Hôm nay bạn muốn đọc gì?

Nữ tặc Giang Bắc - Tập 1 - Chương 32

Chương 32.

Chờ người trở lại Đầu tháng Hai, Thác Bạt Nghiêu hạ lệnh sai Mục Triển Việt dẫn mình quân Bắc Mạc tiếp tục xuôi Nam tấn công Thái Hưng, còn Lục Kiêu làm hậu ứng cho Mục Triển Việt, dẫn binh vào chiếm giữ Dự Châu. Bên trong thành Thanh Châu, đám người Phong Quân Dương cũng đã nhận được tin Dự Châu thất thủ. Dương Tập lộ vẻ nghi hoặc, nói: “Dự Châu bị bỏ lại khá kì lạ, với sức lực của Hạ gia, không nên dễ dàng đánh mất Dự Châu như thế, để Khâu Mục Lăng Việt dẫn binh đánh đến thành Thái Hưng”.

Phong Quân Dương sao lại không nhìn ra sự lằng nhằng trong đó, nghe vậy cười cợt nói: “Thành mất rồi còn có thể đoạt lại được, nhưng người chết rồi thì đâu còn kịch mà hát nữa. E là Hạ Trăn cố tình vứt bỏ Dự Châu hòng bảo toàn lực lượng, chờ chúng ta đến cứu viện đấy”. Dương Tập lặng đi một lát, không khỏi thở dài: “Hành động lần này của Hạ Trăn quá mức mạo hiểm, vạn nhất chúng ta không đến cứu viện, chẳng phải là ông ta muốn ngồi chờ chết sao?”. Lão tướng Mạc Hằng nghe xong câu này lập tức nói: “Sao có thể không cứu? Chẳng lẽ muốn tận mắt thấy người tộc khác cướp thành trì của ta, tàn sát đồng bào của ta sao?”.

“Đúng thế, sao có thể không cứu?” Phong Quân Dương giếu cợt mà cười khẽ, một khi Thái Hưng thật sự rơi vào tay Thác Bạt Nghiêu, nơi hiểm yếu sông Uyển sẽ không cậy nhờ được nữa. Thác Bạt Nghiêu không chỉ có thể xuống thẳng Giang Nam mà còn có thể đoạt thành Nghi Bình trước, biến hai châu Thanh, Ký thành tử địa. Hạ Trăn cũng nắm bắt được điều này nên mới làm thế, buộc chàng không thể không xuất binh. Mà muốn phái binh Tây tiến, nhất định phải đoạt được Tân Dã trong tay Mộ Dung Hằng trước. Trong tháng Hai, Phong Quân Dương lệnh cho Mạc Hằng dẫn năm vạn đại quân từ Thanh Châu tiếp viện Vũ An, hiệp trợ Trịnh Luân tấn công hai thành Tân Dã, Lam Đồng. Trịnh Luân đích thân ra ngoài thành đón Mạc Hằng, nói: “Lúc trước Mộ Dung Hằng lĩnh mười vạn đại quân Đông tiến, liên tục công thành đoạt đất, cũng hao tổn chút binh lực. Chỉ có điều bọn chúng thủ thành, vốn chiếm được địa lợi, hơn nữa Tân Dã, Lam Đồng lại hợp thành một góc với nhau, bất kể công nơi nào, chi binh một thành khác tất sẽ mau chóng đến cứu, đến lúc đó quân ta lại hai mặt giáp địch”.

Mạc Hằng tuy nhiều kinh nghiệm nhưng vẫn là người khiêm tốn thận trọng, nghe vậy bèn nói: “Đây cũng là điều lão phu suy nghĩ suốt dọc đường, phải nghĩ cách phá được thế hợp góc này trước mới xong”. “Đúng thế.” Trịnh Luân gật đầu, thấy vẻ mặt Mạc Hằng mệt mỏi, nói tiếp, “Lão tướng quân đi đường vất vả, chi bằng nghỉ một đêm trước đã, ngày mai lại triệu mọi người đến cùng bàn chiến sự”. Mạc Hằng nhận lời, Trịnh Luân sai người sắp xếp phòng ốc cho Mạc Hằng và những thân binh đi theo nghỉ ngơi. Một lát sau, thiên tướng phụ trách tiếp đãi lại đến tìm Trịnh Luân, lén bẩm báo: “Tướng quân, bên cạnh Mạc lão tướng quân có một cô gái trẻ đi theo”.

Trịnh Luân nghe vậy có phần kinh ngạc, ngạc nhiên nói: “Cô gái?”. “Đúng thế”, thiên tướng kia đáp, “Tuy giả dạng thành thân binh nhưng khuôn mặt và dáng người vừa nhìn đã biết là con gái, hơn nữa nhìn còn hơi quen, hình như là Linh Tước cô nương của Thanh Phong trại”. Viên thiên tướng này từng theo Trịnh Luân đánh Nghi Bình, đã từng gặp Linh Tước, nếu y nói giống, hơn phân nửa đó là Linh Tước rồi. Có điều trước đó Linh Tước đi tìm Lục Kiêu, sao giờ lại xuất hiện ở đây? Trịnh Luân bất giác sinh lòng cảnh giác, nghĩ nghĩ, lại hỏi: “Mạc lão tướng liệu có biết?”.

Thiên tướng đáp: “Ít nhất là biết cô ấy là con gái, bảo cô ấy ở một mình”. Trịnh Luân mím môi cân nhắc một lát rồi mới hạ lệnh: “Nếu là vậy, ngươi cứ thầm theo dõi cô ta đã, đừng đánh rắn động cỏ”. Thiên tướng kia lĩnh mệnh rời đi, Trịnh Luân tuy hoài nghi Linh Tước nhưng cũng không tiện vượt mặt Mục Hằng trực tiếp tìm cô, chỉ hôm sau lúc nói chuyện với Mạc Hằng, như có vẻ tùy ý nói: “Mạc lão tướng quân, bên cạnh ngài có một thân binh ta thấy hơi quen, chính là người vóc dáng không cao, da dẻ trắng trẻo, hắn họ Lỗ phải không?”.

Mạc Hằng sững sờ một lúc mới hiểu ra Trịnh Luân đang nói đến ai, không khỏi cười nói: “Đúng là họ Lỗ, có điều đó là một vị cô nương, sao, cậu quen à?”. Trịnh Luân gật đầu, nói: “Quen, nhưng không biết tại sao cô ấy ở lại cạnh ngài?”. Mạc Hằng đáp: “Lúc sắp đến đây, Dương Tập phó thác cô ấy cho ta, nói là bằng hữu của cậu ta ở Tụ Nghĩa trại, tuy là một cô nương nhưng lại toàn tâm muốn ra trận giết địch, đến Thanh Châu cũng không chịu ở lại, Dương Tập hết cách, nên mới để sang chỗ ta”. Nói đến đây, Mạc Hằng đột nhiên nhớ ra Trịnh Luân đã từng liên thủ với Tụ Nghĩa trại tấn công Nghi Bình, lại nói, “Cô ấy đã là người của Tụ Nghĩa trại, hẳn là cậu đã từng gặp ở Nghi Bình”.

“Đúng là đã từng gặp ở Nghi Bình”. Trịnh Luân ngừng lại, nói tiếp, “Nhưng cô ấy đã rời Tụ Nghĩa trại từ sớm, đi quan ngoại tìm Lục Kiêu”. “Lục Kiêu?”. Giữa chân mày Trịnh Luân hơi cứng lại, nói: “Chính là tướng tiên phong của Thác Bạt Nghiêu, Bộ Lục Cô Kiêu, Lục Kiêu là tên Hán lúc hắn hành tẩu ở Trung Nguyên. Lúc ấy đánh hạ thành Nghi Bình, ta dẫn binh về Thanh Châu, để Tống Diễm và Tụ Nghĩa trại ở lại Nghi Bình. Nghe Tống Diễm nói, Lỗ Linh Tước chung tình với Lục Kiêu, từ trước khi Hạ Trạch tấn công Nghi Bình đã đi quan ngoại tìm Lục Kiêu rồi”.

Nếu trước kia Linh Tước quả thực ở cùng Lục Kiêu, hiện giờ đột nhiên đến đây trong quân, mục đích là cực kì khả nghi. Mạc Hằng nói: “Ta gọi cô ấy đến, hỏi thử xem”. Ông bảo thân binh tâm phúc đi ra ngoài, chỉ chốc lát sau đã dẫn Linh Tước ăn mặc kiểu thân binh tới đây. Linh Tước vừa vào cửa nhìn thấy Trịnh Luân, thản nhiên hành lễ với hắn: “Linh Tước bái kiến tướng quân”. Trịnh Luân khẽ gật đầu, hỏi thẳng cô: “ Lỗ cô nương, không phải cô ở bên cạnh Lục Kiêu sao? Sao lại đến đây?”.

Linh Tước như đã dự liệu trước Trịnh Luân sẽ hỏi câu này, trầm giọng nói: “Trịnh tướng quân, tôi biết ngài chắc chắn hoài nghi tôi đến làm mật thám cho Lục Kiêu. Có điều, ngài nghĩ sai rồi. Tôi là người Hạ, đến để tòng quân, chỉ là muốn giết địch đền nợ nước, cứu đồng bào khỏi mũi đao ngoại tộc. Về cùng với tôi, còn có cả hai người Ôn đại ca và Đại Ngốc. Ôn đại ca võ công không giỏi, nên ở lại Thanh Châu chỗ Dương tướng quân, Đại Ngốc thì trở thành một tên tiểu tốt trong quân. Bởi tôi là con gái, Dương tướng quân không cho tôi vào quân doanh nên mới phó thác tôi cho Mạc lão tướng quân”. Cô nói rành rọt lưu loát, không giống như đang nói láo. Trịnh Luân nhất thời không phân biệt được cô thật lòng hay giả dối, cùng Mạc Hằng liếc nhau, bèn nói: “Lỗ cô nương, không phải Trịnh Luân không chịu tin cô, nhưng để an toàn, ta không thể để cô và Đại Ngốc ở trong quân, nhất định phải sai người đưa các cô về Thanh Châu”. Linh Tước từ quan ngoại trở về, một lòng muốn xông trận giết địch, giờ nghe Trịnh Luân không những hoài nghi nàng là mật thám của Tiên Thị mà còn muốn đưa nàng về lại Thanh Châu, khó tránh khỏi sốt ruột, lại tranh luận với hắn mấy câu nữa, thấy vẫn không thể lay chuyển được hắn, không khỏi tức giận nói: “Một khi đã như vậy, ngài cũng khỏi cần đưa chúng tôi về Thanh Châu, chúng tôi tự đi, về trong núi phất cờ khởi nghĩa lần nữa, triệu tập nghĩa sĩ, vẫn có thể giết người Tiên Thị”.

Trịnh Luân không hề nhúc nhích, chỉ thản nhiên nói: “Lỗ cô nương tất nhiên là có thể làm thế, nhưng trước tiên ta cứ phải đưa cô về tay Dương Tập đã”. Linh Tước tuy căm tức trong lòng nhưng cũng hết cách với Trịnh Luân, nén ngọn lửa giận trong lòng chắp tay với Trịnh Luân và Mạc Hằng, cáo từ rời đi, không ngờ đi tới cửa lại dừng chân, quay lại hỏi Trịnh Luân: “Trịnh tướng quân, có thể phiền ngài dời bước ra đây cho ta hỏi một câu được không?”. Trịnh Luân nhìn cô hai cái, theo cô ra khỏi phòng, hỏi: “Chuyện gì?”.

Không ngờ Linh Tước lại hỏi: “Trịnh tướng quân có biết Thần Niên hiện đang ở đâu không?”. Sau cuộc chiến ở Nghi Bình, nhân mã Tụ Nghĩa trại gia nhập quân của Phong Quân Dương, Thần Niên lại đột nhiên mất tăm mất tích, Linh Tước và Ôn Đại Nha đã từng hỏi Dương Tập tăm hơi của Thần Niên, Dương Tập chỉ nói đã theo Triêu Dương Tử và Tịnh Vũ Hiên đi Giang Nam, còn cụ thể hơn thì không hỏi được nữa. Không biết vì sao, Linh Tước hơi không tin.

Trịnh Luân nghe Linh Tước chợt hỏi đến Thần Niên, bất giác khẽ giật mình. Đã hơn một năm nay, hắn đã cố sức quên đi cái tên này, giờ nghe thấy, tâm tình bất giác hơi phức tạp, vô thức tránh né cái nhìn của Linh Tước, đáp: “Không biết”. Linh Tước hơi thất vọng, rồi lại không biết làm sao, đành phải theo người rời đi. Trịnh Luân đứng ở bên ngoài một lúc rồi mới xoay người vào trong nhà, nói với Mạc Hằng: “Xin lão tướng quân hãy phái thêm người đưa Linh Tước và bằng hữu của cô ấy về Thanh Châu”.

Linh Tước do Mạc Hằng đưa đến, tất nhiên nên do ông phái người đưa về. Mạc Hằng rút một vài kỵ binh đến đưa hai người Linh Tước và Đại Ngốc về. Đại Ngốc khó khăn lắm mới có cơ hội được xuất chinh, không ngờ còn chưa kịp đánh trận nào mà đã bị đuổi về, trong lòng khó tránh khỏi ấm ức, Linh Tước cũng bực dọc trong mình, bèn nói: “Chúng ta về bàn bạc kĩ càng với Ôn đại ca một phen, không được thì đến Thịnh Đô tìm Thần Niên, hiệu triệu nghĩa quân một lần nữa, cũng đỡ phải bị ức hiếp dưới tay mấy người này”. Hai người thúc ngựa nhanh về Thanh Châu, tìm Ôn Đại Nha thương lượng giữa đêm, định đến Thịnh Đô tìm Thần Niên. Không ngờ lúc nói chuyện này với Dương Tập thì Dương Tập lại gạt đi, chỉ nói: “Giờ tình hình Giang Bắc thế này, bất luận ở đâu cũng có thể nghe được tin tức, Thần Niên đã không đến, ắt có chỗ khó xử của cô ấy, không cần phải đi tìm nữa”. Linh Tước không biết con gái Hạ gia mà Phong Quân Dương lấy chính là Thần Niên, còn tưởng Thần Niên giận dỗi chàng bởi Phong Quân Dương lấy người khác, không nhịn được bảo: “Chúng ta chống lại Tiên Thị là vì dân chúng gặp nạn chứ không phải vì Phong Quân Dương, Thần Niên có gì khó xử? Hơn nữa, Phong Quân Dương cũng đã lấy con gái Hạ gia rồi, Thần Niên còn ở lại Thịnh Đô làm gì? Nếu là tôi, nên quay đầu rời đi, quay về núi Thái Hành của chúng ta mới phải”.

Dương Tập hơi mím môi, nhất thời không biết nên trả lời Linh Tước thế nào. Cậu thạo tin hơn Trịnh Luân, việc Thần Niên xông vào cung tuy bị Phong Quân Dương đè xuống nhưng Dương Tập vẫn nghe ngóng được, láng máng đoán ra Thần Niên đã rời khỏi Thịnh Đô lâu rồi. Nhưng việc này không tiện nói với đám Ôn Đại Nha. Ôn Đại Nha thấy Dương Tập phản ứng như thế, thấy có phần không ổn, không khỏi nhìn Dương Tập hai cái, hỏi: “Dương Tập, có phải cậu có chuyện gì giấu bọn tôi không?”. Dương Tập che đậy nở nụ cười, nói: “Ta có gì giấu mọi người chứ?”.

Ôn Đại Nha nghiêm mặt nói: “Tôi biết cậu giờ xem như đã là người của Phong Quân Dương, nhưng cậu cũng đừng quên năm xưa ai đã cứu hai huynh muội cậu dưới lưỡi đao đó. Nếu không nhờ Thần Niên, cỏ trên mộ mấy người chúng ta không biết đã mọc được mấy lứa rồi, làm người phải có lương tâm, không thể uổng công khoác tấm da người này được”. Ôn Đại Nha luôn thích làm người hiền hậu, rất ít khi nói cứng với người ta, lời này từ miệng hắn đi ra đã là nặng lời lắm rồi, Dương Tập nghe thế lặng người đứng dậy đi đến cửa sổ cẩn thận quan sát tình hình bên ngoài rồi mới quay lại nói nhỏ: “Việc này nói ra thì dài dòng, tình hình cụ thể trong đó ta cũng không rõ ràng lắm, chỉ biết là Thần Niên hiện không ở Thịnh Đô, hẳn là ở Nam Thái Hành”. Đám Ôn Đại Nha đều sửng sốt, ngạc nhiên nói: “Nam Thái Hành?”.

“Ừm”, Dương Tập gật đầu, đây là do cậu đoán ra từ lời của Thuận Bình, “Đại khái là ở giữa Thanh Phong trại và Nghi Bình, cụ thể là ở đâu thì không biết. Nếu mọi người muốn tìm cô ấy thì cứ đến đó tìm”. Phạm vi này thoạt nhìn có vẻ không lớn, nhưng nếu tìm một người lại chẳng khác nào mò kim đáy bể. Ba người Ôn Đại Nha và Linh Tước, Đại Ngốc tiến vào Nam Thái Hành từ mùa xuân, tìm suốt hai ba tháng cũng vẫn không thể tìm được tung tích của Thần Niên, rơi vào đường cùng đành phải quay lại Thanh Châu. Lúc này, Trịnh Luân và Mạc Hằng kinh qua khổ chiến đã đoạt lại được Tân Dã và Lam Đồng từ tay Mộ Dung bộ.

Tháng Tám, Phong Quân Dương tập hợp hai mươi vạn đại quân từ bốn châu Thanh, Ký, Lỗ, Tương của Giang Bắc, từ Thanh Châu đi về phía Tây. Lúc nghỉ ngơi trên đường hành quân, Phong Quân Dương ưng nhất là nhìn về phía Đông Nam xuất thần. Tật xấu này của chàng từ khi tới Thanh Châu đã có, Thuận Bình vừa nhìn thấy vẻ mặt kia đã biết chàng đang nhớ đến Thần Niên và con gái, lòng thầm thở dài rồi mới tiến lên nói nhỏ với Phong Quân Dương: “Vương gia?”. Phong Quân Dương không nhúc nhích, một lát sau đột nhiên hỏi Thuận Bình: “Ngươi nói xem giờ nàng đang làm gì? Con bé đã biết bò chưa?”. Thuận Bình thật sự không biết Thần Niên giờ đang làm gì, nhưng câu hỏi thứ hai lại không làm khó được y, cười nói: “Hẳn là bò rồi, tục ngữ có câu ba tháng biết lẫy, bảy tháng biết bò, tiểu quận chúa chẳng phải đã hơn tám tháng rồi sao, hẳn là biết bò rồi”.

“Con gái của ta nhất định là còn bò nhanh hơn cả con nhà người khác”. Có lẽ nghĩ đến dáng vẻ buồn cười bò qua bò lại của con gái, Phong Quân Dương không khỏi nhếch khóe miệng lên, nhưng khóe miệng chỉ cong một lúc rồi xụ xuống ngay, ngay cả ánh mắt cũng không giấu nổi thoáng ảm đạm. Chàng ở nơi này nhớ thương con gái, Thần Niên lại bị con gái Tiểu Bảo làm cho nhức đầu, Tiểu Bảo hơn tám tháng chẳng những đã biết bò mà còn bò rất nhanh. Thần Niên đi ra ngoài rót nước một loáng thôi mà bé con đã bò từ trong giường ra đến mép giường, lộn cổ ngã xuống, may nhờ khinh công Thần Niên tốt, trong chớp mắt phi từ cửa vào mép giường mới đỡ được con trước khi con rơi xuống đất. Thần Niên vừa cuống vừa tức, Tiểu Bảo lại cho rằng đó là một trò chơi vui, cười toét miệng đầy hăng hái. Với một đứa bé chẳng hiểu chuyện gì như thế, Thần Niên cũng không phát cáu nữa, bế bé ra cửa phòng, nói với Dương bà bà chủ nhà rằng: “Đại nương, chúng ta tìm một cái dây thừng buộc Tiểu Bảo lại, đỡ phải lúc không trông nom được, nó lại ngã từ trên giường xuống”.

Dương bà bà đang nhặt rau trong sân, nghe xong câu này kêu “ối giời” một tiếng đầy cường điệu, vứt luôn cả rau đi đến bế lấy Tiểu Bảo từ trong lòng Thần Niên, bất mãn kêu lên: “Người lớn phải xuống ruộng làm việc, ở nhà không có ai trông bé, đấy là cách cực chẳng đã thôi. Nhưng cô không cần xuống ruộng cũng chẳng cần kiếm sống, đến một đứa bé cũng không trông được mà còn không biết xấu hổ đòi cột Tiểu Bảo lại!”. Thần Niên tự thấy đuối lý, ngượng ngùng ngồi xuống nhặt rau. Dương bà bà đặt Tiểu Bảo xuống chiếu dưới tán cây, dặn Thần Niên trông bé cho kĩ rồi mới xoay người đi vào bếp nấu cơm, Thần Niên đáp lời, thấy Tiểu Bảo hai tay cầm một quả dưa chuột đã được nạo vỏ cắn đến là vui thú, không nhịn được ghé lại gần con gái thì thầm trao đổi: “Tiểu Bảo ngoan, con cho mẫu thân cắn một miếng được không?”. Tiểu Bảo làm sao nghe hiểu được lời nàng, còn tưởng Thần Niên đang dỗ mình chơi, chỉ há miệng cười khanh khách. Thần Niên cũng cười với bé, thò đầu sang chỗ quả dưa cắn một miếng to, Tiểu Bảo ngẩn người, ngẩng đầu nhìn mẫu thân rồi lại nhìn đoạn dưa chuột ngắn ngủn còn thừa lại trong tay, khóc “óa” lên to tướng.

Dương bà bà vừa mới nhóm được lửa, nghe tiếng bé con khóc bên ngoài vội chạy ra xem, nhìn Tiểu Bảo vẫn đang ngồi trên chiếu, nhất thời thở phào nhẹ nhõm, hỏi Thần Niên: “Đang yên đang lành sao lại khóc?”. Thần Niên đã gây tai họa, miếng dưa trong miệng còn chưa nuốt hết, không dám lên tiếng, chỉ vội vã ôm lấy Tiểu Bảo dỗ dành. Không ngờ vừa dỗ lại càng làm Tiểu Bảo tủi thân, khóc như ri. Dương bà bà thủ tiết từ khi còn trẻ, nhờ cả vào tính nết tháo vát đặng gánh vác gia đình, lại vì Thần Niên ở chỗ bà đã lâu, bà đối xử với nàng chẳng khác nào con gái. Thấy Thần Niên không dỗ được Tiểu Bảo, Dương bà bà vừa phủi bụi trên tay vừa đi đến đó, miệng oán trách: “Lớn tướng như thế rồi mà đến đứa bé cũng không biết dỗ?”.

“Tiểu Bảo đừng khóc, bà bế con”. Bà bế lấy Tiểu Bảo từ lòng Thần Niên, vừa mới dỗ hai câu, tình cờ nhìn thấy miếng dưa chuột trong tay Tiểu Bảo, đột nhiên hiểu lí do vì sao bé con khóc, vừa quay người sang đã không thấy bóng dáng Thần Niên đâu. Dương bà bà vừa tức vừa giận, vốn không bắt nổi Thần Niên, căm tức đứng trong sân chửi đổng: “Cô đã là vợ là mẹ, dưa chuột đầy rổ cô không ăn, lại đến cướp miếng ăn của con, làm cho con khóc. May mà cô sống một mình, chứ nếu sống cùng nhà chồng, một ngày tám lượt người ta đánh cho từ sáng sớm đến tận tối đêm nhé!”. Bà đang mắng mỏ đến là hăng say thì chợt nghe bên ngoài có người gõ cửa, lập tức cáu điên cất giọng hỏi: “Ai đấy?”. Không ngờ tính tình người ngoài cửa còn xấu hơn, chỉ đáp: “Mở cửa! Là đạo gia!”.

Dương bà bà nghe thấy giọng nói này sững người ra, Thần Niên lại rất nhanh chạy từ trong bếp ra mở cửa viện, kinh ngạc hỏi han: “Đạo trưởng, sao ngài đến đây?”. Triêu Dương Tử toàn thân phong trần mệt mỏi, vào cửa chỉ giận dỗi lườm Thần Niên trước, không trả lời nàng, chỉ đi đến cạnh Dương bà bà nhìn Tiểu Bảo, hỏi Dương bà bà: “Tiểu Bảo đã lớn thế này rồi sao?”. Lúc ông đi thì Tiểu Bảo mới đầy tháng, người còn chưa lớn, hiện đã trắng ngần, mập mạp đáng yêu. Bé con vốn xinh xắn vô cùng, lại hay cười, ghé sát vào người ông cười với ông một cái, lộ mấy cái răng sữa xinh xinh mới nhú, ông nom mà cũng vô thức muốn nhếch miệng cười ngớ ngẩn với bé.

Dương bà bà biết đạo trưởng mặt đen này tính nết không tốt, có vài phần e ngại ông, vội nói: “Đạo trưởng từ xa tới, ngồi xuống nghỉ một lúc đã, bà già này đi nấu cơm cho mọi người”. Dương bà bà giao bé cho Thần Niên, trộm trừng mắt nhìn nàng, cảnh cáo nàng không được làm bé khóc nữa rồi mới vào phòng lấy ấm và chén trà đến, sau đó xoay người vào bếp nấu cơm, nhường chỗ cho Thần Niên và Triêu Dương Tử trò chuyện. Triêu Dương Tử đi đường khát khô cả cổ, uống liền hai chén nước trà mới dừng lại được.

Thần Niên nhìn ông, hỏi: “Vẫn không tìm được sư phụ ta sao?”. Triêu Dương Tử thở dài đáp: “Tìm thì tìm được rồi, nhưng vô dụng”. Thần Niên ngạc nhiên nói: “Sao lại nói thế?”.

Triêu Dương Tử lặng đi một lát rồi mới kể chuyện Tịnh Vũ Hiên. Mấy tháng nay, ông một mạch đuổi theo Tịnh Vũ Hiên từ Lĩnh Nam đến Giang Bắc, lần cuối cùng hai người gặp nhau là ở Thái Hưng, chân khí nội lực của Tịnh Vũ Hiên hình như đột nhiên có thể thoái mái khống chế, nhưng cũng chính lần đó, Tịnh Vũ Hiên ra tay làm Triêu Dương Tử bị thương, còn nói bà đã tìm được người có thể giúp mình luyện thành Ngũ Uẩn thần công rồi, nếu ông còn tiếp tục đến nhiễu sự quấy rỗi, đừng trách bà không niệm tình cũ. “Thái Hưng?” Thần Niên bất chợt nghĩ tới một kẻ, “Lẽ nào là Quỷ thủ Bạch Chương?”. Triêu Dương Tử chậm rãi gật đầu: “Ta cũng đoán là kẻ đó”.

Thần Niên bất giác nhíu mày, nói: “Sao có thể tin ông ta được? Tuy ông ta từng dùng thuốc mở rộng kinh mạch của ta, nhưng ta luyện thành Ngũ Uẩn thần công lại là vì cơ duyên khéo hợp, không phải toàn bộ nhờ ông ta”. Nàng vốn bị trọng thương, nội công phế hết, sau bị Bạch Chương ma xui quỷ khiến mở rộng kinh mạch, lại trải qua sinh tử, dòng chân khí cuồn cuộn của Ngũ Uẩn thần công mới phục sinh. Nhưng dù là thế, chân khí cũng không tồn tại lâu trong kinh mạch nàng, chỉ khi nào dùng mới có, sau đó liền mất tăm mất tích. Triêu Dương Tử thân là thầy thuốc, đương nhiên lại càng rõ ràng, nghe vậy bèn nói: “Đúng thế, ta nghĩ Bạch Chương kia có thể cũng dùng thuốc mở rộng kinh mạch sư phụ cô, nhưng Ngũ Uẩn thần công chú ý đến ngũ uẩn giai không, có sự thay đổi giữa ‘có’ và ‘không’, nếu không làm được đến ‘không’, cho dù có mở kinh mạch đến tận cùng cũng không thể trường kì chịu được chân khí bá đạo như thế, cuối cùng cũng không tránh khỏi kết cục kinh mạch đứt hết. Thôi, mỗi người đều có cơ duyên của mình, ta đã tận lực, tùy bà ta thôi”.

Nói xong câu này, Thần Niên và Triêu Dương Tử không khỏi cùng trầm mặc, chỉ có Tiểu Bảo không lo nghĩ gì, tuy ngồi trong lòng Thần Niên nhưng lại tò mò nhìn Triêu Dương Tử, ê a với ông, Triêu Dương Tử thấy bé đáng yêu, không nhịn được vươn tay bế bé vào lòng mình, miệng lại hỏi Thần Niên: “Phong Quân Dương thật sự chưa từng đến nữa?”. Thần Niên lắc đầu nói: “Không đến”. Triêu Dương Tử thấy hơi bất ngờ: “Quái lạ, hắn mà lại giữ lời thế à? Chẳng lẽ là tập trung đi tranh thiên hạ?”.

Đang nói, Tiểu Bảo đột nhiên một tay tóm được chòm râu lơ thơ của Triêu Dương Tử, kéo mạnh đến mức Triêu Dương Tử nhe răng trợn mắt, kêu lên: “Ái ui, bảo tiểu nha đầu này buông ra nhanh lên, bằng không chỗ râu này của đạo gia sẽ chôn vùi trong tay nó mất”. Ông phản ứng như vậy lại làm cho Tiểu Bảo vui vẻ, vứt luôn cả miếng dưa chuột bên tay đi, hai tay túm râu Triêu Dương Tử. Thần Niên thấy thế, bước lên trước tách tay của Tiểu Bảo ra, bế bé về, chột dạ nhòm trộm mấy cái râu của Triêu Dương Tử. Triêu Dương Tử râu tóc lưa thưa, có thể giữ được chỗ râu này đã rất khó khăn rồi, bị Tiểu Bảo dứt đứt vài cái, khó tránh khỏi thấy đau lòng, còn Tiểu Bảo chẳng hiểu chuyện gì, vẫn luôn toét miệng cười với ông, làm ông muốn bực cũng không được, đành trừng mắt lườm Thần Niên vài lần. Thần Niên vội trưng ra cho ông một khuôn mặt cười, chuyển đề tài hỏi: “Lần này đạo trưởng đến, có định ở lại vài ngày không?”.

Nghe nàng hỏi thế, Triêu Dương Tử lại nghiêm mặt, nghiêm nghị nói: “Thần Niên, ta đến lần này có chính sự tìm cô. Đầu năm nay, Dự Châu đã bị Khâu Mục Lăng Việt phá, hiện giờ Khâu Mục Lăng Việt lại mang binh vây khốn Thái Hưng…”. “Đạo trưởng!” Thần Niên bỗng ngắt lời Triêu Dương Tử, “Đó là báo ứng Hạ gia phải nhận, ông trời có mắt, thiện ác có báo”. Triêu Dương Tử sửng sốt, một lúc sau đứng phắt dậy, cả giận nói: “Nhưng Thái Hưng không chỉ là Thái Hưng của Hạ gia, một khi Thái Hưng thất thủ, cả Giang Nam sẽ để lộ dưới gót sắt quân Tiên Thị! Khi thiên hạ đang ở lằn ranh tồn vong, sao cô có thể chỉ lo ân oán cá nhân?”.

Thần Niên giương mắt nhìn Triêu Dương Tử, lại hỏi: “Đạo trưởng, ngày đó ta cõng Tiểu Thất từ thành Thịnh Đô chạy đi, ngài có biết trong lòng ta nghĩ gì không? Ta nghĩ lòng người sao có thể đê tiện hiểm ác như thế? Ta nghĩ ông trời sao lại không biết phân biệt phải trái như thế? Ta hận không thể để đại quân Tiên Thị có thể từ Tĩnh Dương giết một mạch đến Thịnh Đô, chém tận giết tuyệt đám danh gia vọng tộc, quý tộc hoàng thất dối trá vô sỉ đó đi, diệt cái thiên hạ đen trắng đảo điên này luôn đi!”. “Thần Niên…” Triêu Dương Tử không ngờ trong lòng Thần Niên từng có oán niệm như thế, nhất thời sợ đến mức nói không ra lời. Thần Niên cúi mắt xuống, ổn định lại dòng suy nghĩ của mình rồi mới nói thêm: “Đạo trưởng, ngài biết thân thế của ta, trong người ta chảy một nửa huyết mạch Tiên Thị, thậm chí, nếu có thể, ta chỉ hận không thể bỏ hết nửa dòng máu họ Hạ trong người đi. Đạo trưởng, ta có thể không giúp bên nào đã là khó khăn lắm rồi”.

Triêu Dương Tử đứng đó, một lúc sau lên tiếng: “Vì bách tính muôn dân cũng không được sao?”. Thần Niên cũng chỉ trầm mặc, hồi lâu sau mới tự giễu cười, đáp: “Đạo trưởng, bách tính quá nặng, nên để người chí tôn nơi thiên hạ gánh trách nhiệm này, chứ không phải ta. Ta chỉ muốn nuôi Tiểu Bảo lớn khôn, không muốn con bé cũng giống như ta”. Trong viện lại rơi vào im lặng, Triêu Dương Tử lại đứng đó một lúc lâu, không nói không rằng, xoay người đi nhanh ra ngoài. Thần Niên cũng không đứng dậy tiễn ông, chỉ chậm rãi cúi đầu xuống, đặt trán lên cái đầu bé nhỏ của con gái, nhắm mắt ngửi mùi vị ngọt thơm đặc hữu trên người trẻ con.

Bất tri bất giác, khóe mắt nàng đã ươn ướt, nàng không muốn chém giết nữa, không muốn phán đoán ai thiện ai ác nữa, không muốn hy sinh vì nghĩa nữa. Nàng chỉ muốn lớn lên với Tiểu Bảo, muốn thỉnh thoảng lên núi thăm Diệp Tiểu Thất và Tiểu Liễu, muốn bình lặng sống mãi trong thôn trấn này. Năm Tân Võ thứ ba, từ đầu mùa hè tới bây giờ, chiến sự Giang Bắc càng thêm căng thẳng. Đại quân của Phong Quân Dương đuổi theo quân của Mộ Dung Hằng suốt dọc đường từ Đông đến, chậm rãi tiến quân về hướng Dự Châu. Cuối tháng Tám, một nhánh đại quân Thác Bạt Nghiêu ngầm giấu ở Bắc Tuyên Châu xuyên qua núi Yên Thứ theo một con đường cổ không ai hay biết, tránh Thanh Châu, đến Ký Châu. Dương Tập ở Thanh Châu nhận được tin, lập tức phái binh chặn đánh, nhưng binh lực hai bên khác xa nhau, không thể ngăn nổi đại quân Tiên Thị, để chúng vòng qua phía Bắc núi Thái Hưng, tiến vào phía Bắc Ký Châu. Mà Tiết Thịnh Hiển của Ký Châu nhát gan sợ chiến, co đầu rụt cổ không ra, mặc cho quân Tiên Thị vượt qua cảnh giới, thẳng hướng Nam giết đến Nghi Bình.

Nghi Bình không thể so với Thái Hưng, có thành cao hào sâu để cậy vào, một khi mất Nghi Bình, chưa nói đến việc chặt đứt đường nối Nam-Bắc của Phong Quân Dương, ngay cả Thanh Châu cũng khó bảo toàn. Đến lúc đó, hai mươi vạn đại quân Tây tiến của Phong Quân Dương sẽ trở thành một cánh quân cô độc. Phong Quân Dương nhận được tin trong quân, không khỏi giận quá hóa cười, nói: “Tiết Thịnh Hiển ơi Tiết Thịnh Hiển, không ngờ y lại có thể ngu xuẩn đến mức này!”. Chàng rất ít khi tức giận như thế, trong trướng nhất thời lặng phắc như tờ. Một lát sau, mới có một tướng lĩnh xin chỉ thị: “Đại tướng quân, mạt tướng nguyện lãnh binh quay về Đông cứu viện Nghi Bình, giết sạch đám người Tiên Thị này”. Sắc mặt Phong Quân Dương u ám, lạnh lùng nói: “Thác Bạt Nghiêu hiện chỉ ước sao ta chia binh, để đập tan từng bộ phận. Ngươi không tin, một khi ta chia quân về cứu Nghi Bình, Thác Bạt Nghiêu sẽ không còn gì băn khoăn nữa, lập tức phái đại quân từ Tĩnh Dương xuôi Nam. Đến lúc đó, chúng ta không những không thể cứu Dự Châu, mà đến bản thân còn khó giữ”.

Trịnh Luân ngẫm nghĩ, nhưng lại hỏi: “Vậy có thể điều binh từ Giang Nam trực tiếp cứu viện Nghi Bình không?”. Lần này về Tây cùng Phong Quân Dương là hai mươi vạn đại quân, để lại thủ Tân Dã, Lam Đồng đã là mấy vạn, số này đã chiếm già nửa binh lực của Phong Quân Dương, cho dù Giang Nam còn chút binh mã, nhưng cũng không thể tùy tiện sử dụng. Phong Quân Dương phân vân một lát, nói: “Tình hình trước mắt, cũng chỉ có thể điều binh từ Giang Nam lên Bắc giải vây cho Nghi Bình, hơn nữa chỗ đó cũng cách Nghi Bình gần hơn”. Phụ tá Hàn Hoa giương mắt nhìn Phong Quân Dương, không hề lên tiếng, chờ tới khi trong trướng không còn ai khác mới nói với Phong Quân Dương: “Vương gia, Giang Nam không thể so với Vân Tây chúng ta, chư vương họ Tề tuy đã lụi, song dư đảng chưa trừ, người điều hết binh mã ở đó đi, có từng suy xét ngộ nhỡ có kẻ mượn cơ hội sinh sự, lấy binh đâu ra để áp chế chưa?”.

Phong Quân Dương sao lại chưa từng suy xét việc này, nghe thế không nén nổi nụ cười gượng, nói: “Do ta trước đó quá tự đại, mất tiên cơ nên bị Thác Bạt Nghiêu từng bước ép bức đến chỗ này, không thể không làm thế được”. Chàng nói thế tức là đã quyết ý, Hàn Hoa không tiện khuyên nữa, đành bỏ cuộc. Lúc này, trong Nam Thái Hành là lúc ráng đỏ khắp núi, phủ lên tầng lớp non xa.

Sau khi Triêu Dương Tử đi, Thần Niên ngày nào cũng như ngày nào, càng siêng năng đi thăm mộ Diệp Tiểu Thất và Tiểu Liễu hơn. Nàng thường ra ngoài từ sáng sớm, cõng Tiểu Bảo vượt qua mấy ngọn núi, yên lặng ngồi nửa ngày trước phần mộ hai người họ, sau đó lại leo núi quay về. Mấy ngọn núi to lớn đều rất hiểm trở, cũng chính nhờ sự cản ngăn của núi nên mới biến trấn nhỏ Thần Niên ở thành một chốn đào nguyên trong thời loạn. Ngoài núi loạn lạc giết chóc, trong núi lặng yên ắng an hòa. Hôm nay Thần Niên lại ngồi rõ lâu trên sườn núi, khi trở về đã là lúc chạng vạng tối, đi vào cửa viện đã thấy Triêu Dương Tử ngồi dưới gốc cây, bất giác sững người. Dương bà bà vẫn luôn ở trong phòng, xem chừng bên ngoài, thấy Thần Niên về vội ra đón, nhân cơ hội ôm Tiểu Bảo bèn nói nhỏ với Thần Niên: “Đã đến lâu rồi, nước cũng không uống, cơm cũng không ăn, chỉ ngồi đấy, bảo là chờ cô”.

Thần Niên khẽ gật đầu tỏ vẻ đã biết. Nàng giao Tiểu Bảo mệt mỏi cho Dương bà bà dỗ rồi mới quay người lại cười chào hỏi Triêu Dương Tử: “Đạo trưởng”. Tầm mắt Triêu Dương Tử hơi lảng tránh, cố gắng mấy lần mới ngước mắt nhìn nàng, nói: “Thần Niên, lần trước ta ép buộc cô, lần này ta đến để giải thích”. Thần Niên có phần bất ngờ, không nhịn được nhìn Triêu Dương Tử hai cái, cười nói: “Đạo trưởng đang nói gì cơ?”. Lại thấy thần sắc Triêu Dương Tử rất mất tự nhiện, Thần Niên sợ ông xấu hổ, vội chuyển đề tài, hỏi ông, “Đạo trưởng từ đâu đến thế?”.

“Thanh Châu.” Triêu Dương Tử cộc cằn đáp, ông liếc nhìn Thần Niên một cái, giận dữ nói: “Xem môi cô đã khô quắt thành cái gì rồi? Mùa thu khô hanh, uống nhiều nước vào, đỡ phát hỏa”. Thần Niên một mạch leo núi trở về, miệng quả thực hơi khô, nghe thế bèn cầm lấy bình trà men xanh trên bàn thấp, rót ra một chén cho Triêu Dương Tử trước rồi mới cầm chén kia lên uống. Chờ khi trà vào miệng, nàng thấy vị trà không chuẩn, không chút nghĩ ngợi ném chén trà vào người Triêu Dương Tử bên cạnh, nhưng cánh tay đã tê liệt, chén trà mất độ chính xác, chỉ sượt qua bả vai Triêu Dương Tử, ném xuống đất. Ngay cả như thế, nơi bả vai Triêu Dương Tử vẫn cảm thấy cơn đau rát cháy. Ông bất giác nghĩ lại mà ghê, nhủ thầm may mà lượng thuốc mình hạ rất nặng, Thần Niên lại không hề đề phòng ông nên lần này mới có thể may mắn thuận lợi.

Thần Niên ngồi chỗ đó không thể động đậy, chỉ giương mắt lặng lẽ nhìn Triêu Dương Tử, vẻ mặt trái lại cũng coi như bình tĩnh. Triêu Dương Tử tránh ánh mắt nàng, nói: “Ta mang Tiểu Bảo đi trước, nếu cô muốn lấy lại con, đến Ký Châu tìm ta là được”. Dương bà bà nghe động tĩnh đi từ trong nhà ra, còn chưa kịp hỏi đã bị Triêu Dương Tử điểm huyệt nói. Triêu Dương Tử vào nhà bế Tiểu Bảo ra, lúc đi ngang người Thần Niên thoáng dừng lại rồi mới rời đi.

Thần Niên lòng nóng như lửa đốt, nhưng cũng đành chịu, đành bắt buộc mình phải tỉnh táo lại, gạt bỏ tạp niệm, phát động chân khí trong kinh mạch chuyển động thật nhanh, ép độc ra ngoài. Song thuốc mê của Triêu Dương Tử cực kì mạnh, mãi đến sáng sớm ngày hôm sau, tay chân Thần Niên mới dần dần lấy lại được cảm giác. Dương bà bà còn đứng bất động ở cửa, Thần Niên đến giải huyệt cho bà, Dương bà bà đặt phệt mông xuống đất, gào khóc mắng mỏ: “Hắc lão đạo đáng chém nghìn đao! Bà già này còn tưởng lão là người tốt, không ngờ lại ác đến thế! Tiểu Bảo ơi! Tiểu Bảo của bà ơi!”. Thần Niên chẳng để ý đến Dương bà bà nữa, chỉ đuổi thẳng về hướng Ký Châu.

Đây là lần đầu tiên Thần Niên rời núi sau khi mai táng Diệp Tiểu Thất, hai ngày đầu ở trong núi, còn chưa thấy có thay đổi gì lớn, đến khi nàng tiến vào khu đồng bằng Ký Châu mới giật mình cảm nhận được sự hoang liêu. Nàng liên tục đi qua mấy thôn trang đều ít thấy người ở, cỏ dại mọc um tùm trong đống mái tường đổ nát, thỉnh thoảng có chó hoang lấp ló trong đó, dăm ba con tụm thành một đàn, nhe răng gừ gừ khe khẽ, không biết đang tranh nhau thứ gì. Thần Niên đi suốt dọc đường, càng nhìn càng thấy kinh hãi, trước kia nàng đã từng đến Ký Châu, tuy nơi này không giàu có sung túc như Giang Nam, nhưng cũng tuyệt không phải tình cảnh như thế này. Đến sáng ngày thứ năm, Thần Niên rốt cuộc cũng bắt kịp Triêu Dương Tử trong một trấn nhỏ cách Ký Châu hơn trăm dặm, Triêu Dương Tử im lặng tiến lên, trả Tiểu Bảo lại cho Thần Niên, bàn giao: “Mấy hôm nay ta cho con bé ăn cháo, cũng cho ăn vài bữa thịt bằm hoặc bột rau, tiểu nha đầu thích lắm”.

Thần Niên thấy Tiểu Bảo tuy hơi gầy, còn thì cũng coi như hăng hái, giờ mới yên tâm, nàng ôm chặt Tiểu Bảo vào lòng, lui về sau mấy bước, nói với Triêu Dương Tử: “Đạo trưởng, ngài có nhiều ân huệ với Thần Niên, Thần Niên vô cùng cảm kích, nhưng bất kể ngài có mục đích gì cũng không nên lấy con của ta ra để uy hiếp ta. Đây là lần đầu tiên, ta hi vọng cũng là lần cuối cùng”. Sắc mặt Triêu Dương Tử nặng nề, yên lặng nhìn Thần Niên, sau lại hỏi nàng: “Dọc đường đuổi theo, cô đã nhìn thấy gì?”. Thần Niên hơi sững người, mím môi không đáp.

Triêu Dương Tử chỉ quanh bốn phía, nói: “Ta đã từng đến thôn trấn này, khi đó cư dân nơi này hơn một nghìn, cũng coi như phồn hoa, tháng Chín, nhân mã Tiên Thị chém giết qua đây, gom tất cả dân chúng lại đây, chọn tráng đinh trong đó làm lao dịch, già trẻ phụ nữ còn lại đều gần bị giết hết, người sống sót chẳng còn là bao. Không chỉ Ký Châu, còn cả Ích Châu, Dự Châu, Ung Châu… Phàm là nơi đại quân Tiên Thị từng đi qua đều như thế này, đất đai khô cằn, xương trắng chất đống, cả Giang Bắc đã biến thành địa ngục nhân gian!”. “Chẳng lẽ đây là thiện ác đều có báo ứng mà cô nói? Cô nói cho ta biết, những bách tính này rốt cuộc đã làm gì ác? Cô mong đại quân Tiên Thị chém giết thế này đến tận Thịnh Đô sao? Bị chém tận giết tuyệt là đám thế gia quý tộc hay là những người dân vô tội này?” Triêu Dương Tử càng nói càng xúc động phẫn nộ, sau đó đã hóa thành gào thét, “Tạ Thần Niên, cô có một nửa huyết thống Tiên Thị, nhưng thủy thổ ở đâu nuôi cô khôn lớn? Đồ cô mặc trên người là y phục ở đâu, miệng cô nói thứ tiếng gì? Cô có thể trơ mắt nhìn đồng bào mình chết thảm dưới đao người Tiên Thị, mà mình lại không đếm xỉa đến sao?”. Thần Niên luôn cụp mắt trầm lặng, nhưng Tiểu Bảo trong lòng lại sợ hãi khóc òa lên.

Triêu Dương Tử giờ mới kiềm hãm giọng nói, dừng lại một lát, đỏ sọng cả mắt hỏi nàng: “Thần Niên, hiệp nghĩa của cô đâu? Tạ Thần Niên từng một vai gánh cả mấy vạn dân lưu lạc đâu rồi? Cô ấy chết rồi sao? Cô ấy chết ở đâu rồi?”. Thần Niên không nói gì hồi lâu, cuối cùng lại nghẹn ngào cười gượng: “Đạo trưởng, ngài muốn bảo tôi làm gì đây? Đi khuyên nghĩa phụ tôi và Thác Bạt Nghiêu thu binh? Họ chịu để tôi thao túng sao? Hay là muốn tôi đi giết họ? Được, coi như tôi có thể không màng công ơn nuôi dưỡng của nghĩa phụ, không màng sinh tử cá nhân, giết được một người trong số họ, chẳng lẽ có thể ngăn cản được thiên quân vạn mã của Tiên Thị sao?”. Suốt bao ngày qua đến nay, Thần Niên cũng một mực hỏi mình, nàng có thể làm gì? Nàng ngồi nửa ngày trước nấm mồ Diệp Tiểu Thất, nàng chưa quên chữ “nghĩa” Diệp Tiểu Thất để lại cho mình, nhưng hai nước giao tranh, võ công cao cường đến đâu thì cũng có ích gì? Cho dù nàng một thân dũng mãnh, cùng lắm cũng chỉ ám sát được vài tướng lĩnh Tiên Thị, có thể giết được mấy chục vạn đại quân của Tiên Thị ư?

“Đạo trưởng, ngài đánh giá Thần Niên quá cao rồi.” Thần Niên kiệt sức nhếch khóe miệng, nói, “Từng che chở cho mấy vạn dân lưu lạc không phải Tạ Thần Niên, mà là Tụ Nghĩa trại, là Ôn đại ca, là Đại Ngốc, là Linh Tước, Lỗ đại thúc, Chu Chấn, còn cả đạo trưởng nữa, là mỗi một người trong Tụ Nghĩa trại, không phải mình Tạ Thần Niên ta. Không có mọi người, không có Tụ Nghĩa trại, Tạ Thần Niên chỉ là một người bình thường”. Ôn Đại Nha và Đại Ngốc đã về Bắc, Linh Tước đã đi theo Lục Kiêu, Lỗ Vinh Phong và Chu Chấn đã đầu quân cho Phong Quân Dương, mà Dương Tập lại ở Thanh Châu… Tụ Nghĩa trại đã sụp đổ từ lâu, chỉ còn mình nàng, còn làm gì được chứ? “Tụ Nghĩa trại vẫn còn!” Triêu Dương Tử cao giọng đáp, ánh mắt ông sáng ngời, đôi mắt híp sáng đến kinh người, làm gương mặt đen đúa của ông cũng sáng lên theo, “Tất cả chúng ta vẫn còn đó! Tạ Thần Niên không phải một người bình thường, cô ấy cũng không phải Vân Tây vương phi, đứa con mồ côi của vương nữ gì đó, cô ấy là đại đương gia của Tụ Nghĩa trại, cô ấy từng che chở mấy vạn dân lưu lạc, cô ấy vung tay hô một tiếng là có vô vàn nhân sĩ nghĩa hiệp hưởng ứng, thành lập nghĩa quân, diệt trừ Thác Lỗ, giữ yên bờ cõi yên ổn chúng dân!”.

Thần Niên nghe thế sửng sốt, ngơ ngẩn nhìn Triêu Dương Tử không nói nên lời, đến cả Tiểu Bảo cũng nín khóc, chớp chớp mắt, tò mò nhìn ông lão gầy gò ngăm đen này. “Ôn Đại Nha và Linh Tước đã quay về rồi. Tháng trước, chúng nó mượn danh nghĩa của cô triệu tập nghĩa quân ở hai châu Thanh, Ký, mới hơn một tháng ngắn ngủi mà đã tụ hợp được gần vạn người!” Triêu Dương Tử tiến lên vài bước, nhìn Thần Niên chăm chú, nói từng chữ từng chữ, “Thần Niên, mọi người đều đang chờ cô trở lại”. Triêu Dương Tử không có tài ăn nói tốt thế, cả bộ lời thoại này đều do Dương Tập dạy ông từng câu một, nói nhất định có thể làm Thần Niên cảm động. Không ngờ Thần Niên nghe xong lại đứng đó hồi lâu không có động tĩnh gì. Triêu Dương Tử vốn nóng tính, lại thấy Thần Niên phản ứng như thế, không còn bền chí nữa, dứt khoát lên tiếng: “Được, được, được, coi như đạo gia ta nhìn sai người, ôm con cô về đi, về mà làm cao nhân lánh đời của cô đi!”

Ông nói lời hay chưa được hai câu đã đột ngột lật mặt, Thần Niên khó tránh khỏi dở khóc dở cười, cũng không so đo với ông, chỉ hỏi ông: “Hiện họ đang ở đâu?”. Triêu Dương Tử bị nàng hỏi ngơ ra, vô thức hỏi lại: “Ai?”. “Bọn Ôn Đại Nha và Linh Tước.” Thần Niên nói.

Triêu Dương Tử mừng rỡ trong lòng, cười đến nổi hết nếp nhăn trên mặt, vội đáp: “Quận Trung Sơn”. Quận Trung Sơn không ở nơi nào khác mà ở ngay phía Tây Ký Châu, ngay gần sườn Phi Long, thành trì không lớn, nhưng nhờ nằm giữa cửa khẩu sườn Phi Long, vị trí quân sự cực kì quan trọng. Cuối tháng Tám đại quân Tiên Thị từ Bắc đến, Tiết Thịnh Hiển rụt cổ ở Ký Châu thủ mà không chiến, Tiên Thị bỏ Ký Châu không cai quản nhưng lại chiếm quận Trung Sơn, để lại năm nghìn binh sĩ gác ở đây. Lúc ấy, binh lực trong tay Dương Tập còn nằm cả ở Bắc Thanh Châu, vốn không thể chú ý đến phía Đông, chỉ có thể trơ mắt nhìn người Tiên Thị chiếm cứ điểm Trung Sơn, đóng một cái đinh vào giữa Thanh Châu và Ký Châu, chặt đứt liên hệ của hai nơi này. Sau đó, từ đây, nửa đoạn phía Tây của sườn Phi Long còn có thể đi, nhưng vừa đến mé Đông thì lại phải vòng qua Bắc đi vào đường mòn trong núi đặng né cửa khẩu thành Trung Sơn.

Đường mòn trong núi đại đa số khúc khuỷu khó đi, đi nửa ngày cũng không đi được già nửa quả núi. Trịnh Luân tuy đi gấp một ngày một đêm, nhưng cũng mất ba bốn ngày đường mới đến dãy Thái Hành cao ngất. Thân vệ tùy tùng giục ngựa tiến lên, cung kính hỏi Trịnh Luân: “Tướng quân, có cần đến thành Trung Sơn xem sao không?”. Trịnh Luân phụng mệnh của Phong Quân Dương chạy đến Giang Nam tiếp nhận viện quân vừa mới tập hợp, vốn nên đi thẳng đến Nghi Bình vượt sông, nhưng hắn lại đi đường vòng Ký Châu, chính là vì muốn xem bố trí quân sự ở Ký Châu ở Tiên Thị. Thành Trung Sơn chính là cứ điểm quân sự quan trọng, đương nhiên là phải đi xem một cái, giờ nghe thân vệ kia hỏi vậy, liền gật đầu nói: “Đi xem”. Thành Trung Sơn bị Tiên Thị chiếm, vốn không thể tiến vào, Trịnh Luân muốn xem thành trì kia cũng chỉ có thể lên đỉnh núi ngoài thành, quan sát bên trong thành. Mà những nơi như thế tám chín phần mười cũng sẽ có lính gác ngầm của đối phương, phải hết sức cẩn thận mới được. Trịnh Luân chỉ dẫn theo hai thân vệ, bỏ ngựa lại, trèo lên đỉnh núi.

Bản thân hắn võ công vượt trội, võ công của hai thân vệ đi theo cũng chẳng xoàng, ba người cố tình chọn nơi dốc đứng khó đi, chính là vì muốn tránh lính gác ngầm của người Tiên Thị, không ngờ lúc sắp đến đỉnh núi lại nghe có tiếng người loáng thoáng từ phía trên truyền xuống, “Tạ đại đương gia, nhìn người Tiên Thị trong thành cùng lắm là mấy nghìn, người của chúng ta còn nhiều hơn bọn chúng, đánh hạ không thành vấn đề”. Trịnh Luân nghe thế trong lòng chấn động, hơi ngập ngừng, im ắng không tiếng động trèo lên đỉnh núi, quả nhiên thấy trên vách đá có sáu bảy người giang hồ đứng đó, trong đó có một người tướng tá cao lớn thô kệch, sau lưng giắt một đôi chùy đá, đúng là Đại Ngốc. Đứng trước y một khoảng không xa là một cô gái, cũng ăn vận rất gọn gàng, đầu đội mũ, nhìn hình dáng có vài phần giống Thần Niên. Nhịp tim Trịnh Luân vô thức đập nhanh hơn, im lặng nhìn bóng lưng nàng, nhưng khi nàng mở miệng nói chuyện thì hắn giống như bị một chậu nước lạnh giội từ đầu xuống chân, nàng không phải Thần Niên, mà là Lỗ Linh Tước.

“Cách thức công thành có rất nhiều, nhớ ngày đó lúc chúng ta đoạt Nghi Bình từ tay Hạ gia cũng không có nhiều quân canh phòng, nhưng vẫn làm chúng ta thiệt hại bao nhiêu người mới có thể miễn cưỡng thành công. Nếu muốn đoạt Trung Sơn, không thể tiến công, phải nghĩ cách khác mới được”. Người nói chuyện đầu tiên là một hán tử tráng kiện hai mươi ba hai mươi bốn tuổi, nghe thế cười hai tiếng, nói: “Nhân số của chúng ta nhiều gấp đôi người Tiên Thị, chẳng lẽ lại không đánh được một thành Trung Sơn nho nhỏ. Tạ đại đương gia sao lại dập tắt chí khí của bản thân, đề cao uy phong của người khác? Trước kia lúc nhảy từ trên thành Nghi Bình xuống, khí phách coi thiên quân vạn mã như không đâu mất rồi? Nếu cô không dám, vậy cứ đứng xa xem trận, để Phương Huân ta mang binh công thành là được”. Linh Tước vì giả dạng Thần Niên, đầu tiên là có vài phần chột dạ, bị Phương Huân lấy lời lẽ ra công kích, không nhịn được nói: “Ai nói ta không dám?”.

Phương Huân lại hỏi: “Vậy chúng ta rốt cuộc có đánh thành Trung Sơn không?”. Linh Tước lập tức đáp: “Đánh, đương nhiên là phải đánh, nhưng không phải cưỡng ép công thành. Chờ ngày mai chúng ta mai phục trong sườn Phi Long, phái hai nghìn binh thừa dịp đêm khuya đi đánh thành Trung Sơn, sau đó giả vờ tháo chạy, dụ người Tiên Thị ra khỏi thành, mượn cơ hội này đập tan bọn chúng, đoạt được Trung Sơn”. Kế sách này do cô và đám Ôn Đại Nha vắt óc suy nghĩ mấy ngày trời mới ra, giờ nói ra, quả nhiên đám Phương Huân cùng trầm trồ khen ngợi. Linh Tước đang đắc ý, chợt nghe cách đó không xa có người lạnh lùng nói: “Nếu tướng thủ thành là một thằng ngu thì kế này có lẽ sẽ có thể lừa được người”.

Ai nấy nghe tiếng đều cả kinh, Phương Huân lập tức cao giọng quát hỏi: “Ai?”. Trịnh Luân dẫn một thân vệ từ sau núi đá đi ra, quét mắt nhìn tất cả một lượt trước rồi mới thờ ơ nói: “Là ta”. Linh Tước thấy Trịnh Luân đột nhiên xuất hiện ở đây, cũng hết sức kinh ngạc, ngạc nhiên nói: “Trịnh tướng quân?”.

Cô xưng hô với Trịnh Luân như vậy lại thu hút sự chú ý của vài người khác. Trước kia Thần Niên đã bái đường với Trịnh Luân ở Nghi Bình, tuy mọi biểu hiện sau đó đều tỏ rõ đây chẳng qua là một màn kịch, song trong mắt thế nhân, hai người tốt xấu gì cũng coi như phu thê, không nên lạnh nhạt như vậy. Linh Tước thấy phản ứng của mọi người như vậy, cũng vội giật mình, cô vốn sợ bị người khác biết mình đóng giả, trong lòng hốt hoảng, càng thêm hồ đồ, vội tiến lên hai bước, giọng điệu thân mật hỏi Trịnh Luân: “Trịnh đại ca, sao huynh lại đến đây?”. Nhưng Thần Niên chưa bao giờ xưng hô với Trịnh Luân như thế, biểu cảm của Trịnh Luân hơi quái dị, liếc Linh Tước một cái, nói: “Đi ngang qua đây, đến xem sao”. Hắn nói xong dừng lại, ngừng mấy hơi mới mở miệng hỏi Linh Tước, “Thần Niên, mọi người muốn tấn công thành Trung Sơn?”.

Linh Tước biết Trịnh Luân là một người nghiêm túc thẳng thắn, sợ hắn vạch trần thân phận của mình, nào ngờ hắn lại nói thế, trong lòng bỗng vui mừng, vội đáp: “Vâng, bọn muội muốn đoạt thành Trung Sơn từ tay người Tiên Thị”. Trịnh Luân khẽ gật đầu, vòng qua Linh Tước, đi đến vách đá nhìn thành Trung Sơn dưới chân núi. Tuy cách khá xa nhưng cũng có thể xem đại khái bố trí trong thành, chỉ nhìn tình hình này, binh lực trong thành tuyệt đối không ít hơn bốn năm nghìn người. Phương Huân và mấy thủ lĩnh nghĩa quân tuy đã từng nghe danh Trịnh Luân nhưng chưa từng gặp hắn bao giờ, giờ thấy hắn lại chỉ là một gã trai trẻ trung hơn hai mươi tuổi, bất giác đều có chút sửng sốt. Mọi người thay đổi ánh mắt, Phương Huân bèn kéo Linh Tước sang một bên, hỏi nhỏ: “Tạ đại đương gia, hắn ta là Trịnh Luân Trịnh tướng quân dẫn quân đánh hạ Tân Dã, Lam Đồng?”.

Linh Tước gật đầu: “Đúng thế”. Đám Phương Huân đều lộ ra vẻ mặt kinh ngạc vui mừng, một người khác vội nói: “Ai cũng nói Trịnh tướng quân dụng binh như thần, đã có ngài ấy ở đây, tại sao không phải ngài ấy dẫn chúng ta đoạt thành Trung Sơn?”. Linh Tước thầm kêu khổ, nghĩ bụng người này đâu phải hạng dễ chung sống, hắn là đại tướng quân thống lĩnh mấy vạn đại quân, sao chịu để chúng ta sai bảo? Song bọn Phương Huân giục giã quá riết, Linh Tước đành phải cắn răng, đi đến cạnh Trịnh Luân nói với Trịnh Luân ý nghĩa của mọi người.

“Ta không có thời gian.” Trịnh Luân quả nhiên cự tuyệt, quét mắt nhìn tất cả một lượt, lại nói với Linh Tước, “Ta cũng khuyên các cô một câu, trước tiên đừng manh động, tìm một nơi ổn thỏa đóng quân rồi hẵng quyết định”..