuôi nheo. “Cậu bé sao rồi?” Sampson hỏi. Cậu ta cũng biết Marcus. Không hiểu sao cậu ta luôn biết mọi thứ. Nước mưa vẫn rỏ xuống từ chiếc áo ponsô đen, nhưng xem ra cậu ta chẳng để tâm đến.

Tôi buồn bã lắc đầu. Tôi vẫn cảm thấy mình thật vô dụng. “Vẫn chưa biết. Họ không nói gì với tớ. Bác sĩ muốn biết liệu tớ có phải là người nhà đứa trẻ hay không. Họ đã đưa nó đến phòng Chấn thương. Nó đã tự làm mình bị thương rất nặng. Mà sao lúc rối ren này cậu lại đến đây?” Sampson hất vai cởi áo ponsô ra, đoạn ngồi phịch xuống cạnh tôi trên chiếc băng ca căng hết cỡ. Bên trong áo ponsô, cậu ta bận trang phục thám tử đường phố điển hình: bộ đồ thể theo màu đỏ hiệu Nike, hợp với đôi giày đế mềm mũi cao, vòng tay bằng vàng mỏng, nhẫn có khắc hình. Dáng vẻ đường phố ấy không bị sứt mẻ gì. “Cái răng vàng của cậu đâu rồi?” tôi gượng cười. “Phải có cái răng vàng ấy thì mới đồng bộ. Ít nhất phải có một ngôi sao vàng trên răng chứ. Tóc bện chân rết thì sao?”

Sampson khịt mũi cười. “Nhận được tin, tôi đến dây luôn,” cậu ta giải thích ngay về sự xuất hiện của mình ở bệnh viện St. Anthony. “Cậu có sao không đấy? Trông cậu như con voi đực to lớn, thiếu não còn sót lại vậy.” “Một đứa trẻ muốn tự sát. Nó đáng yêu, giống như Damon vậy. Chỉ mới mười một tuổi.” “Có cần tôi đột nhập ổ ma tuý của họ không? Bắn cha mẹ của đứa bé nhé?” Sampson hỏi, ánh mắt sắt đá.

“Chúng ta sẽ làm chuyện đó sau,” tôi đáp lại. Có lẽ tôi cũng muốn làm thế. Tin tốt là bố mẹ của Marcus Daniels sống cùng nhau, tin xấu là họ để thằng bé cùng bốn người chị em của nó sống tại ổ ma tuý mà họ làm chủ gần khu ổ chuột Langley. Lũ trẻ nhà đó tuổi từ năm đến mười hai đều tham gia vào công việc này. Chúng là những kẻ “cấp hàng”. “Cậu đang làm gì ở đây thế?” tôi hỏi lại cậu ta lần thứ hai. “Không phải tự nhiên mà cậu lại có mặt tại phố A này. Có chuyện gì vậy?”

Cậu ta rút một điếu thuốc Camels trong bao ra. Chỉ bằng một tay. Rất điêu luyện. Cậu ta châm lửa. Bác sĩ và y tá có mặt ở khắp mọi nơi. Tôi giằng điếu thuốc từ tay cậu ta, rồi di di đế giày Converse đen lên, gần chỗ hõm ngón chân cái. “Cảm thấy khá hơn chưa?” Sampson nhìn tôi. Rồi cậu ta nhe răng ra cười, khoe hàm răng trắng khá to của mình. Trò đùa đã kết thúc. Sampson đã làm phép với tôi, quả là kỳ diệu, cả việc làm trò với điếu thuốc vừa rồi cũng vậy. Tôi bỗng thấy khá hơn. Trò đùa đã phát huy tác dụng. Tôi thật sự cảm thấy như mình vừa được nửa tá người thân và hai đứa con ôm ấp vỗ về. Sampson là người bạn thân thiết nhất của tôi vì một lý do. Cậu ấy cô thể chọc tức tôi nhiều hơn bất cứ ai.

“Thiên sứ từ bi đã đến rồi,” cậu ta nói, chỉ xuống phía hành lang dài đang hỗn loạn. Annie Waters đi về phía chúng tôi, tay thọc sâu vào túi áo bác sĩ. Gương mặt chị căng thẳng như thường lệ. “Alex à, tôi rất lấy làm tiếc. Cậu bé không thể qua khỏi. Tôi nghĩ khi đến đây nó đã hấp hối rồi. Có lẽ chỉ sống nhờ vào hy vọng mà anh mang trong mình.”

Những hình ảnh sống động cùng cảm giác bồn chồn khi bế Marcus chạy dọc phố Năm mươi và L ùa về trong tôi. Tôi tưởng tượng cái lúc người ta trùm khăn lên xác Marcus. Đó là tấm khăn nhỏ dành cho trẻ con. “Đứa trẻ là bệnh nhân của tôi. Mùa xuân năm nay, thằng bé đã chọn tôi để điều trị cho nó.” Tôi kể cho hai người lý do khiến tôi phát điên đến thế, và bỗng nhiên cảm thấy suy sụp. “Tôi có thể làm gì giúp anh được không, Alex?” Annie Waters nói. Khuôn mặt đầy vẻ quan tâm lo lắng.

Tôi lắc đầu. Tôi cần phải nói, phải trút ra hết ngay bây giờ. “Marcus thấy tôi thi thoảng hay chuyện trò, giúp đỡ người ta ở thành phố A này. Nó bắt đầu ghé qua đây bằng xe moóc vào các buổi chiều. Khi tôi đã khiến nó tin tưởng, nó kể với tôi về cuộc sống của nó tại ổ ma tuý. Tất cả những người nó biết trong cuộc đời đều nghiện. Hôm nay, một kẻ như vậy đến nhà tôi... Rita Washington. Không phải mẹ nó, không phải cha nó. Đứa trẻ cố rạch cổ họng mình, rạch cổ tay mình. Chỉ mới mười một tuổi.” Mắt tôi ướt nhoà. Một đứa trẻ bé bỏng đã chết, có ai đó phải khóc. Bác sĩ tâm lý của một đứa trẻ mười một tuổi chết vì tự tử cần phải thương tiếc. Dù sao tôi cũng nghĩ vậy.

Cuối cùng, Sampson đứng dậy, nhẹ nhàng đặt cánh tay dài lên vai tôi. Cậu ta cao hai mét mốt. “Về nhà thôi, Alex,” cậu bạn nói. “Đi nào, bạn của tôi. Đến lúc phải về rồi.” Tôi bước vào nhìn Marcus lần cuối. Tôi cầm lấy bàn tay bé nhỏ không còn sự sống và nghĩ về nhưng câu chuyện giữa chúng tôi, về nỗi buồn khôn tả luôn ẩn chứa trong đôi mắt nâu của Marcus. Tôi nhớ có một câu ngạn ngữ khá hay và sâu sắc của dân châu Phi, “Nuôi một đứa trẻ khôn lớn cần đến cả một ngôi làng.”

Cuối cùng, Sampson đến kéo tôi ra khỏi đứa trẻ, đưa tôi về nhà. Nơi mọi thứ còn tồi tệ hơn nhiều. Chương 5

Tôi không thích nhìn thấy cảnh tượng này ở nhà mình. Xung quanh có xe pháo đậu lộn xộn. Nhà tôi có khung hình chữ A, lợp ván trắng, trông giống như mọi ngôi nhà khác. Hầu hết những chiếc xe ở đó đều quen thuộc, đó là xe của bạn bè và họ hàng tôi. Sampson đỗ xe đằng sau chiếc Toyota bị lõm đã dùng được mười năm, đó là xe của vợ Aaron, người anh trai đã khuất của tôi. Cilla Cross là một người bạn tốt, mạnh mẽ và thông minh. Cuối cùng, tôi còn thích chị hơn cả ông anh trai mình. Nhưng Cilla đang làm gì ở đây? “Trong nhà có chuyện quái quỷ gì thế nhỉ?” Tôi hỏi Sampson một lần nữa. Tôi bắt đầu hơi bồn chồn.

“Mời tôi làm cốc bia lạnh đi,” cậu ta nói trong khi rút chìa khoá ra khỏi ổ. “Ít nhất cậu có thể làm thế.” Sampson đứng lên ra khỏi xe. Khi muốn, cậu ta di chuyển nhanh như gió. “Vào trong thôi, Alex” Tôi đã mở của nhưng vẫn ngồi trong xe. “Đây là nhà tôi, tôi sẽ vào trong khi nào tôi muốn.” Bỗng nhiên tôi không muốn vào. Mồ hôi lạnh lấm tấm sau cổ. Chứng hoang tưởng của thám tử chăng? Có thể đúng mà cũng có thể sai.

“Đừng làm khó thế,” Sampson gọi với qua vai, “chỉ lần này thôi mà.” Cơn ớn lạnh chạy dọc toàn thân tôi. Tôi hít một hơi thật sâu. Ý nghĩ về con quái vật mặt người mới đây bị tôi tống vào tù vẫn khiến tôi gặp ác mộng. Tôi rất lo sợ một ngày nào đó hắn sẽ trốn thoát. Kẻ bắt cóc và giết người hàng loạt đã từng xuất hiện ở phố Năm mươi này rồi. Vậy cái quái gì đang diễn ra trong nhà tôi?

Sampson không gõ cửa trước cũng chả nhấn chiếc chuông cửa lủng lẳng trên nhưng sợi dây xanh đỏ. Cậu ta thản nhiên bước vào như thể nhà mình. Lần nào cậu ta đến cũng vậy. Mi casa es su casa[1]. Tôi theo cậu ta bước vào chính ngôi nhà của mình. [1] Tự nhiên như ở nhà (tiếng Tây Ban Nha). Con trai tôi, Damon, lao vào vòng tay dang rộng của Sampson, và John nhấc bổng nó lên như một chiếc lông hồng. Jannie chạy ào về phía tôi, vừa chạy vừa gọi “Bố yêu của con”. Con bé giờ đã mặc bộ đồ ngủ liền giày tất, toả ra hương phấn thơm tươi mát sau khi tắm gội sạch sẽ. Cô con gái bé bỏng của tôi.

Có điều gì không ổn trong đôi mắt to màu nâu của con bé. Vẻ mặt con bé khiến tôi cứng người lại. “Gì vậy, con yêu?” tôi hỏi, cọ mũi vào bầu má ấm áp, mềm mại của Jannie. Chúng tôi cứ cọ mũi mãi. “Chuyện gì thế? Nói cho bố nghe chuyện gì làm con đau buồn thế kia?” Trong phòng khách, tôi thấy ba người dì của tôi, hai chị dâu, và người anh trai còn lại Charles. Các dì đang khóc, mặt họ sưng húp, đỏ au. Cilla, chị dâu của tôi, cũng vậy, mà chị không phải kiểu người hay khóc lóc vô cớ.

Căn phòng mang không khí khác thường, ngột ngạt của buổi thức canh người chết. Có ai đó đã chết, tôi nghĩ. Ai đó mà tất cả mọi người đều yêu thương đã chết. Nhưng dường như tất cả mọi người tôi yêu quý đều có mặt ở đó, và tôi đều đã tính đến. Nana Mama, bà tôi đang phục vụ trà đá, cà phê cùng những miếng gà lạnh nhưng xem ra chẳng ai buồn ăn. Nana sống cùng tôi và bọn trẻ ở phố Năm mươi. Bà cho rằng bà đang nuôi cả ba chúng tôi. Ở tuổi tám mươi, Nana chỉ còn cao khoảng một mét rưỡi. Đối với tôi, bà vẫn là người ấn tượng nhất thủ đô, mà hầu hết những người đó tôi đều biết - gia đình tổng thống Reagan, Tổng thống Bush và giờ là Clinton.

Bà tôi không khóc khi mang đồ ăn cho mọi người. Tôi hiếm khi thấy bà khóc mặc dù bà là người vô cùng nồng ấm và biết quan tâm chia sẻ. Chỉ là bà không khóc nữa. Bà nói rằng mình chẳng còn sống được bao lâu nên không muốn phí phạm phần đời còn lại vào những giọt nước mắt. Sau cùng tôi bước vào phòng khách và hỏi câu hỏi đang luẩn quẩn trong đầu. “Rất vui được gặp cả nhà - Charles, Cilla, dì Tia - nhưng ai đó làm ơn hãy nói cho tôi biết chuyện gì đang diễn ra ở đây được không?” Tất cả họ đều nhìn chằm chằm vào tôi.

Tôi vẫn ẵm Jannie trên tay. Damon rúc dưới cánh tay phải vạm vỡ của Sampson như một quả bóng bầu dục đầy tóc. Nana cất tiếng thay cho cả nhà đang túm tụm vào nhau. Giọng nói thều thào của bà xuyên vào lòng tôi đau nhói. “Là Naomi,” bà khẽ nói. “Scootchie mất tích rồi, Alex.” Nói xong, Nana Mama ứa nước mắt lần đầu tiên trong vòng bao năm qua.

Chương 6 Casanova hét lên, những âm thanh lớn phát ra từ tận sâu trong cổ họng trở thành tiếng tru ghê rợn. Hắn cứ thế chạy thục mạng xuyên qua cánh rừng rậm rạp, và nghĩ về cô gái mà hắn đã bỏ lại ở đó. Sợ hãi những gì mình làm. Lại một lần nữa.

Hắn phần nào muốn quay trở lại chỗ cô gái - cứu cô - vì lòng thương hại. Cảm giác tội lỗi giờ đang xâm chiếm hắn, hắn bắt đầu chạy mỗi lúc một nhanh hơn. Cổ và ngực đẫm mồ hôi, hắn cảm thấy bủn rủn, chân cũng run lẩy bẩy như muốn khuỵu xuống. Hắn hoàn toàn hiểu những gì hắn đã làm. Chỉ là hắn không thể kiềm chế bản thân mình.

Dù sao thì như vậy vẫn tốt hơn. Cô ta đã nhìn thấy mặt hắn. Thật quá ngu ngốc khi nghĩ rằng cô có thể hiểu hắn. Hắn chỉ nhìn thấy nỗi sợ và sự ghê tởm trong mắt cô. Giá mà cô chịu lắng nghe khi hắn cố gắng trò chuyện. Bởi trên hết, hắn khác với những tên giết người hàng loạt khác - hắn có thể cảm nhận mọi thứ mình làm. Hắn có thể cảm nhận tình yêu... sự mất mát... và … Hắn giận dữ lột cái mặt nạ xác chết ra. Tất cả là lỗi của cô ta. Hắn sẽ phải thay đổi nhân cách ngay bây giờ. Hắn cần phải thôi làm Casanova.

Hắn cần là chính hắn. Một nhân cách đáng thương. Chương 7 Là Naomi. Scootchie đã mất tích rồi, Alex.

Cuộc họp khẩn cấp nhất của đại gia đình Cross diễn ra trong bếp như thường lệ. Nana pha thêm cà phê, và một chút trà thảo mộc cho mình. Trước tiên, tôi đưa lũ trẻ lên giường đi ngủ. Sau đó tôi khui một chai Black Jack và lần lượt rót những ly rượu whiskey mạnh nhất cho tất cả mọi người. Tôi được biết đứa cháu gái hai mươi hai tuổi đã mất tích ở Bắc Carolina bốn ngày nay. Cảnh sát tại nơi đó đợi chừng ấy thời gian mới liên lạc với gia đình chúng tôi ở Washington. Cũng là cảnh sát, tôi thấy điều này thật khó hiểu. Trong những trường hợp mất tích thông thường, cảnh sát chỉ cần chờ hai ngày là có thể thông báo. Bốn ngày thì đúng là vô lý. Naomi Cross là sinh viên luật ở trường đại học Duke. Cô bé học Rà soát Luật và đứng gần đầu lớp. Cô cháu gái là niềm tự hào của cả gia đình, và của chính tôi. Chúng tôi đặt tên thân mặt cho cô bé từ hồi nó mới ba, bốn tuổi. Scootchie. Thuở nhỏ, cô bé cứ lê mông bám lấy mọi người. Cô bé thích lê mông, thích ôm và được ôm. Sau khi anh trai Aaron của tôi qua đời, tôi cùng Cilla nuôi dạy cô bé. Việc này chẳng hề khó khăn - cô bé luôn dễ thương, hài hước, biết nghe lời và rất thông minh.

Scootchie bị mất tích. Ở Bắc Carolina. Bốn ngày rồi. “Tôi vừa nói chuyện với một thám tử tên là Ruskin,” - Sampson nói với mọi người trong bếp. Cậu ta cố gắng không xử sự như cảnh sát đường phố nhưng không kìm được. Cậu ta đã vào cuộc. Nghiêm nghị và cứng rắn. Cái nhìn đăm đăm của Sampson, “Xem ra thám tử Ruskin nắm khá rõ vụ mất tích của Naomi. Qua điện thoại có thể thấy anh ta là một cảnh sát mẫu mực. Dù vậy vẫn có gì đó rất lạ. Anh ta cho tôi biết một người bạn học chung trường luật với Naomi đã thông báo về việc cô bé mất tích. Tên cô ta là Mary Ellen Klouk.” Tôi đã gặp cô bạn ấy của Naomi. Cô bé là dân Garden City, Long Island, cũng là một luật sư tương lai. Naomi dẫn Mary Ellen về nhà ở Washington chơi vài lần. Chúng tôi đã cùng nhau đi nghe vở Messiah của Handel trong một dịp Giáng sinh ở trung tâm Kennedy.

Sampson tháo cặp kính đen ra và cất đi, điều hiếm khi cậu ta làm. Cậu ta rất yêu quý Naomi, và cũng bị sốc như tất cả chúng tôi. Cô bé gọi Sampson nào là “Ma vương” rồi “Chúa tể Bóng tối”, và cậu ta thích được cô bé trêu chọc như vậy. “Tại sao thám tử Ruskin không gọi cho chúng ta từ trước? Tại sao người ở trường đại học đó lại không gọi cho tôi?” chị dâu tôi hỏi. Cilla năm nay bốn mốt tuổi. Chị chả buồn giữ dáng nên vóc dáng khá đẫy đà. Tôi không chắc chị cao đến một mét bảy nhưng ắt hẳn phải nặng gần chín mươi cân. Chị từng nói với tôi rằng ở tuổi này chị không muốn quyến rũ đàn ông nữa. “Tôi cũng không rõ tại sao,” Sampson trả lời thắc mắc của Cilla cho tất cả chúng tôi. “Họ đã bảo Mary Ellen Klouk không gọi cho chúng ta.

“Chính xác thì thám tử Ruskin nói gì về sự chậm trễ này?” tôi hỏi Sampson. “Anh ta nói có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Anh ta không cho tôi biết rõ, dù tôi đã ra sức thuyết phục.” “Cậu có nói mình sẽ đến gặp trực tiếp anh ta không?”

Sampson chậm rãi gật đầu: “E hèm. Anh ta bảo kết quả cũng thế cả thôi. Tớ bảo không tin. Anh ta nói cứ việc. Có vẻ chả ngán gì hết.” “Người da màu à?” Nana hỏi. Bà là người theo chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, và tự hào về điều đó. Bà nói mình già rồi, khó có thể sửa đổi cách cư xử cho hợp với xã hội hay chính trị. Bà không ưa dân da trắng, nhưng cái chính là bà thiếu tin tưởng ở họ. “Không, cháu nghĩ vấn đề không nằm ở đó Nana ạ. Có cái gì đó khác cơ.” Sampson nhìn tôi qua chiếc bàn bếp. “Tớ nghĩ anh ta không thể nói ra.”

“FBI?” tôi hỏi. Đó là phỏng đoán hiển nhiên khi mọi việc trở nên quá bí mật thế này. FBI thường nắm rõ thông tin hơn cả tổng đài Bell Atlantic, báo Washington Post, và New York Times, nơi thông tin vốn là quyền lực. “Rất có khả năng. Ruskin không thừa nhận điều đó khi nói chuyện trên điện thoại.” “Tốt hơn tớ nên nói chuyện với anh ta,” tôi nói. “Có lẽ đến gặp anh ta là tốt nhất, cậu có nghĩ vậy không?”

“Chị nghĩ cách đó có ích đấy Alex,” Cilla nói với lên từ phía cuối bàn. “Chắc tớ cũng bám càng,” Sampson nói, cười ngoác miệng như bản chất sói săn mồi của mình. Mọi người gật đầu nghiêm nghị, ít nhất một lời cầu nguyện vang lên nơi căn bếp chật kín. Cilla đi vòng qua bàn, ôm tôi thật chặt. Người chị dâu tôi run rẩy như thân cây to rộng giữa cơn bão.

Sampson và tôi sẽ đi về phía Nam. Chúng tôi sẽ đưa Scootchie trở về. Chương 8 Tôi phải nói với Jannie và Damon về “Chị Scootch,” cái tên bọn trẻ vẫn gọi cô bé. Chúng cũng cảm thấy có chuyện tồi tệ đã xảy ra. Cũng giống như khi bằng cách nào đó chúng phát hiện ra những góc bí mật và dễ tổn thương nhất trong tôi. Hai đứa chỉ chịu đi ngủ khi tôi vào kể cho chúng nghe.

“Chị Scootch đang ở đâu? Có chuyện gì xảy ra với chị thế bố?” Damon gặng hỏi ngay khi tôi vào phòng ngủ của hai đứa. Nghe người lớn nói chuyện, thằng bé đã đủ hiểu Naomi đang gặp rắc rối khủng khiếp. Tôi luôn coi việc nói sự thật với lũ trẻ là điều cần thiết, nếu như có thể được. Tôi đã hứa là luôn nói cho chúng biết sự thật. Nhưng mỗi lần như thế thì lại chẳng hề dễ dàng. “Từ mấy ngày qua, chúng ta không có tin tức gì của chị Naomi cả,” tôi bắt đầu câu chuyện. “Vì thế mà tối nay mọi người lo lắng và tập trung ở nhà mình,” tôi nói.

Tôi tiếp tục, “Bố phải đi phá án. Bố sẽ cố hết sức tìm ra chị Naomi trong mấy ngày tới. Các con biết là bố luôn giải quyết được mọi việc mà, đúng không?” Damon gật đầu tán thành sự thật đó, lời tôi nói khiến thằng bé có vẻ vững tâm hơn, nhưng đó chủ yếu là nhờ giọng điệu nghiêm túc của tôi. Thằng bé nhào vào vòng tay tôi, hôn tôi, những cử chỉ mà gần đây nó chẳng mấy khi làm. Jannie đặt lên má tôi một nụ hôn dịu dàng nhất. Tôi dang cả hai tay ôm chúng. Những thiên thần nhỏ đáng yêu của tôi. “Bố sẽ phá án,” Jannie thì thầm. Điều đó khiến tinh thần tôi phấn chấn lên đôi chút. Như Billie Holiday đã viết, “Chúa phù hộ cho những đứa trẻ tự lập.”

Đến mười một giờ, hai đứa trẻ đã ngủ ngon lành và mọi người bắt đầu giải tán. Hai người dì lớn tuổi đã trở về nhà với tổ ấm kỳ lạ của các bà nội trợ, Sampson cũng chuẩn bị ra về. Sampson thường ra vào tự do như nhà mình nhưng hôm nay, Nana tiễn cậu ta ra tận cửa, một điều hiếm thấy. Tôi đi theo họ. Đông vẫn an toàn hơn. “Cảm ơn cháu vì đã dành thời gian cùng Alex xuống miền Nam vào ngày mai,” Nana nói nhỏ vói Sampson. Tôi băn khoăn bà đang nghĩ ai sẽ nghe thấy, tình cờ để lọt tai những tâm sự của bà đây. “Cháu biết đấy, John Sampson, cháu hoàn toàn có thể tỏ ra lịch thiệp và hữu ích phần nào chỉ cần cháu muốn. Chẳng phải bà luôn nói thế với cháu sao?” Bà gí ngón tay cong cong trơ xương vào chiếc cằm bạnh của cậu ta. “Phải không nào?”

Sampson cúi xuống nhe răng cười với bà. Cậu ta thích thú khoe thể hình vượt trội dù là so với một bà già tám mươi tuổi. “Cháu sẽ để Alex đi một mình chứ, cháu chỉ cần đến sau thôi Nana ạ. Để giải cứu cậu ta và Naomi.” Nana và Sampson cười khúc khích giống như đôi quạ biếm họa đậu trên hàng rào cũ kỹ quen thuộc. Thật vui khi nghe thấy tiếng cười đó. Rồi bà cố vòng tay ôm cả tôi và Sampson. Bà đứng đó - như một cơ thể già nua nhỏ bé cố bám vào hai cây cù tùng mà bà yêu quý. Tôi cảm nhận rõ cơ thể mong manh của bà đang run rẩy. Hai mươi năm qua, Nana Mama chưa từng ôm chúng tôi thế này. Tôi biết bà yêu thương Naomi như con gái ruột của mình, và bà lo sợ cho cô bé. Đó không thể là Naomi. Cô bé không gặp chuyện gì xấu đâu, không phải Naomi. Những từ đó cứ lởn vởn trong óc tôi. Nhưng chắc chắn đã có chuyện xảy ra với cô bé, và giờ tôi sẽ phải suy nghĩ và hành động như một cảnh sát. Như một thám tử điều tra án mạng. Ở phương Nam.

“Giữ vững niềm tin và theo đuổi đến tận cùng bí mật” Oliver Wen-dell Holmes đã từng nói vậy. Tôi có niềm tin. Tôi theo đuổi một bí mật. Đó chính là công việc của tôi. Chương 9 Bảy giờ tối là khoảng thời gian nhộn nhịp trong khuôn viên tuyệt đẹp của trường Đại học Duke những ngày cuối tháng Tư. Vẻ rực rỡ hiện hữu khắp nơi tự xưng là “Harvard của miền Nam”. Những cây mộc lan nở rộ bạt ngàn, nhất là dọc

.