Hôm nay bạn muốn đọc gì?

Rồi sau đó - Chương 15

Chương 19.

Những thằng ngốc bẩn thỉu luôn đầy rẫy trên hành tinh này Pat Controy[28]

Phố Houston Hạt Soho Ngày 16 tháng Chạp - Sáu giờ sáng

Garrett Goodrich cẩn thận bước trên những bậc tam cấp đóng băng của khu chung cư, một tòa nhà khiêm tốn xây bằng gạch màu nâu trông thẳng ra phố. Một lớp tuyết dày khoảng mười phân phủ kín chiếc ôtô đã đậu bên ngoài từ hôm trước. Lão lấy từ túi ra một cái cào rồi cào lớp tuyết bám trên kính chắn gió. Vì đã muộn giờ, lão tạm hài lòng với phần kính bên ghế lái được lau sạch. Lão ngồi vào sau tay lái, xoa hai tay vào nhau cho ấm, tra chìa vào ổ khởi động và rồi… - Làm ơn lái xe ra sân bay!

Lão giật mình quay lại, thấy Nathan đang ngồi trên ghế hành khách phía sau. - Khốn thật, Del Amico. Đừng bao giờ tái diễn trò hù dọa kiểu này nữa đấy! Làm sao cậu vào được trong xe của tôi? - Tôi đâu có cần đánh lại chùm chìa khóa của ông, luật sư nói, tay lúc lắc một chùm chìa khóa nhỏ ngay trước mặt bác sĩ. Tối qua tôi đã quên không thả nó vào hòm thư.

- Được rồi, thế cậu làm cái quái gì ở đây vậy? - Trên đường đi tôi sẽ giải thích ông rõ chúng ta sẽ đáp chuyến bay đi California. Bác sĩ lắc đầu nguầy nguậy.

- Cậu đang mơ hay sao! Hôm nay tôi rất bận và tôi đang bị trễ giờ rồi đấy, thế mà cậu… - Tôi sẽ tới San Diego đón con gái tôi, Nathan giải thích. - Rất vui được biết tin ấy, Goodrich vừa nói vừa nhún vai.

- Tôi không định bắt con bé phải chấp nhận rủi ro cùng với mình, dù là rủi ro nhỏ nhất, luật sư cao giọng khẳng định. - Rất tiếc, anh bạn, nhưng tôi không rõ mình có thể giúp ích được gì trong chuyện này. Lão vẫn khởi động sẽ để có thể bật hệ thống sưởi.

Nathan ghé sát lại gần lão. - Chúng ta hãy cùng điểm lại tình hình một cách khách quan xem sao nhé, Garrett. Tôi đang thuộc diện “hưởng án tử hình treo” trong khi ông, chính ông, lại là người biết rõ cách thức thi hành án. Tôi tin chắc rằng ông không có linh cảm xấu nào cho chính bản thân mình trong vòng bốn mươi tám tiếng tới đấy chứ? Sáng nay soi gương ông không nhìn thấy ánh sáng trắng nào đấy chứ? - Không, Goodrich tức tối thừa nhận, nhưng tôi vẫn chưa hiểu lập luận của cậu.

- Phải công nhân là ông đã khiến tôi sợ chết khiếp. Tôi không thể đặt chân ra ngoài mà thoát khỏi nỗi khiếp sợ một chiếc taxi sẽ hất tung mình lăn vài vòng trên phố hay một giàn giáo đổ ụp lên người. Vậy nên tôi nghĩ thế này: chừng nào tôi còn ở bên ông thì ít có khả năng sẽ gặp phải chuyện gì đó. - Sự suy luận hoàn toàn hão huyền. Nghe tôi nói đây… - Không, Nathan thô bạo ngắt lời lão, chính ông mới là người phải lắng nghe: con gái tôi không liên quan gì đến những linh cảm bệnh hoạn thổ tả của ông. Tôi không muốn con bé nhận lấy bất cứ phiền hà rủi ro nào khi ngồi trên máy bay cùng tôi. Vậy nên chúng ta sẽ ở cùng nhau, ông và tôi, cho đến khi nào tôi đưa về đây an toàn.

- Cậu muốn tôi làm…bảo hiểm sinh mạng của cậu ư! - Chính xác. Bác sĩ lắc đầu.

- Cậu đúng là điên. Mọi việc không diễn ra theo cách ấy đâu, Nathan. - Cứ cho là nó sẽ diễn ra như thế đi. Những nguyên tắc đã thay đổi, vậy thôi. - Nài nỉ vô ích, bác sĩ nói, vẻ kiên quyết. Tôi sẽ không đi cùng cậu đến bất cứ đâu cả, Nathan, cậu hiểu những gì tôi nói chứ? Không đến bất cứ đâu.

Vài tiếng đồng hồ sau Nathan liếc nhìn đồng hồ. Chuyến bay mang số hiệu 211 của United Arilines chẳng bao lâu nữa sẽ đáp xuống San Diego. Vì không còn chỗ trên chuyến bay thẳng, họ buộc phải quá cảnh tại Washington, và chuyến đi vì thế đã kéo dài thêm chút ít.

Luật sư nhìn sang Goodrich đang ngồi bên cạnh. Bác sĩ đang từ tốn kết thúc bữa trưa được phục vụ từ nửa giờ đồng hồ trước. Nathan không còn biết nghĩ sao về Garrett. Chỉ chắc chắn một điều rằng: những chuyện bực mình đã bắt đầu từ khi lão đột ngột xuất hiện, xen vào cuộc sống của anh. Mặt khác, anh không khỏi cảm thấy trong thâm tâm mình nảy sinh một thứ tình cảm lạ lùng pha trộn giữa ngưỡng mộ và đồng cảm. Bởi những điều Goodrich khẳng định là đúng, (và giờ thì Nathan đã tin chắc Garrett đích thị là một Sứ giả), thì cuộc sống riêng của lão hẳn không tầm thường. Làm sao có thể duy trì một cuộc sống bình thường với một thiên tư như thế? Thường xuyên nhìn thấy những người sắp từ giã cõi đời này đi lại xung quanh hẳn phải là một gánh nặng không dễ mang trong mình. Tất nhiên, anh muốn không bao giờ phải gặp lão - hoặc giả sử có gặp thì trong hoàn cảnh khác - vẫn đánh giá cao con người ấy: đó là một người nhạy cảm và biết làm người khác yên lòng. Một người đàn ông yêu vợ tha thiết, chịu nhiều tổn thương sau cái chết của vợ và hiện tại đang tận tụy phục vụ người bệnh bằng tâm trí và thể xác.

Không dễ dàng chút nào để thuyết phục lão bay chuyến này tới California. Hôm nay, bác sĩ có một ca phẫu thuật quan trọng trong lịch làm việc, chưa kể lão không thể vắng mặt trong trung tâm chăm sóc tạm thời mà không có sự chuẩn bị từ trước. Sau khi uổng công dọa nạt đủ điều. Nathan đành quyết định từ bỏ cách thức ấy. Anh bèn bộc lộ con người thật của mình cho Garrett thấy: một người đàn ông có thể sắp gặp con gái mình lần cuối; một người đàn ông vẫn còn hết sức yêu thương vợ mình và đang muốn thử xích lại cô một lần sau chót; một người đàn ông bị cái chết bám riết đang khẩn nài sự giúp đỡ của lão. Cảm thương cho lời kêu cứu tuyệt vọng ấy, Garrett đã chấp nhận dời lại ngày tiến hành các cuộc phẫu thuật như đã định để đi cùng Nathan đến San Diego. Hơn nữa, lão cảm thấy có một phần trách nhiệm với những xáo trộn trong cuộc sống của luật sư.

- Cậu không ăn bánh mỳ nướng phết trứng cá hồi sao? Goodrich hỏi khi thấy cô tiếp viên đã bắt đầu đi thu lại khay ăn của hành khách. - Tôi còn bận nghĩ chuyện khác, Nathan đáp. Ông cứ ăn tự nhiên nếu thích. Garrett không đợi anh phải nói đến lần thứ hai. Lão khéo léo chộp lấy lát bánh mỳ nướng, nửa tích tắc trước khi cô tiếp viên hàng không thu lại khay ăn của Nathan.

- Tại sao cậu lại bồn chồn như thế nhỉ? Lão vừa nhồm nhoàm vừa hỏi. Luật sư thở dài: - Mỗi lần nghe người ta bảo ít lâu nữa tôi sẽ chết là tôi lại bị như vậy. Tôi bị nhiễm thói xấu ấy mất rồi.

- Đáng lẽ cậu phải nếm thử ly nhỏ rượu vang của Úc họ vừa phục vụ khi nãy. Nó sẽ khiến cậu yên lòng. - Tôi mạo muội cho phép mình nói rằng ông hơi nhiều quá đấy Goodrich lại có cách diễn giải khác:

- Tôi tự chăm lo cho bản thân mình đó thôi: cậu cũng biết thành phần rượu vang có những chất tốt cho hệ thống tim mạch mà. - Tất cả những cái đó rặt là chuyện tầm phào, luật sư vừa nói vừa khoát tay gạt phắt lý lẽ bác sĩ vừa đưa ra. Một cách như mọi cách khác để ông xóa bỏ mặc cảm tội lỗi. - Không hề! Goodrich phản pháo, điều đấy đã được khoa học chứng minh: những phân tử polyphenol trong vỏ quả nho có tác dụng ức chế sản sinh lendothelin là nguồn gốc của sự co giãn tĩnh mạch….

Nathan nhún vai, cắt ngang lời bác sĩ: - Được rồi, được rồi, nếu ông nghĩ sẽ khiến tôi ấn tượng với mớ chú giải chuyên ngành của mình. - Cậu chỉ có thể nghiêng mình kính phục trước khoa học mà thôi, Goodrich vẫn cố nói thêm với vẻ vui sướng tột độ.

Luật sư bèn ngả lá bài cuối cùng của mình: - Cứ cho những gì ông nói là đúng đi, hình như tôi đã học ở đâu đó rằng những cái “tốt cho hệ thống tim mạch” chỉ có trong rượu vang đỏ thì phải. - Ờ….. đúng vậy, bác sĩ hoàn toàn bất ngờ trước lý lẽ này nhưng vẫn buộc phải thừa nhận.

- Cứ việc chặn họng tôi nếu tôi nhầm, Garrett ạ, nhưng hình như ly nhỏ vang Úc mà ông đang hết lời ca ngợi về công dụng tốt đẹp này nọ là vang trắng thì phải? - Cậu đúng là một gã chết tiệt chuyên làm người khác mất hứng! Goodrich thốt lên với vẻ đôi chút phật ý. Rồi lão nói thêm:

-….. nhưng cậu hẳn phải là một luật sư rất chúa. Đúng lúc ấy, tiếp viên hàngthông báo: “Thưa quý khách, máy bay của chúng ta sắp sửa hạ cánh. Vui lòng kiểm tra để chắc chắn rằng dây an toàn của quý khách đã được thắt chặt và lưng ghế của quý khách đã được nâng lên.”

Nathan quay ra phía cửa sổ máy bay. Từ độ cao này, anh đã nhận ra những dãy núi và xa hơn nữa là bờ biển California tiếp giáp với một vùng hoang mạc khô cằn. Anh sắp được gặp lại Mallory. “Chuyến bay mang số hiệu 435 của United Airlines khởi hành từ Washington đã hạ cánh. Xin mời hành khách qua cửa số 9.”

Vì không mang theo hành lý nên họ không mất nhiều thời gian ở sân bay. Nathan thuê xe của hãng Avis nào đó và hoàn toàn bất ngờ, Goodrich khăng khăng đòi cầm lái. Khí hậu đối lập hoàn toàn với khí hậu New York, không khí dịu mát, bầu trời quang đãng và nhiệt độ 20oC mơn trớn làn da. Họ không chần chừ cởi ngay khăn quàng, áo măng tô quẳng ra ghế sau. Thành phố San Diego trải trên hàng kilomet chiều dài của hai bán đảo. Nathan yêu cầu bác sĩ tránh xa khu trung tâm thành phố, vào giờ ăn trưa mật độ giao thông ở đó thường là dày đặc. Anh chỉ cho lão lái ra đường ven biển rồi chạy thẳng theo hướng Bắc, dọc theo bờ cát dài thỉnh thoảng lại ngắt quãng bởi những vách đá thẳng đứng và những bãi vịnh nhỏ.

Khu nghỉ mát La Jolla được xây dựng trên một ngọn đồi nhỏ với đường lên khúc khuỷu, quanh co, hai bên là những ngôi nhà dáng vẻ thanh lịch. Goodrich chưa bao giờ đặt chân đến nơi này, nhưng lão nghĩ ngay đến Monaco và vùng bờ biển Riviera mà lão có dịp thăm quan trong chuyến đi tới Pháp cách đây đã nhiều năm. Như bị hút hồn bởi quang cảnh đại dương tráng lệ, lão nhiều lần nhoài người ra phía cửa sổ. Từ đây, người ta có thể thấy rõ những con sóng lừng danh mà những tay chơi lướt ván đang cố khuất phục trước khi chúng đập vào vách đá vỡ tan thành nghìn bọt sóng. - Đừng quên nhìn đường đấy! Bác sĩ cho xe chạy chậm lại để có thể tiếp tục tận hưởng quang cảnh và bầu không khí như tiếp thêm đang dâng lên từ đại dương, tiếp đến là hai chiếc Harley Davidson do những người tuổi trạc sáu mươi ra dáng cựu hippi điều khiển.

- Cảnh sống thanh bình ở California dẫu sao cũng khác, Goodrich thốt lên khi một con sóc bất thần chạy qua trước mũi xe. Vỡi những tiệm ăn và những cửa hàng nhỏ nằm rải rác, La Jolla quả thực sở hữu một vẻ duyên dáng hết sức độc đáo và tạo nên một khung cảnh sống vô cùng dễ chịu. Hai người đàn ông đậu xe trên một trong những đường phố lớn và cuốc bộ nốt quãng đường còn lại. Nathan nôn nóng muốn tới ngay lập tức. Mặc cho vết thương vẫn còn đau nhức, anh tiến thẳng với tốc độ không đổi, theo sau là Garrett.

- Thế nào, ông có nhanh lên không thì bảo? Anh ngoảnh lại phía sau và hét tướng lên. Goodrich đã dừng chân để mua một tờ báo và như thường lệ, lão tranh thủ quãng thời gian đó để chuyện phiếm trong chốc lát với người bán báo. Vẫn luôn quan tâm đến kẻ khác, ngay cả với một người hoàn toàn không quen biết! Thật không thể tưởng tưởng ra một loại người như lão.

Garrett đuổi kịp anh. - Ông đã nhìn qua giá cả rồi hả? Anh vừa nói vừa chỉ vào lớp cửa kính của một hãng bất động sản. Bác sĩ có lý: những năm gần đây, giá thuê bất động sản trong vùng này đã tăng đột biến. May mắn là Mallory không hề chịu hậu quả của nó vì cô sống trong một ngôi nhà mẹ đẻ cô đã mua đứt từ thời La Jolla mới chỉ là một ngôi làng vạn chài chưa ai để ý đến.

Họ đến trước một ngôi nhà nhỏ cất bằng gỗ. - Tới nơi rồi, anh quay sang nói với bác sĩ. Trên cửa ra vào gắn một tấm biển.

Ngôi nhà cấm những động vật loạic lớn. Rất đúng kiểu Mallory. Tim đập thình thịch, Nathan gõ nhẹ lên cánh cửa.

- Coi nào, ra là anh bạn cũ Del Amico. Vince Tyler! Anh đã lường trước mọi điều, chỉ trừ việc người ra mở cửa chính là Tyler.

Cao lớn, mái tóc vàng nhạt hơi dài, nước da rám nắng hoàn hảo, hắn hơi xích qua một bên để lấy lối cho họ đi vào, vừa phô ra một nụ cười vừa mới lấy cao răng. Hắn làm gì ở đây giữa ban ngày ban mặt? Bonnie và Mallory đâu cả rồi? Nathan cố gắng giấu vẻ phật ý của mình và giới thiệu Garrett với Tyler.

- Con gái anh sẽ về ngay thôi, Vince nói với anh, cô bé đang chơi bên nhà bạn. - Mallory cũng đang ở với con bé à? - Không, Lory đang ở tầng trên. Cô ấy đang thay quần áo.

Lory ấy à? Chưa ai từng gọi vợ anh là Lory bao giờ. Cô không ưa cách gọi giản lược cũng như các loại biệt danh. Nathan chỉ có một mong muốn, đó là nhìn thấy vợ mình. Tuy nhiên, anh vẫn phân vân không biết có nên lên thẳng trên gác hay không, bởi anh hoàn toàn không chắc rằng Mallory sẽ đánh giá cao hành động đó. Tốt hơn hết là nên đứng đây chờ cô xuống vậy. Như để trêu tức anh hơn nữa, Tyler nói thêm:

- Tôi sẽ đưa cô ấy đi ăn tôm hùm ở Crab Catcher. Crab Catcher là một nhà hàng sang trọng nằm trên phố Prospect Street chạy dọc theo bờ biển. Nhà hàng của bọn này, Nathan nghĩ bụng, chính là nơi tao đã cầu hôn cô ấy, chính là nơi hàng năm gia đình tao tổ chức sinh nhật cho Bonnie…

Thời còn là sinh viên, anh đã dành dụm tiền từ tuần này sang tuần khác để có thể mời Mallory đến những chỗ như vậy. - Không phải ngày trước anh từng làm phục vụ bàn ở quán đó sao? Tyler giả bộ chợt nhớ ra. Nathan nhìn thẳng vào mắt gã đàn ông gốc California, thâm tâm đã quyết không chối bỏ gốc gác của mình.

- Đúng vậy, hễ nghỉ hè là tôi lại đi cắt cỏ thuê và xin một chân phục vụ bàn trong các nhà hàng. Nếu điều này có thể làm anh hài lòng thì tôi chợt nhớ thậm chí đã có lần phục vụ anh trong thời gian làm việc tại trạm rửa xe. Tyler làm bộ không nghe thấy câu đáp trả này. Ngồi ung dung trên tràng kỷ, hắn tự nhiên như ruồi và bình thản nhấp một ly Whisky. Với chiếc sơ mi phanh ngực mặc trong một chiếc áo vest màu xanh lam, hắn giống như một nốt nhạc lạc điệu trong căn phòng. Hắn cầm trong tay một tờ quảng cáo về nhà hàng và đọc chi tiết menu từng loại rượu: -…..Bordeaux, Sauternes, Kianti: tôi ưa tất cả những loại vang Pháp của nhà hàng này…

- Kianti là nhãn hiệu vang Ý, Goodrich nhắc nhở. Đích đáng lắm, Goodrich. - Có gì quan trọng đâu, Tyler cố ý che giấu sự bực bội của mình.

Hắn tranh thủ đổi chủ đề: - Nếu không thì công việc ở New York sẽ ra sao? Anh biết vụ mới nhất liên quan đến các đồng nghiệp của anh chưa nhỉ? Hắn bắt đầu kể câu chuyện cười cích chỉ trích nghề luật sư.

- Là thế này: trên đường trở về từ một hội nghị chuyên ngành, một chiếc xe bus chật ních luật sư đã gặp phải tai nạn trên phần đất của một người chủ trang trại. Nathan không nghe hắn nói nữa. Anh tự hỏi mối quan hệ giữa Mallory và Vince đang ở giai đoạn nào. Nhìn bề ngoài, trò tán tỉnh của gã ngốc này cũng tỏ ra tạo được sức ép. Cho đến thời điểm này, chắc hắn vẫn chưa dám manh động trước thái độ thù địch lộ liễu của Bonnie. Nhưng rồi sự việc sẽ đi đến đâu sau một bữa ăn thân mật tại quán Crab Catcher? Luật sư ngẫm nghĩ chán chê mà vẫn không hiểu nổi một gã đàn ông như vậy có thể lôi cuốn mẫu phụ nữ thông minh như Mallory bằng cách nào.

Cả hai đều đã quen hắn đủ lâu để hiểu rằng hắn là một kẻ phách lối và chỉ tài ăn tục nói phét. Từ ngày yêu nhau, họ thường kể với nhau về Tyler. Thời đó, nhắc đến hắn thường là để chế nhạo những cách thô thiển hắn áp dụng để tiếp cận Mallory. Nhưng ngay từ hồi đó, vợ anh đôi khi cũng tìm ra lý do để nhân nhượng hắn, phần nào cho thấy tính khí cởi mở dễ chịu và sự tử tế của cô. Tuy chưa có dịp kiểm chứng nhưng anh biết lòng tốt này, dù chỉ là mạo xưng, vẫn có thể khiến Tayler ảo tưởng. Đó là một kẻ lươn lẹo từ trong trứng, đôi khi biết giấu thói hợm hĩnh của mình đằng sau vẻ hiền từ bề ngoài. Mới đây, mượn tiếng bộc lộ ý thức xã hội, hắn sáng lập một tổ chức mà tiêu chí đặt ra là cung cấp vốn cho những hiệp hội cứu trợ trẻ em. Hắn đặt tên cho cái việc đó là Quỹ Tyler.

Nghe mới khiêm nhường làm sao! Nathan thừa hiểu ẩn sau lòng thiện tâm mập mờ đó trước hết là ham muốn được giảm thuế đánh vào thu nhập và sau là để lấy lòng Mallory. Một mũi tên trúng hai đích, như thiên hạ vẫn nói.

Anh chỉ hy vọng rằng người phụ nữ của anh không dễ bị qua mặt. Tyler kết thúc câu chuyện gây cười của h -… Ông chắc chắn họ đã chết cả trước khi chôn chứ? Viên cảnh sát hỏi. Và người chủ trang trại đáp: Một số kẻ dám chắc là mình chưa chết, nhưng ngài cũng thừa biết giới luật sư rặt những kẻ nói khoác thành thần còn gì!

Gã đàn ông liền cười ha hả một tràng khoái trá. - Công nhân là chuyện không tệ chút nào, phải không người anh em? - Tôi không anh em gì với anh, Nathan đập lại, đã quyết định nhập cuộc.

- Vẫn dễ chạm tự ái đến thế kia à, Del Amico, có đúng thế không? Đó là điều tối qua tôi vừa nhắc với Lory trong lúc… - Vợ tôi tên Mallory. Vừa nói dứt câu, Nathan nhận ra anh đã cắn phải một lưỡi câu.

- Đó không còn là vợ anh nữa, anh bạn thân mến, Tyler ngay lập tức vặn lại. Hắn kín đáo nở một nụ cười khẩy, nhưng không phải vì thế mà qua mắt luật sư. Rồi hắn tiến lại gần và thì thào vào tai anh, như thể đinh được đóng sâu hơn: - Đó không còn là vợ mày nữa, cô ấy hầu như đã là vợ tao.

Vào giây phút đó, Nathan hiểu rằng để không bị mất mặt, anh chỉ còn việc tung nắm đấm nhằm thẳng mặt Tyler. Suốt cuộc đời mình, anh chưa từng để hạng người như hắn chà đạp. Anh quyết định sẽ làm một việc khó khăn, ngay cả khi điều ấy là phi lý và chẳng lấy gì làm khôn khéo, ngay cả khi hành động ấy sẽ khiến Mallory càng xa lánh anh hơn trước. Thật lạ, anh nhận ra rằng chuyện chẳng có gì là to tát nếu để vị luật sư danh tiếng của Park Avenue nhường chỗ cho con trai của một cô giúp việc người Ý, nhường chỗ cho một Bad Boy[29], kể thời còn trai trẻ, vì mục đích tự vệ, đã không ngần ngại tung một cú đấm ngay giữa khu phố Queens. Người ta bắt kịp rất nhanh với quá khứ, ngay cả khi suốt đời đã cố hết sức xa lá Cánh cửa ra vào bật mở và Bonnie xuất hiện, khiến anh dừng khựng lại. - Buenos dias[30], con bé lao vào phòng, hét lên mừng rỡ.

La Jolla chỉ cách biên giới Mêxicô chưa đầy hai mươi cây số đường và Bonnie vẫn thường đùa giỡn bằng cách nói lúng búng mấy từ tiếng Tây Ban Nha nghe lỏm được trên phố và ở trường. Cô bé tiến tới và bỗng nhiên, cơn giận dữ và oán hận đối với Tyler đã hoàn toàn tan biến. Con gái anh đang đứng đó và không còn gì khác đáng để bận tâm. Bonnie lao vào vòng tay anh. Anh nhấc bổng con bé lên và quay một vòng.

Con bé mặc bộ quần áo màu sắc rực rỡ làm nổi bật nước da rám nắng, đầu đội mũ vải mềm kiểu Peru với phần diềm mũ rủ xuống tận vành tai. Với mớ phục trang lòe loẹt này, con bé trông thật ngộ. - Chỉ thiếu mỗi cái khăn choàng khoét lỗ chính giữa để chui đầu qua là con đã sẵn sàng để hộ tống đàn lạc đà không bướu vượt dãy Andes, anh vừa nói vừa đặt con bé xuống sàn. - Con có thể có một cái nhân dịp Noel không ba? Con bé thừa dịp hỏi.

- Một chiếc khăn choàng ấy à? - Vâng, chứ không phải lạc đà không bướu đâu ạ. - Ba chỉ đùa thế thôi, con yêu, giọng của Mallory vang lên.

Nathan ngoái lại nhìn, Mallory đang bước xuống thang gác, tay kéo lê chiếc túi du lịch của Bonnie. Cô chào anh qua quít. Anh giới thiệu Garrett như một bác sĩ phẫu thuật tài ba vừa trở về từ một hội nghị phẫu thuật tổ chức tại San Francisco, đồng thời là bạn làm ăn. Cô hơi ngạc nhiên, song vẫn lễ độ chào lão. - Chúng tôi bị muộn quá rồi, cô vừa nói vừa nhìn đồng hồ đeo tay một cách lộ liễu.

Thế đấy! Làm như mày cóc cần phải dẫn xác đến đúng vào giờ đi ăn tiệm! Tuy nhiên, Nathan vẫn quyết định không mở miệng phản ứng. Làm thế chẳng ích gì, và anh cũng không muốn tranh luận với cô trước mặt Vince. Anh đành trả lời theo kiểu ăn miếng trả miếng. - Bọn anh cũng không còn sớm sủa gì nữa: một tiếng nữa là máy bay cất cánh rồi.

- Hai người quá cảnh tại Los Angeles sao? Cô hỏi với vẻ lo sợ. Nathan gật đầu xác nhận. Vince bước ra trước tiên, tay lắc lắc chùm chìa khóa xe rồi mọi người nối gót hắn.

Bên ngoài, trời bắt đầu tối sầm lại. Có cảm giác con giông đang ở rất gần. Mallory khép cửa lại, trước khi ôm hôn con gái thật lâu. - Chúc con chuyến đi tốt lành và đừng quên gọi cho mẹ khi nào đến New York nhé! Cô đã đi được một quãng xa, ngược con phố về phía chiếc Porsche màu kim loại của Vince.

- ¿Hasta luego[31]! Bonnie kêu lên và vẫy vẫy cái mũ nhỏ không vành kiểu Peru của mình. Mallory ngoảnh đầu lại ra hiệu chào con bé. Cô không nhìn Nathan lấy một lần. - Chúc em ngon miệng, anh gào lên với cô bằng tiếng Pháp, ẩn chứa trong đó là cả nỗi cay đắng và buồn đau chất chứa trong lòng.

Cô không đáp lại. Nathan tay Bonnie và hai cha con đi bộ dọc theo vỉa hè, theo sau, Garrett đã dành phần xách chiếc túi du lịch. Chiếc Porsche đã khởi động ầm ĩ và lao thẳng về phía họ. Như để thách thức, Tyler đã tranh thủ lúc phóng ngang qua để áp sát luật sư. Cái lối ngu si của những gã đàn ông đôi khi mắc phải khi muốn phô diễn sức mạnh bản thân….

Ngồi ở ghế hành khách, Mallory cúi xuống để tìm thứ gì đó trong túi xách và cô không hề hay biết gì về hành động của Tyler. Ngay sau đó, hắn còn giơ tay ra dấu chiến thắng với luật sư. Thằng đần bẩn tưởi, Nathan nghĩ bụng và nhìn chiếc xe đi xa dần. Sân bay quốc tế San Diego

“Thưa quý vị, chúng tôi hân hạnh đón hành khách đáp chuyến bay mang số hiệu 5214 của United Airlines đi Los Angeles tại cửa số 25. Quý khách vui lòng chuẩn bị thẻ lên máy bay và tối thiểu một loại giấy tờ tùy thân.” Vừa nghe đến đây, khoảng bốn chục hành khách lục tục đứng dậy khỏi những chiếc ghế kim loại như một tổng thể duy nhất để xếp thành hàng đôi trước quầy soát vé. Họ sẽ là những người đầu tiên bước lên máy bay. Đứng giữa đám đông ấy, Bonnie đang nghe nhạc từ máy MP3 cầm tay và đầu con bé lắc lư theo nhịp vĩ cầm của Hillary Hann. Garrett đang nhấm nháp đến thỏi sô cô la thứ năm và Nathan, mắt nhìn xa xăm sau khung cửa kính, vờ như đang chăm chú theo dõi vũ điệu nhịp nhàng của những chiếc máy bay dưới bàn tay biên đạo của các kiểm soát viên không lưu.

Từ vài phút qua, tâm trí anh bị một linh cảm chết chóc chiếm lĩnh toàn bộ: anh sẽ không bao giờ còn được gặp lại Mallory nữa ư? Chuyện giữa họ không thể chấm dứt như vậy. Anh phải gặp lại vợ mình, ít nhất là một lần cuối cùng. Gặp gỡ Mallory là một điều tốt đẹp nhất trong cuộc đời của anh. Chắc chắn đã quá muộn để tận hưởng cơ hội thứ hait ra anh cũng có quyền được vĩnh biệt cô theo một cách khác, chú không để Vince Tyler lén cô tuôn ra những tràng mỉa mai cay độc.

Garrett vừa chìa thẻ lên máy bay của mình cho một cô tiếp viên hàng không. Nathan kéo tay áo lão. - Tôi không đi đâu, anh nói giản dị. - Cậu muốn quay lại đó à?

- Tôi cần phải gặp cô ấy lần cuối. Cô ấy cần phải biết rằng….. Goodrich ngắt lời anh: - Hãy làm những gì cậu cho là cần thiết, lão tuyên bố bằng giọng trung lập.

- Tôi sẽ dẫn Bonnie theo. - Để cô bé đấy tôi lo, cô bé không có gì phải sợ nếu đi cùng tôi. Họ đứng tách sang một bên đễ không phiền những hành khách đã bắt đầu sốt ruột.

Nathan cúi xuống ngang tầm con gái. Bonnie bỏ tai nghe và mỉm cười với anh. - Nghe này, con yêu, ba đã quên không nói với mẹ một chuyện, thế nên ba nghĩ ba con mình sẽ bay chuyến sau. Con bé ngước nhìn Goodrich. Con bé, trước đó còn tỏ ra khá sợ sệt, đã ngay lập tức cảm thấy tin tưởng ông khổng lồ đứng trước mặt. Nó ngần ngừ một lát rồi đề nghị:

- Hay là con về cùng với ông Garrett ạ? Nathan rất ngạc nhiên trước phản ứng của con gái. Anh lùa tay vào tóc con bé. - Con chắc là mọi chuyện sẽ ổn chứ, con yêu?

- Muy bien[32], con bé vừa ôm anh. Nathan nhìn chăm chăm vào mắt Garrett. Trên trái đất này, anh chỉ tin tưởng giao con gái cho một số rất ít người, dù chỉ trong khoảng thời gian vài tiếng đồng hồ và lão bác sĩ chắc chắn là một trong số đó. Đúng vậy, anh đã đặt lòng tin ở Goodrich và bất chấp thứ quyền năng có phần bệnh hoạn của lão, Bonnie sẽ được an toàn khi đi cùng lão. Dẫu sao đi nữa, vị Sứ giả này có mặt ở đây không phải vì con bé mà là vì ….anh.

- Cô bé không phải sợ khi đi cùng tôi, Goodrich nhắc lại. Chớ có quên: tôi là một thứ bảo hiểm sinh mạng cơ mà. Nathan không thể nén nổi một nụ cười. Anh rút trong túi ra chiếc vé của Bonnie và giao lại cho bác sĩ. - Tôi sẽ xoay xở để kiếm được một chỗ trong chuyến kế tiếp, anh hét lên trong lúc len lỏi giữa đám đông theo chiều ngược lại.

- Ghé qua Trung tâm mà đón con gái anh, Garrett hét lên với anh. Đừng ngại: tôi sẽ lo mọi chuyện. Nathan chạy khỏi khu tiếp đón hành khách lên máy bay. Anh lao ra bên ngoài sân bay, vẫy một chiếc taxi và yêu cầu tài xế lái thật nhanh đến khu nghỉ mát La Jolla. Không phải nghi ngờ gì nữa, tình bạn và tình yêu

có những nét tương đồng. Thậm chí ta có thể nói về tình yêu như cơn cuồng si của tình bạn. Sénèque

Mưa trút xuống như thác đổ. Anh đã bấm chuông nhưng Mallory vẫn chưa về. Đứng từ bên kia đường, anh dõi theo những chiếc xe hiếm hoi đang đi tắt qua lối này để ra đường cái.

Quỷ tha ma bắt, đúng là cơn đại hồng thủy! Và thậm chí không còn nơi nào để trú. Quả thực, nghĩ đến chuyện đứng trú mưa dưới mái hiên của bất kì ngôi nhà nào quanh đó cũng chẳng có ích gì: dân khu này vốn có cái danh tiếng chính đáng là thường xuyên báo cảnh sát những kẻ khả nghi lảng vảng quanh nhà. Vậy nên tốt nhất là không để ai nhìn thấy, đi mà dầm mưa và chịu cái rét thấu xương. Cảnh sống thanh bình ở California, nói thế nào ấy nhỉ? Anh vừa nghĩ bụng vừa hắt hơi ầm ĩ. Anh cảm thấy mình mới ngu ngốc và tội nghiệp làm sao, nhất cử nhất động đều bị cái chết đè nặng trên vai chi phối.

Mình làm cái quái gì ở đây thế nhỉ? Có thể ngày mai Mallory mới về nhà, hoặc có về chăng nữa thì cũng có Tyler đi cùng. Anh thừa hiểu, dù chỉ có một mình đi nữa, cô cũng sẽ tiếp chuyện anh với thái độ hết sức dửng dưng. Khỉ thật! Toàn thân anh ướt sũng. Anh run lập cập. Chưa bao giờ anh có cảm giác đời mình thất bại đến thế.

Đúng vào lúc mưa nặng hạt hơn, thanh chắn sốc phía trước của chiếc Porsche khựng lại trước cửa ngôi nhà nhỏ. Nathan nheo mắt. Từ chố đang đứng, anh không nhìn rõ lắm nhưng anh có cảm giác cả Mallory và Tyler đều chưa bước xuống xe. Chắc là họ vẫn đang nói chuyện với nhau. Cũng có thể hai người đó đang… hôn nhau cũng nên? Anh cố tiến lại gần hơn một chút nhưng màn mưa đã tránh cho khoang lái chiếc xe những ánh nhìn tò mò. Khoảng hai hay dăm ba phút sau xuống xe, có vẻ ngập ngừng một lát rồi chạy thẳng vào nhà.

Chiếc Porsche phóng hết tốc lực chạy xa dần, làm bùn bắn tung tóe lên mọi vật xuất hiện trên đường đi. Lát sau, đèn trong nhà lần lượt bật sáng, bóng Mallory in trên những tấm rèm vải mutxolin. Anh cảm thấy cô độc, dễ tổn thương và bối rối không biết phải làm gì. Chính anh, kẻ vẫn tự hào là con người thiên về hành động, vậy mà ngay lúc này đây anh thấy mình hoàn toàn tê liệt. Nói với Mallory rằng anh vẫn yêu cô, liệu điều ấy có chút ý nghĩa nào không?

Bỗng nhiên, cánh cửa bật mở và anh nhìn thấy cô bước xuống lòng đường, giống như bị màn mưa nuốt chửng. Điều gì đã khiến cô ấy lao ra giữa trời mưa mà không mang theo ô nhỉ? Anh tự hỏi. Cùng lúc đó, bầu trời bị rách nát bởi những tia chớp và tiếng sấm đì đoàng.

Cô quay người lại, nhìn bốn phía rồi gọi to: - Nathan? Mùi quế thơm lừng tỏa ra từ những cây nến.

Anh đã cởi áo sơ mi và lau người bằng một chiếc khăn tắm. Thời tiết âm u và mưa nhiều càng làm nổi bật bầu không khí ấm cúng trong căn hộ của Mallory. Những bông hoa, đủ loại cờ và huy hiệu khiến cho góc nào của phòng khách nom cũng vui mắt. Nhận thấy không có cây thông và những món đồ trang trí cho lễ Giáng sinh nhưng Nathan không lấy làm ngạc nhiên: Giáng sinh luôn gợi cho vợ anh cảm giác lo âu. Anh vắt áo vest và quần âu của mình lên mắc rồi phơi lên bệ lò sưởi. Tiếp đó, anh khoác lên người tấm chăn dày rồi vùi mình vào đám gối tựa nhiều màu bày la liệt trên tràng kỷ. Trong lúc thu xếp chỗ nằm, anh đã phiền đến một con mèo vẫn đang say giấc. Bất bình vì bị quấy rối trong cái ổ êm ái của mình, con vật kêu lên một tiếng đầy thù địch.

Đó không phải giống mèo Ba Tư hay mèo Xiêm, mà là một con mèo hoang bị tật ở chân tình cờ lạc vào nhà, Mallory giữ lại nuôi để làm bạn với con thỏ của Bonnie. - Xin chào, anh bạn, đừng sợ. Luật sư lẹ làng nhấc chú mèo lên và đặt cho nó nằm lại ngay bên cạnh mình. Sau vài cái vuốt ve từ đầu xuống đến cổ, chú mèo chấp nhận chia sẻ lãnh thổ và gừ gừ hồi lâu ra điệu hài lòng.

Nathan nằm duỗi dài người, ru mình theo tiếng kêu đều đặn ấy, rồi cũng thiếp đi vì mệt. Bên ngoài, cơn giông càng thêm dữ dội và những tia chớp nối liền rạch xé bầu trời trong một tiếng gầm hung tợn. Mallory đang pha cà phê trong bếp.

Radio rỉ rả một ca khúc kinh điển của Van Morisson, nam ca sĩ mà cô đặc biệt yêu thích. Cánh cửa dẫn sang phòng khách bật mở. Cô cúi xuống để lén quan sát Nathan đang ngủ. Cô nhận thấy anh vừa chợp mắt và giống như khi xưa mỗi lần cô nhìn anh ngủ say, lòng cô lại trào dâng một tình cảm âu yếm dịu dàng. Ban nãy, làm sao cô có thể cảm nhận được sự hiện diện của anh trong khi thậm chí không biết là anh đã hủy chuyến bay? Cô không sao lý giải nổi. Chỉ là thế thôi, bỗng nhiên, một sức mạnh đã thôi thúc cô lao ra ngoài, dưới trời mưa, để rồi nhận ra anh. Cô tin chắc rằng anh đang đứng đó, đứng bên kia đường mà đợi cô. Đây không phải lần đầu tiên xảy ra sự việc kỳ lạ kiểu này. Cũng như chồng, cô không thực sự theo một tôn giáo, tín ngưỡng nào cả. Thế mà giữa họ đã có một mối liên hệ tinh thần cùng lúc huyền bí và khiến cả hai yên lòng. Cô không bao giờ kể lại với ai vì chuyện này nghe có vẻ nực cười và mối liên hệ đó đã có từ ngày ấu thơ, khi họ còn là những đứa trẻ.

Cô nhìn anh lần nữa. Tại sao anh quay lại? Sáng nay, cô đã rất tò mò về vị bác sĩ phẫu thuật đi cùng anh và cô lờ mờ cảm thấy có chuyện gì không ổn. Nathan mắc bệnh gì chăng? Những ngày gần đây, khi nói chuyện với anh qua điện thoại, cô đã nhiều lần cảm nhận được nỗi lo âu qua giọng nói của khi nãy, dưới cơn mưa, cô đã đọc thấy nỗi sợ hãi trong cái nhìn của anh. Cô biết rõ người đàn ông đang nằm trên tràng kỷ này. Cô hiểu anh như chưa từng hiểu ai trên đời này đến thế. Và theo những gì cô còn nhớ được, không gì có thể khiến Nathan Del Amico sợ hãi. Mùa đông 1984

Sân bay Genève Mallory đang ngồi đợi trong sảnh tiếp đón. Lần cuối cùng họ nói chuyện là cách đây ba ngày và hôm nay, cô đã chuẩn bị tinh thần đón sinh nhật lần thứ hai mươi mốt của mình, trong cái học viện cách nhà cô đến sáu nghìn cây số này.

Cô đã dặn anh đừng đến: vé chuyến bay từ New York đến Genève đắt kinh khủng, cô biết anh không có tiền và bản thân anh rất khổ tâm vì chuyện ấy. Tất nhiên, cô có thể giúp anh trả tiền vé nhưng anh sẽ không bao giờ chấp nhận hành động đó. Vậy mà cô vẫn đến chờ chuyến bay của hãng SwissAir hạ cánh. Chỉ để phòng trường hợp… Run rẩy và bồn chồn, cô chăm chú nhìn những hành khách đầu tiên bắt đầu xuống máy bay… Vài tháng trước, đúng lúc cô cho rằng mình đã khỏi hẳn bệnh chán ăn thì căn bệnh lại lần nữa tái phát. Và những lần gặp Nathan mới đây cũng không giúp gì được cho cô. Tình yêu của cô mới nhen nhóm đã vấp phải nhiều trở ngại: thái độ chống đối của cha mẹ cô, những rào cản xã hội, sự xa cách về địa lý… Nhiều đến nỗi cô lại sút cân xuống còn bốn mươi kilo.

Ban đầu cô giấu Nathan và cha mẹ cô chuyện đó không mấy khó khăn. Về nhà nghỉ hè, cô xoay xở bằng cách tạo ấn tượng mình hoàn toàn khỏe mạnh. Nhưng người mẹ đã không mất nhiều thời gian nhận ra sự thay đổi của con gái. Cha mẹ cô liền hành động theo thói quen cố hữu của mình: tránh những biện pháp nữa vời, áp dụng một biện pháp triệt để và hoàn hảo nhằm giải quyết tận gốc vấn đề, họ nghĩ thế Thế là cô được gửi vào một dưỡng đường tại Thụy Sĩ, một cơ sở điều trị với chi trí cắt cổ, chủ trị tâm lý học thiếu niên. Mất ba tháng trời cô phải ở trong cái khu nghỉ dưỡng chết dẫm đó. Cô than phiền thế, nhưng khách quan mà nói, phải thừa nhận rằng việc chữa trị có hiệu quả vì cô đã bắt đầu ăn uống bình thường và khôi phục được một phần năng lượng đã mất. Tuy thế, mỗi ngày vẫn là một cuộc đấu tranh không ngừng nghỉ, một cuộc chiến đấu chống lại sức mạnh hủy diệt đang diễn ra bên trong người cô.

Các bác sĩ giải thích rằng chứng chán ăn của cô như biểu hiện của một nỗi đau và muốn trị dứt điểm, việc trước tiên cô phải làm là xác định rõ nguyên nhân. Nhưng liệu đó có thực là nỗi đau? Đúng vậy, người ta hoàn toàn có thể nhìn nhận sự việc theo cách ấy. Chao ôi, cô không hề phải trải qua tuổi thơ nhọc nhằn hay cơn sốc nào đó cụ thể. Không, là một cái gì đó có sức lan tỏa mạnh hơn, một cảm giác đã hình thành trong tâm thức cô từ thuở bé và ngày càng thôi thúc khi cô lớn lên.

Nó có thể đến bất chợt vào thời điểm nào, ở bất cứ nơi đâu. Trên những đại lộ lớn chẳng hạn khi cô cùng với đám bạn gái dạo qua những cửa hiệu sang trọng nhất thành phố. Chỉ cần cô đi ngang qua những người vô gia cư đang phải ngủ trong những thùng các tông khi trời đổ tuyết. Mỗi lần như vậy là cảm giác ấy lại dội lên: dường như không ai để ý đến họ cả. Không ai thực sự biết đến họ. Nhưng riêng Mallory thì không còn thấy gì ngoài cảnh tượng đó: những khuôn mặt sạm đi trong tiết trời lạnh giá bám riết lấy cô, trong khi chúng dường như trở nên trong suốt trong mắt người khác. Với một phản ứng như thế, cô cảm thấy khó lòng quan tâm đến những điều phù phiếm của cuộc sống âu cũng là lẽ đương nhiên! Cô chợt nhận ra mình được hưởng quá nhiều ưu đãi và đâm mặc cảm đến độ thấy sự gần kề giữa giàu có đến thừa thãi và cùng khổ là không thể chấp nhận được. Dòng người xuống máy bay đã vãn hẳn. Những hành khách cuối cùng bước xuống cầu thang cuốn sau khi đã làm xong thủ tục hải quan. Cô vặn tay

Cô bắt đầu trở lại chủ yếu cũng là vì anh: mối quan hệ giữa cô và Nathan chính là điểm neo đậu của đời cô, một thứ bong bóng hạnh phúc mà cô khao khát giữ gìn bằng mọi giá. Đúng lúc cô bắt đầu cam chịu số mệnh, anh bất thần xuất hiện ở bậc thang trên cùng. Chính là anh, đầu đội mũ lưỡi trai của đội Yankees và mặc trên người chiếc áo đan chui đầu họa tiết vặn thừng mà cô đã tặng hồi sinh nhật. Không biết có người ra đón, anh không hề để ý xung quanh. Cô cố tình không ra hiệu mà để mặc anh tiến thẳng về phía băng chuyền trả hành lý.

Rồi cô mới hét lên gọi tên anh. Anh ngoảnh lại nhìn, nét mặt biểu lộ sự ngạc nhiên thực sự, đặt túi xuống sàn rồi tiến về phía cô, ôm chầm lấy cô mà hôn. Cô thả mình trong vòng tay anh, tận hưởng trọn vẹn giây phút quý giá này. Cô âu yếm dụi đầu vào hõm vai anh, hít hà nó như một thứ nước hoa kỳ diệu nhất. Được tiếp thêm sức mạnh bởi vòng tay ôm siết chặt của anh, trong trọn vẹn một phút đồng hồ, cô nhắm mắt và như lại ngửi thấy một chút mùi vị thơm tho của miền tuổi thơ không hề vướng bân những băn khoăn day dứt và mắc mớ đời thường.

- Em biết anh sẽ đến tận nơi chân trời góc biển để tìm em mà, cô đùa trước khi hôn phớt lên môi anh. Anh nhìn sâu vào mắt cô và lấy giọng trịnh thượng: - Anh còn có thể đi xa hơn nữa, xa hơn cả chân trời góc bế…

Khoảnh khắc đó, cô biết chắc chắn anh chính là người đàn ông của đời cô. Và sẽ luôn là như vậy. - Anh không nghe thấy tiếng chân em, Nathan thì thầm và mở hé mắt.

Cô đặt một tách cà phê bốc khói lên chiếc ghế đẩu bằng gỗ m/font> - Em cho quần âu của anh vào máy sấy rồi. Lát nữa là anh có thể mặc lại. - Cám ơn em.

Hai người lúng túng, không biết là phải bắt đầu từ đâu, như hai người tình cũ xưa kia đã quá hiểu nhau trước khi bị những thăng trầm của cuộc đời này chia cắt. - Những hành lý này là gì vậy? Anh hỏi, tay chỉ vào hai túi du lịch để gần cửa ra vào. - Em được mời dự hội nghị trù bị cho Diễn đàn xã hội Porto Alegre. Ban đầu, em từ chối vì bận chăm sóc Bonnie nhưng vì anh đến đón con bé sớm hơn nên….

- Sao, em đi Braxin ư? - Chỉ ba bốn ngày thôi. Em vẫn về kịp Giáng sinh. Mallory mở một trong hai cái túi và lấy từ bên trong ra thứ gì đó.

- Này, anh mặc vào kẻo nhiễm lạnh bây giờ, cô vừa nói vừa đưa cho anh một chiếc áo phông đã được là cẩn thận. Áo cũ rồi nhưng em tin là vẫn vừa với anh. Anh giở ra và nhận thấy đó là chiếc áo anh đã mặc buổi tối họ gần gũi nhau lần đầu tiên. Cách đây đã lâu lắm rồi. - Anh không biết em giữ nó lại.

Không để bị bối rồi lần nữa, cô vớ lấy chiếc khăn choàng vắt lên tràng kỷ và khoác lên người. - Brừ…. đúng là trời không nóng chút nào, cô thoáng rùng mình. Cô biến mất vài giây rồi quay trở lại với một chai rượu Mêxicô trong tay.

- Đây là một trong những cách dễ chịu nhất để sưởi ấm, cô nói tiếp và rót mời anh một ly. Đã rất lâu rồi, anh mới thấy nụ cười trên khuôn mặt vợ anh và nhất là nó riêng anh. - ¿A tu salud[34]! Hệt giọng điệu của Bonnie.

- ¿A tu salud! Nathan chúc lại. Hai ly rượu chạm vào nhau rồi theo nghi thức truyền thống, Nathan uống một hơi cạn sạch. Cô kéo một đầu chăn về phía mình và ngồi xuống tràng kỷ, ngay cạnh anh. Cô gục đầu vào vai anh trước khi nhắm mắt lại.

- Đã quá lâu rồi chúng ta không nói chuyện cùng với nhau, phải không anh? Mưa vẫn rơi, quét ràn rạt trên những ô cửa sổ và để lại những vệt nước dài trên mặt kính. - Nói em nghe điều gì đang khiến anh lo lắng đi.

- Đâu có chuyện gì, Nathan nói dối. Anh đã quyết đa id="filepos948773">nh không nói với cô về những Sứ giả. Câu chuyện này quá hoang đường, đến mức phi lý. Mallory có thể xem anh như một gã khùng và lo lắng vì anh đã giao Bonnie cho Goodrich trông nom. Nhưng cô khẩn khoản:

- Nghe chẳng thuyết phục tẹo nào. Anh lo sợ điều gì vậy? Lần này thì anh không dối cô nữa. - Sợ mất em.

Cô nhún vai vẻ thất vọng. - Em tin là chúng ta đã mất nhau thật rồi. - Người ta có thể mất một ai đó ở các cấp độ khác nh

Cô vén một lọn tóc đang lò xòa xuống mặt. - Ý anh muốn nói gì? Thay vì trả lời cô, anh hỏi lại:

- Làm sao chúng ta ra nông nỗi này hả Mallory? - Anh biết rất rõ kia mà. Anh nhìn vào khoảng không vô định.

- Chẳng có chuyện gì xảy ra, ngoại trừ cái chết của Sean. Cô nổi đóa: - Hãy để thằng bé được yên! Anh không còn là người tôi yêu nữa, Nathan ạ, chuyện chỉ có thế thôi.

- Tình yêu không thể mất đi như thế. - Tôi không nói mình không còn yêu anh nữa. Tôi chỉ nói rằng anh không còn là người tôi từng yêu ngày đầu. - Em quen anh từ lúc anh mới tám tuổi! Thật may là anh đã thay đổi. Mọi người ai chả thay đổi.

- Đừng có vờ như không hiểu: cả cuộc đời anh chỉ xoay quanh công việc của anh mà thôi. Anh đâu còn quan tâm gì đến tôi nữa. - Nhưng rõ ràng anh cần phải làm việc! Anh tự bào chữa. - Công việc đâu có buộc anh phải hạ nhục bố tôi bằng vụ kiện đó! Anh xem trọng thói kiêu hãnh của bản thân còn hơn cả vợ.

- Chính bố em đã tìm đến kết cục đó. Đừng quên cách gia đình em đối xử với mẹ anh. - Nhưng tôi không phải là gia đình tôi và anh đã không đếm xỉa đến tôi. Anh đã xa cách tôi biết nhường nào, Nathan, anh vẫn chưa vừa lòng với những gì đang có, tìm kiếm không biết mệt mỏi thứ hạnh phúc hoàn hảo không tì vế Anh cố thanh minh:

- Anh hướng đến hạnh phúc đó là vì chúng ta. Vì em và vì bọn trẻ….. - Nhưng chúng ta đã có hạnh phúc đó rồi đấy thôi, Nathan. Anh không thèm biết đến thực tế đó, nhưng chúng ta đã từng hạnh phúc đấy thôi. Anh còn cần gì nữa nào? Thêm nhiều tiền nữa ư? Nhưng để làm gì mới được chứ? Để tậu thêm chiếc xe thứ ba rồi chiếc thứ tư chăng? Để chơi môn golf xuẩn ngốc trong một câu lạc bộ sang trọng nào đó chăng? - Anh muốn xứng với em. Muốn chứng tỏ mình thành đạt.

Giờ thì cô thực sự giận điên người. - A, thì đấy! Chứng tỏ mình thành đạt: cái tham vọng lớn lao của Nathan Del Amico. - Em không thể hiểu được đâu. Trong môi trường anh sinh ra và lớn lên….

Cô không để anh nói hết câu. - Em biết rõ anh sinh ra và lớn lên trong môi trường nào và hiểu điều ấy đối với anh khó chấp nhận đến thế nào, cô nói dằn từng tiếng, nhưng cuộc sống không phải là trận tỉ thí, cũng không phải là một cuộc chiến và anh không buộc phải dùng mọi thủ đoạn để chứng minh sự thành đạt của mình. Cô đứng phắt dậy khỏi tràng kỷ.

- Mallory! Anh cố níu chân cô nhưng cô làm ngơ. Cô đến ngồi trong góc đối diện của căn phòng. Như để lấy lại bình tĩnh, cô thắp một lúc nhiều ngọn nến nhỏ trôi bồng bềnh trong một cốc thủy tinh sâu lòng bị trưng dụng làm ly cắm nến. Nathan tiến về phía cô và thử đặt tay lên vai cô. Cô gạt tay anh ra không chút khách khí.

- Hãy xem qua đi, cô vừa nói vừa ném cho anh một tờ New York Times đang nằm lăn lóc trên bàn phòng khác Ngay cả khi chuyển đến sống tại California, Mallory vẫn tiếp tục đặt nhật báo New York dài hạn, tờ báo cô yêu thích từ thời còn sinh viên. Nathan chộp lấy tờ báo đang bay đến chỗ anh và đọc những tít dài trên trang nhất.

Ohio: Một thiếu niên nã súng giết ba người trong trường học. Chilê: Núi lửa phun trào báo hiệu một thảm họa nhân sinh. Châu Phi: Hàng trăm nghìn người lưu vong tập trung trên các đường phố vùng Hồ Lớn.

Trung Cận Đông: Căng thẳng leo thang sau một vụ khủng bố liều chết. Vày giây sau, cô hỏi anh bằng giọng buồn bã: - Cuộc đời này còn ý nghĩa gì nữa đây nếu ta không chia sẽ nói với một ai đó?

Hai mắt cô ngân ngấn nước. Cô nhìn anh đăm đăm với vẻ phẫn uất. - Chuyện gì mới quan trọng với anh nếu không phải là san sẻ tình yêu của anh với mẹ con em? Vì không thấy anh trả lời, cô gạn hỏi anh lần nữa:

- Chung sống với một người không hề có yếu điểm chẳng đem lại cho em chút cảm giác yên ổn nào. Anh nên thừa nhận những nhược điểm của mình mới phải, ít nhất là với em. Anh đã có thể tin tưởng ở em kia mà…. Những lời này muốn nói: anh đã làm em thất vọng biết nhường nào. Anh nhìn Mallory, mắt long lanh. Tất cả những gì cô vừa nói đều đúng. Tuy nhiên, anh không đáng phải gánh chịu toàn bộ trách nhiệm.

- Dẫu sao thì anh vẫn đeo nhẫn cưới, anh vừa nói vừa giơ ngón áp út lên. Anh vẫn đeo trong khi em dám dẫn gã bất tài thảm hại đó đến dùng bữa trong nhà hàng của chúng ta! Anh vẫn trưng chiếc nhẫn cưới ra cho Mallory thấy, nhang nhác điệu bộ của một luật sư đang giơ vật chứng mang tính quyết định ra trước bồi thẩm đoàn. Nhưng những lý lẽ anh đưa ra để biện hộ không nhất quán. Anh đứng trước người phụ nữ mà anh yêu và người ấy đang nhìn anh với vẻ mặt như muốn nói: Đừng có đánh giá tôi quá thấp, đừng có lăng mạ tôi như thế nhé! Chậm rãi, cô lôi từ trong cổ áo đan chui đầu ra một sợi dây chuyền mỏng manh có lồng một chiếc nhẫn bạch kim.

- Em cũng giữ lại nhẫn của em, Nathan ạ, nhưng điều đó hoàn toàn chẳng chứng minh được gì hết. Giờ thì những giọt lệ đã long lanh trong mắt cô. Tuy nhiên, cô vẫn cố gắng nói tiếp những điều cần phải nói. - Và nhân tiện anh đang muốn nói về Vince, anh nên biết rằng hắn không liên quan gì đến chúng ta cả.

Rồi cô nhún vai nói thêm. - Ngoài ra, nếu anh vẫn còn chưa hiểu là em giật dây điều khiển tên ngốc đáng thương này thì xem ra trí óc anh cũng chẳng sáng suốt cho lắm. - Đầu óc anh chẳng mấy khi sáng suốt khi nghĩ đến em.

- Em đang lợi dụng hắn. Em không lấy gì tự hào về điều này nhưng em đang lợi dụng hắn. Con người này đang nắm trong tay một gia tài khổng lồ và nếu em có thể làm gì đó để khiến hắn trích ra một phần để giúp đỡ người nghèo thì em rất muốn đi cùng hắn vào bất cứ nhà hàng nào trên thế giới này. - Dùng đến cách đó thì thật vô liêm sỉ, anh nhận xét. Cô nở một nụ cười buồn bã.

- “Thái độ vô liêm sỉ và táo tợn là hai cột chống của công việc”: chính anh đã dạy em bài học ấy, thưa ngài luật sư vĩ đại, ngài đã quên rồi sao? Cô rút trong túi ra một gói khăn giấy Kleenex rồi lau nước mắt. Anh không dám lại gần cô vì sợ sẽ bị cô đẩy ra. Thay vào đ, anh băng qua phòng, mở cửa sổ và hít một hơi luồng khí mát lành. Những đám mây xám xịt và nặng trĩu dường như đã trôi về phương bắc. - Trời hầu như đã tạnh hẳn, anh bình luận để giảm bớt căng thẳng.

- Em chẳng có gì để làm với thời tiết này cả, cô bẻ lại. Anh quay lại nhìn cô. Hai má anh hóp lại và nước da xanh rờn, gần như trắng bệch. Anh muốn nói với cô rằng cô vẫn luôn chiếm vị trí hàng đầu trong cuộc đời anh và vị trí đó sẽ mãi mãi thuộc về cô. Nhưng tất cả những gì anh thốt lên chỉ là: - Anh hiểu cả, Mallory ạ.

- Anh hiểu gì kia? - Tất cả những gì em vừa nói với anh: rằng hạnh phúc không chỉ là vật chất dư giả. Rằng hạnh phúc, trước hết là chia sẻ: sẻ chia những chuyện vui và những chuyện bực mình, cùng chung sống dưới một mái nhà và cùng tạo dựng một gia đình… Giờ thì anh đã biết tất cả những điều đó. Anh khoát tay vẻ bất lực nhìn cô, gượng cười.

Cô nhìn anh với ánh mắt đầy khoan dung. Khi tỏ thái độ như vậy, anh luôn khiến cô nghĩ đến cậu nhỏ là anh lúc trước, người mà cô không thể cưỡng lại được. Ngay lập tức, cô gạt những lời trách móc qua một bên và bước đến, tựa đầu lên ngực anh. Cô biết mình không nên quá bất công với anh bởi cô thừa hiểu, sau cái chết của Sean, vùi đầu vào công việc là lối thoát duy nhất Nathan tìm thấy cho nỗi đau của mình. Và cô không thể trách anh về chuyện đó, mặc dù thâm tâm vẫn tiếc nuối vì họ đã không biết cách hàn gắn, giúp nhau vượt qua thảm kịch.

Cô nhắm mắt. Anh còn chưa đi mà cô đã biết rằng, chỉ trong vài phút nữa, cô sẽ đau khổ biết chừng nào bởi nỗi thiếu vắng anh. Đối với những nhà sinh học, phần lớn những cảm xúc yêu đương quy lại chỉ là vấn đề của các phân tử và các hóa chất giải phóng bên trong bộ não, chúng gợi lên cảm giác ham muốn và gắn bó. Nếu điều đó đúng thì mỗi lần cô tiếp xúc với anh đều xảy ra hiện tượng này. Cô những muốn khoảnh khắc này kéo dài mãi mãi. Mặc dù vậy, cô đã nỗ lực phi thường để kết thúc nó. Bây giờ không phải lúc. Cô đã bị anh hấp dẫn nhưng cô vẫn còn giân anh ghê gớm.

- Anh phải đi thôi, nếu không sẽ lỡ chuyến bay cuối ngày mất, cô vừa nói vừa rời khỏi anh. Giờ thì anh đang đứng trên thềm cửa mà không thể dứt áo ra đi được. Đồng hồ tính tiền của chiếc taxi anh gọi đã hoạt động từ năm phút qua. Làm sao giải thích để cô hiểu rằng đây là lần cuối cùng họ chào tạm biệt nhau, mỉm cười với nhau và làn da họ chạm vào nhau?

- Nếu anh gặp phải chuyện gì đó, anh thật lòng muốn em….. - Đừng nói vớ vẩn, cô ngắt lời anh. - Không phải là chuyện vớ vẩn đâu, Mallory, hãy hình dung rằng…

- Em đã nói là chúng ta sẽ còn gặp lại nhau, Nathan. Em hứa với anh. Vì cô chưa nói dối anh bao giờ nên ngay cả lần này, anh cũng rất muốn tin lời cô. Cô đặt một nụ hôn vào lòng bàn tay mình rồi dùng chính bàn tay đó vuốt nhẹ lên má anh.

Anh sắp ngồi vào xe và không thể dập tắt ý muốn quay lại nhìn cô lần cuối. Cái nhìn cuối cùng của một người đàn ông đang lo sợ mất người mình yêu mãi mãi. Dấu hiệu nhận biết cuối cùng của một linh hồn trên trái đất này đã may mắn tìm thấy một nửa của mình. Mắt dõi theo chiếc xe chở anh đi xa dần trong bầu không khí thanh khiết sau trận mưa, Mallory chụp lấy chiếc nhẫn cưới lủng lẳng trên sợi dây chuyền. Cô nắm chặt nó trong tay bằng tất cả sức lực của mình và thầm nhẩm trong đầu, như niệm thần chú:

Tình yêu đôi ta không đổi thay, giống như cái chết. Mưa lớn không thể dập tắt, sông suối không thể nhấn chìm

21 Nếu tôi có một đứa con, điều ấy cũng giống như một tuyên ngôn: tôi được sinh ra, tôi đã

nếm trại cuộc đời này và tôi nhận thấy nó tốt đẹp đến mức xứng đáng được nhân lên. Milan Kundera.

Ngày 17 tháng Chạp - ¿Qué bora es[35]? Bonnie vừa hỏi vừa dụi mắt. Cô bé vừa thức dậy.

- Đoán xem! Bố cô bé trả lời và vòng tay ôm con gái. Nathan vừa từ San Diego trở về bằng chuyến bay lúc sáu giờ sáng. Anh đã thấy con gái mình nằm ngủ trên tràng kỷ nhà Goodrich. “Con bé thức đến khuya mới chịu đi ngủ, bác sĩ giải thích cặn kẽ với anh. Chuyến bay về New York của hai ông cháu muộn giờ hạ cánh vì gặp phải thời tiết xấu.” Anh bế Bonnie vẫn đang ngái ngủ ra xe và hai bố con trở về căn hộ trong tòa nhà San Remo. Cuối cùng anh cũng đặt được con bé vào giường ngủ lúc tám giờ sáng, khi mặt trời đã lên cao.

Bây giờ con bé đang nhìn chằm chằm chiếc đồng hồ quả lắc treo trong bếp với vẻ nghi hoặc. - Đã ba giờ chiều rồi ạ? - Đúng mà, bé con, con đã ngủ say như chết.

- Con đâu có phải là bé con, cô bé vừa cãi vừa ngáp dài. - Ồ, thế mà có đấy! Anh đang ngồi trên chiếc ghế quầy bar, trước mặt là bát sô cô la bốc khói nghi ngút. Con là bé con của ba. - Lần đầu tiên trong đời con dậy muộn thế này đấy, cô bé nói giỡn và với lấy một chiếc bánh vừng vòng.

Anh nhìn con gái đầy trìu mến. Được ở bên cạnh con bé là một điều an ủi thực sự. Hôm qua, anh đã tìm lại được tâm trạng phấn khích. Con bé có vẻ như đang vui sướng và hân hoan, đã bớt lo lắng hơn nhiều so với kì nghỉ lần trước. Cú sốc từ vụ ly dị của ba mẹ đang dần tiêu biến. Rốt cuộc con bé cũng hiểu ra cuộc chia tay giữa ba mẹ không buộc nó phải xa một trong hai người. Càng hay. Nhưng vấn đề này vừa được giải quyết thì lại nảy sinh vấn đề khác, còn nghiêm trọng hơn nhiều: người ta sắp cướp mất ba của nó. Anh rất lo cho con bé. Nó có thể đương đầu với thử thách này không, thử thách khó khăn nhất mà con bé gặp phải trong cả quãng đời ngắn ngủi của nó? Liệu có cách nào chuẩn bị tâm lý cho một đứa trẻ đón nhận cái tin hay rằng bố hay mẹ nó sắp chết?

Ngay lúc này, anh muốn gạt những ý nghĩ đen tối ấy đi để tranh thủ tận hượng quãng thời gian vui vẻ. - Ba c có thể đi chọn một cây thông Giáng sinh, anh đề xuất với ý nghĩ rằng ý tưởng đó sẽ khiến con gái vui. - Ồ vâng! Với thật nhiều đồ trang trí nữa: những quả bóng, những ngôi sao và những tràng hoa lấp lánh trong đêm.

- Và rồi chúng ta sẽ đi chợ và nấu một bữa thật ngon. - Chúng ta có thể làm món mì Ý trộn mực không ba? Con bé năn nỉ. Đó quả là món nó ưa thích nhất từ khi được thưởng thức lần đầu tiên trong một nhà hàng ở khu TriBeCa nơi cả gia đình ba người họ đã sống khi Bonnie còn bé tý.

- Cùng một món tráng miệng tuyệt hảo. Con có muốn chúng ta chuẩn bị một âu đồ tráng miệng khổng lồ không? - Tất nhiên là có chứ ạ, con bé vừa nói vừa nhảy cẫng lên vì mừng rỡ. - Con thích tráng miệng món gì nào?

- Một chiếc pumpkin pie[36] , con bé trả lời không chút do dự. - Đó là món tráng miệng dành cho Lễ Tạ ơn. Con không muốn món gì đặc biệt cho lễ Giáng sinh ư? Con bé lắc đầu.

- Không ạ, con thích bánh bí đỏ khi nó còn ướt, với thật nhiều pho mát Ý, con bé nói thêm, chưa chi đã ứa nước miếng. - Thế thì mau mau ăn nốt bữa trưa của con đi nào. - Con không muốn ăn nữa, Bonnie rời khỏi bàn ăn và chạy đến nép mình vào vòng tay anh.

Con bé vừa ôm anh thật chặt vừa cọ hai bàn chân nhỏ xíu đang để trần vào nhau. - Con lạnh đấy à, Sóc nhỏ? - Vâng, con đang lạnh coóng toàn thân đây.

Con bé thật dễ thương khi cố gắng dùng đến những từ phức tạp. - Lạnh cóng, anh sửa lại cho đúng và phá lên cười. Con là một cô bé đang lạnh cóng sẽ mau chóng mặc thêm quần áo ấm. Không dễ tìm được món mỳ Ý màu đen trứ danh. Hai cha con phải tìm đến tận hiệu Dean&Delucca. Chỉ còn cách Giáng sinh vài ngày, hiệu bán đồ khô của khu Soho chật ních người. Hai cha con để mặc đám khách hàng chen lấn xô đẩy, thong thả đợi đến lượt mình và tậu những đồ cần thiết trong quãng thời gian dài kỷ lục. Dẫu sao đi nữa, họ vẫn còn khối thời gian.

Bonnie mất hơn mười lăm phút đồng hồ để so sánh những cây thông bày trên đường Broadway. Khi con bé đã chọn xong, Nathan vác cái cây nhỏ đến đặt trong cốp chiếc ôtô địa hình trước khi dừng lại ở một cửa hiệu nằm trên đại lộ số 3, theo anh, đó là nơi hai ba con có thể tìm thấy những loại hoa quả ngon nhất thành phố. Anh và Bonnie chọn mua một quả bí đỏ tươi ngon và món xúp cá đựng trong liễn có xuất xứ từ Pháp mang cái tên kì quặc: “Súp kiểu Sétoise”. Họ trở về nhà vào cuối buổi chiều, sẵn sàng bắt tay vào nấu một thực đơn đặc biệt.

Vừa cởi áo khoác ngoài ra, Bonnie đã vội vàng bày tất cả những nguyên liệu lên bàn bếp: bột nhào, bí đỏ, cam, đường lẫn vani, rượu hạnh nhân đắng, pho mát Ý…. - Ba tới phụ con một tay chứ? Con bé hỏi anh kèm theo một nụ cười. - Ba tới ngay đây.

Anh nhìn con gái và cảm thấy tim mình se thắt. Anh đã muốn nói với con bé rằng đừng e sợ tương lai, rằng ngay cả khi đã chết đi rồi anh vẫn sẽ luôn ở bên để chăm lo và bảo vệ nó. Nhưng anh biết gì về việc chăm lo và bảo vệ ấy kia chứ? Ngay cả lúc này, đâu có diễn ra như vậy. Anh không dám chắc mình sẽ trở thành một thiên thần hộ mệnh hoàn thành sứ mệnh bảo vệ con bé khỏi điều ác. Sự thật là anh đang sợ hãi. Anh sợ phải để mặc con gái đối diện với những cái xấu xa và bỉ ổi của thế giới bên ngoài mà không có người cha dìu dắt.

Anh tiến lại bàn. Khoác trên người một chiếc tạp dề to quá cỡ, Bonnie đã lật quyển sách dạy nấu ăn đúng trang cần tìm và kiên nhẫn đợi anh hướng dẫn. - Vào việc nào! Nathan lăn bột thật kỹ rồi đổ vào khuôn. Sau đó, anh bọc cả khuôn lẫn bột bên trong đó bằng mảnh giấy nhôm đã tẩm đầy đậu khô trước khi bỏ lò. Trong lúc ấy, Bonnie đã nạo xong vỏ và nhặt sạch hạt bí đỏ. Anh giúp con bé cắt phần cùi thành những miếng nhỏ hình vuông rồi con bé thận trọng nhỏ vài giọt rượu mùi trước khi nở với anh một nụ cười mãn nguyện. Nathan bắc nồi bí lên bếp rồi tranh thủ khoảng thời gian rảnh tay này để hỏi chuyện con gái.

- Con còn nhớ khi Sean chết không? - Tất nhiên là nhớ chứ ba, con bé trả lời và nhìn thẳng vào mắt anh. Ngay cả khi Bonnie cố hết sức để che giấu thì anh vẫn nhận thấy một màn sương buồn tủi, ủ dột đang phủ lên giương mặt xinh xắn của con bé. Nhưng anh vẫn gắng gượng tiếp tục.

- Lúc ấy con còn nhỏ xíu. - Con mới bốn tuổi, con bé chữa lại như thời đó đã cách đây hai, ba chục năm vậy. - Để giải thích cho con, mẹ và ba đã nói với con những câu “Sean đang ở trên trời”.

Con bé gật đầu ý nói mình vẫn còn nhớ. - Thoạt tiên con đặt ra rất nhiều câu hỏi về chuyện đó. Nhiều lần, con còn hỏi trên trời có lạnh không. Con muốn biết em trai con làm thế nào nếu muốn ăn và liệu một ngày kia con có thể lên đó thăm em được không. - Con vẫn nhớ, Bonnie nói đơn giản.

- Vậy mà ba vẫn băn khoăn không biết liệu ba mẹ đã chọn đúng cách để giải thích cho con hiểu chết là như thế nào hay chưa…. - Tại sao thế ạ, khi chết người ta không lên trời hả ba? - Nói cho đúng thì không ai biết gì về chuyện đó cả, con yêu.

Con bé ngẫm nghĩ một lát như thể tập hợp lại tất cả những hiểu biết của mình về chủ đề này. - Bạn Sara bảo khi chết, người ta sẽ lên thiên đàng hoặc xuống địa ngục. - Chúng ta không thể biết được, Nathan nhắc lại.

Nhưng anh hiểu câu trả lời này chưa làm con bé thỏa nguyện. - Tại sao không tìm trong từ điển bách khoa toàn thư nhỉ? Bonnie nhanh nhẩu gợi ý. Mẹ luôn dặn con nếu chưa rõ chuyện gì thì phải tra bách khoa thư. - Ngay cả bách khoa thư cũng không biết gì đâu con ạ. Đó là một điều bí ẩn.

Đúng lúc này, lò nướng đổ chuông báo bánh đã chín. Nathan đưa lớp bánh nền đã chín và chuyển sang màu trắng ra khỏi lò, nhặt sạch đậu kho dính trên bánh. Trái với mong đợi của anh, con gái nhỏ không hề ngỏ ý đỡ anh một tay.

- Nào, Bonnie, ba cần con giúp đây. Phải chuẩn bị trang trí bánh kem. Hãy cho ba thấy con vẫn thành thạo cách đập trứng như ba đã dạy đi. Nhanh nào! Bonnie bắt tay thực hiện nhiệm vụ được giao, ban đầu còn ngập ngừng, sau mỗi lúc một thêm hăng hái. Con bé đánh trứng lẫn với đường. Nó làm rất khéo và năm phút sau, nụ cười đã xuất hiện trở lại trên môi. - Ba nhìn này, dậy bọt hết rồi! Con bé reo lên

- Đúng vậy, phải cho cả bí đỏ, nước ép cam và pho mát Ý nữa. Hai bố con chia nhau làm việc. Anh vắt một quả cam lấy nước trong khi Bonnie thả những miếng bí vào máy xay sinh tố. Có lúc con bé muốn nếm thử chỗ bí đang xay và chất lỏng sền sệt vẽ thành một bộ ria màu cam trên mép nó.

Anh đi lấy máy ảnh và hai bố con lần lượt chụp ảnh cho nhau. Rồi một tay anh cầm máy ảnh giơ lên cao. Hai bố con đứng sát vào nhau, má áp má. - Một, hai, ba, Cheese! Lại thêm một kỷ niệm đẹp!

Anh đợi con gái phết lớp trang trí lên mặt bánh rồi giúp nó đưa lại bánh vào lò. Bonnie ngồi trước lò bánh quan sát chiếc bánh đang bắt đầu chín dần. Con bé bị lôi cuốn chẳng khác nào đang xem chương trình truyền hình hấp dẫn vào bậc nhất. - Hừm… chắc sẽ ngon lắm đây. Có phải chờ lâu không hả ba?

- Khoảng bốn mươi phút, con yêu ạ. Con bé đứng dậy, hếch chiếc mũi nhỏ nhắn về phía anh và giữ nguyên tư thế ấy trong vài giây như thể đang phân vân không biết có nên nói cho anh điều gì đó hay không. Một lát sau, con bé rốt cuộc cũng quyết định. - Bà ngoại không thích con hỏi bà chuyện chết chóc đâu. Bà nói con còn quá nhỏ và nói đến chuyện đó chỉ tổ xui xẻo.

- Toàn chuyện vớ vẩn, con yêu. Bà nói thể chỉ vì người lớn sợ, không dám nói chuyện chết chóc trước mặt trẻ con thôi. - Sao thế ạ? - Họ lo sẽ làm bọn trẻ sợ hãi, trong khi chính vì không thấy ai nói đến nên chúng mới sợ hãi. Người ta luôn sợ những cái bản thân còn mù mờ chưa biết

Con bé liền hỏi tiếp với vẻ tự nhiên: - Thế cần phải biết gì về cái chết ạ? Anh suy nghĩ một lát.

- Đầu tiên, cái chết không thể tránh khỏi. - Có nghĩa là người ta không thể thoát khỏi cái chết ạ? - Đúng vậy, con gái bé bỏng của ba, ai rồi cũng phải chết.

- Cả Lara Croft nữa ạ? - Lara Croft là nhân vật không có thật. Con thừa biết điều ấy mà. - Thế còn Chúa Jesus?

- Con đâu có phải là Jesus. - Đúng vậy, con bé công nhận, miệng nở một nụ cười làm bừng sáng khuôn mặt. - Còn nữa, cái chết là vô phương cứu chữa.

Bonnie thử nhắc lại cái từ mới mẻ mà nó còn chưa biết nghĩa này. - Vô phương cứu chữa ấy ạ? - Vô phương cứu chữa, con yêu. Đó là một từ hơi phức tạp, ý nói một khi người ta đã chết thì không thể sống lại được.

- Tiếc thật, con bé nói với vẻ buồn bã không che giấu. - Ừ, anh đồng tình, thật đáng tiếc. Nhưng con đừng lo, con không thể chết ngay bây giờ được. Ngày mai cũng không và ngày kia cũng vậy. - Vậy thì bao giờ con mới chết ạ?

Nathan thấy tiếc vì đã khơ cuộc trò chuyện này. Bonnie đang nhìn anh với đôi mắt mở to như thể anh có khả năng dự đoán chính xác tương lai của nó. - Chỉ khi nào con đã trở thành một người già cực kì là già. - Với những nếp nhăn hả ba?

- Phải, với những nếp nhăn, mái tóc bạc trắng, và cầm mọc đầy râu. Liên tưởng sau cũng khiến anh bật cười nhưng không kéo dài lâu. - Thế còn ba và mẹ? Khi nào ba mẹ chết?

- Con đừng lo: điều đó sẽ không xảy ra ngay hôm nay. Nhưng nếu ba chết đi, con không được quá đau buồn đâu đấy. Con bé nhìn anh vẻ lạ lẫm. - Nếu ba chết, con không nên đau buồn sao? Con bé hỏi như thể anh vừa khuyên răn nó một điều hết sức vô lý.

- Có chứ, tất nhiên là có, con có thể sẽ đau buồn, anh lựa lời, nhưng con không nên hối tiếc và trách cứ mình bất cứ việc gì. Hiểu chứ? Con không có lỗi gì hết, Nathan tiếp tục. Ba rất tự hào về con và mẹ cũng vậy. Con không nên tiếc vì thời gian ở bên ba quá ngắn ngủi. Hãy tự nhủ mình rằng chúng ta đã cùng nhau làm nhiều việc, rằng chúng ta còn giữ lại vô số kỷ niệm đẹp về nhau. - Ba cũng sẽ cảm thấy như thế khi mẹ chết đi ạ? Nathan bị câu hỏi này khiến cho bối rối. Thay vì trả lời trực tiếp, anh chỉ nói đơn giản:

- Không hẳn như vậy, nhưng ba sẽ cố gắng. Con không nên vì e ngại mà né tránh bày tỏ tình cảm của mình với những người con yêu quý. - Con đồng ý, con bé đáp mà không hiểu lắm ý anh muốn nói gì. - Để đối diện với cái chết người mình yêu mến, con phải gần gũi hơn vỡi những người vẫn thường yêu mến con. Chính họ sẽ ủng hộ và giúp con vượt qua.

- Con nên đến gặp ba hoặc mẹ? - Đúng vậy, Nathan tán thành. Bất cứ lúc nào con cũng có thể tìm đến ba mẹ, nếu con e sợ hoặc lo lắng việc gì đó. Ngay cả khi con lớn lên cũng vậy. Con tìm đến với ba hoặc với mẹ lúc nào cũng được. Và nếu một ngày kia, ba chết đi thì con vẫn còn có mẹ luôn bên cạnh con. Con có một người mẹ tuyệt vời và mẹ sẽ luôn biết cách xoa dịu mọi ưu phiền con gặp phải. - Nhưng dù có như thế thì cũng thật khó khăn, con bé nói, giọng run rẩy.

- Đúng thế, anh thừa nhận, sẽ rất khó khăn. Đôi khi con sẽ cảm thấy cô đơn cùng cực và con sẽ muốn khóc, rồi cũng sẽ có lúc con phải khóc bởi làm vậy sẽ giúp con dễ chịu hơn. - Chỉ có trẻ con mới khóc thôi chứ, con bé bắt bẻ trong khi chính nó cũng đang rơm rớm nước mắt. - Không phải thế đâu, tất cả mọi người đều khóc. Ba thề với con. Những ai không thể khóc là những kẻ bất hạnh nhất trên đời. Mỗi khi con muốn cảm thấy như có ba ở bên, con có thể nói chuyện với ba ở những chỗ ba con mình vẫn thích đến cùng nhau.

- Thỉnh thoảng ba vẫn trò chuyện với Sean ạ? Anh thổ lộ sự thật với con bé, gần như nhẹ nhõm vì đã làm được chuyện đó. - Đúng vậy, ba vẫn tiếp tục trò chuyện với Sean và bà nội con. Sean vẫn sống trong trái tim ba. Em nó vẫn luôn là đứa con trai của ba. Và với con cũng sẽ là như vậy: ba sẽ luôn là ba của con và mẹ sẽ luôn là mẹ của con. Ngay cả khi chết đi rồi, điều đó cũng không có gì thay đổi.

- Mỗi khi muốn nói chuyện với họ, ba lại tìm đến nghĩa trang hay sao? - Không, ba không thích các nghĩa trang. Ba vào trong công viên, buổi sáng sớm, lúc hầu như không có ai. Ba nói với mọi người mình chạy bộ để rèn luyện sức khỏe nhưng thực ra, ba chạy là để được bên họ. Mỗi người phải tìm chỗ thích hợp với mình. Trò chuyện là việc rất quan trọng để người ta yêu quý ở lại bên ta suốt cuộc đời.Ngày nào ba cũng nghĩ đến họ ạ? - Không, Nathan nói dối, ba nghĩ đến họ thường xuyên nhưng không phải mỗi ngày.

Anh cảm thấy hai cánh tay mình nổi da gà. Rồi mắt nhìn xa xăm, anh nói thêm mà như tự nhủ với bản thân mình: - Cuộc sống là một cái gì đó thật tuyệt vời. Một cái gì đó vô cùng quý giá. Con bé nhảy lên bá cổ anh và hai bố con đều tìm thấy ở nhau nguồn an ủi. Trong thâm tâm, con bé đang băn khoăn về hai đấng sinh thành kì quặc của mình, người này luôn nói về người kia với những lời nói hết sức tốt đẹp. Con bé không khỏi ngạc nhiên vì lẽ gì người mẹ tuyệt vời nhường ấy và người cha ân cần đến vậy lại không cùng có mặt ở đây với mình trong lễ Giáng sinh. Nhưng con bé ngờ rằng cuộc sống của người lớn hẳn phải là cái gì đó hết sức phức tạp và tốt nhất là không nên xen vào làm gì.

Bữa ăn diễn ra trong bầu không khí vui vẻ. Hai bố con không nhắc đến những chuyện nặng nề hay buồn rầu thêm lần nào nữa. Món xúp và mì trộn chỉ tương đối thành công nhưng Bonnie nhận thấy món bánh mứt hai cha con làm thật deliciosa[37] với lớp đường tráng mặt và lớp bột bí đỏ sền sệt. Hai cha con dành cả buổi tối để trang trí cây thông vừa làm vừa nghe bản Children’s Corner của Claude Debussy mà cô con gái vô cùng yêu thích. Bên ngoài, tuyết lặng lẽ rơi.

- Tại sao mẹ lại không thích lễ Giáng sinh nhỉ? - Bởi vì mẹ thấy tinh thần thực sự của ngày lễ đã bị mai một. Con bé nhìn anh với vẻ sửng sốt.

- Ba vừa nói gì con không hiểu. Anh cần phải chú ý: con gái anh chưa phải một người trưởng thành. Anh xin lỗi con gái và thử giải thích rõ hơn. - Thực ra, mẹ con thấy rằng vào dịp này trong năm, người ta nên nghĩ nhiều hơn đến những người còn chịu thiệt thòi đủ đường thay vì mua sắm hàng đống thứ mà họ chưa thật cần.

- Thật thế ba nhỉ? Bonnie hỏi, con bé không thể hình dung sự việc lại có thể khác đi được một khi mẹ nó đã nghĩ như vậy. - Đúng như vậy con à, anh đồng tình. Chúng ta ở đây, ấm áp và an toàn, trong khi còn nhiều người khác chỉ có một mình. Mà khi người ta buồn thì cảm giác cô đơn thật nghiệt ngã. - Nhưng lúc này mẹ cũng chỉ có một mình, cô con gái nhỏ nhắc.

- Mẹ chắc đang ở cùng chú Vince, Nathan đoán bừa, không có vẻ gì là tin vào điều mình đang nói. - Con không tin. - Linh cảm của người phụ nữ mách bảo con thế phải không? Anh vừa nói vừa nháy mắt với con gái.

- Chính xác đấy ạ, Bonnie đáp và nháy hai mắt cùng một lúc. Đó là cái mà con bé gọi là “cú nháy mắt đúp”, điều duy nhất con bé có khả năng thực hiện thành công, quả đúng như vậy. Anh hôn lên tóc con gái.

Trang trí cây thông xong, hai cha còn cùng xem một đoạn phim Shrek, chú yêu tinh da xanh lét và có đôi tai hình phễu. Sau đó, Bonnie diễn tấu vĩ cầm cho ba nó thưởng thức vài điệu nhạc rồi hát Besame mucho bằng tiếng Tây Ban Nha, con bé đã được học hát ở trường và thể hiện rất thành công. Nathan biến thành một khán giả rất hăng hái và yêu cầu nghệ sĩ diễn đi diễn lại nhiều lần.

Rồi cũng đến giờ ngủ. Anh bế con bé vào tận gi con bé xin anh để sáng đèn hành lang. - Chúc ngủ ngon, sóc nhỏ của ba, anh nói và lui ra. Ba yêu con nhiều lắm.

- Con cũng yêu ba nhiều lắm, con bé đáp, và tình yêu đó “vô phươn cứu chữa”. Anh hôn con bé, chúc nó ngủ ngon và không còn lòng dạ nào chữa lại từ mà nó đã dùng sai. Đúng lúc bước ra khỏi phòng, anh nhớ lại thời điểm ngày này tháng Tư năm 1995, trong một nhà hộ sinh ở San Diego. Lần đầu tiên anh bế cô con gái bé bỏng vừa mới chào đời trên tay. Anh đã xúc động và rụt rè đến mức không biết phải bế con như thế nào. Tất cả những gì anh nhìn thấy lúc đó chỉ là một trẻ sơ sinh bé xíu xiu với khuôn mặt nhăn nheo, mắt nhằm nghiền, điệu bộ kỳ lạ biến đổi liên tục, những ngón tay nhỏ xíu khua khoắng loạn xạ.

Ngay lúc ấy, anh còn chưa biết rằng một ngày nào đó, cô bé sẽ chiếm một vị trí quan trọng trong cuộc đời anh. Rằng em bé xíu xiu này rồi sẽ trở thành quan trọng hơn cả con người trong mắt anh. Cho tới lúc đó, anh vẫn nghĩ rằng làm cha sẽ là một thay đổi căn bản trong cuộc đời anh, nhưng anh không hề có khái niệm gì về việc đó, xét trên phương diện tình yêu và cảm xúc. Anh còn chưa biết rằng một đứa con có thể đem lại cho anh nhiều niềm vui đến thế.

Cũng không biết rằng mất đi một đứa con vào một ngày nào đó lại có thể đẩy anh và cảnh khốn cùng tuyệt vọng như thế. Anh chẳng ngờ mọi chuyện lại như vậy. Rồi thiên thần bé nhỏ mong manh ấy mở tròn mắt và nhìn anh đăm đăm, một chút gì đó giống như nó muốn anh hiểu rằng nó rất cần có anh. Thế là đột nhiên, anh cảm thấy chấn động, lòng tràn ngập một tình yêu vô bờ bến.

Và chắc chắn không một lời lẽ nào đủ để diễn tả một tình yêu như thế. 22 Mỗi con người là duy nhất, chẳng ai cần tới

Ai và nỗi đau của chúng ta là hòn đảo hoang Không một bóng người. Albert Cohen[38]

Ngày 18 tháng Chạp Mặc dù thực lòng không muốn nhưng Nathan vẫn phải giữ lời hứa với vợ: đưa Bonnie đến chơi với ông bà ngoại suốt hai ngày dài đằng đẵng. Anh thức dậy và bất chấp lúc sáng sớm đã không ngần ngại gọi điện cho Jeffrey Wexler để báo rằng hai bố con sẽ đến. Anh biết rằng khái niệm “sáng sớm” không nằm trong vốn từ vựng của họ, ngay cả trong kì nghỉ lễ.

Tối qua Bonnie đã đi ngủ muộn, anh đợi đến tám giờ mới đánh thức con bé dậy, phải đến một tiếng rưỡi sau, hai bố con mới lên đường được, sau khi đỗ lại trước tiệm Starbucks để uống một ly sô cô la nóng ngon tuyệt có vị thục quỳ. Nathan đã quyết định lái chiếc xe địa hình. Nó chạy vững chãi hơn trong trời tuyết. Cũng giống như mẹ mình, Bonnie rất thích những chiếc xe to và những bánh xe khổng lồ của chúng. Được ngồi ở vị trí rất cao so với mặt đất, con bé có cảm giác như được ngồi trong khoang điều khiển một con ta id="filepos1031126">u vũ trụ bay trên mặt đất với độ cao tầm thấp. Tới nay đã gần ba mươi năm tục gia đình Wexler nghỉ Giáng sinh trong vùng núi Berkshires nằm ở phía tây Massachusetts. Khởi hành từ New York, chuyến đi hơi dài nhưng quang cảnh vùng này quả là tuyệt đẹp với những ngọn đồi tạo thành nhiều thung lũng và những ngôi làng thơ mộng điển hình của Tân Anh Quốc. Anh lái theo đường số 7 qua Norwalk, thị trấn Great Barrington rồi thẳng hướng Stock bridge. Anh điều khiển xe rất thận trọng: đường đôi chỗ hơi trơn trượt. Tuyết phủ một lớp mỏng như bụi trên cảnh vật đang trải ra trước mắt họ.

Bonnie nhét một đĩa CD vào ổ đọc: một khúc ứng tấu piano của Keith Jarrett nằm trong album nhạc chủ đề của phim Phù thủy xứ Oz. Cô bé bắt đầu lẩm nhẩm hát theo: Somewhere, over the rainbowl[39]…

Vừa hát, Bonnie vừa thực hiện “cú nháy mắt đúp” trứ danh của mình và anh thấy con bé thật đáng yêu với chiếc mũ lưỡi trai bóng chày to quá cỡ đội để bảo vệ làn da khỏi nắng hắt. Lén quan sát con gái, anh không khỏi kỳ lạ vì đã sinh ra một đứa con gái dễ sống đến vậy. Tự đáy lòng, anh vẫn cảm thấy hãnh diện vì đã đủ sức nuôi dạy con bé đúng cách. Anh và Mallory, hai người đã cố tỏ ra nghiêm khắc từ rất sớm và đề ra một số nguyên tắc cơ bản: tôn trọng mọi người và nhận thức rằng quyền lợi bao giờ cũng đi kèm với nghĩa vụ. Hai vợ chồng cưỡng lại cám dỗ để không nuông chiều con gái: không giày thể thao giá hai trăm đô la hay những thứ quần áo hàng hiệu với giá trên trời. Họ thấy điều đó hơi có chút gì đó sỗ sàng, cũng giống như từ hèn hạ dùng để đánh giá về thái độ của những bậc phụ huynh đôi khi để con cái xúc phạm mình bằng những lời lẽ vô văn hóa, vậy mà lại thán phục vốn từ ngữ đa dạng của con mình thay vì la mắng chúng!

Đôi khi Nathan vẫn băn khoăn về tương lai của những đứa trẻ không được dạy dỗ đến nơi đến chốn đo. Chắc chắn chúng sẽ trở thành những thanh niên ấu trĩ và theo đuổi chủ nghĩa cá nhân, sau khi đã được nuông chiều và được đối xử như những hoàng tử, công chúa tính cách đồng bóng thất thường, rồi sớm muộn cũng sẽ ngã thật đau khi khám phá những nhượng bộ và tước đoạt mà cuộc sống không thiếu dịp đòi hỏi. Anh liếc nhìn con gái. Được ru ngủ bởi nhạc Jazz, con bé đã ngủ thiếp từ lúc nào, tay nắm chặt, đầu tựa vào khung cửa sổ tràn ngập ánh nắng. Anh nghĩ về tương lai.

Cho đến thời điểm này, việc dạy dỗ con bé chưa là quá khó, nhưng đoạn đường gian nan nhất vẫn còn ở phía trước. Bởi chắc chắn sẽ đến một ngày con bé đòi đi chơi buổi tối, đòi xỏ khuyên ở cánh mũi hay nơi nào đó trên cơ thể….. Đúng vậy, sẽ luôn có một thời điểm cô con gái bé bỏng dễ thương biến thành một thiếu niên bạc bẽo, tin chắc cha mẹ mình chỉ là những cụ khốt không biết cảm thông. Mallory sẽ chỉ còn một mình để đối diện với cuộc khủng hoảng ấy. Anh sẽ không còn ở bên để ủng hộ cô. Anh sẽ không được biết nỗi lo sợ của đêm đầu tiên Bonnie không về nhà ngủ, không được biết người bạn trai đầu tiên con bé dẫn về nhà ra mắt, không được biết chuyến du lịch đầu tiên con bé muốn cùng lũ bạn gái đi đến đầu kia đất nước….. Thế nhưng đó cũng là một thách thức rất thú vị mà anh cảm thấy mình hoàn toàn có thể vượt qua được.

Nếu như anh không được chờ đợi ở một nơi khác. Mối đồng cảm với Bonnie đôi khi đưa anh trở về với những ngày đầu của thời thơ ấu, khi giữa mẹ và anh tồn tại một sự đồng lõa thực sự, trước khi anh cố tình tạo cho mình một vẻ gần như lãnh đạm chỉ vì lầm tưởng rằng cơ may duy nhất để vươn lên trong xã hội là chối bỏ gốc gác xuất thân. Thật khó cho con trai người giúp việc khi muốn chinh phục New York hoa lệ! Chỉ đến gần đây, anh mới nhận ra mình rốt cuộc đã nhận từ mẹ nhiều hơn là anh vẫn hình dung. Bà đã truyền cho anh lòng dũng cảm và đức hy sinh, một năng lực để dám đối diện với thực tế dù có xảy ra chuyện gì đi nữa.

Nhưng anh đã để bà qua đời không một lời cám ơn về món quà đó. Những năm cuối đời của bà, tức là lúc cuộc sống của anh bắt đầu dư dả, anh đã có thể xích lại gần bà và tận hưởng thành công cùng người mẹ đã tần tảo nuôi mình. Anh đã có thể nói với bà rằng: “Mẹ thấy đấy, mẹ con mình đã thoát khỏi cảnh nghèo ổ rồi, mẹ đã không hy sinh vô ích. Con đang rất hạnh phúc”. Thay vào đó, anh đã không còn đến thăm nom bà đều đặn như trước nữa. Quá bận rộn trong cuộc chiến của riêng mình, anh bằng lòng với việc chu cấp tiền hàng tháng để bà có thể an hưởng tuổi già mà không phải lao động vất vả. Và những lần anh ghé thăm bà đều chóng vánh như cơn gió thoảng. Anh nói vài câu cho phải phép trước khi ra đi và để lại một xấp tiền (mỗi lúc một dày hơn) thay lời xin lỗi vì đã là đứa con bất hiếu. Hôm nay, anh cảm thấy tội lỗi vô cùng khi nghĩ đến những dịp đã bỏ lỡ, nhưng đó không phải là kỷ niệm duy nhất khiến lương tâm anh day dứt. Đó hầu như là bí mật chỉ hai mẹ con anh biết với nhau. Một quãng thời gian dài họ không bao giờ nhắc lại nhưng vẫn nhớ về nó tới tận phút lìa đời.

Lúc đó, anh vừa bước sang tuổi mười ba. Chuyện xảy ra vào mùa hè năm 1977, khoảng đầu tháng Tám, trong kì nghỉ hè cuối cùng của anh với Mallory, tại Nantucket(mùa hè mà anh đã có dịp hôn môi cô lần đầu tiên…. nhưng đó lại là chuyện khác). Hồi năm ngoái, sau khi vượt qua các kì thi trắc nghiệm với kết quả xuất sắc, anh đã đỗ vào trường Wallace School danh giá của Manhattan. Ngay cả khi trường áp dụng chế độ cấp học bổng với một số ít học sinh đạt kết quả xuất sắc với mức hỗ trợ là một nửa học phí thì nửa còn lại vẫn thuộc phần đóng góp của phụ huynh. Đối với Eleanor Del Amico, đó là một khoản tiền quá lớn. Nathan hiểu anh đang đòi hỏi ở mẹ một sự hy sinh quá sức, bởi lẽ trường yêu cầu phải đóng đủ học phí ngay trước kì học đầu tiên. Nhưng anh đã giải thích với bà rằng đó là một sự đầu tư cho tương lai: cơ hội duy nhất để anh không trở thành một tên cu li hay thợ lau cửa kính.

Mùa hè năm đó: Eleanor không còn một xu dính túi: mùa đông trước, bệnh viêm phế quản mãn tính buộc bà phải nhập viện điều trị mất vài ngày và tiêu tốn những khoản lớn. Đầu tháng, bà đã xin Wexler ứng trước lương để nộp học phí cho con trai. Nhưng Jeffrey luôn cứng nhắc với những nguyên tắc chặt chẽ của mình, đã dứt khoát từ chối. “Đó chính là tâm địa bẩn thỉu của họ, mẹ anh đã nói với anh như vậy, con đã cứu mạng con gái họ và họ từ chối giúp con những chuyện đơn giản nhất.” Bà đã không lầm, dù Nathan không muốn bà nhắc lại chuyện ấy - chuyện xảy ra cách đó đã nhiều năm - để cố gắng cầu xin ông chủ điều gì đó.

Chính trong hoàn cảnh này, chiếc lắc tay nạm ngọc trai nằm trong tráp đựng đồ trang sức của Lisa Wexler đã không cánh mà bay. Nathan không hiểu tại sao nhưng mọi nghi ngờ chẳng mấy chốc đều chĩa về phía mẹ cậu và… chính bản thân cậu. Jeffrey Wexler đã tra hỏi cả hai mẹ con như thể đã chắc chắn về tội lỗi của họ. Ông ta thậm chí đã lục soát cả hai mẹ con, bắt họ đứng úp mặt vào tường, hai tay giơ cao. Vào thời đó, Nathan còn chưa học luật và chưa hề biết rằng những hành động tương tự là phạm pháp. Vì người phụ nữ giúp việc nhất quyết không nhận đã lấy chiếc vòng, Jeffrey đã lục lọi trong phòng bà, mở tung từng ngăn kéo, dốc ngược từng vali, hệt như một cuộc khám xét. Vì vẫn chẳng tìm thấy gì, ông đã dọa báo cảnh sát, tưởng rằng điều đó sẽ khiến Eleanor khiếp sợ. Nhưng bà vẫn một mực cự tuyệt, gần như quỳ gối trước ông chủ: “Không phải tôi, thưa ông Wexler, xin thề là tôi không ăn cắp vật gì cả.” Cuối cùng cậu chuyện khép lại bằng một sự thải hồi. Trái với ý của vợ, Jeffrey đã không nhờ cảnh sát can thiệp mà chọn giải pháp cho Eleanor thôi việc không kèm theo một khoản phụ cấp nào. Ngay giữa mùa hè, mất hết danh dự và hầu như không còn một xu dính túi, Nathan cùng mẹ đã lại đi về phía cái nóng của New York.

Đó là nỗi nhục nhã tệ nhất trong đời anh: đã bắt gặp ánh mắt của Mallory, giữa lúc bị ép sát vào tường để khám người như một tên trộm. Anh cảm thấy bị hạ nhục và khinh rẻ đến tột độ. Nỗi hổ thẹn ấy vẫn theo anh đến tận ngày hôm nay, khắc sâu vào một góc tâm trí, nhưng nó cũng trở thành một động lực mạnh mẽ, như thể từ ngày hôm đó anh đã biết, rằng anh không bao giờ đủ cao thượng để quên đi mối nhục này. Chiếm được thế thượng phong là chưa đủ đối với anh. Anh muốn nhiều hơn thế nữa: đánh bại Jeffrey với vụ kiện tệ hại này, buộc ông ta phải trả giá cho nỗi nhục ngày nào của anh và chấp nhận nhượng lại cho anh căn hộ trong tòa nhà San Remo, món bất động sản trị giá nhiều triệu đô la. Anh biết rõ sự đối đầu này khiến cho Mallory buồn lòng. Nhưng ngay cả viễn cảnh giết chết người mình yêu cũng không ngăn cản được anh. Đôi khi người ta sẵn sàng đánh đổi tất cả với mong muốn đạt được điều gì đó. Tuy nhiên, điều nhức nhối nhất, đó là rốt cuộc anh đã tin Wexler hơn là tin mẹ mình. Anh chưa bao giờ nhắc lại chuyện lắc tay với bà, nhưng sau khi suy xét vấn đề theo mọi hướng, anh đã đi tới chỗ tin rằng mẹ mình đã ăn cắp món trang sức đó thật. Và bà làm như vậy là vì anh. Tháng mười năm 1977, tiền học phí của đã may mắn được thanh toán và phút cuối, điều này đã cho phép anh tiếp tục theo học trong trường. Lúc bấy giờ, anh đã không tìm hiểu tại sao một phép lạ như thế lại có thể xảy ra. Nhưng vào những ngày sầu muộn, sự thật khủng khiếp này lại vang lên: mẹ anh đã trở thành một kẻ bất lương, đó là vì anh. Bonnie vừa mở hé một bên mắt. Hai bố con chỉ còn cách đích vài trăm mét.

Nằm ở vị trí trung tâm của vùng núi Berkshires, Stockbridge là một thành phố nhỏ xinh đẹp được những người thổ dân Mohican tạo nên trước khi những nhà truyền giáo xuất hiện, quấy phá cuộc sống bình yên của họ và khăng khăng biến họ thành tín đồ Cơ Đốc giáo. Gia đình Wexler sở hữu một dạng khu trại chăn nuôi ngay tại cửa ngõ thành phố. Thực ra đó là một ngôi nhà nghỉ nơi thôn dã rất duyên dáng với một đàn ngựa, trong đó có một con thuộc giống ngựa lùn được Bonnie rất mực cưng chiều. Nathan nhấn còi ôtô trước cánh cổng có lắp đặt camera giám sát. Vài giây sau, hai cánh cổng mở toang, nhường lối cho chiếc xe địa hình tiến vào trên một lối đi rải sỏi. Anh đỗ xe gần ngôi nhà gỗ xinh xắn, nơi ở của vợ chồng người gác cổng. Lần cuối cùng tới đây, anh thậm chí đã không bước xuống xe. Lần này thì khác.

Goodrich đã khuyên anh hòa giải mọi việc để tìm đến sự thanh thản trước khi chết. Vậy thì anh sẽ nghe theo lời khuyên của lão chứ sao! Jeffrey sẽ chỉ có được lời khuyên đó sau khi đã xì tiền ra. Nathan đã quyết định sẽ tiết lộ cho ông ta biết điều mà anh chưa từng nói cho ai biết. Một điều gì đó có khả năng tàn phá danh tiếng anh và vĩnh viễn gạch tên anh khỏi danh sách luật sư đoàn. Khi anh còn là sinh viên, nghề luật sư đã tạo ra sức lôi cuốn lạ thường với anh. Anh đã nhắm tới nó như một mục đích, một phương tiện để bảo vệ những kẻ yếu nhất, những người cũng giống như anh, xuất thân từ tầng lớp nghèo khó. Nhưng nghề luật sư chỉ còn ý nghĩa chừng nào người ta tuân thủ nghiêm ngặt các quy tắc đạo đức nhất định. Và Nathan đã luôn làm đúng như vậy….. trừ một lần duy nhất. Anh sập cửa xe. Mặt trời đã lên cao và gió cuốn theo vài đám mây nhỏ màu vàng nâu.

Anh nhìn thấy Jeffrey đang từ xa thong thả tiến về phía Bonnie, người luôn biến những chuyện nhỏ nhặt nhất thành một ngày hội, bắt đầu chạy tới chỗ ông ngoại, miệng thốt lên những tiếng mừng rỡ. Chẳng mấy chốc, Nathan chỉ còn cách Wexler vài mét.

Đứng nhìn chòng chọc vào mắt bố vợ, anh lại có cảm giác như mọi lần khác: Mallory rất giống bố. Cũng đôi mắt màu xanh nhạt và sáng, cũng khuôn mặt thanh nhã và duyên dáng. Đúng vậy, Mallory giống bố như đúc. Điều này giải thích cho việc, mặc dù trong lòng chất chứa oán hận như thế, Nathan vẫn không thể hoàn toàn ghét bỏ ông ta được. Vừa gặp mặt, Nathan đã yêu cầu được nói chuyện riêng và lúc này, họ chỉ có hai người với nhau trong phòng làm việc. Không ai khác ngoài hai người với nhau.

Ông ta và anh. Wexler dùng bật lửa có gắn đèn pin châm một điếu xì gà ngắn và dày, loại ông ta vẫn giữ thói quen hút vào bất cứ giờ nào trong ngày. Ông ta bắt đầu rít từng hơi ngắn, trong khi đó Nathan đang ngắm các giá chật ních những gáy sách bằng da với vẻ sành sỏi, những tác phẩm pháp lý nổi tiếng. Jeffrey đã bài trí phòng làm việc của mình như một thư viện thu nhỏ thực thụ. Những bóng đèn xanh lam và vàng rực chiếu sáng những món đồ gỗ quý được phủ bên ngoài một lớp gỉ đồng và cái bàn làm việc rộng mênh mông la liệt những chồng hồ sơ, những hộp đĩa hát và hai chiếc máy tính xách tay kết nối hệ thống cơ sở dữ liệu. Chỉ còn vài tháng nữa là chính thức nhận quyết định nghỉ hưu nhưng rõ ràng Jeffrey vẫn luôn là người xông xáo trong công việc.

Ông đã có một bước khởi đầu khá khôi hài. Ngay từ hồi thiếu niên đã tỏ ra xuất sắc trong môn bóng chày, ông buộc phải từ bỏ môn thể thao ưa thích sau một cú ngã trong chuyến dã ngoại trên núi. Vụ tai nạn để lại hậu quả khá nghiêm trọng - một vết nứt dài trên hộp sọ - buộc ông phải dồn hết năng lượng vào việc học. Là sinh viên đứng đầu khóa của mình ở Havard, sau khi ra trường, công việc đầu tiên của ông là làm phụ tá cho một thẩm phán, trước khi gia nhập một trong những văn phòng luật danh giá nhất Boston. Những năm gần đây, nhìn ra x hướng tương lai, ông đã lo liệu để tạo dựng cơ nghiệp của riêng mình, chuyên phụ trách những vụ kiện mang tính đoàn thể. Ông đã bảo vệ thành công quyền lợi của những công nhân làm việc trong xưởng đóng tàu hải quân được đặt trong vùng mỏ amiăng. Về sau, ông đã tích cóp được cả một gia tài sau khi nhân danh những nạn nhân của thuốc lá và nhận được những khoản bồi thường béo bở từ các nhà khai thác dịch vụ điện thoại di động, nguyên đơn là các nạn nhân mắc bệnh u não, họ tố cáo các nhà khai thác đã che giấu khách hàng nguy cơ nhiễm xạ điện từ. Nathan buộc phải thừa nhận điều này: Wexler đã làm rất tốt công việc của mình. Đó là một trong những luật sư cuối cùng thuộc thế hệ cũ, một trong những người nuối tiếc một thời đã xa, thời những người làm luật hành động vì niềm tin vào công lý hơn là mục đích thương mại. Kể ra cũng từng có thời, họ đã cùng nhau nuôi dưỡng một mối đồng cảm, trước khi câu chuyện về chiếc lắc tay không cánh mà bay làm hỏng mọi chuyện. Và ngay cả hôm nay, Nathan vẫn không khỏi thầm ngưỡng mộ sự nghiệp của bố vợ. Jeffrey luồn tay tới dây đai.

- Thế nào, cậu có chuyện gì hệ trọng muốn nói với tôi? Ông ta cất giọng hỏi trước khi nhả một cum khói nữa. - Ông còn nhớ vụ kiện giữa hai chúng ta chứ… Nathan mở lời. Jeffrey liền lộ vẻ tức tối.

- Nếu cậu đến đây để khơi lại những bất đồng cũ này thì…. Nathan không để cho ông ta nói thêm. Anh đã dốc hết bầu tâm sự đang chất chứa. - Tôi đã mua vị thẩm phán đó, anh ngắt lời ông ta, tôi đã mua được thẩm phán Livingstone. Tôi đã chuyển tới thẩm phán một khoản tiền lót tay thông qua một trong những phụ tá của ông ta để ông ta đưa ra phán quyết có lợi cho tôi.

Jeffrey không có phản ứng gì khác thườn. Đó là một người đàn ông cứng rắn, đằng sau vẻ tử tế nhã nhặn bề ngoài, ông ta có thói quen không bao giờ để lộ cảm xúc của mình. Nhưng hôm nay, Nathan không có mấy ấn tượng về điều đó: ông ta có vẻ mệt mỏi, đôi mắt thâm quầng, những nếp nhăn, bộ râu không buồn cạo - Tôi muốn trả thù, Jeffrey ạ, muốn giành lấy từ tay ông căn hộ ở San Remo để bù lại những gì ông đã gây ra cho mẹ tôi. Nhưng tôi chỉ tìm ra cách này và tôi đã vi phạm lời tuyên thệ.

Wexler gật đầu, có vẻ như đang suy nghĩ rất lung, rồi ông ta hơi há miệng nhưng không nói nên lời. Thay vào đó, ông ta lại gần cửa sổ, đôi mắt nhìn chăm chú vào những ngọn đồi phủ tuyết trắng. Quay lại nhìn tôi đây này, Jeffrey. Nghe tôi nói đây.

Đứng đằng sau lưng ông, Nathan tiếp tục với những lời lẽ trách móc. Đã bị chôn vùi quá lâu, giờ đây từ ngữ tự chúng tuôn ra không cần anh phải gắng sức. - Hãy nhớ lại đi, Jeffrey, khi tôi lên tám và ông dẫn tôi đi câu, vừa câu cá vừa kể cho tôi nghe về những vụ kiện ông đã thắng. Tôi tin rằng chính từ giờ phút đó, tôi đã quyết định lớn lên cũng sẽ trở thành một luật sư giống như ông. Tôi đã học vì bản thân mình, tất nhiên, nhưng ngay từ đầu, chuyện đó phần nhiều cũng là để giành được sự công nhận từ phía ông. Tôi đã ngây thơ khi tưởng rằng ông sẽ chấp nhận tôi, rằng ông sẽ hãnh diện về tôi. Ông không thể hình dung tôi đã mong được ông chấp nhận đến thế nào đâu. Tôi đã mong có một người cha như ông biết chừng nào….

Bầu không khí yên lặng bao trùm. Jeffrey quay người lại để đương đầu với cơn giận của người trước đây đã từng là con rể mình. - Ông đã có thể chấp nhận tôi kia mà! Nathan dằn từng tiếng. Tôi đã chứng tỏ được năng lực của mình. Tôi đã phải vất vả khó nhọc lắm mới làm được điều đó. Tôi cứ nghĩ năng lực và tài cán là những giá trị được ông coi trọng. Vậy mà, ông đã đẩy tôi tới chỗ làm ô uế nghề nghiệp của mình, đến chỗ dùng tiền mua chuộc một thẩm phán không khác nào một tên lưu manh hèn hạ…. - Tôi đã cứu cậu, cuối cùng Jeffrey cũng cắt ngang lời anh.

- Ông đang nói gì vậy - Thẩm phán Livingstone vốn là bạn học của tôi. Lúc diễn ra vụ kiện, lão ta có đến tìm tôi để báo tôi biết mưu toan hối lộ của cậu. Nathan bàng hoàng.

- Gì kia? Vị luật sư già buông một tiếng thở dài và dường như đang lục tìm trong trí nhớ. - Livingstone đích thị là một tên vô lại nhưng lão ta đủ thận trọng để không bao giờ bị mua chuộc. Tôi đã quyết định đưa lão gấp đôi số tiền của cậu để lão không tố cáo cậu với nhà chức trách và để lão đưa ra một lời phán quyết có lợi cho cậu.

- Nhưng tại sao thế, Jeffrey, tại sao kia chứ? Jeffrey im lặng một lát mới thú nhận bằng giọng pha chút ngập ngừng: - Vì Mallory, tất nhiên rồi, tôi không muốn con bé bị kéo vào vụ tai tiếng này cùng cậu. Và còn vì…. cậu nữa. Đó là chuyện tôi mắc nợ cậu.

Nathan nhíu mày. Bố vợ anh đã đoán ra được điều anh đang băn khoăn. Mắt nhìn vào khoảng không vô định, ông làm quá khứ sống dậy. - Tối hôm đó, buổi tối mùa hè năm 1977, tôi đã uống quá chén. Lúc đó tôi đang trải qua một thời kì khó khăn, cả trong công việc lẫn trong cuộc sống gia đình. Tôi đang trên đường trở về từ Boston, Lisa đã nhờ tôi ghé qua tiệm kim hoàn để lấy chiếc lắc tay bà ấy gửi lại đó để sửa cái móc cài. Trước khi về nhà, tôi đã ghé qua nhà một nữ phụ tá, đồng thời là người tình của tôi và ở lại đó đến cuối giờ chiều. Dĩ nhiên, tôi chưa bao giờ hứa hẹn gì với cô ta cả, vào thời đó và trong giới luật sư chúng ta, không ai ly dị vợ để kết hôn với một nữ thư ký cả, nhưng cô ta đã gần như tống tình tôi với hy vọng tôi sẽ bỏ vợ. Rời khỏi nhà cô ta, tôi nhớ là mình đã dừng chân trong quán bar khách sạn để uống một ly whisky. Tuy nhiên, tôi không chỉ dừng lại ở một ly mà đã nốc liên tiếp bốn hay năm ly gì đó. Tôi đoán là cậu cũng biết qua về vấn đề của tôi với rượu….. Nathan vẫn còn chưa hiểu sự thể ra sao.

- Thế là thế nào? - Thời gian đó, tôi nốc rượu vô tội vạ, Jeffrey giải thích. Tôi đang mắc chúng nghiện rượu kinh niên. Nathan đã tính đến mọi chuyện, chỉ trừ sự tiết lộ kiểu này.

- Nhưng từ khi nào vậy? - Vào đầu những năm 80, tôi đã cai thành công nhưng rồi lại tái nghiện lần nữa. Tôi đã thử mọi cách: chấp nhận những đợt trị liệu dài ngày, tham gia hiệp hội phòng chống nghiện rượu….. nhưng quả không dễ dàng gì để đến tham dự những buổi nói chuyện đó, để thừa nhận rằng cậu là một người mắc nghiện và thảo luận những vấn đề tuyệt đối riêng tư trước những kẻ hoàn toàn xa lạ. - Tôi… tôi không rõ, Nathan ấp úng.

Lần này thì đến lượt Jeffrey kinh ngạc. - Tôi cứ nghĩ Mallory phải kể chuyện này với cậu rồi chứ. Lần đầu tiên trong đời, Nathan nhìn thấy nỗi xúc động long lanh trong mắt bố vợ. Bất chấp nỗi hổ thẹn của mình, Jeffrey vẫn rất tự hào rằng cô con gái đã giữ điều bí mật này lâu đến thế, ngay cả với người đàn ông mà con bé yêu.

Nghe lời xung tội của ưl, Nathan tin mình đã có lời giải đáp cho rất nhiều câu hỏi mà anh đã nhiều lần tự đặt ra về nỗi dằn vặt luôn ám ảnh cuộc sống của Mallory. Jeffrey tiếp tục câu chuyện còn đang dang dở. - Khi về đến Nantucket, tôi đã không tìm thấy món đồ trang sức kia đâu. Rất lâu sau đó, cô thư ký mới thú nhận chính cô ta đã đánh cắp để gây bất hòa giữa hai vợ chồng tôi. Nhưng lúc đó thì tôi chưa hề biết chiếc lắc tay lạc đi đâu. Tôi rất hoảng và sáng hôm sau, khi vợ hỏi đến nó, tôi không nghĩ ra cách nào hay hơn là nói dối rằng đã cất lại vào hộp nữ trang của bà ấy. Đó là lý do đẩy chúng tôi đến chỗ buộc mẹ cậu tội ăn cắp. Tôi nghĩ Lisa cũng chỉ làm ra vẻ tin vào câu chuyện này, nhưng điều đó cho phép chúng tôi giữ được thể diện với người ngoà

Ông dừng lại hồi lâu trước khi nói thêm bằng giọng đều đều không âm sắc: - Tôi rất lấy làm tiếc, Nathan, tôi đã quá hèn nhát. Rốt cuộc ông cũng đã nói ra được câu đó.

Mất một hồi lâu, Nathan không thể thốt nên lời. Lời thú tội này khiến anh cùng lúc thấy nhẹ nhõm và kinh sợ. Không, mẹ anh không phải là kẻ ăn cắp nhưng bà lại là nạn nhân của một nỗi bất công quá lớn. Còn Jeffrey, người mà anh vẫn tưởng là tư cách đầy mình và không thể phạm sai lầm hóa ra lại là một kẻ dối trá, nghiện rượu và có nhân tình. Ông chỉ là một con người như bao kẻ khác. Như anh. Anh ngẩng đầu nhìn bố vợ và nhận ra rằng, thật kỳ lạ, mối oán hận đối với ông đã hoàn toàn tan biến. Anh thậm chí không muốn phán xét ông. Giờ không phải là lúc để làm chuyện đó nữa rồi. Anh nhận thấy nét mặt của ông dãn ra như thể chính ông cũng chờ đợi bấy lâu nay để có thể trao gửi những tâm sự này. Thực ra, cả hai người họ đều đã sống với một điều bí mật luôn đè nặng trong lòng và phá hỏng những giây phút sống của họ. Jeffrey là người đầu tiên lên tiếng phá tan sự im lặng:

- Tôi biết nói chuyện này ra không thể xóa sạch tội lỗi của mình, ông bắt đầu, nhưng tôi vẫn kín đáo thu xếp để mẹ cậu tìm được chỗ làm mới và năm đó, chính tôi đã trả phần tiền học phí còn lại cho cậu. - Ông nói đúng, Nathan đáp, mắt đỏ hoe, giờ có thú thật cũng không thể xóa sạch được tội lỗi của ông. Jeffrey tiến về phía két sắt đặt trong phòng làm việc, mở khóa và lấy ra một vật gì đó, rồi run rẩy trao nó cho Nathan.

Đó là chiếc lắc tay có bốn hàng ngọc trai với móc khóa bằng bạc, có nạm những viên kim cương nhỏ xíu..