Hôm nay bạn muốn đọc gì?

Nụ hôn của Casanova - Chương 7

el Hill. Anh ta bấm còi inh ỏi, và phóng rất nhanh. Anh ta lái xe với vẻ ngông nghênh ngạo mạn.

“Tôi không có đủ thông tin,” Ruskin nói. “Đó chính là vấn đề của Davey và tôi trong vụ điều tra này. Chúng tôi không tiếp cận được thông tin mật nào. Có lẽ thế nên hôm nay chúng tôi lại vui như vậy. Các anh nhận thấy chứ?” “Vâng, chúng tôi có nhận thấy,” Sampson nói. Tôi không nhìn về phía cậu ta. Mặc dù vậy tôi vẫn cảm thấy hơi nóng tỏa ra ở ghế sau. Hơi nóng bốc ra từ da của cậu ta. Davey Sikes liếc sang, cau mày nhìn Samspon. Tôi cảm giác rằng họ sẽ không bao giờ trở thành chiến hữu của nhau.

Ruskin tiếp tục nói. Anh ta có vẻ thích được là tâm điểm và quan trọng hóa mọi việc. “Bây giờ, toàn bộ vụ việc này đều do FBI kiểm soát. DEA[1] cũng tham gia. Tôi sẽ không ngạc nhiên nếu CIA là một phần của ‘nhóm chống khủng hoảng’. Họ đã cử mấy tay cừ khôi lập dị từ tiền đồn xa hoa ở Sanford đến.” [1] Drug Enforcerment Administration: cơ quan hành pháp về hoạt động ma túy, thuộc Bộ Tư pháp Mỹ. “Toàn bộ vụ việc, ý anh là gì?” tôi hỏi Ruskin. Tôi bỗng nhiên thấy lo lắng. Tôi lại nghĩ đến Naomi.

Đây thực sự là một vụ khủng khiếp. Ruskin đột ngột quay lại nhìn tôi. Đôi mắt xanh của anh ta sắc sảo, dường như đang đánh giá tôi. “Nên hiểu chúng tôi không được phép nói cho các anh bất cứ điều gì. Chúng tôi cũng không được phép đưa các anh ra khỏi đây.” “Tôi nghe rõ lời anh rồi,” tôi nói. “Tôi đánh giá cao sự giúp đỡ của các anh.”

Một lần nữa, Davey Sikes quay lại nhìn chúng tôi. Tôi cảm thấy như thể Sampson và tôi ở một đội bóng khác, chăm chăm nhìn vạch xuất phát chờ chuyền bóng để đè người lên nhau mà cướp bóng. “Chúng ta đang đến hiện trường vụ giết người thứ ba,” Ruskin tiếp tục. “Tôi không biết nạn nhân là ai. Hiển nhiên tôi mong đó không phải cháu gái của anh.” “Vậy vụ việc này là như thế nào? Tại sao tất cả lại có vẻ bí ẩn thế?” Sampon hỏi. Cậu ta ngồi thẳng dậy. “Chúng ta đây đều là cảnh sát. Hãy thẳng thắn với chúng tôi.”

Thám tử hạt Durham chuyên điều tra các vụ giết người do dự trước khi trả lời. “Một vài, à phải nói là một số phụ nữ đã biến mất ở ba hạt - Durham, Chatham và Orange, nơi các anh đang có mặt. Đến nay báo chí đã đưa tin về mấy vụ mất tích và hai án mạng. Những vụ án mạng không liên quan tới nhau.” “Đừng nói với tôi rằng giới truyền thông cũng tham gia vào cuộc điều tra này?” tôi nói. Ruskin cười nửa miệng. “Không bao giờ có chuyện đó. Họ chỉ biết những gì FBI quyết định nói với họ mà thôi. Chẳng có ai thực sự giấu thông tin, nhưng cũng chẳng có gì được tiết lộ khơi khơi cả”.

“Anh nói rằng nhiều cô gái trẻ đã biến mất” tôi nhắc lại “Chính xác là bao nhiêu? Cho tôi biết về họ đi.” Ruskin nói qua khóe miệng. “Chúng tôi tin rằng có tám đến mười cô gái bị mất tích. Tất cả còn khá trẻ. Tầm mười bảy, mười tám và ngoài hai mươi. Họ đều là sinh viên đại học hoặc học sinh phổ thông. Tuy nhiên, mới chỉ phát hiện được hai xác. Cái xác mà chúng ta sắp sửa nhìn thấy có thể là người thứ ba. Tất cả thi thể được phát hiện trong năm tuần qua. Tờ Feebies cho rằng chúng ta đang chứng kiến một trong những vụ bắt cóc và giết người hàng loạt tồi tệ nhất ở miền Nam.” “Trong thị trấn có bao nhiêu người của FBI?” Sampson hỏi. “Một đội? Hay một tiểu đoàn?”

“Họ đã có mặt đầy đủ. Họ có ‘bằng chứng’ chứng minh rằng những vụ mất tích đã mở rộng sang các bang khác - Virginia, Nam Carolina, Georgia, xuống Florida. Họ cho rằng ngài sóc thân thiện của chúng ta đã bắt cóc đội trưởng đội cổ vũ bang Florida tại giải Orange Bowl năm nay. Họ gọi hắn là ‘Quái vật vùng Đông Nam’. Hắn ta cứ vô hình như vậy. Giờ đây hắn đang kiểm soát tình hình. Hắn tự xưng là Casanova... tin rằng mình là một người tình vĩ đại.” “Casanova để lại thư tình ở hiện trường án mạng sao?” tôi hỏi Ruskin. “Chỉ ở vụ cuối cùng. Có vẻ như hắn muốn thoát ra khỏi lớp vỏ bọc của mình. Bây giờ hắn ta muốn tiếp xúc, giao lưu với chúng tôi. Hắn nói mình là Casanova.”

“Có nạn nhân nào là phụ nữ da màu không?” tôi hỏi Ruskin. Một đặc điểm của những kẻ giết người hàng loạt là chúng có xu hướng chọn nạn nhân cùng một chủng tộc. Toàn là người da trắng. Toàn là người da màu. Toàn là người Tây Ban Nha. Thường không quá lẫn lộn. “Có một cô gái mất tích là người da màu. Sinh viên Đại học Trung tâm Bắc Carolina. Hai thi thể mà chúng tôi tìm được là người da trắng. Tất cả những phụ nữ mất tích đều cực kỳ quyến rũ. Chúng tôi đã treo một bảng thông báo dán ảnh những cô gái mất tích. Ai đó đã đặt tên cho vụ này là: ‘Những Người đẹp và Quái vật’. Được viết bằng chữ cái cỡ lớn. Ngay trên những bức ảnh. Đó là một manh mối khác mà chúng tôi có.” “Liệu Naomi Cross có phải là mẫu người của hắn không?” Sampson khẽ hỏi. “Cho đến nay nhóm chống khủng hoảng đã phát hiện được gì rồi?”

Nick Ruskin không trả lời ngay. Tôi không rõ anh ta đang nghĩ về câu trả lời hay chỉ cố tỏ ra quan tâm. “Có ảnh của Naomi trên bảng tin của FBI không? Bảng Những người đẹp và Quái vật ấy?” tôi hỏi Ruskin. “Có.” Davey Sikes cuối cùng cũng cất tiếng. “Hình cô ấy cũng có tên trên bảng lớn.”

Chương 13 Cầu Chúa không phải là Scootchie. Cuộc sống của con bé chỉ mới bắt đầu, tôi thầm cầu nguyện khi chúng tôi vội vã lái xe đến hiện trường vụ án. Ngày nay, những điều đau đớn, khủng khiếp có thể ập đến bất kỳ lúc nào, với cả những người vô tội, không ai ngờ đến. Tội ác xảy ra ở hầu hết thành phố lớn, và thậm chí cả các thị trấn nhỏ, các làng chỉ có một trăm hoặc ít hơn. Nhưng có vẻ như những tội ác dã man, kinh hoàng xảy ra ở Mỹ nhiều hơn.

Ruskin về số gấp khi chúng tôi vòng qua một khúc quanh dốc và thấy ánh đèn nhấp nháy xanh đỏ. Ô tô và xe cấp cứu hiện ra ở đằng trước, nghiêm trang tập trung ở bên kia rìa cánh rừng thông rậm rạp. Một tá xe đậu ngổn ngang dọc con đường quốc lộ hai làn xe. Ở nơi khỉ ho cò gáy này, xe cộ khá thưa thớt. Cũng chưa có tay luật sư chuyên về tai nạn giao thông nào góp mặt. Ruskin đánh xe vào sau chiếc xe cuối cùng trong hàng, một chiếc Lincoln Town màu xanh đậm chắc cũng có dòng chữ Cục Liên bang choán hết cả xe. Hiện trường vụ giết người mới nhất đang được xử lý. Dải băng màu vàng được giăng từ cây thông xuống để khoanh vùng. Hai xe cứu thương đỗ tại đó, mũi xe mòn vẹt chĩa thẳng vào bụi cây.

Tôi bước ra khỏi xe, đờ đẫn như hồn lìa khỏi xác. Mắt tôi nhòa đi. Cứ như thể đây là lần đầu tiên tôi đến hiện trường một vụ án. Trong đầu tôi hiện rõ mồn một cái chết thảm khốc của Soneji. Một đứa trẻ bé bỏng được tìm thấy gần con sông đầy bùn. Dòng ký ức kinh hoàng xen lẫn vào khoảnh khắc thực tại đáng sợ. Cầu Chúa không phải là Scootchie.

Sampson nắm nhẹ tay tôi khi chúng tôi đi theo thám tử Ruskin và Sikes. Chúng tôi đi bộ gần một cây số rưỡi thì mới đến khu rừng rậm. Khi lạc vào giữa bụi thông cao chót vót, cuối cùng chúng tôi đã nhìn thấy bóng dáng của mấy người đàn ông cùng vài người phụ nữ. Gần một nửa trong nhóm người đó mặc vest tối màu. Như thể chúng tôi tình cờ gặp buổi cắm trại ngẫu hứng của một công ty kế toán hoặc dự cuộc họp của luật sư hay giám đốc ngân hàng các thành phố lớn. Mọi thứ xung quanh rùng rợn, yên tĩnh, chỉ có tiếng máy ảnh kêu tanh tách của anh chàng kỹ thuật viên. Những bức ảnh cận cảnh khu vực này đã được chụp lại. Một số chuyên gia khám nghiệm hiện trường đeo găng tay cao su trong mờ, tìm kiếm bằng chứng, viết ghi chú vào quyển sổ xoắn.

Một thứ linh cảm đáng sợ và kỳ lạ chợt mách bảo tôi rằng chúng tôi sắp tìm được Scootchie ngay bây giờ. Tôi cố gạt đi, cố xóa tan cảm giác đó, giống như một thiên thần của Chúa trời xuất hiện khi mà chúng ta không hề muốn. Tôi ngoẹo đầu qua một bên như thể nó sẽ giúp tôi tránh được bất kể điều gì sắp xảy ra. “Chắc chắn là FBI,” Sampson khẽ thì thầm. “Ngoài kia, trên con đường mòn Hoang vu.” Cứ như thể chúng tôi đang tiến về phía tổ ong bắp cày khổng lồ đang vo ve. Họ đứng vòng quanh thì thầm to nhỏ với nhau. Tôi cảm nhận rõ rệt tiếng lá lạo xạo dưới chân mình, tiếng cành cây và các nhánh nhỏ kêu răng rắc. Lúc này tôi thực sự không phải là cảnh sát. Tôi chỉ là một người bình thường.

Cuối cùng, chúng tôi nhìn thấy một thân thể trần truồng, ít nhất đó là những gì còn lại. Không thấy quần áo tại hiện trường vụ giết người. Nạn nhân bị trói vào một cây non bằng một thứ trông như sợi da dày dặn. Sampson thở dài: “Ôi, Chúa ơi, Alex.” Chương 14

“Người phụ nữ kia là ai?” tôi khẽ hỏi khi tiến đến chỗ nhóm người có vẻ không phải là cảnh sát, “đám ô hợp lắm quyền” giống như Nick Ruskin đã mô tả. Thi thể kia là phụ nữ da trắng. Vào thời điểm này thật khó mà kết luận gì hơn ngoài điều đó. Chim thú đã rỉa xác chết, khiến nạn nhân trông không còn giống con người nữa. Thay vào đôi mắt trừng trừng, trân trối là hốc mắt tối đen giống như vết cháy. Người phụ nữ không có mặt, da và các mô đã bị ăn hết. “Hai người là ai vậy?” một trong những đặc vụ FBI, người phụ nữ tóc vàng khá đậm người khoảng ngoài ba mươi hỏi Ruskin. Cô ta đúng là xấu người xấu nết, với cặp môi dày đỏ sưng phồng và cái mũi khoằm. Ít nhất cô ta cũng nên ban cho chúng tôi một nụ cười dễ chịu thường thấy của FBI, hay là “những cái bắt tay vui vẻ” nổi tiếng của FBI chứ.

Nick Ruskin cũng trở nên cộc cằn với cô ta. Khoảnh khắc đầu tiên mà tôi có chút cảm tình với anh ta. “Đây là thám tử Alex Cross, và cộng sự của ông ấy, thám tử Sampson. Họ từ D.C. xuống đây để tìm cháu gái của thám tử Cross mất tích ở Duke. Cô bé tên là Naomi Cross. Còn đây là đặc vụ phụ trách, Joyce Kinney.” Anh ta giới thiệu viên đặc vụ với chúng tôi. Đặc vụ Kinney cau mày, hoặc có thể đó là một cái quắc mắt. Cô ta nói, “Ừm, đây chắc chắn không phải cháu của anh.” “Tôi sẽ rất biết ơn nếu như hai người vui lòng quay trở lại xe. Hãy quay lại đi.” Cô ta cảm thấy cần phải giải thích thêm.

“Các anh không có thẩm quyền trong vụ này, và cũng không được phép có mặt ở đây.” “Như thám tử Ruskin vừa nói vói cô, cháu gái tôi vẫn đang mất tích.” Tôi nói với đặc vụ Joyce Kinney bằng giọng nhẹ nhàng nhưng cương quyết. “Đó là tất cả những quyền mà tôi cần. Chúng tôi không xuống đây để chiêm ngưỡng nội thất bọc da và bảng điều khiển trong chiếc xe thể thao của thám tử Ruskin.” Một anh chàng tóc vàng có bộ ngực săn chắc tầm ba mươi tuổi nhanh nhảu chạy đến bên sếp của mình. Anh ta tuyên bố, “Tôi nghĩ hai người đã nghe rõ những gì mà đặc vụ Kinney nói rồi. Tôi rất biết ơn nếu các ông rời khỏi đây ngay bây giờ.” Trong những hoàn cảnh khác, phản ứng thái quá của anh ta có thể thật hài hước. Nhưng không phải hôm nay. Không phải giữa cảnh thảm sát này.

“Mọi người sẽ không ngăn được chúng tôi đâu,” Sampson nói với đặc vụ tóc vàng bằng giọng cực kỳ dữ tợn và kiên định. “Không phải cô, cũng không phải những người bạn bảnh chọe của cô ở đây.” “Không có gì đâu, Mark.” Đặc vụ Kinney quay sang viên cảnh sát trẻ hơn. “Chúng ta sẽ giải quyết sau vậy.” Đặc vụ Mark rút lui, nhưng không quên kèm theo một cái quắc mắt trịch thượng, giống như cái quắc mắt của sếp anh ta. Cả Ruskin và Sikes đều cười phá lên khi tay đặc vụ đi khỏi. Chúng tôi được phép ở lại hiện trường vụ án cùng với FBI và đội ngũ cảnh sát địa phương. Những Người đẹp và Quái vật. Tôi nhớ lại cụm từ mà Ruskin đã nói trong xe. Ảnh của Naomi đã được trưng lên tấm bảng về con Quái vật ấy. Vậy ảnh của người phụ nữ đã chết này cũng nằm trên tấm bảng ấy sao?

Thời tiết ở đây khá nóng ẩm, cơ thể của nạn nhân bị phân hủy rất nhanh. Cô gái đã bị thú rừng tấn công dữ dội, và tôi hy vọng cô ấy đã chết trước khi chúng đến. Nhưng dù sao tôi e rằng thực tế không phải như vậy. Tôi quan sát tư thế bất thường của cơ thể. Cô gái nằm ngửa. Cả hai cánh tay xem ra đã bị trật khớp, có lẽ vì cô ấy đã quằn quại, cố gắng thoát khỏi sợi dây da và cái cây phía sau. Cảnh tượng đó cũng man rợ giổng như cảnh tượng tôi đã từng chứng kiến trên đường phố Washington hay bất cứ nơi nào khác.Tôi gần như chẳng hề có cảm giác khuây khỏa dù nạn nhân không phải là Naomi. Cuối cùng, tôi đến nói chuyện với một trong những nhân viên giám định pháp y của FBI. Anh ta biết một người bạn của tôi ở Cục, Kyle Craig, hiện làm việc ở Quantico, Virginia. Anh ta nói với tôi rằng Kyle có một ngôi nhà nghỉ mát tại khu vực này.

“Nếu không có sai sót nào thì phải nói tên khốn kiếp này đã dàn dựng quá hoàn hảo và công phu.” Nhân viên pháp y FBI là người hay chuyện. “Hắn không hề bỏ sót một sợi lông mu, tinh dịch, ngay cả vệt mồ hôi lên người tất cả những nạn nhân mà tôi đã từng kiểm tra. Tôi ngờ rằng khó mà tìm thấy nhiều thông tin ở đây để phân tích DNA. Cũng may là cơ thể nạn nhân không bị hắn ăn thịt mất đó.” “Hắn có quan hệ tình dục với các nạn nhân không?” tôi hỏi trước khi viên đặc vụ tiếp tục lan man về kinh nghiệm bản thân với những kẻ ăn thịt người. “Có! Ai đó đã quan hệ tình dục với họ nhiều lần. Rất nhiều vết bầm tím ở âm đạo và cả nước mắt nữa. Kẻ đốn mạt này có đầy đủ dụng cụ, hoặc sử dụng một thứ rất lớn để kích thích tình dục. Nhưng chắc hẳn, hắn ta phải tròng túi bóng kính khi quan hệ hoặc che giấu bằng cách nào đó. Không một sợi lông mu, không dấu vết của tinh trùng. Nhà côn trùng học pháp y đã thu thập các mẫu vật. Ông ấy có thể cung cấp cho chúng ta thời điểm tử vong chính xác của nạn nhân.”

“Người này có thể là Bette Anne Ryerson,” một nhân viên FBI tóc xám đứng trong tầm nghe, nói. “Có một bản báo cáo về trường hợp mất tích của cô ấy. Cô gái tóc vàng, cao một mét bảy, nặng bốn mươi sáu ki lô. Khi mất tích, cô ấy đeo một chiếc đồng hồ Seiko vàng. Rất xinh đẹp, ít nhất đã từng như vậy.” “Là mẹ của hai đứa con,” một trong những nữ đặc vụ tiếp lời. “Tốt nghiệp khoa Ngữ văn, Đại học bang Bắc Carolina. Tôi đã phỏng vấn chồng cô ấy, ông ta là giáo sư. Cũng đã gặp hai đứa con. Những đứa trẻ xinh xắn. Đứa bé một tuổi, đứa lớn lên ba. Cái tên khốn kiếp ấy.” Giọng của viên đặc vụ nghẹn lại. Tôi có thể thấy chiếc đồng hồ đeo tay và dải ruy băng buộc tóc của cô gái đã bị tuột ra, nằm trên vai cô. Cô ấy đã không còn xinh đẹp nữa. Những phần còn lại trên người đều bị sưng đỏ lên. Mùi xác phân hủy hăng nồng dù ở ngoài trời.

Hai hốc mắt trống rỗng dường như đang hướng về khe hở hình lưỡi liềm ở chóp rặng thông, và tôi tự hỏi phút cuối cô ấy đã nhìn thấy những gì. Tôi cố gắng tưởng tượng “Casanova” nhảy tung tăng trong khu rừng sâu u tối trước khi chúng tôi đến. Tôi đoán hắn chừng hai mươi, ba mươi tuổi, thể chất khỏe mạnh. Thực sự tôi càng thêm lo sợ cho Scootchie. Casanova. Người tình vĩ đại nhất thế giới... Lạy Chúa phù hộ.

Chương 15 Lúc này là mười giờ hơn, chúng tôi vẫn còn đang ở hiện trường vụ giết người man rợ, gây chấn động khủng khiếp này. Ánh đèn pha màu hổ phách sáng chói của xe công vụ và xe cấp cứu được sử dụng để chiếu sáng một con đường mòn vào khu rừng tối tăm. Bên ngoài trời trở nên lạnh hơn. Gió đêm lạnh buốt táp đầy sạn cát vào mặt. Xác chết vẫn chưa được chuyển đi.

Tôi nhìn những kỹ thuật viên của Cục cần mẫn lục soát kỹ quanh rừng, thu thập đầu mối pháp y và lấy số đo. Khu vực có liên quan đã bị cô lập, nhưng tôi đã nhanh tay ghi chép vài nét chính trong ánh trăng lờ mờ. Tôi cố gắng hết sức nhớ về một Casanova nguyên bản. Một nhà phiêu lưu mạo hiểm, nhà văn, kẻ trụy lạc thế kỷ mười tám. Tôi đã có lúc đọc vài phần trong hồi ký của ông ta. Đâu là lý do sâu xa khiến kẻ sát nhân lại chọn cái tên này? Hắn tin rằng mình thật sự yêu phụ nữ chăng? Liệu đây có phải cách hắn thể hiện điều đó? Chúng tôi nghe thấy tiếng chim thét lên kinh hoàng đâu đó, và tiếng của các loài vật nhỏ xung quanh. Không ai nghĩ về Bambi trong khu rừng. Nhất là trong cảnh tượng vụ giết người khủng khiếp này.

Vào khoảng mười giờ rưỡi đến mười một giờ, chúng tôi nghe thấy một tiếng gầm to như sấm trong rừng. Mọi ánh mắt đều lo lắng ngước nhìn lên bầu trời xanh đen. “Giai điệu quen thuộc,” Sampson nói sau khi thấy ánh sáng lập lòe của một chiếc trực thăng đi từ hướng Đông Bắc đến. Tôi nói, “Có lẽ cuối cùng máy bay cứu thương cũng đến mang cái xác đi.”

Một chiếc trực thăng màu xanh sẫm sọc vàng xoay vài vòng rồi hạ xuống con đường cao tốc rải nhựa. Người lái chiếc máy bay này chắc hẳn là một tay chuyên nghiệp thực thụ. “Không phải máy bay cứu thưong đâu,” Sampson nói “trông có vẻ giống Mick Jagger[1] hơn. Những ngôi sao lớn mới đi trong những chiếc trực thăng thế này.” [1] Ca sĩ hát chính của nhóm nhạc rock Rolling Stones.

Joyce Kinney và Giám đốc Cục phụ trách khu vực tiến về phía đường cao tốc. Sampson và tôi theo sau họ như những vị khách không mời. Ngay lập tức chúng tôi bị sốc khi nhận ra người đàn ông cao ráo, trán hói, nhìn khá khệnh khạng từ trực thăng bước xuống. “Ông ta xuống đây làm cái quái gì thế nhỉ?” Sampson thốt lên. Tôi cũng có cảm giác băn khoăn lo lắng như vậy. Đó là phó giám đốc FBI. Người đàn ông quyền lực thứ hai, Ronald Burns. Burns đích thị là chuyên gia gây khó của Cục, một kẻ nhiễu sự bậc nhất.

Chúng tôi đều biết Burns từ vụ “tranh chấp quyền tài phán” mới đây của chúng tôi. Ông ta bị cho là có mưu đồ chính trị, một kẻ xấu trong nội bộ Cục, nhưng với tôi thì không giống vậy. Sau khi nhìn thấy cái xác, ông ta yêu cầu được nói chuyện với tôi. Mọi chuyện càng lúc càng trở nên kỳ lạ hơn ở California này. Burns muốn nói chuyện với chúng tôi ở nơi khác để tránh đám nhân viên thiển cận mà tọc mạch của ông ta. Ông ta nói, “Alex à, tôi rất tiếc khi nghe tin cháu gái anh có thể đã bị bắt cóc. Và tôi hy vọng nó không liên quan đến vụ án lần này. Vì anh đã đến tận đây rồi, anh có thể giúp chúng tôi phá vụ này không?”

Tôi nhảy thẳng tới câu hỏi trị giá sáu mươi tư nghìn đôla. “Có thể cho tôi hỏi tại sao ông xuống đây không?” Burns mỉm cười, để lộ chiếc răng cửa trắng sáng. “Tôi thực sự hy vọng anh chấp nhận lời đề nghị của chúng tôi về vị trí ở VICAP[2]”. [2] Violent Criminal Apprehension Program: Chương trình nghiên cứu tội phạm bạo lực.

Tôi đã từng được mời làm sĩ quan liên lạc giữa Cục và cảnh sát D.C. sau vụ bắt cóc Soneji. Burns là một trong những người đã phỏng vấn tôi. “Tôi đề cao sự thẳng thắn hơn bất kỳ phẩm chất nào khác đối với một sĩ quan cao cấp,” Burns tiếp tục. Tôi vẫn chờ câu trả lời cho câu hỏi thẳng thắn của mình.

Cuối cùng, Burns cũng đáp, “Tôi không thể cho anh biết nhiều như anh muốn. Tôi chỉ có thể nói rằng tôi không biết cháu của anh có bị tên Johnny bệnh hoạn bắt cóc hay không. Hắn thường để lại rất ít dấu vết xác thực, Alex. Hắn ta cẩn thận, và xử lý mọi việc rất cáo.” “Tôi cũng có nghe rồi. Điều đó khiến chúng ta khoanh vùng nghi phạm một cách rõ ràng. Cảnh sát, cựu chiến binh, những người không chuyên nghiên cứu về cảnh sát. Dù vậy, cũng có thể hắn đang đánh lạc hướng chúng ta. Có lẽ hắn muốn chúng ta nghĩ như vậy.” Burns gật đầu. “Tôi ở đây vì vụ này được ưu tiên hàng đầu. Lớn đấy, Alex. Vào thời điểm này, tôi không thể nói với anh tại sao. Nhưng nó được xếp vào loại lớn đấy.” Nói cứ như một sếp FBI thực thụ. Những bí mật được che đậy bởi nhiều bí mật khác.

Burns thở dài. “Tôi sẽ nói với anh một điều. Chúng tôi tin rằng hắn là một kẻ sưu tập. Chúng tôi nghĩ hắn giữ vài người phụ nữ bên cạnh... có lẽ là một hậu cung riêng. Hậu cung của riêng hắn.” Thật là một điều đáng sợ, đáng sửng sốt. Nó đồng thời cũng cho tôi hy vọng rằng Naomi vẫn còn sống. “Tôi muốn điều tra vụ này,” tôi nhìn thẳng vào mắt Burns mà nói. “Tại sao ông không cho tôi biết tất cả?” tôi đưa ra điều kiện. “Tôi cần xem toàn bộ các bức ảnh trước khi đưa ra bất cứ giả thuyết nào. Nếu đó là những gì hắn đang làm thì tại sao hắn không bắt cóc những người phụ nữ khác?”

“Alex, vào thời điểm này tôi thật sự không thể nói với anh nhiều hơn. Tôi rất tiếc.” Burns lắc đầu và nhắm mắt trong giây lát. Tôi nhận ra ông ta đã quá mệt mỏi. “Nhưng chắc hẳn ông muốn biết ý kiến của tôi về thuyết sưu tập của ông chứ?” “Tôi muốn chứ,” Burns thừa nhận, và cuối cùng cũng mỉm cười.

“Có thể là một hậu cung hiện đại, tôi đoán vậy. Chứng hoang tưởng phổ biến của giới đàn ông,” tôi nói với ông ta. “Kỳ lạ rằng, đó cũng là chứng hoang tưởng phổ biến của phụ nữ. Cũng không loại trừ khả năng đó.” Burns ghi chú những gì tôi vừa nói và ngừng lại ở đó. Ông ta lại yêu cầu tôi giúp đỡ, nhưng vẫn không muốn chia sẻ với tôi tất cả những gì mà ông ta biết. Cuối cùng ông ta quay lại chỗ các nhân viên của mình. Sampson đến bên cạnh tôi. “Điều gì đã làm Ngài Cứng Rắn nói ra vậy? Điều gì mang ông ta đến khu rừng khủng khiếp này với chúng ta?”

“Ông ta nói vài điều nghe không thú vị lắm. Rằng Casanova có thể là một nhà sưu tập, có thể tạo ra hậu cung của riêng mình ở đâu đó gần đây.” Tôi nói với Sampson. “Ông ta bảo vụ này rất lớn. Ông ta chọn ngôn từ như vậy đấy.” “Lớn” có nghĩa là vụ việc rất tồi tệ, có thể còn tồi tệ hơn bề ngoài. Tôi tự hỏi lẽ nào lại như vậy, và gần như không muốn biết câu trả lời. Chương 16

Kate McTiernan đang mải mê suy nghĩ về một vấn đề kỳ quặc nhưng khá rõ ràng. Khoảnh khắc chim ưng tấn công cơ thể con mồi, cô nghĩ, chỉ là vấn đề thời điểm. Đó là đúc rút của cô từ buổi học karate trong lớp đai đen. Thời điểm chính xác là tất cả trong karate, và trong nhiều việc khác nữa. Nó cũng phát huy tác dụng nếu ai đó muốn nâng tạ gần chín mươi cân, điều mà cô cũng làm được. Kate lững thững đi dọc con phố Franklin sầm uất, sôi nổi, huyên náo ở đồi

.