Hôm nay bạn muốn đọc gì?

Nụ hôn của Casanova - Chương 63

el. Tôi đã nhờ tiến sĩ Freed chuẩn bị một bản đồ đặc biệt khu vực song Wykagil cho chúng tôi.

Vị giáo sư sử học bảy mươi bảy tuổi đã thực hiện rất tốt đề nghị cùa tôi. Tôi hy vọng tấm bản đồ sẽ giúp tôi và Sampson tìn thấy “ngôi nhà bốc hơi”. Ý tưởng đó xuất hiện trong đầu tôi sau khi đọc vài bài báo viết về vụ sát hại cặp đôi vàng. Hơn mười hai năm trước, thi thể của Roe Tierney được tìm thấy gần “một nông trại bỏ hoang, nơi các nô lệ bỏ trốn từng ẩn náu trong những căn hầm ngầm lớn. Những căn hầm này giống như những ngôi nhà nhỏ dưới lòng đất, một số có đến cả tá phòng hoặc gian riêng biệt.” Những căn nhà dưới lòng đất? Ngôi nhà bốc hơi?

Có một ngôi nhà ở đâu đó. Ngôi nhà không hề bốc hơi. Chương 104 Sampson và tôi lái xe đến Brigadoon, Bắc California. Chúng tôi định cuốc bộ qua rừng đến nơi mà trước đây Kate được tìm thấy ở sông Wykagil. Ray Bradbury đã từng viết rằng “chấp nhận rủi ro là phải nhảy khỏi vách đá, tự tạo nên đôi cánh lúc hạ xuống,” Sampson và tôi đã sẵn sàng nhảy.

Khi chúng tôi lê bước vào cánh rừng âm u, những cây sồi và cây thông California cao chót vót che hết ánh sáng mặt trời. Điệp khúc của đám ve sầu quyện đặc như mật đường xung quanh chúng tôi. Không khí trở nên lắng đọng. Tôi có thể tưởng tượng, tôi nhìn thấy hình ảnh Kate chạy qua những cánh rừng xanh thẫm này, chiến đấu để giành lấy sự sống chỉ với vài tuần trước. Tôi lại nghĩ về tình trạng cô ấy bây giờ, sống sót nhờ vào những hệ thống hỗ trợ sự sống. Tôi có thể nghe tiếng kêu bíp bíp của các thiết bị. Chỉ cần nghĩ đến đó thôi cũng khiến trái tim tôi quặn đau. “Tớ không thích cảm giác ở trong những cánh rừng rậm rạp, tối tăm,” Sampson thú nhận khi chúng tôi đi dưới dàn dây leo rậm rì và những ngọn cây giống như túp lều. Cậu ấy mặc áo sơ mi Cypress Hill, quần jean, ủng lao động, đeo kính mát Ray-Ban. “Khiến tớ nhớ đến Hansel và Gretel. Đúng là ba cái thứ cải lương anh bạn ạ. Hồi bé, tớ ghét câu chuyện đó lắm.”

“Cậu thì có lúc nào hồi bé đâu,” tôi nhắc câu ấy. “Mười một tuổi cậu đã cao mét tám rồi, và có quan tâm đến tác phẩm nghệ thuật nào đâu.” “Có thể, nhưng tớ ghét những câu chuyện của anh em nhà Grimm. Mặt đen tối trong trí óc người Đức là đã để những ảo tưởng khó chịu bóp méo trí óc trẻ con Đức. Hẳn là cũng có tác dụng đấy.” Sampson lại khiến tôi bật cười với cái lý thuyết bị bóp méo về thế giới bị bóp méo. “Cậu không ngần ngại điều tra những vụ án của D.C vào ban đêm, nhưng một cuộc đi dạo nhẹ nhàng trong khu rừng này lại làm cậu sợ sao? Ở đây không có gì làm hại cậu đâu. Cây thông. Giàn nho xạ. Bụi cây mâm xôi. Trông thì có vẻ nguy hiểm, có thể lắm, nhưng vô hại.”

“Có vẻ nguy hiểm tức là nguy hiểm. Đó là phương châm của tớ.” Sampson khó khăn lách cơ thể vạm vỡ qua những cây non và kim ngân hoa quấn chặt vào nhau nơi bìa rừng. Kim ngân giống như một màn lưới giăng khắp mọi nơi. Chúng mọc khá lộn xộn. Tôi tự hỏi liệu gã Casanova có đang theo dõi chúng tôi hay không. Tôi ngờ rằng hắn là một kẻ quan sát cực kỳ kiên trì. Cả hắn và Will Rudolph đều thông minh, có óc tổ chức, và cẩn trọng. Chúng đã tác oai tác quái nhiều năm mà chưa bị sa lưới.

“Làm sao cậu biết câu chuyện của những nô lệ trong vùng này?” Tôi hỏi Sampson trong khi cuốc bộ. Tôi muốn cậu ta thôi không nghĩ đến lũ rắn độc và dây leo lủng lẳng như rắn nữa. Tôi cần cậu ta tập trung vào kẻ giết người, hoặc có thể là những kẻ giết người đang hiện diện trong khu rừng này với chúng tôi. “Tớ xem qua một vài nghiên cứu của E.D Genovese, và Mohamed Auad,” cậu ta trả lời. Tôi không biết cậu ta có nói nghiêm túc hay không. Là người thiên về hành động nhưng Sampson rất chịu khó đọc. “Đường Xe lửa ngầm đã từng được sử dụng ở nơi này. Những người nô lệ cùng cả gia đình bỏ trốn lên phía Bắc đã trú ẩn an toàn trong nhiều ngày, thậm chí trong nhiều tuần tại một số trang trại địa phương. Chúng được gọi là trạm,” tôi nói. “Đó là những gì thể hiện trong bản đồ của tiến sĩ Freed. Sách của ông ấy cũng viết vậy.”

“Tớ không thấy bất kỳ trang trại nào cả, bác sĩ Livingstone[1] ạ. Chỉ có đám nho xạ chết tiệt này,” Sampson càu nhàu, dùng cánh tay dài đẩy những cành cây khác ra. [1] Bác sĩ, nhà truyền giáo, nhà thám hiểm vĩ đại người Scotland. “Phía Tây chỗ này từng là những trang trại thuốc lá rộng lớn. Chúng đã bị bỏ hoang gần sáu mươi năm rồi. Còn nhớ tớ đã kể với cậu chuyện một sinh viên Đại học Bắc California bị hãm hiếp và giết hại dã man vào năm 1981 không? Cơ thể bị phân hủy của cô gái đã được phát hiện tại nơi này. Tôi nghĩ Rudolph, hoặc có thể là Casanova đã giết cô gái đó. Đó là khoảng thời gian chúng gặp nhau lần đầu tiên.”

“Bản đồ của tiến sĩ Freed cho thấy vị trí của đường sắt ngầm cổ, và hầu hết trang trại của các nô lệ chạy trốn ẩn náu. Một số trang trại từng mở ra các hầm, thậm chí là những khu nhà dưới lòng đất. Giờ đây thì chính các trang trại đều đã biến mất. Máy bay tuần tra không thể nhìn thấy gì từ trên cao. Cây kim ngân và mâm xôi cũng mọc quá dày đặc. Mặc dù những căn hầm vẫn còn đây.” “Hừm. Cậu có bản đồ tiện ích để xem vị trí của các trang trại thuốc lá thời xưa đó chứ?” “Có chứ. Bản đồ. La bàn. Có cả một khẩu súng lục nữa,” tôi nói, vỗ nhẹ vào bao súng.

“Quan trọng nhất là,” Sampson nói, “cậu còn có tớ.” “Chính xác. Chúa sẽ bảo vệ chúng ta khỏi những kẻ vô đạo.” Sampson và tôi đi mãi, đi mãi trong buổi chiều nóng ẩm, mệt mỏi. Chúng tôi cố gắng tìm ba trong số các trang trại, nơi lá cây thuốc lá từng mọc xum suê; nơi những người đàn ông, đàn bà da đen, đôi khi là cả gia đình họ với khuôn mặt đầy sợ hãi được đưa vào nơi ẩn náu trong những căn hầm cũ, khi họ cố chạy trốn đến với miền đất tự do ở phía Bắc, đến những thành phố như Washington, D.C.

Hai trong số những căn hầm ở chính xác nơi mà tiến sĩ Freed chỉ ra. Những tấm ván gỗ cũ kỹ, kim loại cong vênh đầy rỉ sét là dấu hiệu duy nhất còn lại của trang trại xưa kia. Trông như thể một vị thần giận dữ đã xuống đây phá hủy cảnh sở hữu nô lệ lạc hậu. Khoảng bốn giờ chiều, Sampson và tôi đến trang trại của gia đình Jason Snyder từng vang bóng một thời. “Làm thế nào cậu biết chúng ta đến nơi rồi?” Sampson nhìn quanh khu vực nhỏ hẹp, hoang vắng, đổ nát mà tôi dừng lại.

“Bản đồ vẽ tay của tiến sĩ Louis Freed chỉ như vậy. La bàn cũng chỉ hướng tương tự. Ông ấy là sử gia nổi tiếng, nên chắc chắn là đúng.” Dù vậy Sampson cũng có lý. Ở đây chẳng có gì mà nhìn. Trang trại nhà Jason Snyder đã hoàn toàn biến mất. Như Kate đã nói trước đó. Chương 105

“Nơi này khiến tớ nổi da gà,” Sampson nói. “Một trang trại thuốc lá ra là thế này.” Nơi một thời là trang trại nhà Snyder trông đặc biệt kỳ lạ và đầy âm khí, rùng rợn ghê người. hầu như không có bằng chứng xác thực nào chứng minh con người đã từng sinh sống tại đây. Tuy nhiên khi đứng trước đống tàn tích đổ nát của trang trại thuốc lá xa xưa tôi có thể cảm thấy máu xương của những người nô lệ. Cây de vàng, cây bụi, kim ngân, thường xuân độc mọc cao đến cằm tôi. Nơi mà trang trại trù phú trước kia từng tồn tại thì bây giờ là những cây sồi đỏ trắng, ngô đồng và vài cây gỗ gôm cao lớn tươi tốt. Nhưng bản thân trang trại thì đã biến mất.

Tôi cảm thấy tê tái ngay giữa lồng ngực. Đây có phải là nơi khủng khiếp đó không? Có phải chúng tôi đang đến gần ngôi nhà kinh dị mà Kate đã từng mô tả? Chúng tôi đã đi về phía Bắc, và giờ tới phía Đông. Chúng tôi không đi quá xa đường quốc lộ, tôi ước giá như trước mình đậu xe tại đó. Theo tính toán sơ bộ của tôi, chúng tôi đi xa đường quốc lộ chưa đến bốn hoặc năm cây số. “Những đội tìm kiếm Casanova chưa bao giờ quay trở lại đây,” Sampson vừa nói vừa đi loanh quanh thăm dò. “Mấy bụi cây rậm rạp, lộn xộn kinh lên được. Tôi chả thấy dấu chân người đâu cả.”

“Tiến sĩ Freed nói rằng có lẽ ông ấy là người cuối cùng đến nghiên cứu từng vị trí của đường sắt ngầm xưa kia. Khu rừng này dần trở nên rậm rạp um tùm khiến người bình thường không vào được,” tôi nói. Máu xương của tổ tiên tôi. Đó là một ý nghĩ mạnh mẽ, gần như choáng ngợp: đến nơi những người nô lệ đã từng bị giam giữ trong nhiều năm. Không ai đến giải cứu họ. Không ai quan tấm đến họ. Không thám tử nào thời đó đi tìm những tên quái vật mặt người, những kẻ bắt toàn bộ gia đình người da màu rời khỏi quê hương của họ.

Tôi sử dụng dấu mốc tự nhiên trên bản đồ để xác định vị trí căn hầm nhà Snyder trước đây. Tôi cũng cố gắng củng cố tinh thần - phòng khi tìm thấy thứ mà tôi không muốn thấy. “Có lẽ chúng ta đang đi tìm một cánh cửa chui cũ kỹ,” tôi nói với Sampson. “Trên bản đồ của Freed thì không có bất cứ địa điểm nào được đánh dấu cụ thể. Căn hầm được ghi là cách đám cây ngô đồng mười hai đến mười lăm mét về phía Tây. Tớ nghĩ đúng là đám cây này rồi, có khi bây giờ chúng ta đang đứng ngay trên căn hầm không chừng. Nhưng cửa vào là chỗ chết tiệt nào đây?” “Có lẽ là nơi mà không ai vô tình dẫm lên nó,” Sampson đoán. Cậu ấy đang đi xuyên qua những tầng cây thấp rậm rạp, và hoang dại hơn.

Xa xa sau mớ dây keo chằng chịt là một cánh đồng hoặc đồng cỏ trơ trọi, nơi cây thuốc lá đã từng được trồng và phát triển. Xa hơn nữa là những rừng cây rậm rì. Không khí ngột ngạt tĩnh mịch. Sampson dần trở nên mất kiên nhẫn, và trả thù bằng cách đốn ngã cây kim ngân. Cậu ấy giẫm thật mạnh chân xuống đất, cố gắng xác định vị trí của canh cửa bí mật. Cậu ấy lắng nghe xem có âm thanh rỗng nào hay không, như tiếng gỗ hoặc kim loại dưới lớp cỏ cao và tầng cỏ dại um tùm, chằng chịt. “Ban đầu chỉ là một hầm rượu lớn sâu hai tấc đất. Có thể Casanova đã cơi nới thêm. Xây một thứ hoành tráng hơn cho ngôi nhà kinh dị của hắn,” tôi nói khi đang tìm kiếm trong những bụi cây thấp. Tôi nghĩ đến việc Naomi bị giam giữ quá lâu dưới lòng đất. Đã hàng tháng nay, hàng tuần nay, tôi cứ nghĩ mãi về cô bé. Bây giờ vẫn thế. Sampson đã nói đúng về khu rừng này. Nó thật rùng rợn, và tôi có cảm giác như chúng tôi đang đứng ở một nơi ma quái từng xảy ra những chuyện lén lút phi pháp. Naomi có thể đang ở đâu đó gần đây, dưới lòng đất.

“Cậu lại trù ẻo tớ rồi đấy. Đang cố suy nghĩ như tên khốn đó đây. Câu có chắc rằng tiến sĩ Sachs về vườn không phải là Casanova không?” Sampson hỏi trong lúc tìm kiếm. “Không, cũng chưa chắc. Nhưng tớ không biết tại sao cảnh sát Durham lại bắt hắn. Sao tự dưng họ lại tìm được những bộ đồ lót lại có trong nhà hắn?” “Bởi có lẽ hắn là Casanova, anh bạn à. Bởi vì có lẽ hắn để đồ lót nạn nhân ở đó để mỗi chiều mưa lôi ra ngửi. FBI và đội phòng chống tội phạm Durham chuẩn bị khoá hồ sơ vụ án này rồi thì phải?”

“Nếu trong thời gian đó không có vụ sát hại hoặc bắt cóc nào nữa. Một khi họ khoá sổ thì gã Casanova thật có thể rảnh tay, lập kế hoạch cho tương lai hắn.” Sampson đứng thẳng người, rướn cái cổ dài. Cậu ta thở dài. Rồi rên rỉ ầm ĩ. Chiếc áo thun thấm đẫm mồ hôi. Rồi cậu bạn tôi chăm chăm nhìn lên mớ dây leo chằng chịt. “Chúng ta còn phải cuốc bộ cả chặng đường dài về chỗ đỗ xe. Một cuốc đi vừa dài, vừa tối tăm, lại nóng nực, mệt mỏi.” “Vẫn chưa xong đâu. Cùng tớ làm nốt việc này đi.”

Tôi không muốn ngừng cuộc tìm kiếm mà ra về. Lại được sát cánh bên Sampson quả là tốt phước. Hiện vẫn còn ba trang trại nữa trên bản đồ của tiến sĩ Freed. Hai trong số đó có vẻ nhiều hứa hẹn; còn cái kia thì xem ra quá nhỏ. Nhưng rất có thể đó lại chính là nơi Casanova chọn để ẩn náu. Chẳng phải hắn vốn là kẻ có sở thích ngược đời sao? Tôi cũng vậy. Tôi vẫn muốn tiếp tục tìm kiếm suốt đêm, không e ngại những cánh rừng tối, lũ rắn đen và rắn hổ mang, lũ sát nhân song sinh. Tôi nhớ lại câu chuyện kinh hoàng của Kate về căn nhà bốc hơi và những gì diễn ra trong đó. Thực ra thì vào ngày cô trốn thoát đã xảy ra chuyện gì? Nếu ngôi nhà không nằm trong rừng thì nó đang nằm ở chỗ quái nào? Nó phải ở dưới lòng đất. Ngoài ra không còn giả thuyết nào khác…

Không có bất kỳ giả thuyết nào khác. Trừ phi ai đó đã cố ý xoá đi mọi dấu vết cuối cùng của trang trại. Trừ phi ai đó đã sử dụng những khúc gỗ cũ để xây thứ khác.

Cuối cùng tôi rút súng ra rà soát xung quanh, bất cứ cái gì để chỉa súng vào. Sampson nhìn tôi qua khoé mắt. Tò mò nhưng không lên tiếng. Tôi cần phải giải toả nỗi giận dữ trong lòng. Làm vơi đi thù ghét và căng thẳng. Ngay tại nơi này và ngay bây giờ. Dù vậy, cũng chẳng có mục tiêu nào để bắn. Không có ngôi nhà kinh hoàng nào nằm dưới lòng đất. Cũng không có tấm ván mục nát của một trang trại hay chuồng ngựa. Không một dấu tích nào còn sót lại.

Cuối cùng tôi bắn một loạt đạn vào thân cây nhiều bướu gần đó. Trong cơn giận giữ bùng phát, tôi thấy cái bướu nom như đầu người. Một người đàn ông giống Casanova. Tôi lại bắn liên tiếp. Tất cả đều trúng mục tiêu, cực kỳ chuẩn xác. Tôi đã giết Casanova! “Cảm thấy dễ chịu hơn chưa?” Sampson chăm chú nhìn tôi qua cặp kính mát Ray-ban. “Cậu đã bắn trúng đôi mắt tội lỗi của ông ba bị rồi đấy.” “Đỡ hơn tí. Chẳng nhiều gì cho cam.” Tôi giơ ngón tay cái và ngón trỏ cho cậu ấy xem, khoảng cách giữa ngón tay là một milimét. Sampson tựa tựa vào một cái cây còi cọc giống như bộ xương người. Những cây non không đủ ánh sáng. “Tớ thật lòng nghĩ rằng chúng ta nên cuốn gói rời khỏi đây thôi,” cậu ấy nói.

Đúng lúc đó chúng tôi nghe thấy tiếng la hét. Tiếng của những phụ nữ phát ra dưới lòng đất. Những tiếng la hét nghèn nghẹt, nhưng chúng tôi cũng nghe rõ mồn một. m thanh vọng đến phía Bắc nơi chúng tôi đang đứng, vang đến tận những bụi mâm xôi dày đặc, nhưng nơi đồng không mông quạnh sau cánh đồng thuốc lá xưa cũ là nghe rõ hơn cả.

Khi tôi nghe thấy những âm thanh dưới lòng đất là lúc nỗi căng thẳng tột độ bùng phát dữ dội. Tôi vô thức gục đầu xuống ngực. Sampson rút khẩu Clock ra bắn nhanh hai phát liên tiếp, tạo tín hiệu cho những phụ nữ bị mắc kẹt, cho bất cứ ai la hét dưới lòng đất. Những tiếng la hét nghèn nghẹt mỗi lúc một to hơn, như vọng lên từ tầng thứ mười địa ngục.

“Ôi chúa ơi,” tôi thì thầm. “Chúng ta tìm thấy họ rồi, John ơi. Chúng ta tìm thấy ngôi nhà kinh dị rồi.” Chương 106 Sampson và tôi quỳ gối chống tay xuống đất. Chúng tôi điên cuồng tìm kiếm lối vào bí mật của căn nhà dưới lòng đất, quờ quạng ngón tay và lòng bàn tay vào bụi rậm đến mức trầy xước chảy máu. Tôi nhìn xuống thì thấy tay mình run rẩy.

Tôi lại bắn nhiều phát đạn hơn, để cho những người phụ nữ bị mắc kẹt dưới biết rằng chúng tôi đã nghe thấy họ, và rằng chúng tôi vẫn đang ở trên này. Sau khi bắn xong, tôi nhanh chóng nạp thêm đạn. “Chúng tôi ở trên này!” tôi hét lên, đầu ghé xuống đất. Cỏ và cỏ dại cào xước mặt tôi. “Chúng tôi là cảnh sát!” “Tìm được rồi, Alex,” Sampson gọi tôi. “Cánh cửa ở đây này. Một loại cửa gì đấy.”

Chạy qua những tầng cỏ dại rậm dày, cao lút giống như lội bì bõm dưới nước vậy. Cánh cửa chui ẩn trong bụi kim ngân hoa và đám cỏ cao đến thắt lưng, nơi Sampson đang tìm kiếm. Cửa bị phủ thêm một lớp cỏ và lá thông dày. Có lẽ đội tìm kiếm hay bất cứ ai đi bộ qua rừng sẽ không bao giờ tìm ra cánh cửa này. “Tớ sẽ xuống đó trước,” tôi nói với Sampson. Máu chảy rần rật, sôi sục trong tai tôi. Thường thì cậu ấy sẽ tranh cãi. Lần này thì không. Tôi hối hả chạy rầm rầm xuống cầu thang gỗ dốc, nhỏ hẹp dường như được xây dựng cách đây cả nửa thế kỷ. Sampson chạy ngay sau tôi. Một cặp song sinh hoà hợp.

Dừng lại! Tôi tự nhủ. Chậm lại nào. Ở phía cuối cầu thang có một con đường thứ hai. Cánh cửa gỗ sồi nặng trịch trông còn khá mới, như thể mới được lắp, có thể là năm ngoái hay năm kia. Tôi từ từ xoay tay nắm cửa. Cửa khoá. “Tôi vào đây,” tôi hét lên báo hiệu cho bất cứ ai đang đứng sau cửa. Rồi tôi bắn hai phát đạn vào ổ khoá khiến nó tung ra. Tôi dùng vai đẩy mạnh thì cánh cửa gỗ ì ạch mở ra. Cuối cùng thì tôi đã vào trong ngôi nhà kinh dị. Cảnh tượng trước mắt làm tôi buồn nôn. Thi thể người phụ nữ được đặt trên một chiếc ghế bành trong căn phòng có vẻ là phòng khách trang bị đầy đủ tiện nghi. Xác chết đã bắt đầu phân huỷ. Không còn nhận ra đặc điểm. Giòi lúc nhúc trên thi thể nạn nhân.

Hành động, tôi tự nhủ. Hành động! Hành động ngay. “Tôi ở ngay sau cậu đây,” Sampson trầm giọng thì thầm, kiểu giọng hiện trường án mạng. “Cẩn thận đấy, Alex.” “Cảnh sát đây!” tôi hét lớn. Giọng tôi run rẩy, khàn khàn. Tôi sợ cả những thứ mà chúng tôi có thể tìm ra trong nơi ẩn náu này. Liệu Naomi có còn ở đây không? Cô bé còn sống không?

“Chúng tôi ở dưới này!” một người phụ nữ hét lớn. “Có ai nghe tôi không?” “Chúng tôi nghe thấy cô. Chúng tôi đang đến!” tôi hét lại. “Xin hãy giúp chúng tôi!” Giọng nói thứ hai trong căn nhà ngầm nghe có vẻ xa hơn. “Hãy cẩn thận. Hắn quỷ quyệt lắm.”

“Thấy chưa. Hắn quỷ quyệt,” Sampson thì thầm. Không bao giờ bối rối. “Hắn đang ở trong nhà! Hắn đang ở đây!” một người phụ nữ hét lên cảnh báo chúng tôi. Sampson vẫn đứng phía sau tôi, theo sát từng bước một. “Cậu vẫn muốn giữ quan điểm hả cộng sự? Mạo hiểm?”

“Tớ muốn chính tớ tìm ra con bé,” tôi nói với cậu ấy. “Tớ phải tìm thấy Scootchie.” Cậu ấy không phản đối. “Cậu có nghĩ rằng tên người tình nhỏ bé đang ở đâu đó dưới này không? Casanova ấy?” cậu ấy thầm thì. “Tôi nghe nói vậy,” tôi vừa nói vừa nhích lên phía trước. Hai chúng tôi đã rút súng ra sẵn sàng chiến đấu. Chúng tôi không hề biết điều gì đang chờ đợi ở phía trước. Liệu gã người tình nhỏ bé có chờ sẵn chúng tôi không?

Đi! Đi! Nhấc chân lên nào! Tôi dẫn đường ra khỏi căn phòng khách vắng tanh. Những chiếc đèn trần công nghệ cao thắp sáng cả hành lang liền kề. Hắn xoay đâu ra điện ở dưới này? Một chiếc biến áp? Máy phát điện? Thế tức là sao? Rằng hắn khéo léo ư? Rằng hắn cấu kết với công ty điện địa phương ư? Phải mất bao nhiêu lâu mới hoàn thành xong căn hầm dưới lòng đất có đủ điều kiện thế này? Tôi băn khoăn. Để trang bị đầy đủ như thế này? Để thế giới tưởng tượng của hắn biến thành sự thật?

Không gian rộng rãi. Chúng tôi bước vào hành lang dài ngoằn ngoèo từ phòng khách sang phía bên phải. Hai bên đều có phòng, phòng nào cũng bị khoá trái như ngục giam. “Xem chừng phía sau nhé,” tôi nói với Sampson. “Tớ sẽ mở cánh cửa số một.” “Tớ luôn xem chừng phía sau cậu,” cậu ấy thì thầm.

“Cả phía sau cậu nữa đấy.” Tôi tiến đến cảnh cửa đầu tiên. “Cảnh sát đây,” tôi thét lớn. “Tôi là thám tử Alex Cross. Mọi chuyện sẽ ổn cả thôi.” Tôi giật mạnh cánh cửa đầu tiên ngó vào bên trong. Tôi muốn đó là Naomi. Tôi cầu nguyện điều đó trở thành sự thật.

Chương 107 “Đúng là mấy thằng ngu hết thuốc chữa,” Kẻ Lịch Thiệp nói, nghiệt ngã và thiếu kiên nhẫn như mọi khi. “Hai thằng hề da đen trong ngày hội.” Casanova cười nhạt, càng lúc càng mất kiên nhẫn với Kẻ Lịch Thiệp. “Thế anh mong đợi cái quái gì hả? Bác sĩ phẫu thuật não từ Walter Reed ở Washington đến à? Chúng chỉ là hai thằng cảnh sát đường phố tầm thường mà thôi.”

“Không tầm thường lắm đâu. Chúng đã tìm thấy ngôi nhà, phải vậy không? Chúng vào trong rồi.” Từ nơi ẩn nấp gần đó trong rừng, hai tên đồng bọn cùng quan sát mọi việc xảy ra. Suốt cả buổi chiều, chúng đã bám theo vị thám tử bằng cách theo dõi họ qua ống nhòm. Lập âm mưu, lên kế hoạch, và cũng chơi với con mồi. Chúng rất cẩn thận khi bước vào cuộc đối đầu cuối cùng này. “Tại sao chúng không đem những kẻ khác đến đây nhỉ? Tại sao không đi cùng với FBI?” Rudolph hỏi. Gã luôn tọc mạch và suy nghĩ rất logic. Một cỗ máy logic; một cỗ máy giết người; nhưng là cỗ máy không tim.

Casanova lại nhìn qua chiếc ống nhòm hữu dụng của Đức. Hắn nhìn thấy cánh cửa mở toang hoác dẫn xuống ngôi nhà dưới lòng đất, kiệt tác mà hắn và Rudolph đã tự tay dựng lên. “Đó là tính kiêu ngạo của bọn cảnh sát,” cuối cùng hắn cũng trả lời câu hỏi của Rudolph. “Ở một số khía cạnh, chúng cũng giống chúng ta. Cross là một thằng đặc biệt. Ngoài bản thân mình ra hắn không tin ai khác.” Hắn liếc nhìn Will Rudolph, và cả hai tên cùng mỉm cười. Câu châm biếm vừa rồi quả là hay ho. Hai thám tử chống lại hai kẻ bọn chúng.

“Có lẽ Cross nghĩ rằng hắn hiểu chúng ta, mối quan hệ của chúng ta,” Rudolph nói. “Có thể hắn cũng hiểu đôi chút.” Từ sau cuộc chạm trán gần đây tại California gã cứ bị Alex Cross ám ảnh. Rốt cuộc Cross đã theo dõi gã, vụ ấy khiến gã sợ vãi đái. Nhưng Kẻ Lịch Thiệp cũng thấy thú vị khi có một đối thủ như Cross. Gã vốn thích cạnh tranh, cái môn thể thao đẫm máu ấy. “Hắn hiểu sơ sơ, biết cách thức ra tay của chúng ta, nên cứ tưởng mình biết nhiều lắm ấy. Chỉ cần kiên nhẫn là chúng ta sẽ tìm thấy điểm yếu của tên Cross này.” Miễn là chúng kiên nhẫn, Casanova tin tưởng, miễn là chúng cẩn thận suy xét tình hình, chúng sẽ giành chiến thắng; chúng sẽ không bao giờ bị bắt. Như bao năm qua kể từ ngày cả hai gặp nhau lần đầu tiên tại Đại học Duke.

Casanova biết Will Rudolph đã rất bất cẩn khi ở California. Gã có khuynh hướng lo âu ngay cả khi còn là một sinh viên y khoa xuất sắc. Gã thiếu kiên nhẫn, cẩu thả và kệch cỡm trong vụ sát hại Roe Tierney và Tom Hutchinson. Suýt nữa thì gã đã bị tóm ngay sau đó. Gã từng bị cảnh sát thẩm tra, và là đối tượng bị tình nghi nhiều nhất trong vụ án nổi tiếng một thời. Casanova lại nghĩ về Alex Cross, đánh giá điểm mạnh yếu của tên thám tử này. Cross là người cẩn trọng, và là một “tay nhà nghề”. Hắn suy tính kĩ càng trước khi hành động. Chắc chắn hắn thông minh hơn tất cả đám cảnh sát còn lại thuộc đội điều tra. Một cảnh sát kiêm nhà tâm lý học. Hắn đã tìm thấy nơi ẩn náu của bọn chúng? Hắn đã đi quá xa, đã đến gần tới mục tiêu hơn tất cả những người khác. John Sampson có tính cách bốc đồng hơn. Hắn là một điểm yếu, mặc dù trông hắn thì không có vẻ như vậy, Hắn to con, nhưng sẽ là người gục ngã đầu tiên. Sampson bị hạ thì Cross cũng sẽ thua. Hai thám tử là bạn chí thân; chúng rất yêu quý nhau.

“Chúng ta thật quá ngu ngốc khi năm ngoái lại tách nhau ra, mỗi người một ngả,” Casanova nói với người bạn duy nhất trên đời của hắn. “Nếu chúng ta không châm ngòi cạnh tranh và tự coi mình là trung tâm, Cross sẽ không bao giờ phát hiện ra bất cứ điều gì về chúng ta. Hắn sẽ không bao giờ tìm thấy anh, và giờ đây chúng ta sẽ không phải giết mấy con bé và phá hủy ngôi nhà.” “Hãy để tôi phụ trách tiến sĩ Cross” Rudolph nói. Gã không phản ứng lại với những gì Casanova vừa nói. Rudolph không bao giờ để lộ quá nhiều cảm xúc, nhưng thực sự gã cũng đã từng rất cô đơn. Gã đã trở lại, có phải không? “Không ai xử tiến sĩ Cross một mình hết,” Casanova nói. “Chúng ta sẽ cùng bám theo chúng. Chúng ta sẽ chơi trò hai chọi một, trò ta chơi giỏi nhất. Đầu tiên là tên Sampson. Rồi đến lượt Alex Cross. Tôi biết hắn sẽ phản ứng ra sao. Tôi biết hắn suy nghĩ thế nào. Tôi đã theo dõi hắn. Thực ra, tôi săn Alex Cross kể từ khi hắn vừa đặt chân tới miền Nam.”

Hai gã quái vật mặt người tiến gần hơn đến ngôi nhà. Chương 108 Tôi bật đèn phía trên đầu căn phòng đầu tiên thì nhìn thấy một trong những phụ nữ bị giam cầm. Maria Jane Capaldi rúm ró dựa vào tường như một cô gái nhỏ sợ hãi. Tôi biết cô là ai. Tôi đã gặp cha mẹ cô khoảng một tuần trước, đã xem những bức hình thời nhỏ thân thương của cô.

“Xin đừng làm hại tôi. Tôi không thể chịu đựng thêm nữa đâu,” Maria Jane cầu xin bằng giọng thì thầm, hơi khàn. Cô gái co quắp, người khẽ lắc lư qua lại. Cô mặc quần tất màu đen tơi tả và áo phông Nirvana nhăn nhúm. Maria Jane chỉ mới mười chín tuổi, học chuyên ngành nghệ thuật và là hoạ sĩ triển vọng của bang Bắc Carolina tại Raleigh. “Tôi là thám tử cảnh sát,” tôi thì thầm, hết sức từ tốn. “Giờ đây không ai có thể làm hại cô nữa. Chúng tôi sẽ không bao giờ cho phép chúng.”

Maria Jane rên rỉ, và bắt đầu khóc vì nhẹ nhõm. Toàn thân cô run lên cầm cập. “Hắn sẽ không thể làm hại cô nữa, Maria Jane,” tôi quả quyết bằng giọng nhẹ nhàng nhất mà tôi thốt ra được. Thật tình thì tôi hầu như không thể mở lời. “Tôi phải tìm những người khác nữa. Tôi sẽ trở lại, tôi hứa đấy. Tôi để cửa mở cho cô rồi. Cô có thể ra ngoài. Giờ cô an toàn rồi.” Tôi phải giúp đỡ những người khác. Hậu cung chứa những người phụ nữ đặc biệt của hắn ở ngay tại đây. Naomi là một trong số họ.

Tôi bước vào căn phòng kế dọc hành lang. Tôi vẫn thở hổn hển. Những cảm xúc vui mừng, sợ hãi, buồn bã đan xen lẫn lộn. Một người phụ nữ tóc vàng cao ráo trong phòng nói với tôi rằng tên cô là Malissa Stanfield. Tôi nhớ cái tên này. Cô học trong trường y tá. Tôi có quá nhiều câu hỏi, nhưng thời gian thì chỉ đủ cho một câu. Tôi chạm nhẹ vào vai cô. Cô rùng mình, rồi đổ sụp trước mắt tôi. “Cô có biết Naomi Cross ở đâu không?” tôi hỏi cô.

“Tôi không chắc,” Melissa nói. “Tôi không biết cách bố trí ở nơi này.” Cô lắc đầu khóc. Có lẽ cô còn không biết tôi đang nói về ai. “Giờ cô an toàn rồi. Cơn ác mộng giờ đã kết thúc, Melissa à. Để tôi giúp những người khác nữa,” tôi thì thầm. Trở lại đại sảnh, tôi thấy Sampson đang phá khoá một cánh cửa. Tôi nghe thấy cậu ấy nói, “Tôi là thám tử cảnh sát. Giờ an toàn rồi.” Giọng cậu ấy hết sức nhẹ nhàng: Người Lịch Thiệp mang tên Sampson.

Những người phụ nữ được giải cứu bước ra khỏi phòng giam, choáng váng và hoang mang. Họ ôm nhau ở ngoài hành lang. Hầu hết đều nức nở, nhưng tôi có thể cảm thấy sự nhẹ nhõm, thậm chí là niềm vui sướng của họ. Cuối cùng, đã có người đến cứu họ. Tôi bước vào hành lang thứ hai ngay sau hành lang đầu tiên. Có nhiều cánh cửa bị khoá hơn. Liệu Naomi có ở đây? Cô bé còn sống hay không? Tim tôi đập thình thịch trưởng chừng như không thể chịu đựng nổi. Tôi mở cánh cửa đầu tiên bên phải thì thấy cô bé ở đó. Scottchie đây rồi. Một cảnh tượng đẹp đẽ nhất trần gian.

Nước mắt tôi cuối cùng cũng trào ra. Bây giờ tôi lại là người không thể thốt lên lời. Tôi nghĩ mình sẽ không bao giờ quên được những gì xảy ra lúc ấy giữa hai chú cháu. Từng từ ngữ, vẻ mặt, sắc thái. “Cháu biết chú sẽ đến cứu cháu mà, chú Alex,” Naomi nói. Cô bé loạng choạng lao vào vòng tay tôi mà ôm thật chặt. “Ôi, Naomi yêu dấu,” tôi thì thầm. Tôi có cảm giác người nhẹ bẫng đi mấy nghìn cân. “Thế là không uổng công chú rồi. Gần như là vậy.”

Tôi phải nhìn cô bé rõ hơn. Tôi khum hai tay ôm khuôn mặt quý giá của cô cháu gái. Cô bé trông rất mong manh và nhỏ bé giữa gian phòng. Nhưng vẫn còn sống! Cuối cùng tôi đã tìm được cô bé. Tôi gọi lớn để Sampson nghe thấy. “Tớ tìm thấy Naomi rồi. Chúng ta tìm thấy rồi, John ơi! Ở đây! Bọn tớ đang ở đây!” Scootchie và tôi ôm nhau thật chặt, giống như trước đây. Nếu như có lần nào đó tôi từng hối tiếc khi trở thành thám tử, thì sự đoàn tụ hôm nay bù đắp tất cả. Tôi nhận ra rằng chính vì tưởng cô bé đã chết nên tôi càng không bao giờ từ bỏ cuộc chiến. Không bao giờ bỏ cuộc.

“Cháu biết chú sẽ ở đây giống như thế này mà. Cháu đã mơ thấy thế. Cháu sống ở chờ đợi khoảnh khắc này. Ngày nào cháu cũng cầu nguyện, và giờ thì chú đây rồi.” Naomi gắng gượng nở nụ cười tuyệt vời nhất mà tôi từng thấy. “Cháu yêu chú.” “Chú cũng yêu cháu. Chú nhớ cháu đến phát điên lên mất. Mọi người trong gia đình cũng vậy.” Một lúc sau, tôi nhẹ nhàng buông Naomi ra. Tôi nghĩ đến lũ quái vật, và cách chúng suy nghĩ lúc này. Vẫn đang bàn mưu tính kế. Leopold và Loeb đều đã trưởng thành, phạm những tội ác hoàn hảo.

“Có chắc cháu ổn không?” Cuối cùng tôi mỉm cười, ít nhất cũng gượng cười. Tôi thấy sự mạnh mẽ quen thuộc trở lại trong đôi mắt Naomi. “Chú cứ đi đi. Cứu những người khác nữa,” cô bé thúc giục tôi. “Hãy giải cứu những người còn lại bị hắn nhốt trong phòng giam.” Ngay lúc đó, một âm thanh khủng khiếp kỳ lạ phát ra từ phía hành lang. Một tiếng thét đau đớn. Tôi chạy từ phòng Naomi ra thì nhìn thấy một cảnh tượng mà tôi không bao giờ có thể tưởng tượng ra, dù trong cơn ác mộng tồi tệ nhất.

Chương 109 Tiếng kêu cứu to trầm là của Sampson. Cộng sự của tôi đang gặp nguy hiểm. Hai gã đeo mặt nạ ma cà rồng đang cùng tấn công bạn tôi. Casanova và Rudolph ư? Còn có thể là ai khác nữa chứ! Sampson gục xuống ở hành lang. Miệng vẫn còn há hốc vì kinh ngạc và đau đớn. Một con dao, hay chiếc dùi nhô ra ở giữa lưng bạn tôi.

Tôi cũng từng đối mặt với tình huống tương tự hai lần trước đây, khi đang tuần tra trên phố Washington. Cộng sự của tôi bị thương. Tôi không có lựa chọn, có lẽ chỉ còn một cơ hội mà thôi. Tôi không chần chừ. Tôi giương khẩu Glock lên bắn. Chúng kinh ngạc với phát đạn thần tốc của tôi. Chúng không ngờ tôi sẽ bắn trong khi chúng đang giữ Sampson. Gã quái vật cao lớn hơn ôm vai ngã xuống. Gã còn lại thì nhìn tôi từ phía hành lang. Cái nhìn chòng chọc lạnh lùng qua chiếc mặt nạ xác chết gớm ghiếc là một lời cảnh báo. Tuy nhiên, tôi vẫn lợi thế hơn bọn chúng. Tôi bắn phát đạn thứ hai, nhắm vào chiếc mặt nạ xác chết còn lại. Tất cả đèn đóm trong ngôi nhà dưới lòng đất bất ngờ tắt phụt. Đồng thời, tiếng nhạc rock’n’roll inh tai phát ra từ chiếc loa ẩn đâu đó trong tường. Axl rose tru rống lên bài hát “Wellcome to the jungle”.

Bóng tối đen kịt bao trùm toàn bộ hành lang. Tiếng nhạc rock làm rung chuyển cả nền nhà. Tối bám vào tường, nhích từng bước một tới chỗ Sampson gục ngã. Tôi cố gắng giương mắt nhìn xuyên bóng tối, và một nỗi sợ hãi khủng khiếp vây quanh tôi. Chúng đã bất ngờ tấn công Sampson, nhưng việc này không hề dễ dàng. Tôi không biết bọn chúng từ đâu chui ra. Còn một lối ra vào nữa sao? Tôi nghe thấy tiếng gầm gừ khe khẽ quen thuộc. Sampson đang ở phía trước. “Tớ ở đây. Chắc lúc đấy tớ không xem chừng phía sau lưng,” cậu ấy vừa thở hổn hển vừa nói.

“Đừng nói gì cả.” Tối bước gần hơn đến nơi mà giọng nói phát ra. Tôi đoán được cậu ấy đang ở đâu. Tôi sợ chúng vẫn chưa bỏ đi. Chúng đã lấy lại thế cân bằng, và tôi chắc rằng chúng chỉ chực nhảy xổ vào tôi. Chúng thích chơi trò hai chọi một. Chúng cần phải kết hợp chặt chẽ với nhau. Chúng cần có nhau. Bên nhau, chúng không bị đánh bại. Cho đến giờ phút này. Tôi men theo tường từng bước một, lưng áp sát vào tường. Tôi đi về phía dáng người và cái bóng động đậy ở cuối hành lang.

Có một tia sáng mờ màu hổ phách ở phía trước. Tôi nhìn thấy Sampson nằm co quắp trên sàn nhà. Tim tôi đập dồn dập như trống trận. Cộng sự của tôi bị thương rất nặng. Chuyện này chưa từng xảy ra trước đây, ngay cả khi chúng tôi còn là lũ nhóc trên đường phố D.C “Tớ ở đây,” tôi nói, quỳ xuống bên cạnh Sampson. Tôi chạm vào cánh tay cậu ấy. “Cậu mà chảy máu đến chết thì tôi chỉ có nước phát điên,” tôi bảo cậu ấy. “Yên nào.” “Đừng lo. Tớ sẽ không bị sốc nữa đâu. Không còn cái gì trên đời làm tớ sốc nữa cả,” cậu ấy rên rỉ.

“Đừng ra vẻ anh hùng.” Tôi nâng nhẹ đầu câu ấy lên bên người tôi. “Cậu bị dao cắm phập vào giữa lưng đấy.” “Tớ là anh hùng mà… đi đi!... Cậu không thể để chúng chạy thoát! Cậu đã bắn một thằng bị thương. Chúng chạy về phía cầu thang… lối mà chúng ta vào ấy.” “Đi đi, chú Alex. Chú phải bắt bọn chúng!” Tôi quay về phía giọng nói của Naomi. Cô bé quỳ xuống chỗ Sampson. “Cháu sẽ lo cho chú ấy.”

“Chú sẽ trở lại,” tôi nói. Rồi tôi rời đi. Tôi rẽ vào một góc tối của hành lang dài, khom người giữ tầm bắn thấp. Tôi nhận ra mình đã ra đến hành lang đầu tiên mà chúng tôi vào. Sampson nói chúng chạy về phía cầu thang. Ánh sáng cuối đường hầm? Quái vật ẩn náu dọc đường? Tôi đi nhanh hơn trong bóng tối mờ mờ. Không gì có thể ngăn cản tôi lúc này. Nhưng Casanova và Rudolph thì có thể. Hai chọi một không phải là tỷ lệ mà tôi mong muốn trên chính sân nhà của chúng.

Cuối cùng tôi cũng tìm được cửa ra. Không có khoá, không có tay nắm cửa. Tôi đã bắn vỡ chúng lúc trước. Cầu thang không có ai, ít nhất là trông có vẻ như vậy. Cánh cửa tầng hầm mở toang, tôi nhìn thấy đám thông sẫm màu và những mảng trời xanh trên cao. Liệu chúng có đang ở đó chờ tôi hay không? Hai gã quái vật cáo già! Tôi trèo hết tốc lực lên cầu thang gỗ. Ngón tay đặt nhẹ ở cò khẩu súng Glock. Mọi việc lại vượt khỏi tầm kiểm soát.

Tôi phi lên những bậc thang cuối cùng, nhanh như một hậu vệ chuyên nghiệp lao qua cái vòng tròn nhỏ được vạch giữa sân. Tôi trồi lên từ khe hở hình chữ nhật trên mặt đất. Nhào lộn. Nâng súng chuẩn bị bắn. Chí ít động tác sẵn sàng chiến đấu của tôi cũng có thể phá huỷ mưu đồ của ai đó. Không có ai ở đó bắn tôi hay hoan nghênh màn biểu diễn của tôi. Cánh rừng sâu yên tĩnh và hoàn toàn trống không. Lũ quái vật đã biến mất… và căn nhà cũng vậy.

Chương 110 Tôi chọn hướng mà Sampson và tôi đã đi vào. Đó chắc chắn là cách duy nhất ra khỏi rừng, và có thể cũng là con đường Casanova và Will Rudolph chọn. Tôi không muốn bỏ lại Sampson và những người phụ nữ, nhưng không có lựa chọn khác, không còn cách nào khác. Tôi nhét súng vào bao súng đeo vai rồi bắt đầu chạy. Khi đã vào guồng rồi, tôi chạy càng lúc càng nhanh, nhớ rằng mình phải chạy nhanh hết tốc lực.

Trong tầng cây thấp rậm rạp cách vài mét phía trước có một vết máu tươi dính trên lá. Một trong hai kẻ đang chảy máu như suối. Tôi hy vọng chẳng mấy chốc mà hắn chết. Dù sao thì tôi cũng đi đúng hướng. Dây leo và bụi gai cào rách tay chân khi tôi len qua những bụi cây cao lớn rậm rì. Những cành cây rậm lá quất qua quất lại vào mặt tôi. Nhưng dù có bị quất thế nào thì tôi cũng không màng. Tôi chạy chí ít cũng phải gần hai cây, hoặc tương tự. Mồ hôi túa ra, ngực thì đau thắt. Đầu tôi nóng bừng, giống như động cơ của một chiếc xe quá nhiệt. Bước chân mỗi lúc một nặng nề hơn.

Tôi chỉ biết mình đang tiến gần đến bọn chúng hơn. Hoặc có thể chúng đang ở ngay đằng sau lưng tôi? Biết đâu chúng đã nhìn tôi đi ra? Lần theo dấu vết tôi? Bao vây tôi? Hai chọi một không phải cách tôi muốn chiến đấu với chúng. Tôi tìm kiếm vết máu hay những mẩu quần áo rách khác. Có một vài dấu hiệu chỉ ra rằng chúng vừa qua đây. Lòng tôi như lửa đốt, cơ thể ướt đẫm mồ hôi. Chân đau nhức, co thắt. Tôi bỗng hồi tưởng lại một loạt hình ảnh. Tôi đã từng bế Marcus Daniel trong tay mà chạy như điên tại Washington, D.C. Tôi lại hình dung ra khuôn mặt của cậu bé tội nghiệp. Tôi nhớ đã nghe thấy Sampson hét lên choáng váng, đau đớn khi ở trong ngôi nhà đó. Tôi hình dung ra khuôn mặt Naomi.

Có cái gì đó phía trước - hai gã đàn ông đang chạy trốn. Một kẻ ôm vai. Liệu có phải là Casanova? Hay Kẻ Lịch Thiệp? Không quan trọng lắm - tôi muốn cả hai bọn chúng kìa. Chừng nào chưa bắt gọn cả hai tên thì tôi sẽ không dừng lại. Gã quái vật bị thương không hề có dấu hiệu giảm tốc. Hắn biết tôi đang đuổi theo sau, và rồi hắn bỗng thét lên một tiếng kinh thiên động địa. Nó làm tôi nhớ ra hắn là gã tâm thần cấp độ một không thể lường trước. Tiếng hét - “Aaaaaa!” - vang vọng trong rừng thông như tiếng hú của động vật hoang dã. Một tiếng thét hoang dại nữa lại vang lên. “Aaaaaa!” là gã tâm thần còn lại.

Song sinh, tôi nghĩ. Chúng đều là động vật tự nhiên. Chúng không thể tồn tại được nếu không có nhau. Tiếng súng bất thình lình khiến tôi sững sờ. Một mảnh vỏ thông bay sượt qua đầu tôi. Nếu không đi chệch từ ba đến năm phân là nó đã hạ tôi, giết tôi ngay tại chỗ. Một trong hai gã quái vật đã quay lại nhanh như chớp mà nã đạn. Tôi núp đằng sau cái cây vừa đỡ đạn cho tôi. Tôi hé mắt nhìn qua những cành cây rậm lá. Không thấy kẻ nào phía trước, tôi chờ đợi. Đếm từng giây. Cố gắng bình tĩnh. Kẻ nào nổ súng? Kẻ nào bị thương?

Chúng đã gần đến đỉnh con đồi dốc trong rừng. Liệu chúng đã vượt qua đỉnh chưa? Nếu rồi thì có phải chúng đang chờ tôi ở phía bên kia hay không? Tôi từ từ chui ra khỏi chỗ nấp an toàn sau cái cây mà nhìn quanh. Không gian trở lại vẻ kỳ quái và yên tĩnh. Không còn tiếng la hét. Không có tiếng súng nổ. Có vẻ như chúng không còn ở đó. Chúng định làm gì đây? Dẫu sao tôi cũng có một phát hiện mới về chúng. Tôi đã có một đầu mối để tiếp tục. Tôi đã nhìn thấy manh mối quan trọng chỉ một giây trước đây thôi. Tôi chạy nước rút lên đỉnh đồi trọc ở phía trước. Không có gì! Tim tôi nghẹn lại, tràn trề thất vọng. Chúng đã bỏ trốn ư? Sau tất cả những chuyện này?

Tôi tiếp tục chạy. Tôi không cho phép chuyện điên rồ này xảy ra. Tôi sẽ không để sổng lũ quái vật. Chương 111 Tôi nghĩ mình biết lối đi đến đường quốc lộ, và tôi đang đi về phía đó. Tôi dần dần lấy lại sức, chạy nhanh hơn. Alex - Kẻ Tìm Đường.

Tôi phát hiện ra chúng chạy trước tôi hai trăm mét. Rồi tôi nhìn thấy một hình ảnh quen thuộc màu xám lấp lóa: đường cao tốc dài hẹp, cong cong. Tôi nhận ra vài tòa nhà ốp ván trắng và những đường dây điện thoại trông khá cũ. Đường cao tốc. Lối thoát của chúng. Hai kẻ chạy về phía quán rượu xập xệ. Chúng vẫn đeo mặt nạ người chết. Điều đó khiến tôi nghĩ rằng Casanova là kẻ chỉ huy. Nhà lãnh đạo thiên bẩm. Hắn yêu những chiếc mặt nạ. Chúng đại diện cho kẻ mà hắn tin rằng mình chính là hiện thân: thần bóng tối. Tùy ý muốn làm gì thì làm. Siêu việt hơn tất cả mọi người. Một biển hiệu neon xanh đỏ trên mái quán rượu nhấp nháy dòng chữ Bụi Đường. Đó là một trong những nhà máy sản xuất rượu gin vùng nông thôn lúc nào cũng đông khách. Lũ quái vật đang hướng về lối đó.

Casanova và Kẻ Lịch Thiệp leo lên một chiếc xe bán tải màu xanh đời mới đậu trong bãi đỗ xe. Bãi đỗ xe đông đúc của quán rượu là nơi thuận lợi để giấu xe. Tôi biết điều này vì tôi là thám tử. Tôi chạy hết tốc lực qua đường cao tốc về phía quán rượu. Một người đàn ông tóc quăn dài màu đỏ dợm leo lên chiếc Plymouth Duster trong bãi đỗ xe. Anh ta mặc áo đồng phục Coca-Cola nhăn nhúm, nách kẹp chiếc túi màu nâu cồng kềnh. Nước non lỉnh kỉnh. “Cánh sát đây.” Tôi giơ phù hiệu cách cái cằm lún phún râu của anh ta chừng ba mươi phân. “Tôi cần xe của anh!” Tôi giương súng, sẵn sàng gây sự nếu cần. Tôi nhất định phải có được chiếc xe.

“Chúa ơi. Đây là xe của bạn gái tôi,” anh ta cuống quýt cầu khẩn. Ánh mắt dừng lại ở khẩu Glock. Anh ta giao chìa khóa xe cho tôi. Tôi chỉ về chỗ tôi vừa chui ra. “Gọi cho cảnh sát ngay đi. Những người phụ nữ bị mất tích đang ở đó, có lẽ cách đây hai cây số rưỡi. Nói với họ rằng ở đấy có một cảnh sát. Bảo họ đấy là chỗ trốn của Casanova.” Tôi nhảy lên chiếc Duster đi với tốc độ sáu tư km/h trước khi ra khỏi bãi đậu xe. Qua gương chiếu hậu, tôi thấy người đàn ông cơ bụng sáu múi vẫn nhìn chằm chằm theo tôi. Tôi muốn tự gọi cho Kyle Craig nhờ anh ta cử người đến giúp, nhưng không thể dừng lại, không thể để mất dấu Casanova và đồng bọn.

Chiếc xe bán tải màu xanh thẫm hướng về đồi .