Hôm nay bạn muốn đọc gì?

Thành Phố Hồn Rỗng (TẬP 2) - Chương 5

Chương 5

Chúng tôi bám vào tấm lưới đu đưa xoay qua xoay lại như một bầy khỉ, lóng ngóng va vào bề mặt vách đá trong khi ròng rọc kêu rít lên và sợi thừng nghiến cót két. Chạm đất thành một đống bó cứng lấy nhau, chúng tôi gỡ mình ra khỏi mớ bòng bong và tạo thành cảnh tượng trông như một bộ phim đã thất lạc của Three Stooges(*); vài lần tôi nghĩ mình đã thoát ra, rồi cố đứng lên chỉ để ngã dập mặt xuống lần nữa bịch một cái rõ nực cười! Con hồn rỗng đã chết nằm cách đó chỉ chừng mấy chục phân, những cái xúc tu của nó duỗi xòe ra như những cánh tay của một con sao biển bị đè bẹp dưới tảng đá. Tôi gần như cảm thấy bối rối vì chuyện đó: một con quái vật đáng sợ như thế lại bị những đứa trẻ như chúng tôi tiêu diệt. Lần tới – nếu còn có lần tới – tôi không nghĩ chúng tôi sẽ may mắn được như thế. (*) Một nhóm phim hài Mỹ chuyên sản xuất các bộ phim ngắn trong giai đoạn 1925 – 1970. Chúng tôi rón rén đi vòng qua cái xác hôi thối của con hồn rỗng. Chúng tôi lao xuống núi nhanh hết mức có thể với mức độ hiểm trở của con đường mòn và món hành lý dễ phát nổ của Bronwyn. Xuống tới đất bằng, chúng tôi có thể lần theo đúng dấu chân của mình để quay trở lại qua thảm rêu mềm ướt át của khu rừng. Chúng tôi lại tìm thấy cái hồ đúng lúc mặt trời lặn và lũ dơi đang kêu rít bay ra khỏi nơi ẩn náu của chúng. Những con vật này dường như mang theo một lời đe dọa khó hiểu từ thế giới của ban đêm, gào thét và bay lượn trên đầu trong khi chúng tôi bì bõm lội qua làn nước nông về phía người khổng lồ đá. Chúng tôi leo lên miệng người khổng lồ rồi trượt xuống cổ họng ông ta, sau đó bơi ra ngoài ở phía sau tảng đá và lập tức lao vào tàn nước lạnh hơn, ánh sáng rực rỡ hơn của buổi trưa, tháng Chín năm 1940.

Những người khác trồi lên quanh tôi, kêu thét lên và khum lấy tai, ai cũng cảm thấy áp lực đi kèm theo sự chuyển dịch quá nhanh. “Cứ như một chiếc máy bay cất cánh vậy,” tôi nói, cử động hàm để nhả không khí ra. “Tớ chưa bao giờ bay trên máy bay,” Horace nói, giũ nước khỏi vành mũ của cậu ta.

“Cũng như khi cậu đang đi trên xa lộ và ai đó hạ kính cửa xe xuống ấy,” tôi nói. “Xa lộ là gì vậy?” Olive hỏi. “Thôi quên đi.”

Emma suỵt bảo chúng tôi im lặng. “Nghe xem!” Tôi có thể nghe thấy tiếng chó sủa từ đằng xa. Tiếng sủa có vẻ cách rất xa, nhưng âm thanh trong rừng sâu truyền đi rất lạ, và khoảng cách có thể rất sai lệch. “Chúng ta cần phải đi thật nhanh,” Emma nói. “Trừ phi tớ bảo gì khác, từ giờ đừng ai phát ra âm thanh nào nữa – bao gồm cả cô, thưa cô phụ trách!” “Tớ sẽ ném một quả trứng nổ vào con chó đầu tiên lại gần chúng ta,” Hugh nói. “Điều đó sẽ dạy cho chúng biết thế nào là săn đuổi những người đặc biệt.”

“Đừng có làm liều,” Bronwyn nói. “Cầm một quả trứng mà không đúng cách thì có khả năng cậu sẽ làm tất cả chúng nổ tung đấy.” Chúng tôi lên khỏi hồ và bắt đầu quay lại qua khu rừng, Millard dò đường bằng tấm bản đồ nhàu nát của cô Wren. Sau nửa giờ, chúng tôi tới chỗ con đường đất Addison đã chỉ ra từ trên đỉnh tháp. Chúng tôi đứng trên chỗ vết lún của một chiếc xe goòng cũ trong khi Millard nghiên cứu bản đồ, xoay ngang xoay dọc nó, nheo mắt nhìn những chỗ đánh dấu nhỏ xíu trên đó. Tôi thò tay vào trong túi quần jean của mình tìm điện thoại, cứ đinh ninh có thể mở ra một tấm bản đồ riêng – thói quen cũ – để rồi nhận ra mình đang bấm lên một tấm kính hình chữ nhật tắt ngấm nhất quyết không chịu sáng lên. Tất nhiên, cái điện thoại đã chết: bị ngấm nước, không được sạc pin, và cách trạm phát tín hiệu di động gần nhất năm mươi năm. Cái điện thoại là vật sở hữu duy nhất của tôi còn sót lại sau tai họa trên biển của chúng tôi, nhưng ở đây nó hoàn toàn vô dụng, một vật thể xa lạ. Tôi ném nó vào rừng. Ba mươi giây sau tôi cảm thấy một cơn hối hận bùng lên và chạy đi nhặt nó về. Vì những lý do không hoàn toàn rõ ràng với mình, tôi vẫn chưa sẵn sàng vứt bỏ nó đi. Millard gấp bản đồ lại và tuyên bố thị trấn ở bên trái chúng tôi – một chuyến cuốc bộ kéo dài ít nhất năm hay sáu giờ. “Nếu chúng ta muốn tới nơi trước khi trời tối thì tốt hơn nên khẩn trương lên.”

Chúng tôi chưa đi bộ được bao lâu thì Bronwyn để ý thấy một đám bụi bốc lên trên đường đằng sau chúng tôi, cách khá xa. “Có người đang tới,” cô nói. “Chúng ta nên làm gì đây.” Millard cởi áo khoác ra ném vào bụi cỏ dại bên rìa đường, biến thành người vô hình. “Tớ khuyên các cậu nên tàng hình,” cậu ta nói, “bằng bất cứ cách thức nào trong giới hạn khả năng của các cậu.” Chúng tôi rời khỏi đường và nằm mọp xuống khuất đằng sau một rặng cây bụi. Đám bụi tỏa rộng, và cùng với nó vang lên tiếng lọc cọc của bánh xe gỗ và tiếng lóc cóc của móng ngựa. Đó là một đoàn xe ngựa. Khi đoàn xe lọc cọc và lóc cóc hiện ra từ đám bụi và bắt đầu đi ngang qua chỗ chúng tôi, tôi thấy Horace há hốc miệng kinh ngạc còn Olive nở một nụ cười. Đó không phải là những chiếc xe chở hàng xám xịt tôi thường thấy ở Cairnholm, mà là thứ xe như tới từ một gánh xiếc, được sơn sặc sỡ đủ bảy sắc cầu vồng, nóc xe và những cánh cửa được trang hoàng chạm trổ, được kéo bởi những con ngựa bờm dài, ngồi trên xe là những người đàn ông và phụ nữ đeo đầy những chuỗi hạt cườm và choàng khăn màu sắc sặc sỡ. Nhớ lại những câu chuyện Emma kể về những chuyến biểu diễn rong cùng cô Peregrine và những người khác, tôi quay sang cô và hỏi, “Họ có phải là người đặc biệt không?”

“Họ là người Digan,” cô đáp. “Đó là tin tốt hay xấu vậy?” Cô nheo mắt lại. “Chưa biết được.”

Tôi có thể thấy Emma đang cân nhắc một quyết định, và tôi tin chắc mình biết nó là gì. Thị trấn chúng tôi đang hướng tới cách đây rất xa, mà những chiếc xe ngựa này đi nhanh hơn nhiều so với chúng tôi đi bộ. Với đám xác sống và chó đang săn lùng chúng tôi, gia tăng tốc độ có nghĩa là sự khác biệt giữa bị bắt và thoát được. Nhưng chúng tôi không biết những người Digan này là ai, hay liệu chúng tôi có thể tin tưởng họ hay không. Emma nhìn tôi. “Cậu nghĩ thế nào, bọn mình có nên đi nhờ không?” Tôi nhìn những chiếc xe. Nhìn trở lại Emma. Nghĩ xem đôi chân tôi sẽ cảm thấy thế nào sau sáu giờ đi bộ với đôi giày vẫn còn ướt. “Chắc chắn là nên rồi,” tôi nói.

Ra hiệu cho những người khác, Emma chỉ vào chiếc xe sau cùng và ra hiệu chạy theo nó. Chiếc xe được tạo hình như một ngôi nhà thu nhỏ, mỗi bên có một ô cửa sổ nhỏ và một cái bệ nhô ra đằng sau như một bậc cửa, có lẽ vừa đủ rộng và sâu để chứa tất cả chúng tôi nếu chúng tôi chen chúc sát vào nhau. Chiếc xe đang di chuyển nhanh, nhưng chúng tôi vắt chân lên cổ chạy đuổi theo thì vẫn kịp, vì thế khi nó chạy qua và chúng tôi đã nằm ngoài tầm mắt người đánh xe cuối cùng, chúng tôi lao ra khỏi bụi cây và gấp gáp chạy theo sau nó. Emma leo lên đầu tiên, rồi chìa một bàn tay ra đỡ người tiếp theo. Từng người một, chúng tôi kéo nhau lên và đứng yên vị vào những chỗ gò bó ở dọc theo bậc cửa sau của chiếc xe ngựa, thận trọng làm việc đó thật lặng lẽ để người đánh xe khỏi nghe thấy. Chúng tôi đi như thế một lúc lâu, cho tới khi tai chúng tôi ong ong vì tiếng bánh xe lọc cọc, quần áo bám đầy bụi, đến khi mặt trời ban trưa đã chạy ngang qua bầu trời và sà xuống đằng sau những ngọn cây chĩa lên như những bức vách của một hẻm núi xanh lục khổng lồ ở hai bên chúng tôi. Tôi liên tục liếc nhìn khu rừng, sợ rằng vào bất cứ lúc nào bọn xác sống cùng lũ chó của chúng cũng có thể ập tới tấn công chúng tôi. Nhưng suốt nhiều giờ chúng tôi đã không thấy bất cứ ai – không xác sống, thậm chí không khách lữ hành nào khác. Như thể chúng tôi đã tới một vùng đất bị bỏ hoang. Thỉnh thoảng, đoàn xe dừng lại và tất cả chúng tôi cùng nín thở, sẵn sàng bỏ chạy hay chiến đấu, tin chắc chúng tôi sắp bị phát hiện ra. Chúng tôi cử Millard đi thám thính, cậu ta rón rén xuống xe thì phát hiện thấy đám người Digan chỉ đang duỗi chân duỗi tay hay đóng lại một cái móng ngựa, và sau đó chúng tôi lại di chuyển. Cuối cùng, tôi không còn lo lắng xem chuyện gì sẽ xảy ra nếu chúng tôi bị phát giác nữa. Những người Digan có vẻ vô hại và cũng đã mệt nhoài vì đi đường. Các ông các bà làm ơn chia sẻ một mẩu bánh mì được không? May ra biết đâu họ lại cho chúng tôi ăn tối và đưa chúng tôi đến tận ga tàu hỏa.

Không lâu sau đó, giả thiết của tôi được mang ra thử thách. Những chiếc xe đột ngột rẽ ra khỏi đường và dừng lại ở một trảng trống nhỏ. Bụi chưa kịp lắng xuống thì một người đàn ông to con bước tới đi vòng ra phía sau chiếc xe chúng tôi đang trốn. Ông ta đội trên đầu một cái mũ lưỡi trai mềm, hàng ria rậm, hai khóe miệng bị kéo xệch xuống tạo thành vẻ mặt dữ tợn. Bronwyn giấu cô Peregrine vào trong áo khoác của mình, trong khi Emma trèo xuống xe và thể hiện tốt nhất bộ dạng của một đứa trẻ mồ côi khốn khổ, “Thưa ông, chúng cháu cầu xin ông rủ lòng thương! Nhà chúng cháu bị trúng bom, ông thấy đấy, bố mẹ chúng cháu mất cả rồi, và chúng cháu đang khổ sở vì lạc đường…” “Câm mõm lại!” người đàn ông gầm lên. “Xuống khỏi đó, tất cả chúng mày!” Đó là một mệnh lệnh, không phải lời đề nghị, được nhấn mạnh thêm bởi con dao được trang trí nhưng trông đầy đe dọa ông ta múa trên tay.

Chúng tôi nhìn nhau, không chắc phải làm gì. Liệu chúng tôi có nên tấn công ông ta rồi bỏ chạy, và nhiều khả năng để lộ bí mật của mình trong khi làm thế - hay tiếp tục ra vẻ bình thường lâu hơn chút nữa và đợi xem ông ta làm gì? Rồi có thêm hàng chục người nữa xuất hiện, đổ ra từ những chiếc xe của họ để đứng dàn hàng quanh chúng tôi thành một vòng rộng, nhiều người trong số họ cũng cầm dao. Chúng tôi đã bị bao vây, lựa chọn dành cho chúng tôi vụt giảm hẳn. Những người đàn ông đều đầu tóc bù xù xám xịt với đôi mắt sắc sảo, mặc đồ sẫm màu dày nặng được may để giấu đi hàng lớp bụi đường. Những người phụ nữ mặc váy rộng sáng màu, mái tóc dài của họ được giữ lại trong khăn trùm đầu. Những đứa trẻ tụ tập lại đằng sau và chen vào giữa họ. Tôi cố so sánh những điều ít ỏi tôi biết về người Digan với những khuôn mặt trước mắt mình. Liệu có phải họ sắp tàn sát chúng tôi – hay chỉ là bản chất họ vốn cục cằn? Tôi nhìn Emma tìm manh mối. Cô đứng áp hai bàn tay vào ngực, không giơ ra như lúc định tạo lửa. Nếu cô không định tấn công họ, tôi quyết định cũng sẽ không làm thế.

Tôi xuống khỏi xe như người đàn ông đã yêu cầu, hai tay giơ cao lên đầu. Horace và Hugh làm theo, rồi đến những người khác – tất cả trừ Millard, cậu ta đã lỉnh đi mà không ai nhìn thấy, và chắc đang núp gần đó, chờ đợi và quan sát. Người đàn ông đội mũ mềm, người tôi đoán là thủ lĩnh của đoàn người Digan, bắt đầu ào ào trút câu hỏi về phía chúng tôi. “Chúng mày là ai? Chúng mày từ đâu tới? Bố mẹ chúng mày đâu?” “Chúng cháu từ phía Tây tới,” Emma bình tĩnh đáp. “Từ một hòn đảo ngoài khơi. Chúng cháu là trẻ mồ côi, như cháu đã giải thích rồi. Nhà của chúng cháu đã bị bom phá trụi trong một cuộc không kích, và chúng cháu buộc phải chạy trốn. Chúng cháu đã phải chèo thuyền vào tận đất liền và suýt chết đuối.” Cô cố gắng nặn ra vài giọt nước mắt. “Chúng cháu chẳng còn gì cả,” Emma thút thít. “Chúng cháu đã bị lạc trong rừng nhiều ngày không có gì ăn, không còn quần áo nào khác ngoài những gì mặc trên người. Chúng cháu thấy đoàn xe của ông đi ngang qua nhưng sợ quá nên không dám lộ diện. Chúng cháu chỉ muốn đi nhờ tới thị trấn…”

Người đàn ông quan sát cô, những nếp nhăn cau có trên mặt ông ta càng hằn sâu thêm. “Tại sao chúng mày lại buộc phải chạy khỏi hòn đảo sau khi nhà chúng mày bị bom tạc? Và tại sao chúng mày lại chạy vào rừng thay vì đi theo bờ biển?” Enoch lên tiếng, “Không có lựa chọn nào khác. Chúng cháu bị săn đuổi.” Emma lừ mắt nhìn cậu ta nghiêm khắc như muốn nói: Để tớ lo chuyện này.

“Bị ai săn đuổi?” người thủ lĩnh Digan hỏi. “Những người xấu,” Emma đáp. “Những người mang súng,” Horace nói. “Mặc như binh lính, dù chúng thực sự không phải là lính.”

Một người phụ nữ choàng khăn màu vàng sáng bước tới trước. “Nếu quân lính truy lùng chúng, thì có nghĩa chúng là rắc rối chúng ta không cần đến. Tống khứ chúng đi, Bekhir.” “Hay trói chúng vào thân cây và bỏ chúng lại!” một người đàn ông bộ dạng lòng khòng nói. “Không!” Olive hét lên. “Chúng cháu cần tới London trước khi quá trễ!”

Người thủ lĩnh nhướng một bên mày. “Quá trễ để làm gì?” Chúng tôi không hề khiến ông ta động lòng trắc ẩn mà chỉ khiến ông ta tò mò. “Chúng tao sẽ không làm gì cho tới khi biết được chúng mày là ai,” ông ta nói, “và chúng mày đáng giá thế nào.” *** Mười người đàn ông cầm dao lưỡi dài giải chúng tôi về phía một chiếc xe sàn phẳng không thành chở phía trên một chiếc chuồng to. Thậm chí từ xa tôi đã có thể thấy đó là một cái chuồng để dành nhốt động vật, dài sáu mét, rộng ba mét, được làm từ những song sắt dày.

“Các ông không định nhốt chúng cháu vào trong đó chứ ạ?” Olive hỏi. “Chỉ nhốt tới khi chúng tao quyết định được xem sẽ làm gì chúng mày thôi,” người thủ lĩnh nói. “Không, các ông không được làm thế,” Olive hét lên. “Chúng cháu phải tới London, và thật nhanh!”

“Và vì sao phải thế?” “Một trong chúng cháu bị ốm,” Emma nói, ném về phía Hugh một ánh mắt đầy ngụ ý. “Chúng cháu cần tìm bác sĩ cho cậu ấy!” “Chúng mày chẳng cần phải tới tận London vì một ông bác sĩ,” một người đàn ông Digan nói. “Jebbiah là một bác sĩ. Phải không nào, Jebbiah?”

Một người đàn ông với những vết thương đóng sẹo xù xì chạy dài trên hai má bước tới trước. “Đứa nào trong chúng mày bị ốm?” “Hugh cần một bác sĩ chuyên khoa,” Emma nói. “Cậu ấy bị một bệnh trạng hiếm gặp. Ho do bị ong đốt.” Hugh đưa một bàn tay áp lên cổ như thể bị đau rồi ho, và một con ong bắn vọt ra khỏi miệng cậu ta. Một vài người Digan há hốc miệng, và một cô bé giấu mặt vào váy mẹ mình.

“Đó là một trò lừa đảo!” người đàn ông được gọi là bác sĩ nói. “Đủ rồi,” thủ lĩnh của đoàn Digan nói. “Chui vào chuồng, tất cả chúng mày.” Bọn họ thúc chúng tôi lên một tấm ván dốc thoai thoải bắc lên cái chuồng. Chúng tôi xúm lại ở đầu dưới tấm ván. Không ai muốn đi đầu tiên.

“Chúng mình không thể để bọn họ làm việc này!” Hugh thì thào. “Cậu đang đợi gì vậy?” Enoch rít lên với Emma. “Đốt họ đi!” Emma lắc đầu và thì thầm, “Có quá nhiều người.” Cô đi đầu tiên lên tấm ván và chui vào chuồng. Phần mái lắp song sắt của cái chuồng khá thấp, sàn rải dày cỏ khô có mùi khó ngửi. Khi tất cả chúng tôi đã vào trong, người thủ lĩnh đóng sầm cửa lại, khóa trái nó sau lưng chúng tôi rồi bỏ chìa vào túi áo. “Không ai được lại gần chúng!” ông ta hét lớn với bất cứ ai trong tầm nghe. “Chúng nó có thể là phù thủy hay tệ hơn thế.”

“Phải, bọn tôi là thế đấy!” Enoch nói qua các song sắt. “Giờ hãy để chúng tôi đi, nếu không chúng tôi sẽ biến con cái các người thành lợn lòi!” Người thủ lĩnh bật cười trong lúc bước xuống tấm ván. Trong lúc đó, những người Digan khác rút lui ra khoảng cách an toàn và bắt đầu đóng trại, cắm lều và bắc bếp. Chúng tôi ngồi sụp xuống đống cỏ khổ, cảm thấy thất bại và tuyệt vọng. “Để ý nhìn cẩn thận,” Horace cảnh cáo. “Chỗ nào cũng có phân gia súc đấy!”

“Ôi dào, chuyện đó thì có gì quan trọng, Horace?” Emma nói. “Chẳng ai thèm bận tâm nếu quần áo cậu bẩn cả!” “Tớ thì có,” Horace đáp. Emma đưa hai bàn tay lên ôm mặt. Tôi ngồi xuống cạnh cô và cố nghĩ ra điều gì đó phấn chấn để nói, nhưng chẳng nghĩ ra được gì.

Bronwyn mở áo khoác ra để cô Peregrine có thêm ít không khí trong lành, còn Enoch quỳ xuống cạnh bà, ghé tai như thể lắng nghe gì đó. “Nghe thấy không?” cậu ta nói. “Cái gì?” Bronwyn hỏi lại. “Tiếng mạng sống cô Peregrine đang trôi dần đi! Emma, đáng ra cậu phải đốt cháy thui mặt đám Digan đó trong khi cậu có cơ hội!”

“Chúng ta đã bị bao vây!” Emma nói. “Sẽ có vài người trong chúng ta bị thương trong cuộc ẩu đả. Hay có thể bị giết. Tớ không thể mạo hiểm chuyện đó.” “Vậy là thay vì thế cậu mạo hiểm với tính mạng cô Peregrine!” Enoch nói. “Enoch, để cậu ấy yên,” Bronwyn nói. “Quyết định cho tất cả mọi người là chuyện chẳng dễ gì. Không phải cứ đến lúc cần lựa chọn chúng ta đều có thể biểu quyết.”

“Vậy thì có thể các cậu nên để tớ quyết định cho tất cả mọi người,” Enoch đáp. Hugh khịt mũi. “Chúng ta hẳn đã bị giết từ lâu rồi nếu cậu là người chỉ huy.” “Nghe này, bây giờ chuyện đó không quan trọng nữa,” tôi nói. “Chúng ta cần ra khỏi cái chuồng này và tới được thị trấn đó. Đáng ra giờ này chúng ta đã gần tới đích hơn rồi nếu không bám lên xe đi trộm ngay từ đầu, vì thế không cần phải than tiếc chỗ sữa còn chưa được vắt. Chúng ta chỉ cần nghĩ ra cách gì đó để tẩu thoát.”

Vậy là chúng tôi suy nghĩ, rất nhiều ý tưởng đã nảy ra, nhưng dường như chẳng có cái nào khả thi. “Biết đâu Emma có thể đốt thủng cái sàn này,” Bronwyn đề xuất. “Nó được làm bằng gỗ.” Emma dọn sạch chỗ cỏ khô khỏi một mảng sàng và gõ xuống đó.

“Dày quá,” cô khổ sở nói. “Wyn, cậu có thể bẻ cong những cái song kia ra không?” tôi hỏi. “Có thể,” cô nói, “nhưng khi đám Digan còn đang kè kè gần đây thì không được. Bọn họ sẽ thấy và lại cầm dao chạy đến.”

“Chúng ta cần kín đáo trốn đi chứ không phải phá chuồng ra,” Emma nói. Thế rồi chúng tôi nghe thấy một tiếng thì thầm từ bên ngoài song sắt. “Các cậu quên mất tớ rồi à?” “Millard!” Olive thốt lên, gần như bay vọt lên khỏi đôi giày của cô vì phấn khích. “Cậu đã ở đâu thế?”

“Tìm hiểu tình hình xung quanh. Và đợi cho mọi thứ lắng xuống.” “Cậu có thể lấy cắp chìa khóa cho bọn mình được không?” Em ma hỏi, gõ gõ lên cửa chuồng khóa trái. “Tớ thấy người thủ lĩnh bỏ nó vào túi áo.” “Rình rập và xoáy đồ là sở trường của tớ,” cậu ta cam đoan với chúng tôi, và lỉnh đi sau khi nói xong.

*** Từng phút chậm chạp trôi qua. Rồi nửa giờ. Rồi một giờ. Hugh đi đi lại lại dọc theo cái chuồng, một con ong bồn chồn lượn vòng quanh đầu cậu ta. “Sao cậu ta lâu thế?” Hugh lầm bầm.

“Nếu cậu ta không sớm trở lại, tớ sẽ lấy trứng ra ném đấy,” Enoch nói. “Làm thế đi, cậu sẽ khiến tất cả chúng ta bị giết hết,” Emma nói. “Chúng ta đang nằm trong rọ ở đây. Một khi khói tan đi, bọn họ sẽ xẻ thịt sống chúng ta.” Vậy là chúng tôi ngồi đó và đợi thêm, theo dõi đám người Digan, đám Digan cũng nhìn lại. Mỗi phút trôi qua cũng giống như thêm một cái đinh nữa đóng xuống quan tài của cô Peregrine. Tôi nhận ra mình đang nhìn bà chằm chằm, như thể bằng cách nhìn thật kỹ tôi có thể phát hiện ra những thay đổi đã xảy đến với bà – nhìn thấy những đốm lửa còn sót lại của nhãn tính bên trong bà từ từ lụi tàn. Nhưng bà trông vẫn giống hệt như trước, chỉ có điều dường như bình tĩnh hơn, ngủ thiếp đi trên lớp cỏ khô bên cạnh Bronwyn, lồng ngực nhỏ nhắn phủ đầy lông vũ của bà phập phồng nhè nhẹ. Bà dường như không ý thức được rắc rối chúng tôi đang lâm vào, hay quãng thời gian đếm lùi đang lơ lửng treo trên đầu mình. Có lẽ việc bà ngủ vào một thời điểm như lúc này cũng đủ là bằng chứng cho thấy bà đang thay đổi. Cô Peregrine ngày trước hẳn đã vô cùng lo lắng.

Sau đó, dòng suy nghĩ của tôi trôi sang bố mẹ tôi, vẫn luôn như vậy khi tôi kiểm soát được tâm trí mình. Tôi cố hình dung ra khuôn mặt họ lần cuối cùng tôi nhìn thấy. Những mảnh ghép nhỏ gắn lại với nhau trong tâm trí tôi: bộ râu ngắn lưa thưa đã mọc lên trên cằm bố tôi sau vài ngày trên đảo; hình ảnh mẹ tôi mân mê nhẫn cưới một cách vô thức khi bố tôi nói quá lâu về thứ gì đó bà không quan tâm; đôi mắt nhanh nhẹn của bố tôi, luôn dõi theo đường chân trời trong cuộc tìm kiếm bất tận những con chim của ông. Giờ đây đôi mắt đó đang dõi tìm tôi. Khi màn đêm buông xuống, khu trại bừng lên nhộn nhịp quanh chúng tôi. Đám người Digan trò chuyện, cười đùa, và khi một đám trẻ con chơi một bài hát bằng những chiếc kèn co và đàn violon méo mó mòn vẹt, bọn họ nhảy. Giữa các bài hát, một cậu con trai từ đám thiếu niên lén đi vòng ra đằng sau cái chuồng nhốt chúng tôi, cầm trên tay một cái chai. “Cái này cho người ốm,” cậu ta vừa nói vừa ngoái đầu bồn chồn nhìn ra sau canh chừng.

“Ai cơ?” tôi hỏi, cậu thiếu niên bèn hất hàm về phía Hugh, cậu này đang nằm rũ trên sàn, co rúm lại vì ho, thật khéo quá. Cậu nhóc tuồn cái chai vào qua các song sắt. Tôi mở nút chai, ngửi thử một cái, và thiếu chút nữa ngã vật ra. Cái chai có mùi như nhựa thông trộn với phân ủ. “Cái gì thế này?” tôi thốt lên. “Tao chỉ biết là nó công hiệu.” Cậu ta lại ngó ra sau. “Được rồi, tao đã làm một việc cho bọn mày. Giờ bọn mày nợ tao. Vậy hãy nói cho tao biết – bọn mày đã phạm phải tội lỗi gì? Bọn mày là lũ trộm hả?” Sau đó, cậu ta hạ giọng xuống và hỏi, “Hay bọn mày đã giết ai?” “Cậu ta nói gì thế?” Bronwyn hỏi.

Chúng tôi chẳng giết ai cả, thiếu chút nữa tôi đã nói thế, nhưng rồi hình ảnh thân người Golan lộn nhào rơi xuống một ghềnh đá lóe lên trong đầu tôi, tôi bèn im lặng. Emma đã lên tiếng thay đôi. “Chúng tôi chẳng giết ai cả!” “À, bọn mày chắc chắn phải làm gì đó,” cậu thiếu niên nói. “Nếu không tại sao người ta lại treo giải thưởng để bắt bọn mày chứ?”

“Có giải thưởng sao?” Enoch hỏi. “Chắc chắn rồi. Người ta treo thưởng cả đống tiền.” “Ai cơ?”

Cậu thiếu niên nhún vai. “Và các người định giao nộp chúng tôi?” Olive hỏi. Cậu thiếu niên nhếch môi. “Tao không biết chúng tao có định làm thế hay không. Mấy ông lớn đang cân nhắc. Dù tao dám nói họ không tin lũ người đã treo giải thưởng lắm. Nhưng nói gì thì nói, tiền vẫn là tiền, vả lại họ cũng không thích thú gì chuyện bọn mày không chịu trả lời những gì họ hỏi.”

“Chúng tôi từ đâu tới ư,” Emma kiêu hãnh nói, “ai lại hạch hỏi những người tìm đến nhờ mình giúp đỡ.” “Và cũng không nhốt họ vào chuồng!” Olive nói. Ngay lúc đó, một tiếng nổ vang lên giữa khu trại. Cậu nhóc Digan mất thăng bằng ngã nhào trên tấm ván xuống cỏ, còn chúng tôi thì nằm phục xuống trong khi nồi chảo từ một bếp lửa bật tung lên bay vèo vèo trong không khí. Người phụ nữ Digan đang trông bếp vừa cắm đầu chạy thục mạng vừa la tướng lên “Quân giết người”, váy bốc cháy và chắc bà ta đã chạy tuốt ra tận biển nếu không có ai đó cầm một xô nước cho ngựa uống lên và giội nó vào bà ta.

Một khoảnh khắc sau, chúng tôi nghe thấy tiếng bước chân của một cậu bé vô hình vang lên trên tấm ván bên ngoài chuồng. “Đó là những gì xảy ra khi người ta cố thử làm ốp lết từ một quả trứng đặc biệt!” Millard nói, vừa thở không ra hơi vừa cười phá lên. “Là cậu làm à?” Horace nói. “Mọi thứ quá trật tự và yên ắng… đi móc túi thì không được thiên thời địa lợi cho lắm! Vậy là tớ để lẫn một quả trứng của bọn mình vào trứng của họ et viola(*)!” Millard làm một chiếc chìa khóa xuất hiện như từ hư không. “Người ta sẽ ít có khả năng nhận thấy bàn tay tớ thò vào trong túi họ hơn khi bữa tối vừa nổ tung văng vào mặt họ.”

(*) Và thế đấy (tiếng Pháp) “Cậu hơi bị lâu rồi đấy,” Enoch nói. “Giờ đưa bọn tớ ra khỏi đây đi!” Nhưng Millard còn chưa kịp tra chìa vào ổ khóa cửa, cậu nhóc Digan đứng dậy hét tướng lên, “Cứu với! Chúng nó đang muốn trốn!”

Cậu ta đã nghe thấy tất cả - nhưng trong cơn hỗn loạn sau tiếng nổ, hầu như chẳng ai để ý tới tiếng la hét của cậu ta. Millard xoay chìa khóa trong ổ khóa. Cánh cửa không mở. “Ôi, khỉ thật,” cậu ta nói. “Chẳng lẽ tớ lấy nhầm chìa rồi?”

“Á á á!” cậu nhóc Digan hét lên, chỉ tay vào khoảng không nơi giọng nói Millard vang lên. “Có ma!” “Ai đó làm ơn bắt nó im đi được không!” Enoch nói. Bronwyn làm theo, thò tay ra khỏi chuồng túm lấy cánh tay cậu nhóc, đoạn nhấc bổng cậu ta lôi lên kéo sát vào song sắt.

“Cíííu!” cậu ta la toáng lên. “Chúng nó mmm…” Bronwyn đưa một bàn tay bịt lên miệng cậu nhóc, nhưng cô đã làm cậu ta im lặng quá muộn. “Galbi!” một người phụ nữ hét lên. “Thả nó ra, lũ man rợ!” Và đột nhiên, không hề chủ định, chúng tôi đã bắt một con tin. Đám đàn ông Digan lao về phía chúng tôi, những con dao lóe sáng trong ánh lửa đang lụi dần.

“Cậu đang làm gì thế?” Millard kêu lên. “Buông cậu ta ra, không thì họ giết chúng ta bây giờ!” “Không, đừng!” Emma nói, rồi cô hét lớn, “Thả chúng tôi ra, nếu không cậu ta sẽ chết!” Những người Digan vây quanh chúng tôi, lớn tiếng đe dọa. “Nếu chúng mày làm tổn hại nó theo bất cứ cách nào,” người thủ lĩnh la lớn, “tao sẽ giết tất cả chúng mày từng đứa một bằng hai bàn tay không!”

“Lùi lại!” Emma nói. “Chỉ cần để chúng tôi đi, chúng tôi sẽ không làm hại ai hết.” Một người trong đám đàn ông chạy về phía chuồng, và Emma, theo bản năng, đưa hai bàn tay ra và làm bùng lên một quả cầu lửa rừng rực cháy giữa chúng. Đám đông thảng thốt kinh ngạc, người đàn ông kia khựng lại. “Giờ thì cậu làm to chuyện rồi!” Enoch rít lên. “Bọn họ sẽ treo cổ chúng ta lên vì là phù thủy!”

“Tớ sẽ thiêu sống kẻ đầu tiên thử làm điều đó!” Emma hét lên, mở rộng khoảng cách giữa hai lòng bàn tay để làm quả cầu lửa lớn thêm lên. “Nào, hãy cho bọn họ biết họ đang gây chuyện với ai!” Đã đến lúc thể hiện một màn. Bronwyn ra tay trước tiên: bằng một bàn tay, cô nhấc cậu nhóc lên cao hơn nữa, hai bàn chân cậu ta đá trong không khí, rồi bằng bàn tay còn lại cô chộp lấy một trong những song sắt trên nóc chuồng và bắt đầu uốn cong nó. Hugh rúc đầu vào giữa các thanh song và phả một hàng ong ra từ khuôn miệng há to của cậu, rồi sau đó Millard, vốn đã chạy xa khỏi chuồng ngay khi cậu nhóc Digan phát hiện ra cậu ta, hét to từ đâu đó đằng sau đám đông, “Và nếu các người nghĩ có thể đấu lại họ, thì có nghĩa là các ngươi chưa gặp ta!” rồi ném một quả trứng lên không. Quả trứng vẽ thành một đường vòng cung lao qua trên đầu đám người, rơi xuống một chỗ trống gần đó phát tiếng nổ đinh tai, làm bụi đất bắn tung lên tới tận các ngọn cây. Và khi khói tan, một khoảnh khắc nín thở trôi qua, không ai động đậy hay nói gì. Lúc đầu tôi nghĩ màn trình diễn của chúng tôi đã làm những người Digan chết đứng vì kinh ngạc – nhưng sau đó, khi tiếng oang oang trong tai tôi đã lặng đi, tôi vỡ lẽ là họ đang lắng nghe thứ gì đó. Rồi sau đấy cả tôi cũng thế.

Từ phía con đường đang tối dần vang lên tiếng động cơ. Một cặp đèn pha bật sáng xuất hiện trong tầm mắt, thoắt ẩn thoát hiện phía sau những lùm cây theo con đường. Tất cả mọi người, Digan và đặc biệt, cùng quan sát trong khi ánh đèn đi qua chỗ rẽ vào trảng trống nơi chúng tôi đang đứng – rồi di chuyển chậm dần, rồi quay trở lại. Một chiếc xe quân sự mui bạt nổ máy lăn bánh về phía chúng tôi. Từ trong xe vọng lên những tiếng la hét đầy tức giận và tiếng chó sủa, cổ họng chúng đã khàn đặc vì sủa nhưng không thể ngừng lại vì lúc này chúng đã lại đánh hơi thấy chúng tôi. Đó là đám xác sống đã săn lùng chúng tôi – còn chúng tôi ở đây, trong một cái chuồng, thậm chí không thể chạy trốn. Emma dập tắt ngọn lửa của cô bằng một cái vỗ tay. Bronwyn thả cậu nhóc Digan xuống, và cậu ta lảo đảo chạy ra xa. Đám người Digan chạy trở lại phía những chiếc xe ngựa của họ hay vào trong rừng. Chỉ trong nháy mắt, chúng tôi bị bỏ lại một mình, dường như đã bị lãng quên.

Thủ lĩnh của họ sải bước về phía chúng tôi. “Làm ơn mở cửa chuồng ra!” Emma nài nỉ ông ta. Người đàn ông tảng lờ cô. “Chúng mày nấp xuống dưới lớp cỏ khô và đừng gây tiếng động gì!” người đàn ông nói. “Và đừng có giở trò ma thuật nào ra – trừ phi chúng mày thích đi theo chúng hơn.”

Không còn thời gian để hỏi gì thêm. Điều cuối cùng chúng tôi thấy trước khi mọi thứ trở nên đen kịt là hai người đàn ông Digan chạy về phía chúng tôi, cầm trên tay một tấm vải dầu. Họ trùm tấm vải lên nóc chuồng. Bóng tối lập tức bao trùm. ***

Tiếng những đôi ủng vang lên bên ngoài chuồng, nặng nề, dữ dội, như thể đám xác sống tìm cách hành hạ cả chính mặt đất chúng bước lên. Chúng tôi làm theo chỉ dẫn và vùi mình xuống dưới lớp cỏ hôi hám. Gần đó, tôi nghe thấy một gã xác sống đang nói chuyện với người thủ lĩnh Digan. “Người ta đã phát hiện một nhóm trẻ con trên con đường này sáng hôm nay,” gã xác sống nói, giọng hắn nhanh, gãy gọn, khẩu âm rất lạ - không ra Anh, không ra Đức. “Ai bắt được chúng sẽ được thưởng đấy.” “Cả ngày nay chúng tôi không gặp ai cả, thưa ngài,” người thủ lĩnh nói.

“Đừng để vẻ mặt ngây thơ của chúng đánh lừa các vị. Chúng là những kẻ phản bội lại cuộc chiến đấu. Làm gián điệp cho Đức. Hình phạt cho việc che giấu chúng…” “Chúng tôi chẳng che giấu cái gì hết,” người thủ lĩnh cộc cằn nói. “Các ngại tự đi kiểm tra xem.” “Tao sẽ làm thế,” gã xác sống nói. “Và nếu chúng tao phát hiện ra chúng ở đây, tao sẽ cắt lưỡi mày ném cho con chó của tao ăn.” Hắn đùng đùng bước đi,

“Thở. Cũng. Đừng,” người thủ lĩnh khẽ thì thầm với chúng tôi, rồi sau đó tiếng bước chân của ông ta cũng xa dần. Tôi băn khoăn tự hỏi tại sao ông ta lại nói dối vì chúng tôi, nếu cân nhắc tới những hậu quả đám xác sống có thể gây ra với đồng bào của ông ta. Có thể là do kiêu hãnh, hay sự khinh miệt thâm căn cố đế với chính quyển – hay, tôi thầm nghĩ và rung mình, có thể đám người Digan chỉ muốn có được sự thỏa mãn từ việc tự tay giết chúng tôi. Chúng tôi có thể nghe thấy khắp quanh mình tiếng đám xác sống đang tản ra khắp khu trại, đá thứ nọ hất thứ kia, lật mở những tấm cửa bạt, xô đẩy những người Digan. Một đứa trẻ thét lên, rồi một người đàn ông giận dữ phản kháng, nhưng bị chặn lại ngay bởi tiếng gỗ đập vào xương thịt. Thật khổ sở khi phải nằm đó lắng nghe người khác bị hành hạ - cho dù cũng chính những người đó mới chỉ vài phút trước đã sẵn sàng xé chúng tôi thành từng mảnh.

Từ khóe mắt tôi thấy Hugh nhổm lên khỏi cỏ khô và bò tới chỗ cái rương của Bronwyn. Cậu ta đưa ngón tay lên chốt khóa và bắt đầu mở nắp rương lên, nhưng Bronwyn chặn cậu ta lại. “Cậu đang làm gì vậy? cô hỏi bằng khẩu hình. “Cần tấn công chúng trước khi chúng bắt được bọn mình!” Emma chống khuỷu tay nhổm dậy khỏi lớp cỏ khô rồi lăn về người về phía họ, tôi cũng nhích lại gần hơn để lắng nghe.

“Đừng điên,” Emma nói. “Nếu bây giờ chúng ta ném trứng, chúng sẽ bắn chúng ta nát bét.” “Vậy thì làm thế nào đây?” Hugh nói. “Chúng ta cứ nằm im đây cho tới khi chúng tìm ra chúng ta sao?” Chúng tôi tụm lại quanh cái rương, thì thầm trao đổi.

“Hãy đợi đến khi chúng mở khóa cửa,” Enoch nói. “Sau đó, tớ sẽ ném một quả trứng qua song sắt đằng sau chúng ta. Điều đó sẽ làm lũ xác sống bị phân tâm đủ lâu để Bronwyn đập vỡ sọ bất cứ kẻ nào bước vào trong chuồng đầu tiên, và giúp những người còn lại trong chúng ta có thời gian chạy ra. Phân tán ra ngoài rìa khu trại, sau đó quay lại và ném quả trứng của mỗi người vào ngọn lửa chính giữa trại. Tất cả những ai có mặt trong vòng bán kính ba mươi mét sẽ chỉ còn là ký ức.” “Quỷ tha ma bắt,” Hugh nói. “Như thế có vẻ ổn đấy.” “Nhưng có trẻ con trong trại!” Bronwyn nói.

Enoch đảo mắt chán nản. “Hoặc ta có thể lo lắng đến những tổn thất đi kèm và chạy trốn vào rừng, mặc cho đám xác sống và lũ chó của chúng tóm chúng ta từng người một. Nhưng nếu chúng ta dự định tới London – hay sống qua tối nay – tớ không cổ xúy cho việc đó đâu.” Hugh vỗ lên bàn tay Bronwyn, lúc này đang che trên chốt rương. “Mở nó ra,” cậu ta nói. “Phân phát chúng cho mọi người.” Bronwyn do dự. “Tớ không thể. Tớ không thể giết những đứa trẻ đã không làm gì hại chúng ta.”

“Nhưng chúng ta không có lựa chọn!” Hugh thì thầm. “Cậu luôn có lựa chọn,” Bronwyn nói. Sau đó, chúng tôi nghe thấy tiếng một con chó gầm gừ rất gần đáy chuồng, rồi im bặt. Một khoảnh khắc sau, một quầng đèn bấm chiếu vào mặt ngoài tấm vải dầu. “Lột tấm vải này xuống!” ai đó nói – tôi đoán là kẻ đã dẫn con chó tới.

Con chó sủa lên, cái mũi sục sạo để lách xuống dưới tấm vải dầu và ngóc lên lách qua các song sắt. “Lại đây!” gã quản chó hô lớn. “Chúng tôi đã tìm thấy một thứ!” Tất cả chúng tôi cùng nhìn Bronwyn. “Làm ơn đi,” Hugh nói. “Ít nhất hãy để bọn tớ tự vệ.” “Đó là cách duy nhất,” Enoch nói.

Bronwyn thở dài, bỏ tay ra khỏi chốt rương. Hugh gật đầu cám ơn và ra mở nắp rương lên. Tất cả chúng tôi đều thò tay vào lấy một quả trứng ra từ giữa những chiếc áo len xếp chồng lên nhau – trừ Bronwyn. Sau đó, chúng tôi đứng lên, quay người đứng đối diện với cửa chuồng, trứng trong tay, sẵn sàng cho điều không tránh khỏi. Thêm nhiều đôi ủng bước về phía chúng tôi. Tôi cố lên dây cót tinh thần cho điều sắp đến. Chạy, tôi tự nhủ. Chạy và đừng nhìn lại, sau đó ném trứng. Nhưng một khi biết những người vô tội sẽ chết, liệu tôi có thể thực sự làm điều đó không? Cho dù để cứu mạng mình? Nếu tôi chỉ ném quả trứng vào một đám cỏ rồi chạy vào rừng thì sao nhỉ?

Một bàn tay cầm lấy một phía rìa tấm vải dầu và kéo. Tấm vải bắt đầu trượt đi. Sau đó, khi sắp sửa để lộ chúng tôi, nó dừng lại. “Mày giở trò gì vậy?” tôi nghe thấy gã quản chó hỏi.

“Nếu là ông tôi sẽ tránh thật xa cái chuồng,” một giọng nói khác cất lên – của một người Digan. Tôi có thể thấy nửa bầu trời lộ ra trên đầu chúng tôi, những vì sao nhấp nháy chiếu sáng xuống qua các cành sồi. “Thế à? Vì sao phải thế?” gã quản chó hỏi.

“Ông lão Lông Máu vài ngày nay chưa được cho ăn đâu,” người Digan nói. “Thường thì nó không mấy quan tâm đến mùi vị thịt người, nhưng khi đã đói như lúc này thì ông lão cũng không kén chọn thế nữa đâu!” Tiếp theo một âm thanh vang lên làm tôi phải nín thở - tiếng gầm của một con gấu khổng lồ. Và thật không thể hiểu nổi, dường như tiếng gầm đó lại xuất phát từ giữa chúng tôi, bên trong cái chuồng. Rồi nghe thấy gã quản chó bật rủa kinh ngạc rồi vội vàng chạy xuống khỏi tấm ván, lôi theo cả con chó đang ăng ẳng của hắn.

Tôi không thể hình dung nổi bằng cách nào một con gấu lại chui được vào trong chuồng, chỉ biết là tôi cần tránh xa khỏi nó, vì vậy tôi ép sát người vào các song sắt. Bên cạnh mình, tôi thấy Olive đang ấn nắm tay nhỏ nhắn của cô vào miệng để khỏi bật thét lên. Bên ngoài, những tên lính khác đang cười nhạo gã quản chó. “Đồ ngốc!” hắn bối rối nói. “Chỉ có đám Digan mới đi giữ một con vật như thế giữa trại của chúng!” Tôi cuối cùng cũng thu thập được đủ can đảm để ngoái lại nhìn sau lưng mình. Chẳng có con gấu nào trong chuồng nhốt chúng tôi. Vậy thứ gì đã cất lên tiếng gầm ghê rợn đó vậy?

Đám lính tiếp tục lục soát khu trại, nhưng giờ chúng để yên cái chuồng không đụng đến. Sau vài phút, chúng tôi nghe thấy chúng leo trở lại lên xe tải, khởi động máy, và rồi cuối cùng cũng đi khỏi. Tấm vải dầu tuột xuống khỏi chuồng. Những người Digan tập hợp lại cả quanh chúng tôi. Tôi cầm lấy quả trứng của mình trong bàn tay run rẩy, tự hỏi liệu tôi có phải dùng đến nó hay không. Người thủ lĩnh đứng trước mặt chúng tôi. “Các cô cậu không sao chứ?” ông nói. “Tôi xin lỗi nếu chuyện vừa rồi làm các cô cậu sợ.”

“Chúng tôi còn sống,” Emma nói, nhìn quanh để cảnh giác. “Nhưng con gấu của các ông đâu?” “Không phải chỉ có các cô cậu mới có năng lực khác thường,” một thanh niên đứng ở rìa đám đông nói, rồi nhanh chóng hết gầm như gấu rồi lại gào lên như mèo, mỗi lần anh ta hơi quay đầu, giọng anh ta lại thay đổi, làm cho âm thanh nghe như thể chúng tôi đang bị săn đuổi từ mọi hướng. Sau khi đã vượt qua được cú sốc, chúng tôi òa lên vỗ tay hoan hô. “Tớ nhớ cậu có nói họ không phải là những người đặc biệt mà,” tôi thì thầm với Emma.

“Bất cứ ai cũng có thể thực hiện được những kỹ xảo vặt vãnh như thế,” cô nói. “Xin lỗi nếu tôi đã không giới thiệu chu đáo về bản thân,” người thủ lĩnh Digan nói. “Tên tôi là Bekhir Bekhmanatov. Và các cô cậu là khách danh dự của chúng tôi.” Ông cúi chào thật thấp. “Tại sao các cô cậu không nói cho chúng tôi biết mình là những syndrigasti?” Chúng tôi há hốc miệng nhìn ông. Người thủ lĩnh đã dùng tới tên gọi cổ xưa dành cho người đặc biệt, thứ tên gọi cô Peregrine đã dạy chúng tôi.

“Liệu có phải chúng tôi đã biết ông từ đâu đó rồi không?” Bronwyn hỏi, “Ông đã nghe được từ đó ở đâu?” Emma hỏi. Bekhir mỉm cười. “Nếu các cô cậu đã chấp nhận lòng hiếu khách của chúng tôi, tôi hứa sẽ giải thích mọi chuyện.” Sau đó ông cúi người lần nữa, rồi sải bước tới mở cửa chuồng nhốt chúng tôi.

*** Chúng tôi cùng những người Digan ngồi xuống những tấm thảm dệt tay tinh tế, trò chuyện và ăn món hầm trong ánh lửa bập bùng của hai đống lửa trại. Tôi bỏ cái thìa đã được đưa cho xuống và húp xì xụp trực tiếp từ một cái bát gỗ, tất cả phép tắc tại bàn ăn của tôi chỉ còn là một ký ức xa xăm trong khi thứ nước hầm béo ngậy ngon tuyệt chạy nhỏ giọt xuống cằm tôi. Bekhir đi lại giữa chúng tôi, đảm bảo mỗi đứa trẻ đặc biệt đều thoải mái, hỏi xem chúng toi đã được ăn uống đủ chưa, rồi không ngớt lời xin lỗi đi xin lỗi lại về tình trạng quần áo của chúng tôi, lúc này dính đầy những mảnh cỏ khô bẩn thỉu trong chuồng. Từ lúc chứng kiến màn thể hiện năng lực đặc biệt của chúng tôi, ông đã hoàn toàn thay đổi thái độ; chỉ trong vài phút, chúng tôi đã từ chỗ là tù nhân trở thành các vị khách danh dự. “Tôi rất xin lỗi về cách các cô cậu bị đối xử lúc nãy,” ông nói, ngồi xuống một tấm đệm giữa các đống lửa trại. “Khi liên quan tới an toàn của đồng bào mình, tôi đề phòng mọi nhẽ. Thời buổi này có rất nhiều kẻ xa lạ lang thang trên đường – những kẻ không thể trông mặt mà bắt hình dong. Giá như các cô cậu cứ nói cho tôi biết các cô cậu là những syndrigasti..”

“Chúng tôi đã được dạy không bao giờ được nói lộ ra với bất cứ ai,” Emma nói. “Không bao giờ,” Olive nói thêm. “Người nào đã dạy các cô cậu như vậy quả là sáng suốt,” Bekhir nói.

“Làm thế nào ông biết về chúng tôi được?” Emma hỏi. “Ông nói ngôn ngữ cổ xưa.” “Chỉ vài từ thôi,” Bekhir nói. Ông nhìn chằm chằm vào ngọn lửa, nơi một tảng thịt đang sẫm dần được nướng trên xiên. “Chúng ta đã có một thỏa thuận từ xưa, cộng đồng của các cô cậu và dân tộc tôi. Chúng tôi cũng không khác mấy các vị. Cùng là những kẻ lang thang bị ruồng bỏ - những linh hồn bấu víu lấy rìa thế giới.” Ông xé một miếng thịt từ xiên và trầm ngâm nhai. “Chúng ta có thể coi như đồng minh. Theo năm tháng, những người Digan chúng tôi thậm chí từng đón nhận và nuôi nấng một số đứa trẻ thuộc cộng đồng các vị.” “Và chúng tôi rất biết ơn vì điều đó,” Emma nói, “cũng như biết ơn lòng mến khách của các ông. Cho dù có lẽ hơi thô lỗ, nhưng chúng tôi cũng không thể lưu lại đây lâu hơn nữa. Chúng tôi cần tới London thật nhanh, điều đó rất quan trọng. Chúng tôi cần bắt kịp một chuyến tàu.”

“Vì người bạn bị ốm của các cô cậu à?” Bekhir hỏi, nhướng một bên mày về phía Hugh, người đã từ lâu thôi không diễn trò nữa và lúc này đang thỏa thuê ngốn ngấu món hầm trong khi bầy ong vui vẻ vo ve lượn quanh đầu cậu ta. “Đại loại là thế,” Emma nói. Bekhir biết chúng tôi đang giấu giếm điều gì đó, nhưng ông đủ tử tế để cho phép chúng tôi được giữ kín bí mật của mình. “Tối nay thì không còn chuyến tàu nào nữa,” ông nói, “nhưng chúng tôi sẽ dậy lúc rạng sáng và đưa các cô cậu tới ga trước khi chuyến tàu đầu tiên vào buổi sáng chuyển bánh. Thế được chưa?”

“Đành vậy thôi,” Emma nói, lông mày cô cau lại lo lắng. Cho dù chúng tôi đã tiết kiệm thời gian bằng cách lén đi nhờ xe thay vì cuốc bộ, cô Peregrine vẫn mất trọn một ngày rồi. Giờ đây cùng lắm bà cũng chỉ còn lại hai ngày. Nhưng đó là trong tương lai; còn ngay lúc này chúng tôi ấm áp, được ăn no, và thoát khỏi nguy hiểm tức thời. Thật khó để chúng tôi không vui vẻ, dù chỉ trong khoảnh khắc. Chúng tôi nhanh chóng kết bạn với những người Digan. Mọi người đều mong muốn quên đi những gì đã xảy ra giữa chúng tôi lúc trước. Bronwyn tìm cách xin lỗi cậu thiếu niên cô đã bắt làm con tin, nhưng cậu ta gạt đi như thể không có gì. Những người Digan nhiệt tình tiếp đồ ăn cho chúng tôi, múc đầy bát cho tôi hết lần này tới lần khác – và múc đầy tràn khi tôi từ chối lấy thêm. Khi cô Peregrine nhảy ra khỏi áo khoác của Bronwyn và kêu rít rít lên thông báo nhu cầu ăn của mình, những người Digan cho cả bà ăn, ném những miếng thịt sống lên không và reo lên khi bà nhảy lên đớp chúng. “Bà ấy đói!” Olive bật cười, vỗ tay trong khi con chim dùng móng chân xé vụn một cái móng lợn. “Giờ cậu không thấy mừng vì chúng ta đã không làm họ nổ tung sao?” Bronwyn thì thầm với Enoch.

“Ồ, tớ đoán là có,” cậu ta đáp. Ban nhạc Digan chơi một bài khác. Chúng tôi ăn và nhảy, tôi thuyết phục Emma cùng nhảy một vòng quanh đống lửa với mình, và cho dù vốn thường e ngại nhảy trước đông người, lần này tôi để mình được thoải mái. Chân chúng tôi lướt đi, tay chúng tôi vỗ nhịp nhàng theo điệu nhạc, và trong một vài phút tưng bừng, chúng tôi đắm mình trong đó. Tôi có thể quên đi chúng tôi đang ở trong cảnh nguy hiểm đến mức nào, cũng như việc ngay ngày hôm đó thiếu chút nữa chúng tôi đã bị bọn xác sống bắt giữ và bị một con hồn rỗng ăn thịt, những khúc xương bị gặm hết của chúng tôi đáng lẽ đã bị nhả xuống sườn núi. Vào khoảnh khắc đó tôi thấy vô cùng biết ơn những người Digan, và nhờ phần “con” đơn thuần trong tôi, một bữa ăn nóng hổi, một bài hát và một nụ cười từ ai đó tôi quan tâm có thể đủ để tôi quên đi mọi điều tối tăm, dù chỉ được trong chốc lát. Sau đó, bài hát kết thúc, chúng tôi trở lại ngồi xuống chỗ của mình, và trong quãng lặng tiếp theo sau, tôi cảm thấy không khí thay đổi. Emma nhìn Bekhir và nói, “Tôi có thể hỏi ông một điều được không?” “Tất nhiên,” ông nói.

“Tại sao các ông lại mạo hiểm tính mạng vì chúng tôi?” Ông phẩy tay. “Các cô cậu hẳn cũng sẽ hành động tương tự.” “Tôi không dám chắc là thế,” Emma nói. “Tôi chỉ muốn hiểu thôi. Có phải vì chúng tôi đặc biệt không?”

“Phải,” ông nói ngắn gọn. Một khoảnh khắc trôi qua. Người thủ lĩnh quay đi nhìn về phía những cái cây mọc bao quanh trảng trống, vào những chiếc rương được ánh lửa chiếu sáng và bóng tối ở đằng sau. Rồi ông nói, “Các cô cậu có muốn gặp con trai tôi không?” “Tất nhiên,” Emma nói. Cô đứng dậy, cả tôi và vài người khác cũng làm theo.

Bekhir giơ một bàn tay lên. “Tôi e là thằng bé hơi nhút nhát. Chỉ mình cô thôi,” ông nói, chỉ vào Emma, “và cậu” – ông chỉ vào tôi – “cả cái cậu nghe thấy tiếng nhưng không thấy người nữa.” “Ấn tượng đấy,” Millard nói. “Thế mà tôi đã cố gắng đến thế để thật kín đáo!” Enoch lại ngồi xuống. “Tại sao tôi cứ bị gạt ra ngoài mọi thứ vậy? Tôi có mùi à?”

Một người phụ nữ Digan mặc váy phồng lướt vào vòng sáng của đống lửa trại. “Trong khi họ đi, tôi sẽ xem chỉ tay và đoán vận cho các cô cậu,” bà nói. Người phụ nữ quay sang Horace. “Có thể đến một ngày kia cậu sẽ leo lên đỉnh Kilimanjaro!” Rồi sau đó nói với Bronwyn – “Hay cưới một người đàn ông giàu có, điển trai!” Bronwyn khịt mũi. “Giấc mơ ưa thích nhất của tôi.” “Tương lai là chuyên môn của tôi, thưa bà,” Horace nói. “Hãy để tôi cho bà thấy nó được thực hiện như thế nào!”

Emma, Millard và tôi rời khỏi họ và bắt đầu đi qua khu trại cùng Bekhir. Chúng tôi tới một cỗ xe thùng trông có vẻ giản dị, ông leo lên bậc thang ngắn và gõ cửa. “Radi?” ông dịu giọng gọi. “làm ơn ra đi nào con. Ngoài này có người tới gặp con này.” Cửa nhích ra một chút và một người phụ nữ ló ra. “Thằng bé sợ. Nó không chịu rời khỏi ghế.” Bà nhìn qua chúng tôi thật cẩn thận, sau đó mở rộng cửa và mời chúng tôi vào. Chúng tôi leo lên các bậc thang và chui vào một không gian chật chột nhưng ấm cúng và có vẻ vừa được dùng làm phòng khách, vừa được dùng làm phòng ngủ và bếp. Có một chiếc giường kê dưới khung cửa sổ hẹp, một cái bàn và ghế, một bếp lò nhỏ thoát khói qua ống khói trên nóc xe; mọi thứ cần thiết để sống tự túc trên đường trong nhiều tuần hay nhiều tháng liền.

Một cậu bé đang ngồi trên cái ghế duy nhất trong khoang xe. Trên lòng cậu là một chiếc kèn trumpet. Tôi nhận ra đã thấy cậu chơi kèn lúc trước trong ban nhạc của những đứa trẻ Digan. Đây là con trai Bekhir, và tôi đoán người phụ nữ là vợ ông. “Cởi giày của con ra nào, Radi,” người phụ nữ nói. Cậu bé tiếp tục nhìn chăm chăm xuống sàn. “Con phải làm thế sao?” cậu ta hỏi.

“Phải,” Bekhir nói. Cậu bé cởi một cái ủng ra, rồi nốt cái còn lại. Trong một giây, tôi không dám chắc vào điều mình đang thấy: chẳng có gì bên trong những chiếc giày của cậu bé. Có vẻ như cậu không có bàn chân. Ấy thế nhưng cậu đã phải bỏ sức để tháo ủng ra, vì thế chúng chắc chắn phải gắn vào thứ gì đó. Rồi Bekhir yêu cầu con trai ông đứng dậy, và cậu bé miễn cưỡng nhổm người ra trước trên ghế và đứng dậy. Cậu có vẻ như bay lên, gấu quần trống rỗng treo lơ lửng cách mặt sàn chừng chục phân. “Thằng bé bắt đầu tan biến từ vài tháng trước,” người phụ nữ giải thích. “Đầu tiên là các ngón chân của nó. Rồi đến gót chân. Cuối cùng là phần còn lại của cả hai bàn chân. Chẳng thứ gì tôi cho nó uống – không thứ nước sắc, thứ rượu thuốc nào – có chút hiệu quả trong việc chữa trị cho nó.”

Vậy là cậu bé cũng có bàn chân – hai bàn chân vô hình. “Chúng tôi không biết phải làm gì,” Bekhir nói. “Nhưng tôi nghĩ có lẽ trong số các cô cậu có ai đó biết chữa bệnh…” “Chẳng có cách nào để chữa thứ cậu ấy gặp phải,” Millard nói, và tiếng nói của cậu vang lên trong không trung làm cậu bé bất giác ngẩng đầu lên. “Cậu ấy và tôi giống nhau. Chuyện tương tự xảy ra với tôi khi tôi còn nhỏ. Khi mới sinh ra tôi chưa vô hình; chuyện đó xảy ra dần dần.

“Ai đang nói vậy?” cậu bé hỏi. Millard cầm một cái khăn quàng nằm bên mép giường lên và quấn quanh khuôn mặt mình, để lộ ra đường nét mũi, trán, miệng cậu. “Tôi đây,” cậu nói, di chuyển trên sàn về phía cậu bé. “Đừng sợ.” Trong khi những người còn lại trong chúng tôi quan sát, cậu bé giơ bàn tay lên chạm vào má Millard, rồi lên trán, rồi lên tóc cậu – tôi chưa bao giờ buồn hình dung về màu sắc và kiểu tóc của cậu ta – thậm chí còn cầm lấy một lọn tóc kéo như để kiểm tra độ thực của chúng.

“Cậu ở đó,” cậu bé nói, đôi mắt sáng lên ngỡ ngàng. “Cậu thực sự ở đó!” “Và cậu cũng thế, thậm chí ngay cả sau khi những người đồng bào khác của cậu đã ra đi,” Millard nói. “Cậu sẽ thấy. Sẽ không đau đâu.” Cậu bé mỉm cười, và khi cậu cười, hai đầu gối người phụ nữ run rẩy, bà phải tựa người vào Bekhir. “Cảm ơn cậu,” bà nói với Millard, suýt òa khóc. “Cảm ơn cậu.”

Millard ngồi xuống bên đôi bàn chân đã biến mất của Radi. “Không có gì phải sợ cả, chàng trai. Thực ra, khi cậu đã quen với sự vô hình, tớ nghĩ cậu sẽ thấy nó có nhiều lợi thế…” Và trong khi cậu bắt đầu liệt kê chúng ra, Bekhir bước tới cửa và gật đầu ra hiệu cho Emma và tôi. “Hãy để họ ở lại,” ông nói. “Tôi tin chắc họ có nhiều điều để nói.” Chúng tôi để Millard ở lại một mình cùng cậu con trai và mẹ cậu ta. Quay lại bên lửa trại, chúng tôi thấy gần như tất cả mọi người, đặc biệt hay Digan, đều xúm lại quanh Horace. Cậu ta đang đứng trên một gốc cây trước bà thấy bói đang ngơ ngẩn, mắt nhắm lại, một bàn tay áp lên đầu bà này, và dường như đang kể lại một giấc mơ khi nó đến với cậu ta: “… và chắt của bà sẽ điều khiển một con tàu khổng lồ đi lại giữa Trái Đất và Mặt Trăng như một chiếc xe buýt đường dài, và trên Mặt Trăng anh ta sẽ có một ngôi nhà rất nhỏ, rồi anh ta sẽ trễ hẹn thanh toán thế chấp và buộc phải cho thuê trọ, và một trong những người đến ở trọ là một phụ nữ xinh đẹp anh ta sẽ yêu mê mệt theo kiểu mặt trăng, nó không hoàn toàn giống tình yêu trên trái đất vì sự khác biệt về trọng lực trên đó…”

Chúng tôi đứng quan sát từ ngoài rìa đám đông. “Cậu ta nghiêm túc đấy chứ?” tôi hỏi Emma. “Có thể,” cô đáp. “Hoặc cậu ta chỉ đang trêu đùa bà ấy một chút.” “Tại sao cậu ấy không thể nói về tương lai của chúng ta như thế?”

Emma nhún vai. “Năng lực của Horace có thể vô dụng đến kinh khủng. Cậu ta có thể tuồn tuột tiên đoán hết cả đời cho những người lạ hoắc, nhưng với chúng ta, cậu ấy gần như hoàn toàn bị chặn đứng. Cứ như thể cậu ta càng quan tâm đến ai thì càng thấy ít về người đó hơn. Cảm xúc che khuất tầm nhìn của cậu ấy. “Chẳng phải chúng ta ai cũng vậy sao,” một giọng nói vang lên từ phía sau chúng tôi, chúng tôi ngoảnh lại thì thấy Enoch đứng đó. “Và về chuyện đó, tớ hy vọng cậu không làm anh chàng người Mỹ sao nhãng quá mức, Emma thân mến. Thật khó canh phòng hồn rỗng khi cái lưỡi của một quý cô trẻ tuổi cứ kề sát tai như thế.” “Đừng có ghê tởm thế!” Emma nói.

“Tớ không thể lờ Cảm Giác đi được dù có muốn đi nữa,” tôi nói, dù tôi thực sự ước gì có thể lờ đi được cảm giác ủy mị sến sẩm là Enoch đang ghen với tôi. “Vậy hãy nói cho tớ biết về cuộc gặp bí mật của mấy người đi nào,” Enoch nói. “Có phải đám Digan thực sự bảo vệ chúng ta vì một mối liên minh xưa rích nào đó mà chẳng ai trong chúng ta từng nghe tới không?” “Ông thủ lĩnh và bà vợ có một đứa con trai đặc biệt,” Emma nói. “Họ hi vọng chúng ta có thể giúp cậu ấy.”

“Thật điên rồ,” Enoch nói. “Họ thiếu chút nữa khiến chính mình bị lũ lính kia lóc thịt sống chỉ vì một thằng bé thôi sao? Đúng là cảm xúc làm mờ mắt thật! Tớ cứ nghĩ họ muốn bắt bọn mình làm nô lệ vì năng lực của bọn mình, hay ít nhất cũng mang bọn mình ra bán đấu giá – nhưng thế đấy, tớ luôn đánh giá người khác quá cao.” “Ồ, cậu đi tìm một con vật chết nào đó mà chơi đi,” Emma nói. “Tớ sẽ chẳng bao giờ hiểu nổi chín mươi chín phần trăm nhân loại,” Enoch nói, rồi lắc đầu bỏ đi.

“Đôi khi tớ nghĩ cậu ta có một phần là máy móc,” Emma nói. “Da thịt bên ngoài, kim loại bên trong.” Tôi bật cười, nhưng trong lòng tự hỏi biết đâu Enoch lại đúng. Có phải những gì Bekhir đã mạo hiểm vì con trai ông đúng là điên rồ không? Bởi vì nếu Bekhir điên rồ, thì chắc chắn tôi cũng vậy. Tôi đã phải từ bỏ nhiều đến chừng nào chỉ vì một cô gái? Bất chấp sự tò mò của tôi, bất chấp ông tôi, bất chấp những gì chúng tôi nợ cô Peregrine, nói cho cùng tôi có mặt ở đây – lúc này – chỉ vì một lý do duy nhất: bởi vì kể từ ngày gặp Emma, tôi đã biết tôi muốn trở thành một phần của bất cứ thế giới nào cô thuộc về. Liệu điều đó có làm tôi thành kẻ điên rồ không? Hay đó là vì trái tim tôi đã bị chinh phục quá dễ dàng? Có lẽ mình cần dùng một ít kim loại cho phần bên trong, tôi thầm nghĩ. Nếu tôi giữ cho trái tim mình được bọc giáp tốt hơn, bây giờ lẽ ra tôi đang ở đâu?

Dễ biết thôi – tôi sẽ ở nhà, bó mình vào một nhịp sống đơn điệu. Nhấn chìm phiền muộn trong các trò chơi điện tử. Làm việc theo ca tại Smart Aid. Và để nội tâm chết dần chết mòn vì nuối tiếc theo mỗi ngày trôi qua. Đồ hèn nhát. Đồ nhóc con yếu đuối, bệnh hoạn. Mày đã vứt mất cơ hội của mày. Nhưng tôi đã không như thế. Khi hướng tới Emma, tôi đã mạo hiểm tất cả - và lại đang tiếp tục mạo hiểm mỗi ngày – nhưng khi làm thế tôi đã chộp lấy và kéo mình vào trong một thế giới từng có lúc không thể tưởng tượng nổi với tôi, nơi tôi sống giữa những người còn giàu sức sống hơn bất cứ ai tôi từng biết, làm những công việc tôi chưa từng mơ mình có thể làm được, sống sót qua những thử thách tôi không bao giờ mơ mình có thể qua được. Tất cả vì tôi đã để mình nương theo cảm xúc với một cô gái đặc biệt.

Bất chấp tất cả những rắc rối và hiểm nguy chúng tôi đang gặp phải, và bất chấp thực tế là thế giới mới lạ này đã bắt đầu sụp đổ ngay khoảnh khắc tôi khám phá ra nó, tôi vẫn rất vui vì mình đã ở đây. Bất chấp tất cả, cuộc sống đặc biệt này là thứ tôi luôn mong muốn. Thật lạ lùng, tôi thầm nghĩ, khi ta có thể vừa sống những giấc mơ đẹp lại vừa sống những cơn ác mộng. “Có chuyện gì vậy?” Emma hỏi. “Cậu đang nhìn tớ chằm chằm kìa.” “Tớ muốn cảm ơn cậu,” tôi nói.

Cô chun mũi và liếc mắt như thể tôi vừa nói gì đó tức cười. “Cảm ơn tớ vì cái gì cơ?” cô hỏi. “Cậu đem đến cho tớ sức mạnh mà tớ đã không hề biết mình có,” tôi nói. “Cậu làm tớ tốt lên.” Cô đỏ mặt. “Tớ không biết phải nói gì nữa.”

Emma, tâm hồn rạng rỡ. Tôi cần ngọn lửa của em – ngọn lửa ở trong nội tâm của em. “Cậu không cần phải nói gì cả,” tôi nói. Thế rồi tôi bỗng cảm thấy tha thiết muốn hôn cô, và tôi làm thế. ***

Chúng tôi đã mệt rã rời, nhưng những người Digan lại đang ở tâm trạng vô cùng hân hoan và có vẻ quyết định tiếp tục tiệc tùng, và sau vài cốc gì đó nóng hổi, ngọt ngào, nhiều caffeine và thêm vài bài hát, họ đã giành phần thắng trước chúng tôi. Họ là những người kể chuyện trời sinh và là những ca sĩ thật duyên dáng; những con người với sức cuốn hút bẩm sinh này đối xử với chúng tôi như những người anh em họ thất lạc bấy lâu mới tìm lại được. Chúng tôi thức đến tận nửa đêm để trò chuyện. Anh chàng trẻ tuổi vống giọng lên như gấu thể hiện một màn nói tiếng bụng xuất sắc tới mức tôi gần như tin là những con rối của cậu ta đã sống dậy. Cậu này có vẻ hơi phải lòng Emma và dồn về phía cô đủ chiêu trò thông dụng, mìm cười đầy cổ vũ, song cô vờ như không nhận ra và luôn nắm lấy bàn tay tôi. Sau đó, họ kể cho chúng tôi nghe chuyện quân đội Anh, trong Thế chiến thứ nhất, đã trưng dụng toàn bộ ngựa của họ, và trong một thời gian họ chẳng còn con ngựa nào để kéo xe. Họ đã bị bỏ mặc lại trong rừng – trong chính khu rừng này – cho tới một ngày kia, một đàn dê sừng dài lang thang vào khu trại của họ. Chúng có vẻ hoang dã nhưng đủ thuần để tới ăn đồ ăn trên tay bạn, thế là một người nảy ra ý thắng một con dê vào cỗ xe, và ra lũ dê này khỏe gần như không kém những con ngựa họ đã mất. Thế là những người Digan thoát khỏi cảnh mắc kẹt một chỗ, và cho tới khi chiến tranh kết thúc, những cỗ xe của họ vẫn do những con dê khỏe khác thường này kéo, và cũng vì thế họ được biết đến trên khắp xứ Wales với tên gọi Bộ tộc Dê. Để làm bằng chứng, họ đưa ra cho mọi người chuyền tay nhau xem một bức ảnh ông bác của Bekhir ngồi trên một cỗ xe dê kéo. Không cần ai nói, chúng tôi biết ngay rằng đây chính là bầy dê đặc biệt bị thất lạc Addison đã kể. Sau chiến tranh, quân đội trả lại ngựa cho người Digan, và bầy dê, giờ đây không còn được cần đến nữa, biến mất vào rừng. Cuối cùng, đống lửa trại tàn dần, họ trải đệm nằm ra cho chúng tôi và hát một bài hát ru bằng một thứ ngôn ngữ du dương xa lạ, và tôi cảm thấy nhẹ nhõm êm ái như một đứa trẻ. Anh chàng nói tiếng bụng tới chúc Emma ngủ ngon. Cô xua anh ta đi, nhưng anh ta vẫn kịp để lại một tấm danh thiếp. Ở mặt sau có ghi một địa chỉ tại Cardiff, cứ vài tháng, khi nhóm người Digan dừng chân nghỉ lại, anh ta lại tới đó lấy thư từ. Ở mặt trước là ảnh chụp anh ta cùng những con rối, và một lời nhắn ngắn dành cho Emma. Cô đưa nó cho tôi xem và cười khúc khích. Nhưng tôi thấy ái ngại cho anh ta. Anh ta chỉ mắc tội đã thích cô, cũng giống như tôi vậy.

Tôi cuộn người lại bên Emma trong một tấm đệm ngủ ở bìa rừng. Đúng lúc đang chìm vào giấc ngủ, tôi chợt nghe thấy tiếc bước chân trên cỏ gần đó, tôi mở choàng mắt nhưng không thấy ai cả. Đó là Millard, cậu ta đã quay lại sau khi dành cả buổi tối trò chuyện với cậu bé Digan. “Cậu ấy muốn đi cùng chúng ta,” Millard nói. “Ai cơ?” Emma lẩm bẩm như đang say. “Đi đâu?”

“Cậu bé. Đi cùng chúng ta.” “Thế cậu nói sao?” “Tớ bảo cậu ta rằng đó là một ý tưởng không hay lắm. Nhưng tớ cũng không thẳng thừng từ chối.”

“Cậu biết là chúng ta không thể đem theo bất cứ ai nữa mà,” Emma nói. “Cậu ấy sẽ làm chậm chân chúng ta.” “Tớ biết, tớ biết,” Millard nói. “Nhưng cậu bé đang dần dần biến mất, và rất sợ hãi. Không lâu nữa cậu ta sẽ hoàn toàn vô hình, và cậu ta sợ sẽ tụt lại đằng sau cộng đồng của mình nào đó một ngày nào đó mà những người Digan không nhận ra, và cậu ta sẽ bị lạc mãi mãi trong rừng giữa lũ sói và nhện.” Emma rên lên và lăn người quay lại đối mặt với Millard. Cậu ta sẽ không đời nào chịu để chúng tôi ngủ cho tới khi chuyện này được quyết định. “Tớ biết cậu bé sẽ thất vọng,” cô nói. “Nhưng thực sự không được đâu. Tớ xin lỗi, Millard.”

“Cũng đúng thôi,” Millard vừa nói vừa thở dài nặng nề. “Tớ sẽ báo tin cho nó.” Cậu ta đứng dậy và rời đi. Emma thở dài, và suốt một hồi lâu cô cứ trở người trằn trọc.

“Cậu đã làm đúng,” tôi thì thầm. “Thật không dễ dàng khi là chỗ dựa cho mọi người.” Cô không nói gì, chỉ rúc vào ngực tôi. Dần dà chúng tôi ngủ thiếp đi, tiếng gió xào xạc qua các cành cây và tiếng thở dài của lũ ngựa nhẹ nhàng đưa chúng tôi vào giấc ngủ. ***

Đó là một đêm ngủ chập chờn và những giấc mơ tệ hại, cũng gần giống những gì tôi đã trải qua ngày hôm trước: bị những bầy chó như từ ác mộng vụt ra săn đuổi. Đến sáng, tôi đã mệt nhừ. Tứ chi nặng như đeo bằng gỗ, đầu lâng lâng. Tôi cảm thấy có khi đừng ngủ còn hơn. Bekhir đánh thức chúng tôi lúc rạng sáng. “Trời sáng rồi, syndrigasti!” Ông gọi lớn, ném xuống những ổ bánh mì cứng như gạch. “Bao giờ chết thì các cô cậu tha hồ mà ngủ!” Enoch sút ổ bánh mì của cậu ta vào một hòn đá, và nó kêu lên đánh cạch như một khúc gỗ. “Với bữa sáng thế này chúng tôi cũng sẽ sớm chết sớm thôi!”

Bekhir vuốt tóc Enoch, cười hết cỡ. “À, thôi nào. Tinh thần người đặc biệt của cậu sáng nay đi đâu rồi?” “Đi ngủ rồi,” Enoch nói, kéo đệm ngủ lên trùm đầu. Bekhir cho chúng tôi mười phút để sửa soạn cho chuyến đi vào thị trấn. Ông đang cố giữ đúng lời hứa của mình, đưa chúng tôi tới đó trước giờ chuyến tàu đầu tiên buổi sáng khởi hành. Tôi thức dậy, loạng choạng bước tới một xô nước, vã ít nước lên mặt, rồi dùng ngón tay đánh răng. Ôi, tôi nhớ cái bàn chải của mình biết bao. Nhớ cuộn chỉ nha khoa mùi bạc hà và lọ lăn khử mùi hương-gió-đại-dương của tôi biết bao. Vào lúc đó, chẳng có gì tôi không sẵn sàng đánh đổi để tìm thấy một cửa hàng Smart Aid.

Tôi sẵn sàng đổi cả vương quốc của mình lấy một bộ đồ lót mới! Trong lúc tôi dùng ngón tay chải cỏ khô ra khỏi tóc và cắn vào một ổ bánh mì bất khả tiêu hóa, những người Digan và lũ trẻ của họ ngắm nhìn chúng tôi với vẻ mặt thảm sầu. Như thể bằng cách nào đó họ đã biết cuộc vui tối hôm trước chỉ là những phút hân hoan cuối cùng, và giờ đây chúng tôi đang bị đưa tới giá treo cổ. Tôi cố làm họ vui lên. “Sẽ ổn thôi mà,” tôi nói với một cậu bé tóc sáng trông như chỉ chực òa khóc, “Bọn anh sẽ ổn cả.” Cậu bé nhìn tôi như thế nhìn một hồn ma đang nói, đôi mắt cậu mở to, đầy băn khoăn.

Tám con ngựa được tập hợp lại, cùng tám kỵ sĩ Digan – mỗi người kèm một người trong chúng tôi. Ngựa sẽ đưa chúng tôi tới thị trấn nhanh hơn một đoàn xe. Những con vật này cũng làm tôi phát hãi. Tôi chưa bao giờ cưỡi ngựa. Có lẽ tôi là đứa trẻ duy nhất có gia thế thuộc dạng có thể coi là khá giả ơ Mỹ chưa từng cưỡi ngựa. Chẳng phải vì tôi không nghĩ ngựa là những con vật đẹp đẽ, oai phong, đỉnh cao của quá trình sáng tạo ra động vật, v.v và v.v – mà chỉ đơn giản vì tôi không tin bất cứ con vật nào lại có dù chỉ một chút thích thú với việc bị một người trèo lên lưng hay thúc nó phải chạy. Thêm vào đó, ngựa rất to, với cơ bắp vạm vỡ và hai hàm răng to tướng luôn nhe ra nhăn nhở, chúng cứ nhìn tôi như thể chúng biết tôi sợ và đang hy vọng có cơ hội đá vào đầu tôi. Đó là chưa kể tới việc một con ngựa chẳng hề có đai an toàn – cũng chẳng có hệ thống hãm phụ trợ nào – trong khi lũ ngựa có thể chạy nhanh gần bằng xe hơi, song lại xóc lắc hơn nhiều. Toàn bộ thử thách này chỉ đơn giản là trò dại dột. Tất nhiên là tôi không hé lời nào về chuyện này. Tôi ngậm miệng, nghiến chặt hàm lại và hy vọng mình ít nhất cũng sống được đủ lâu để chết theo một cách thú vị hơn là ngã ngựa.

Từ tiếng hô phi nhanh nào! đầu tiên, chúng tôi đã phi nước đại. Tôi lập tức bỏ mặc sự tự tôn của bản thân và ôm chặt cứng người đàn ông Digan ngồi trên yên đằng trước tôi, ông ta đang cầm cương – phi nhanh tới mức tôi chẳng có cơ hội vẫy tay chào tạm biệt những người Digan đã tụ tập lại để tiễn chúng tôi lên đường. Mà thế cũng tốt: chào tạm biệt chưa bao giờ là điểm mạnh của tôi, và gần đây cuộc sống của tôi có vẻ chỉ là một chuỗi liên tục những dịp như thế. Tạm biệt, tạm biệt, tạm biệt. Chúng tôi lao đi. Hai bên đùi tôi tê dại vì kẹp lấy hông ngựa. Bekhir dẫn đầu đoàn kỵ sĩ, cậu con trai đặc biệt của ông cùng ngồi trên yên với ông. Cậu bé phi ngựa lưng vươn thẳng, hai cánh tay xuôi hai bên sườn, hoàn toàn tự tin không chút sợ hãi, hoàn toàn tương phản với hình ảnh tối hôm trước. Ở đây cậu bé đang trong môi trường của cậu, giữa những người Digan. Cậu không cần tới chúng tôi. Những người này là đồng bào của cậu. Cuối cùng chúng tôi phi chậm lại thành nước kiệu, và tôi thu được đủ can đảm để thò mặt ra khỏi áo khoác người kỵ sĩ, quan sát phong cảnh đang thay đổi xung quanh. Rừng đã nhường chỗ cho các cánh đồng. Chúng tôi đang đi xuống một thung lũng, ở giữa thung lũng là một thị trấn, nhìn từ chỗ này chỉ nhỏ bằng một con tem bưu điện, lọt thỏm giữa màu xanh lá cây cỏ ở mọi phía. Hướng về nó từ phía Bắc là một chuỗi dài những chấm trắng hình e líp: làn khói thở của một đoàn tàu.

Bekhir dừng đoàn ngựa lại ở ngay cổng vào thị trấn. “Chúng tôi chỉ có thể đi được tới đây,” ông nói. “Chúng tôi không được hoan nghênh lắm tại các đô thị. Các cô cậu sẽ không muốn vì chúng tôi mà bị chú ý đâu.” Thật khó hình dung nổi lại có ai kỳ thị những con người tốt bụng này. Nhưng thế đấy, những định kiến tương tự là một trong các lý do khiến người đặc biệt phải rút lui khỏi xã hội. Thế giới đáng buồn này vận hành như thế đấy. Tôi và những đứa trẻ khác xuống ngựa. Tôi đứng sau lưng những người còn lại, hy vọng không ai nhận ra đôi chân đang run rẩy của mình. Đúng lúc chúng tôi chuẩn bị lên đường, cậu con trai Bekhir tụt xuống khỏi ngựa của bố mình và kêu lên, “Đợi đã! Cho em đi cùng mọi người!”

“Tớ tưởng cậu đi nói chuyện với cậu ta rồi cơ mà,” Emma nói với Millard. “Tớ có nói rồi,” Millard nói. Cậu bé lôi một cái ba lô ra từ túi yên ngựa và đeo nó lên vai. Cậu ta đã đóng gói hành lý và sẵn sàng lên đường. “Em có thể nấu ăn,” cậu nói, “và bổ củi, cưỡi ngựa, cũng như buộc đủ loại nút thắt.”

“Ai đó cho cậu ta một huy chương danh dự đi,” Enoch nói. “Chị sợ là không được đâu,” Emma dịu dàng nói với cậu bé. “Nhưng em giống mọi người – càng ngày càng giống hơn!” cậu bé bắt đầu cởi khuy quần. “Hãy nhìn điều gì đang xảy ra với em!”

Chưa ai kịp ngăn cản, cậu ta đã tụt quần xuống tận mắt cá chân. Mấy cô gái há hốc miệng quay ngoắt đi nhìn chỗ khác. Hugh la lớn, “Mặc quần vào, đồ tâm thần hư hỏng!” Nhưng chẳng có gì để mà nhìn – từ hông cậu bé trở xuống hoàn toàn vô hình. Sự tò mò quá đáng thôi thúc tôi nhìn vào phía dưới nửa người còn hiện hình của cậu bé, và tôi thấy rõ mồn một những gì đang diễn ra. “Mọi người hãy xem em đã biến mất nhiều thế nào từ ngày hôm qua,” Radi nói, giọng đầy hoảng hốt. “Chẳng mấy chốc nữa em sẽ biến mất hoàn toàn!”

Những người đàn ông Digan trố mắt nhìn và thì thẩm. Ngay cả những con ngựa của họ cũng có vẻ bồn chồn, tránh ra xa khỏi đứa trẻ dường như bị mất hai chân. “Tớ sẽ mọc cánh mất!” Enoch nói. “Cậu nhóc chỉ còn một nửa thôi kìa.” “Ôi, cậu bé tội nghiệp,” Bronwyn nói. “Chúng ta không thể để cậu bé đi cùng sao?”

“Chúng ta không phải là một gánh xiếc rong mà bất cứ ai hễ hứng lên là đều có thể gia nhập,” Enoch nói. “Chúng ta đang thực hiện một nhiệm vụ nguy hiểm để giải cứu Chủ Vòng của chúng ta, và không thể đóng vai bảo mẫu cho một cậu chàng đặc biệt mới toanh chưa biết gì!” Đôi mắt cậu bé mở to và bắt đầu ầng ậng nước, và cậu để chiếc ba lô tụt khỏi vai rơi xuống đường. Emma kéo Enoch sang bên. “Nói thế thì tàn nhẫn quá,” cô nói. “Giờ hãy nói với cậu bé là cậu xin lỗi.”

“Tớ sẽ không xin lỗi. Quỹ thời gian quý báu đang cạn dần còn chúng ta đang lãng phí nó một cách ngớ ngẩn đấy.” “Những người này đã cứu mạng chúng ta!” “Đáng lẽ tính mạng chúng ta đã chẳng cần ai cứu nếu bọn họ không nhốt chúng ta vào cái lồng quý hóa đó!”

Emma kệ xác Enoch và quay sang cậu bé. “Nếu hoàn cảnh khác đi, bọn chị chắc chắn sẽ mở rộng vòng tay chào đón em. Nhưng trong tình thế này, toàn bộ nền văn minh và cuộc sống của chúng ta đang có nguy cơ bị hủy diệt. Vì thế thời điểm không thích hợp chút nào cả, em thấy đấy.” “Thật không công bằng,” cậu bé rầu rĩ. “Tại sao em lại không bắt đầu vô hình từ trước đi cho rồi chứ? Tại sao chuyện đó lại xảy ra đúng lúc này?” “Khả năng của mỗi người đặc biệt đều bộc phát vào một lúc nào đó,” Millard nói. “Một số ngay từ thời thơ ấu; với những người khác nó lại chỉ thể hiện khi họ đã khá lớn tuổi. Anh từng nghe nói có người không thể nhận ra ông ấy có thể dùng ý nghĩ nhấc bổng mọi vật lên cho tới khi ông ta đã chín mươi hai tuổi.”

“Tớ đã nhẹ bỗng hơn cả không khí ngay từ khi ra đời,” Olive nói đầy tự hào. “Tớ chui ra khỏi bụng mẹ là bay vút thẳng lên trần bệnh viện luôn! May nhờ dây rốn tớ mới không bay qua cửa sổ và vọt tít lên chín tầng mây. Người ta kể bác sĩ đã ngất xỉu vì choáng!” “Giờ cậu vẫn còn gây kinh ngạc lắm, cô bé yêu quý,” Bronwyn vừa nói vừa vỗ nhẹ lên lưng cô bé động viên. Millard, có thể nhìn thấy nhờ chiếc áo khoác và đôi ủng của cậu ta, bước tới chỗ cậu bé. “Bố em nghĩ sao về chuyện này?” cậu hỏi.

“Tất nhiên chúng tôi không muốn nó đi,” Bekhir nói, “nhưng làm sao chúng tôi có thể chăm lo chu đáo cho nó nếu thậm chí chúng tôi chẳng thế nhìn thấy nó? Nó muốn đi – và tôi nghĩ biết đâu nó sẽ thoải mái hơn giữa những người đồng loại.” “Ông có yêu cậu ấy không?” Millard thẳng thừng hỏi. “Cậu ấy có yêu ông không?” Lông mày Bekhir cau lại. Ông là một người khá bảo thủ, và câu hỏi làm ông thấy không thoải mái. Nhưng sau một lúc hầm hừ, ông gắt lên, “Tất nhiên rồi. Nó là con tôi.”

“Thế thì ông là đồng bào của cậu ấy,” Millard nói. “Cậu ấy thuộc về các ông, không phải chúng tôi.” Bekhir không thích bộc lộ cảm xúc trước mặt người của mình, song nghe xong mấy lời đó, tôi thấy mắt ông chớp chớp và quai hàm nghiến lại. Ông gật đầu, nhìn xuống con trai mình và nói, “Vậy thì lại đây nào. Cầm ba lô của con lên và về thôi. Mẹ con chắc đã pha trà đợi sẵn đấy.” “Vâng, thưa bố,” cậu bé nói, vừa có vẻ thất vọng vừa nhẹ nhõm.

“Em sẽ ổn thôi,” Millard trấn an cậu bé. “Còn hơn cả ổn ấy chứ. Và khi tất cả chuyện này kết thúc, anh sẽ tới tìm em. Ở ngoài kia còn nhiều người nữa như chúng ta, và đến một ngày nào đó chúng ta sẽ cùng nhau tìm ra họ.” “Anh hứa nhé?” cậu bé nói, đôi mắt tràn đầy hy vọng. “Anh hứa,” Millard nói.

Với câu trả lời đó, cậu bé leo trở lại lên lưng con ngựa của bố cậu, còn chúng tôi quay lại đi bộ qua cổng vào thị trấn..