Hôm nay bạn muốn đọc gì?

Thành Phố Hồn Rỗng (TẬP 2) - Chương 6

Chương 6

Thị trấn này có tên là Coal(*). Không phải là Coaltown hay Coalville. Chỉ là Coal. Món than đá này hiện diện khắp nơi, chất thành đống lổn nhổn cạnh cửa ra vào các ngôi nhà, bốc lên từ các ống khói dưới dạng thứ khói nhờn nhờn, bê bết trên bộ áo bảo hộ liền quần của những người đàn ông đang đi bộ tới chỗ làm. Chúng tôi co cụm lại thành một nhóm hối hả đi ngang qua họ về phía nhà ga. (*) than đá “Giờ khẩn trưởng lên,” Emma nói. “Không nói gì hết. Mắt cụp xuống.”

Một quy tắc đã được xác lập là nếu không cần thiết chúng tôi cần tránh tiếp xúc bằng mắt với những người bình thường, vì những cái nhìn có thể dẫn tới những cuộc trò chuyện, rồi từ trò chuyện dẫn tới các câu hỏi, và những đứa trẻ đặc biệt cảm thấy khó mà trả lời những câu hỏi do người lớn bình thường đặt ra mà không gợi ra thêm những câu hỏi nữa. Tất nhiên, nếu có điều gì mời gọi các câu trả lời thì đó là một nhóm trẻ con bộ dạng nhếch nhác không có người lớn đi kèm giữa thời buổi chiến tranh – nhất là lại còn có một con chim ăn thịt to vuốt sắc đậu trên vai một trong số các cô bé – song cư dân thị trấn dường như chẳng hề để ý tới chúng tôi. Họ xúm lại quanh các dãy dây phơi quần áo hay trước cửa các tửu quán trên các con phố hẹp ngoằn ngoèo của Coal, bộ dạng ủ rũ như những bông hoa héo, thoáng đưa mắt về phía chúng tôi rồi lại nhìn đi chỗ khác. Họ còn nhiều nỗi lo toan khác nữa. Ga tàu nhỏ tới mức tôi tự hỏi liệu các đoàn tàu có nhọc công dừng bánh ở đó không. Phần duy nhất có mái che là quầy bán vé, một túp nhà nhỏ nằm giữa một khoảng sân phơi ra giữa trời. Bên trong túp nhà có một người đàn ông đang ngủ gật trên một chiếc ghế, đôi mắt kính hai tròng dày như thành vỏ chai tụt xuống trên sống mũi ông ta. Emma gõ mạnh lên cửa sổ, làm người bán vé giật mình bừng tỉnh. “Cho tám vé đi London!” cô nói. “ Chúng cháu cần tới đó trong chiều nay.”

Người bán vé nhìn chúng tôi chằm chằm qua lớp kính. Ông ta gỡ cái kính hai tròng của mình xuống lau sạch rồi lại đeo lên, để cho chắc không phải đang nhìn nhầm. Tôi tin chắc trông chúng tôi thực sự gây sốc: quần áo chúng tôi bê bết bùn, tóc tai nhờn bẩn, dính bết lại dựng lên dựng lên theo những góc độ kỳ cục. Và có lẽ chúng tôi cũng nặng mùi nữa. “Rất tiếc,” người bán vé nói. “Tàu kín chỗ rồi.” Tôi nhìn quanh. Ngoài vài người đang ngủ gật trên các bang ghế, nhà ga vắng tanh.

“Thật lố bịch!” Emma thốt lên. “Bán vé cho chúng cháu ngay, nếu không cháu sẽ báo cáo về ông lên cơ quan quản lý đường sắt vì phân biệt đối xử với trẻ em!” Nếu là tôi thì tôi đã nói năng nhẹ nhàng hơn với người bán vé, song Emma thì không có chút kiên nhẫn nào với sự khinh khỉnh làm cao của các vị quan liêu. “Nếu đúng là có tội danh đó,” người bán vé đáp, mũi hếch lên miệt thị, “thì nó chắc chắn cũng không áp dụng cho chúng mày. Đang có chiến tranh, cô nhóc biết đấy, và có nhiều thứ quan trọng cần được vận chuyển qua lãnh thổ của Nữ hoàng hơn là trẻ con và động vật!” Ông ta ném về phía cô Peregrine một cái nhìn khắc nghiệt. “Thứ đó thì kiểu gì cũng không được cho phép lên tàu trong bất cứ trường hợp nào!”

Một đoàn tàu xình xịch tiến vào ga rồi dừng lại. Người soát vé bắt đầu ló ra ngoài một khung cửa sổ và hô lớn, “Chuyến tám giờ ba mưới đi London! Tất cả lên tàu!” Những người đang ngủ gật trên các bang ghế tỉnh dậy và bắt đầu lục tục đi qua sân ga. Một người đàn ông mặt bộ đồ xám chen qua chúng tôi tới cửa quầy vé. Ông ta chìa tiền về phía người bán vé, nhận được một chiếc vé và hối hả đi về phía đoàn tàu. “Ông nói là hết chỗ rồi!” Emma lên tiếng, đấm mạnh lên mặt kính. “Ông không thể làm thế!”

“Quý ông đó mua vé hạng nhất,” người bán vé nói. “ Giờ chúng mày xéo đi, lũ oắt con ăn mày hôi hám! Đi chỗ khác để tìm túi mà móc!” Horace bước tới cửa số quầy vé và nói, “Theo định nghĩa, đám ăn mày không mang theo người nhiều tiền, rồi cậu thò tay vào túi áo khoác và ném một xấp tiền dày xuống quầy. “Nếu ông đang bán vé hạng nhất, thì đây là thứ chúng tôi có!” Người bán vé ngồi thẳng người dậy, há hốc miệng nhìn xấp tiền. Những người còn lại trong nhóm chúng tôi cũng sững sờ, ngỡ ngàng không hiểu Horace đã kiếm chỗ tiền đó từ đâu. Đếm qua xấp tiền, người bán vé nói, “Chỗ này đủ để mua chỗ nguyên một toa hạng nhất!”

“Vậy thì cho chúng tôi cả một toa!” Horace nói. “Như thế ông có thể chắc chắn chúng tôi sẽ không móc túi ai cả.” Người bán vé đỏ lựng mặt và ấp úng “V... vâng, thưa ngài… xin lỗi, thưa ngài – và tôi hi vọng các vị chỉ coi những lời tôi nói lúc trước như những câu đùa cợt…” “Thôi, đưa những cái vé quái quỷ đó ra đây để chúng tôi còn lên tàu!”

“Ngay đây, thưa ngài!” Người bán vé đẩy một xấp vé hạng nhất về phía chúng tôi, “Chúc thượng lộ bình an!” ông ta nói. “Và làm ơn đừng nói với ai là tôi đã nói vậy, thưa quý vị, nhưng nếu tôi là quý vị, tôi sẽ giấu con chim đó khuất khỏi tầm mắt. Người soát vé sẽ không thích nó đâu, dù là vé hạng nhất hay không.” Trong lúc chúng tôi cầm vé rời khỏi quầy, Horace ưỡn ngực ra đắc thắng như một chú công.

“Cậu đã lấy số tiền đó ra từ xó nào vậy?” Emma hỏi. “Tớ đã cứu được chúng từ trong ngăn kéo bàn cô Peregrine trước khi tòa nhà bốc cháy,” Horace đáp. “Tớ đã khâu sẵn một cái túi đặc biệt trong áo khoác của mình để giữ chỗ tiền đó an toàn.” “Horace, cậu là một thiên tài!” Bronwyn thốt lên.

“Liệu một thiên tài có tiêu đi đến đồng xu cuối cùng như thế không?” Enoch nói. “Liệu chúng ta có thực sự cần đến cả một toa hạng nhất không?” “Không,” Horace nói, “nhưng khiến ông ta trông ngớ ngẩn như thế thật vui, phải không nào?” “Tớ đoán là vậy,” Enoch nói.

“Đó là vì mục đích thật sự của tiền là để thao túng người khác và làm họ cảm thấy thấp kém hơn mình.” “Tớ không hoàn toàn chắc về việc đó.” Emma nói. “Tớ chỉ đùa thôi!”Horace nói. “Tiền là để mua quần áo, tất nhiên rồi.”

Chúng tôi sắp sửa lên tàu thì bị người soát vé chặn lại. “Cho ta xem vé của các cháu nào!” ông này nói, và ông ta đang đưa tay cầm xấp vé trên tay Horace thì để ý thấy Bronwyn nhét thứ gì đó vào trong áo khoác của cô. “Cô bé giấu thứ gì trong đó vậy hả?” người soát vé hỏi, quay người về phía cô đầy nghi ngờ. “Cháu có giấu thứ gì ở chỗ nào đâu ạ?” Bronwyn hỏi lại, cố làm ra vẻ vô tư trong khi khép áo khoác lại che kín một khối cựa quậy. “Trong áo khoác của cháu!” người soát vé nói. “Đừng giỡn với tôi, cô bé.”

“Nó là, à…” Bronwyn cố nghĩ thật nhanh và thất bại. “Một con chim thì sao ạ?” Emma gục đầu xuống, Enoch đưa một tay lên che mắt và rên rỉ. “Không được mang vật nuôi lên tàu!” người soát vé quát to.

“Nhưng ông không hiểu.” Bronwyn nói. “Cháu đã có nó từ khi còn nhỏ… và chúng cháu nhất định phải lên chuyến tàu này… và chúng cháu đã trả rất nhiều tiền để mua vé!” “Quy định là quy định!” người soát vé nói, bắt đầu mất bình tĩnh. “Đừng có giỡn với tôi!” Emma ngẩng đầu lên, mặt cô sáng bừng, “Một món đồ chơi thôi mà!” cô nói.

“Cháu nói sao?” người soát vé hỏi lại. “Đó không phải là một con chim thật, thưa ông soát vé. Chúng cháu không bao giờ nghĩ tới việc vi phạm quy định như thế. Đây là món đồ chơi ưa thích của chị gái cháu, ông thấy đấy, và chị ấy nghĩ ông muốn lấy mất nó.” Cô xoắn hai bàn tay cầu khẩn đầy khổ sở. “Ông sẽ không lấy đi món đồ chơi ưa thích của một đứa trẻ chứ, phải không ông?” Người soát vé nhìn Bronwyn với vẻ ngờ vực .“Chị cháu trông có vẻ hơi quá tuổi để chơi đồ chơi rồi, cháu không thấy thế sao?”

Emma ghé sát lại và thì thầm, “Chị ấy có hơi chậm chạp, ông thấy đấy…” Bronwyn cau mày khi nghe thấy mấy lời này nhưng không còn lựa chọn nào ngoài tiếp tục diễn trò. Người soát vé bước về phía cô. “Vậy để ta xem món đồ chơi này nào.” Đã đến khoảnh khắc quyết định. Chúng tôi nín thở trong khi Bronwyn mở áo khoác ra, thò tay vào trong, rồi từ tốn lấy cô Peregrine ra. Khi nhìn thấy con chim, trong một khoảnh khắc khủng khiếp tôi thoáng nghĩ bà đã chết. Cô Peregrine đã trở nên hoàn toàn bất động, nằm trên tay Bronwyn với đôi mắt nhắm nghiền, hai chân chìa ra cứng đơ. Sau đó tôi nhận ra bà chỉ đang giả bộ.

“Ông thấy chưa?” Bronwyn nói. “Không phải chim thật. Chỉ là chim nhồi thôi.” “Lúc trước ta thấy nó cử động!” người soát vé nói. “Nó là… à… một món đồ chơi chạy cót,” Bronwyn nói. “Ông xem nhé.”

Bronwyn quỳ gối xuống, đặt cô Peregrine xuống đất bên cạnh mình, rồi đưa tay xuống dưới cánh chim làm bộ đang vặn cót. Một khoảnh khắc sau mắt cô Peregrine mở ra và bà bắt đầu nhảy vòng quanh, bắt đầu lắc lư cứng nhắc như máy, còn đôi chân nhảy bật lên bật xuống như lắp lò xo. Cuối cùng, bà sững lại rồi nằm lăn ra, bất động như một mô hình. Một màn biểu diễn thực sự đáng đoạt giải Oscar. Người soát vé có vẻ gần như – song chưa hoàn toàn – bị thuyết phục. “Được rồi,” ông ta đằng hắng, “nếu đó là một món đồ chơi, cháu làm ơn cất nó vào thùng đồ chơi của cháu nhé.” Ông hất hàm về chiếc rương Bronwyn đã đặt xuống ke ga.

Bronwyn do dự. “Đây không phải…” “Vâng, được thôi, không có gì khó cả,” Emma vừa nói vừa mở nắp khóa rương. “Bỏ nó vào trong này đi chị!” “Nhưng sẽ thế nào nếu không có không khí trong đó?” Bronwyn khẽ thì thầm với Emma.

“Thì chúng ta sẽ khoét vài cái lỗ vào thành rương!” Emma thì thầm đáp lại. Bronwyn cầm cô Peregrine lên và nhẹ nhàng đặt bà vào trong cái rương. “Rất xin lỗi, thưa cô,” cô thì thầm, hạ nắp rương xuống rồi khóa lại. Cuối cùng người soát vé cầm lấy vé của chúng tôi.“Hạng nhất!” ông ta ngạc nhiên thốt lên.“Toa của các cháu ở tận đầu đoàn tàu.” Ông ta chỉ về phía đầu cuối ke ga. “Tốt nhất các cháu nên nhanh lên!”

“Bây giờ ông ấy mới chịu nói cho chúng ta biết!” Emma nói, và chúng tôi hối hả chạy dọc theo ke ga. Với một màn hơi nước xì ra và tiếng kim loại và chạm khi chuyển động, đoàn tàu bắt đầu chuyển bánh bên cạnh chúng tôi. Lúc này nó mới chỉ nhích đi chầm chậm, nhưng theo mỗi vòng bánh lăn nó lại chạy nhanh hơn một chút. Chúng tôi đã chạy tới ngang với toa hạng nhất. Bronwyn là người đầu tiên nhảy lên qua cửa toa đang mở. Cô để cái rương của mình xuống lối đi giữa toa và đưa tay giúp Olive lên tàu.

Thế rồi từ phía sau chúng tôi một giọng nói hét lớn, “Dừng lại! Xuống khỏi đó!” Đó không phải là giọng người soát vé. Giọng nói này trầm hơn, quyền uy hơn. “Tớ thề là nếu có thêm một người nữa tìm cách ngăn chúng ta lên chuyến tàu này…” Enoch nói.

Một phát súng vang lên, và cú sốc đột ngột nó gây ra làm chân tôi bị vấp. Tôi loạng choạng nhào ra khỏi khung cửa toa và bật lùi xuống sân ga. “Tao nói dừng lại!” giọng nói đó lại gắt lên, và ngoái lại nhìn, tôi thấy một người lính mặt quân phục đứng trên sân ga, quỳ gối xuống trong tư thế ngắm bắn, súng trường chĩa về phía chúng tôi. Cùng hai tiếng nổ đinh tai, hắn bắn thêm hai phát đạn nữa sượt qua trên đầu chúng tôi để đặt được mục đích của mình. “Xuống tàu và quỳ gối xuống!” hắn nói, hối hả rảo bước về phía chúng tôi. Tôi đã định chạy lên tàu, nhưng rồi tôi thoáng thấy đôi mắt tên lính, và màu trắng đục không hề có đồng tử của chúng thuyết phục tôi đừng làm vậy. Hắn là một xác sống, và tôi biết hắn sẽ không buồn cân nhắc trước khi bắn hạ bất cứ ai trong chúng tôi. Tốt hơn đừng cho hắn lý do làm vậy.

Bronwyn và Olive hẳn cũng có cùng suy nghĩ, vì họ xuống khỏi tàu và quỳ gối xuống cạnh chúng tôi. Chỉ thiếu chút nữa, tôi thầm nghĩ. Chúng tôi chỉ thiếu chút nữa. Đoàn tàu rời ga không có chúng tôi, hy vọng tốt nhất của chúng tôi để cứu cô Peregrine đang chạy xa dần.

Và cô Peregrine đang ở trên đó, tôi chợt nhớ ra và choáng váng buồn nôn. Bronwyn đã để cái rương của cô trên tàu! Một thôi thúc tự động bao trùm lấy tôi, và tôi vùng dậy đuổi theo đoàn tàu – nhưng rồi một nòng súng trường xuất hiện chỉ cách mặt tôi gần chục phân, và trong tích tắc tôi cảm thấy tất cả cơ bắp của mình không còn chút sức lực nào. “Không. Thêm. Bước. Nào. Nữa.” Tôi sụp trở lại xuống đất.

*** Chúng tôi đều quỳ gối, tay giơ lên, tim đập thình thịch. Gã lính đi vòng quanh chúng tôi, căng thẳng, súng chĩa lăm lăm, ngón tay đặt sẵn lên cò. Đó là lần quan sát một gã xác sống cận kề nhất, lâu nhất tôi từng trải qua từ sau vụ bác sĩ Golan. Hắn đang mặc một bộ quân phục Anh tiêu chuẩn – áo kaki bỏ vào trong quần len lông cừu, ủng đen, mũ sắt – nhưng mặc chúng một cách vụng về, quần nhăn nhúm, còn mũ sắt lại lật quá ra sau đầu, như thể đây là những món trang phục hắn vẫn chưa mặc quen. Có vẻ hắn cũng bồn chồn, đầu nghiêng qua ngó lại trong lúc hắn đồn chúng tôi lại. Hắn chỉ có một mình, và dù chỉ là một nhóm trẻ con không vũ khí, chúng tôi cũng đã giết chết một xác sống và hai con hồn rỗng trong ba ngày vừa qua. Hắn sợ chúng tôi, và điều đó, hơn bất cứ điều gì khác, làm tôi sợ hắn. Nỗi sợ hãi làm hắn trở nên không lường trước. Hắn rút một chiếc bộ đàm đeo ở thắt lưng ra rồi nói liến thoắng vào đó. Xì xì một lát, rồi câu trả lời quay trở lại ngay sau đó. Tất cả đều bằng mật mã; tôi không hiểu lấy một từ.

Hắn ra lệnh cho chúng tôi đứng dậy. Chúng tôi đứng lên. “Chúng ta đi đâu đây?” Olive rụt rè hỏi. “Tản bộ một chút,” hắn nói. “Một cuộc tản bộ ngoan ngoãn, trật tự.” Hắn có cách phát âm cụt ngủn, các nguyên âm nghe bèn bẹt cho tôi biết hắn từ nơi khác đến nhưng giả khẩu âm Anh, tuy vậy không được khá cho lắm. Lũ xác sống đáng lẽ phải là các bậc thầy ngụy trang, song gã này rõ ràng không phải là một ngôi sao trong cộng đồng của hắn.

“Chúng mày không được tách khỏi hàng,” hắn nói, nhìn trừng trừng vào lần lượt từng người trong chúng tôi. “Chúng mày không được chạy. Tao còn mười lăm viên đạn – đủ để khoét hai cái lỗ lên mỗi đứa chúng mày. Và đừng cho là tao không thấy áo khoác của mày, thằng nhóc vô hình. Cứ thử đi tao phải đuổi theo mày xem, tao sẽ xẻo cả hai ngón tay cái vô hình của mày ra làm kỷ niệm.” “Vâng, thưa ông,” Millard nói. “Không được nói gì hết!” gã lính gắt gỏng. “Giờ đi đều bước!”

Chúng tôi đi ngang qua trước quầy vé, người bán vé giờ đã đi đâu mất, rồi ra khỏi nhà ga, ra ngoài phố. Cho dù các cư dân Coal chẳng buồn liếc mắt nhìn chúng tôi tới lần thứ hai lúc chúng tôi đi vào thị trấn trước đó, giờ họ ngoái đầu nhìn theo chăm chăm như những con cú khi chúng tôi bị giải đi thành một hàng trước họng súng. Gã lính giữ cho chúng tôi đi ngay ngắn trong hàng, cấm cảu quát nạt khi ai đó đi trệch hàng quá xa. Tôi đi sau cùng, hắn đằng sau lưng tôi, và tôi có thể nghe thấy tiếng dây lưng đạn kêu lạch cạch trong khi chúng tôi bước đi. Chúng tôi đang quay ngược trở lại con đường đã đi tới lúc trước, thẳng ra khỏi thị trấn. Tôi tưởng tượng ra cả tá kế hoạch đào tẩu. Chúng tôi nên tản ra. Không – hắn sẽ bắn hạ ít nhất vài người trong chúng tôi. Có lẽ ai đó cần vờ ngất xỉu trên đường, sau đó người đi sau sẽ vấp chân, rồi trong lúc lộn xộn – không, hắn quá tỉnh táo để mắc mưu một trò kiểu đó. Ai đó trong chúng tôi cần phải tiếp cận hắn đủ gần để đoạt lấy khẩu súng. Tôi. Tôi là người ở gần nhất. Có thể nếu tôi bước đi chậm lại một chút, để hắn bắt kịp, sau đó lao vào hắn… nhưng tôi đang đùa với ai đây? Tôi không phải là một anh hùng phim hành động. Tôi sợ đến mức gần như nghẹt thở. Dù thế nào đi nữa, hắn còn cách sau lưng tôi hơn chín mét, và súng của hắn chĩa thẳng vào lưng tôi. Hắn sẽ bắn tôi ngay khi tôi quay người lại, và tôi sẽ nằm giữa đường mất máu đến chết. Đó là ý tưởng ngu ngốc chứ không phải ý tưởng anh dũng.

Một chiếc xe jeep rồ máy chạy tới từ phía sau và vượt lên qua bên cạnh chúng tôi, đi chậm lại để vừa với nhịp bước của chúng tôi. Có thêm hai gã lính trên xe, cả hai đều đeo kính râm to bản. Tôi biết đằng sau những mắt kính đó là cái gì. Gã xác sống ngồi trên ghế hành khách gật đầu với gã đã bắt được chúng tôi và khẽ chào – Chúc đi đường bình an! – rồi quay sang chúng tôi nhìn trừng trừng. Từ khoảnh khắc đó, hắn không lúc nào rời mắt khỏi chúng tôi hay rời tay khỏi khẩu súng trường của mình. Giờ chúng tôi đã có cả hộ tống, từ một gã xác sống cầm súng trường đã biến thành ba. Mọi hy vọng thoát thân trong tôi đều tan biến. Chúng tôi bước đi, đi mãi, giày giẫm lạo xạo trên mặt đường rải sỏi, động cơ chiếc jeep gầm gừ bên cạnh chúng tôi như một chiếc máy cắt cỏ rẻ tiền. Thị trấn khuất dần, và một trang trại xuất hiện hai bên con đường chạy giữa hàng cây, những cánh đồng bỏ hoang trơ trụi. Mấy gã lính không nói với nhau lời nào. Có gì đó thật máy móc ở chúng, như thể bộ óc của chúng đã bị rút ra và thay bằng những bảng mạch. Người ta vẫn nói lũ xác sống rất khôn ngoan, nhưng theo tôi thấy mấy gã này có vẻ giống như người máy. Thế rồi tôi nghe thấy một tiếng vo ve bên tai mình, khi ngẩng lên, tôi nhìn thấy một con ong lượn vòng quanh đầu mình rồi bay đi.

Hugh, tôi nghĩ thầm. Cậu ta đang định làm gì vậy? Tôi nhìn về phía cậu ta trong hàng, lo rằng Hugh có thể đang toan tính gì đó sẽ khiến tất cả chúng tôi bị bắn – nhưng tôi không thấy cậu ta. Tôi đếm nhẩm nhanh trong đầu. Một-hai-ba-bốn-năm-sáu. Trước mặt tôi là Emma, rồi đến Enoch, Horace, Olive, Millard và Bronwyn. Hugh đâu rồi?

Tôi gần như nhảy dựng lên không. Hugh không có ở đây! Nghĩa là cậu ta đã không bị bắt cùng chúng tôi. Cậu ta vẫn còn tự do! Có lẽ trong lúc hỗn loạn tại nhà ga, cậu ta đã chui xuống khoảng trống giữa đoàn tàu và ke ga, hoặc đã nhảy lên tàu mà không bị gã lính phát hiện. Tôi tự hỏi liệu có phải cậu ta đang bám theo chúng tôi hay không – ước gì tôi có thể ngó lại con đường đằng sau mà không làm cậu ta bại lộ. Tôi hy vọng Hugh không bám theo chúng tôi, vì như thế nghĩa là cậu ta đang ở cùng cô Peregrine. Nếu không, làm thế nào chúng tôi tìm lại được bà? Và nếu bà bị hết dưỡng khí trong khi bị nhốt bên trong cái rương đó thì làm sao? Và vào năm 1940 người ta sẽ làm gì với những món hành lý có vẻ đáng ngờ bị bỏ lại đây? Khuôn mặt tôi nóng bừng, cổ thắt lại. Có quá nhiều điều để sợ, cả trăm viễn cảnh kinh hoàng chen nhau cố thu hút sự chú ý trong đầu tôi.

“Trở vào hàng!” gã lính sau lưng tôi quát, và tôi nhận ra hắn đang nói với tôi – vì trong tâm trạng sốt xình xịch, tôi đã đi trệch quá xa khỏi tâm đường. Tôi hối hả quay lại vị trí của mình sau lưng Emma, cô ngoái lại hướng ánh mắt van nài về phía tôi – Đừng làm hắn nổi cáu! – và tôi tự hứa rằng mình sẽ giữ bình tĩnh. Chúng tôi bước đi trong im lặng bồn chồn, sự căng thẳng vo vo lan đi trong chúng tôi như một luồng điện. Tôi có thể thấy nó ở Emma khi cô không ngừng siết chặt hai nắm tay rồi lại xòe ra; ở Enoch khi cậu lắc đầu lẩm bẩm một mình; ở Olive theo từng bước chân đi chệnh choạng. Có vẻ như chỉ còn là vấn đề thời gian, ai đó trong chúng tôi sẽ làm gì đó liều mạng và những viên đạn sẽ bắt đầu lao đến. Thế rồi tôi nghe thấy Bronwyn kêu lên thảng thốt, tôi bèn ngẩng lên nhìn, một cảnh tượng kinh hoàng tôi chưa bao giờ hình dung ra nổi hiện ra trước mắt tôi. Ba vật thể to tướng nằm bất động phía trước chúng tôi, một trên đường, hai ở cánh đồng ven đường, ngay bên kia một con lạch nông. Thoạt đầu tôi nghĩ đó là những đống đất đen, không buồn nhìn vào chúng.

Thế rồi chúng tôi lại gần hơn, và tôi không thể coi như chúng là gì khác ngoài bản chất thật của chúng: ba con ngựa chết nằm chết trên đường. Olive kêu thét lên. Bronwyn theo bản năng quay lại trấn an cô bé – “Đừng nhìn, chích chòe bé bỏng!” – và gã lính ngồi trên xe nổ súng bắn đạn chì lên trời. Chúng tôi nhào xuống đất, đưa tay ôm đầu. “Làm thế lần nữa là mày sẽ nằm dưới lạch cạnh chúng nó đấy!” hắn quát.

Trong lúc chúng tôi đứng dậy, Emma quay về phía tôi và thì thầm Digan, sau đó hất hàm về phía con ngựa gần nhất. Tôi hiểu ý cô: đây là mấy con ngựa của họ. Thậm chí tôi còn nhận ra những dấu hiệu trên một con – các chấm trắng trên hai chân sau của nó – và biết đó chính là con ngựa tôi mới cưỡi chỉ một giờ trước. Tôi cảm thấy như mình sắp nôn ọe. Tất cả cùng ùa về ráp vào nhau, hiện ra như một cuốn phim trong đầu tôi. Lũ xác sống đã gây ra chuyện này – cũng chính những kẻ đã tấn công khu trại của chúng tôi tối hôm trước. Những người Digan đã gặp phải chúng trên đường sau khi để chúng tôi lại bên rìa thị trấn. Đã có một cuộc giao chiến, rồi một cuộc truy đuổi. Đám xác sống đã bắn chết lũ ngựa của những người Digan ngay khi họ đang cưỡi chúng.

Tôi biết bọn xác sống đã giết người – giết những đứa trẻ đặc biệt. Cô Avocet đã nói thế - song sự tàn bạo của việc bắn chết những con vật này có vẻ vượt xa cả sự độc ác đó. Một giờ trước, chúng từng là ba trong số những tạo vật giàu sức sống nhất mà tôi từng thấy – đôi mắt long lanh khôn ngoan, thân mình vạm vỡ cơ bắp, hừng hực hơi nóng – còn giờ đây, chỉ vì sự can thiệp của vài mảnh kim loại, chúng chỉ còn là những đống thịt lạnh ngắt. Những con vật mạnh mẽ, kiêu hãnh bị bắn hạ và bỏ lại trên đường như rác rưởi. Tôi rùng mình vì sợ hãi, run lên vì phẫn nộ. Tôi cũng thấy ăn năn vì từng có định kiến với chúng. Tôi quả là một thằng nhóc được nuông chiều vô ơn. Bình tĩnh lại, tôi tự nhủ. Hãy trấn tĩnh bản thân.

Bekhir và người của ông bây giờ đâu rồi? Con trai ông đâu? Tất cả những gì tôi biết là đám xác sống sẽ bắn chúng tôi. Đến giờ thì tôi đã chắc vì chuyện đó. Lũ giả danh mặc áo lính này cũng chỉ là những động vật; thậm chí còn quái gở hơn cả lũ hồn rỗng chúng kiểm soát. Ít nhất đám xác sống cũng có bộ óc biết tư duy lý trí – nhưng chúng đã dùng năng lực sáng tạo đó để hủy hoại thế giới. Để biến sinh vật thành vật chết. Và để làm gì? Để chúng có thể sống lâu thêm một chút. Để chúng có thể có nhiều quyền lực hơn một chút lên thế giới quanh chúng, cũng như các sinh vật sống trong thế giới đó, vốn chẳng mấy được chúng để tâm đến. Tàn sát. Một sự tàn sát mới ngu ngốc làm sao. Và giờ chúng sẽ chẳng tiếc gì sinh mạng của chúng tôi. Dẫn chúng tôi tới một nơi hành quyết nào đó, rồi tra hỏi và đánh đập. Và nếu Hugh đủ ngốc để đi theo chúng tôi – nếu con ong bay ngược bay xuôi theo hàng của chúng tôi đồng nghĩa với việc cậu ta đang ở gần đây – thì chúng sẽ giết cả cậu ta nữa.

Xin Chúa cứu giúp tất cả chúng tôi. *** Những con ngựa chết đã lùi lại xa đằng sau chúng tôi khi mấy gã lính ra lệnh cho chúng tôi rời khỏi đường rẽ vào một lối mòn hẹp. Đó gần như chỉ là một lối mòn đi bộ, rộng cỡ vài bàn chân, vì thế mấy gã lính đang chạy xe bên cạnh chúng tôi buộc phải đỗ chiếc jeep lại và đi bộ, một gã đi trước và hai gã đằng sau. Hai bên chúng tôi các cánh đồng đều hoang hóa, đầy cỏ dại đang nở hoa và rì rầm âm thanh của những con côn trùng cuối hè.

Một nơi thật đẹp để chết. Sau một hồi, một căn lán lợp rạ xuất hiện trong tầm mắt bên rìa cánh đồng. Đó là nơi chúng sẽ làm việc đó, tôi nghĩ. Đó là nơi chúng sẽ giết chúng ta. Khi chúng tôi lại gần, một cánh cửa mở ra và một gã lính bước ra khỏi lán. Hắn mặc khác những kẻ đang vây quanh chúng tôi: thay vì mũ sắt, hắn đội một chiếc mũ sĩ quan viền đen, và thay vì súng trường, hắn mang súng lục đeo trong bao đựng.

Gã này là chỉ huy. Hắn đứng trên lối mòn khi chúng tôi lại gần, nhấp nhổm trên hai gót chân và nở một nụ cười trưng ra bộ răng trắng bóc. “Cuối cùng chúng ta cũng gặp nhau!” hắn lên tiếng. “Chúng mày đã khiến bọn ta phải đi lòng vòng kha khá đấy, nhưng ta biết cuối cùng thế nào bọn ta cũng bắt được chúng mày. Chỉ là vấn đề thời gian thôi!” Hắn có vóc người béo lùn, nét mặt trẻ con, mái tóc thưa có màu sáng đến mức gần như bạc trắng, và tràn đầy một thứ hưng phấn quái lạ, vui vẻ hệt như một thủ lĩnh Hướng đạo sinh đang hào hứng quá độ. Nhưng tất cả những gì tôi có thể nghĩ khi nhìn vào hắn là: Súc sinh. Quái vật. Sát nhân. “Lại đây, lại đây,” gã sĩ quan nói, đẩy mở cửa lán ra. “Bạn chúng mày đang đợi bên trong.”

Trong lúc đám lính của hắn xua chúng tôi đi qua trước mặt hắn, tôi thoáng thấy cái họ khâu trên áo sơ mi của hắn: WHITE (*). Như màu sắc vậy. (*) màu trắng Ông White. Có thể là một trò đùa chăng? Ở hắn chẳng có gì có vẻ xác thực; cái họ này càng ít thật hơn.

Chúng tôi bị đẩy vào trong, bị quát dồn vào một góc. Căn buồng duy nhất trong lán không có đồ đạc gì và đông chật người. Bekhir và người của ông ngồi dưới đất, tựa lưng vào tường. Họ đã bị đối xử rất tệ: tất cả đều bầm tím, máu me bê bết, nhếch nhác thảm hại. Thiếu mất mấy người, trong đó có cậu con trai Bekhir. Đứng canh họ là hai gã lính nữa – như vậy tổng cộng có sáu gã, nếu tính cả gã White và đội áp giải chúng tôi. Bekhir bắt gặp ánh mắt chúng tôi liền nghiêm nghị gật đầu. Hai má ông thâm tím những vết bầm giập. Tôi xin lỗi, ông nói thầm với tôi. Gã White thấy chúng tôi trao đổi với nhau liền bước ngay lại chỗ Bekhir. “Ái chà! Mày biết lũ nhóc này sao?”

“Không,” Bekhir nói, cúi gằm mặt xuống. “Không à?” Gã White làm bộ kinh ngạc. “Nhưng mày vừa xin lỗi thằng nhóc đó. Chắc chắn mày phải biết nó, hay là mày có thói quen xin lỗi người lạ đấy hả?” “Chúng không phải là đám trẻ các ông đang tìm kiếm,” Bekhir nói.

“Tao nghĩ chính là chúng nó đấy,” gã White nói. “Tao nghĩ đây chính là lũ nhóc chúng tao đang tìm. Và thêm nữa, tao nghĩ tối qua chúng nó đã nghỉ lại khu trại của mày.” “Tôi nói với ông rồi, tôi chưa bao giờ thấy chúng.” Gã White tặc lưỡi như một thầy giáo đang chê trách học trò.

“Digan này, mày có nhớ tao đã hứa sẽ làm gì nếu tao phát hiện ra mày nói dối tao không hả?” Hắn rút một con dao ra từ thắt lưng ra và kề lưỡi dao lên má Bekhir. “Đúng rồi. Tao đã hứa sẽ cắt cái lưỡi dối trá của mày ra ném cho chó của tao ăn. Và tao luôn giữ lời hứa của mình.” Bekhir bắt gặp ánh mắt vô hồn của Ông White và trừng mắt nhìn lại không nao núng. Từng giây trôi qua trong sự im lặng căng thẳng tột cùng. Đôi mắt tôi nhìn chằm chằm vào con dao. Cuối cùng, gã White nặng ra một nụ cười và lại điệu bộ đứng thẳng người lên, phá vỡ sự im lặng. “Nhưng,” hắn vui vẻ nói, “việc cần làm thì phải làm trước đã!” Hắn quay sang đối diện với mấy gã lính đã áp giải chúng tôi. “Ai trong chúng mày có con chim của chúng nó?” Mấy gã lính nhìn nhau. Một gã lắc đầu, rồi một gã khác.

“Chúng tôi không thấy nó,” gã lính đã bắt chúng tôi tại ga nói. Nụ cười của gã White xìu xuống. Hắn quỳ gối xuống cạnh Bekhir. “Mày nói với tao là chúng nó mang theo con chim,” hắn nói. Bekhir nhún vai. “Chim có cánh. Chúng đến rồi đi.”

Ông White đâm vào đùi Bekhir. Chỉ đơn giản là vậy: nhanh chóng, vô cảm, lưỡi dao đâm vào rồi rút ra. Bekhir kêu thét lên vì kinh ngạc và đau đớn rồi ngã lăn ra, ôm lấy chân trong khi máu bắt đầu chảy. Horace ngất đi lăn kềnh ra sàn. Olive thảng thốt kêu to và đưa tay che mắt. “Mày nói dối tao hai lần rồi đấy,” gã White vừa nói vừa lau sạch lưỡi dao lên một chiếc khăn tay.

Số còn lại trong chúng tôi nghiến chặt răng và kìm chế không nói gì, nhưng tôi có thể thấy Emma đã chuẩn bị báo thù, xoa hai bàn tay vào nhau sau lưng để làm chúng nóng lên. Gã White ném chiếc khăn tay dính đầy máu xuống sàn, tra dao lại vào vỏ và đứng dậy đối diện với chúng tôi. Hắn gần như mỉm cười song không phải mỉm cười, mắt mở to, đôi lông mày dính làm một nhướng lên thành một chữ M hoa. “Con chim của chúng mày đâu?” hắn bình thản hỏi. Hắn càng làm ra vẻ tử tế thì càng làm tôi chết khiếp.

“Nó bay đi rồi,” Emma bực bội nói. “Đúng như ông ấy đã nói với ông.” Tôi ước gì cô không lên tiếng; giờ đây tôi sợ hắn sẽ lôi riêng cô ra tra tấn. Gã White bước về phía Emma và nói, “Cánh của nó bị thương. Người ta thấy mày cùng với con chim mới chỉ hôm qua thôi. Nó không thể ở xa đây.” Hắn hắng giọng. “Tao sẽ hỏi lại mày lần nữa.”

“Nó chết rồi,” tôi nói. “Chúng tôi đã ném nó xuống một con sông.” Có thể nếu tôi làm hắn bực hơn Emma, hắn sẽ quên là cô từng lên tiếng. Gã White thở dài. Tay phải hắn lướt qua bao súng, nấn ná lại chỗ cán con dao, rồi quay lại đặt vào cái khóa đồng của thắt lưng. Hắn hạ giọng như thể những gì hắn sắp nói chỉ nhằm đến đôi tai của tôi mà thôi.

“Tao hiểu vấn đề rồi. Chúng mày tin rằng sẽ chẳng ích gì nếu thành thật với tao. Tin rằng chúng tao sẽ giết chúng mày dù chúng mày có làm gì, nói gì đi chăng nữa. Tao cần chúng mày biết là không phải thế. Tuy nhiên, để hoàn toàn thành thật, tao sẽ nói thế này: đáng lẽ chúng mày không nên buộc bọn tao phải săn đuổi chúng màu. Đó là một sai lầm. Chuyện này đã có thể dễ dàng hơn nhiều, nhưng giờ thì ai nấy đều tức giận, chúng mày thấy đấy, vì chúng mày đã làm lãng phí quá nhiều thời gian của bọn tao.” Hắn chỉ một ngón tay về phía đám lính của mình. “Những người này ư? Họ thích làm chúng mày đau lắm. Ngược lại, tao có thể nhìn nhận mọi thứ từ góc độ của chúng mày. Bọn tao đúng là có vẻ đáng sợ, tao hiểu điều đó. Cuộc gặp gỡ đầu tiên của chúng ta, trên boong chiếc tàu ngầm của tao, đúng là thiếu lịch sự xã giao một cách đáng tiếc. Hơn thế, các Chủ Vòng của chúng mày đã đầu độc chúng mày bằng những thông tin sai lệch về bọn tao suốt nhiều thế hệ. Vì thế cũng là tự nhiên thôi khi chúng mày chạy. Với cách nhìn nhận như thế, tao sẵn sàng dành cho chúng mày thứ tao nghĩ là một đề nghị hợp lý. Chỉ cho bọn tao thấy con chim ngay bây giờ, và thay vì làm đau chúng mày, bọn tao sẽ gửi chúng mày tới một nơi đẹp đẽ, nơi chúng mày sẽ được chăm sóc chu đáo. Được ăn hằng ngày, có giường riêng… một nơi cũng không gò bó hơn cái Vòng Thời Gian lố bịch chúng mày đã ẩn náu suốt những năm qua.” Gã White nhìn sang người của hắn và phá lên cười. “Chúng mày có tin nổi lũ nhóc này đã sống – bao nhiêu nhỉ, bảy mươi năm phải không? – từng ấy thời gian trên một hòn đảo bé xíu, sống mãi cùng một ngày lặp đi lặp lại không? Tồi tệ hơn bất cứ nhà tù nào tao có thể nghĩ ra. Đáng lẽ đã thật dễ dàng hợp tác!” Hắn nhún vai, nhìn trở lại chúng tôi. “Nhưng ngạo mạn, sự ngạo mạn như nọc độc, đã chế ngự chúng mày. Và thử nghĩ xem, suốt quãng thời gian ấy đáng lẽ chúng ta có thể làm việc cùng nhau hướng tới một lợi ích chung!”

“Làm việc cùng nhau ư?” Emma nói. “Các ông săn đuổi chúng tôi! Cử lũ quái vật tới giết chúng tôi!” Khỉ thật, tôi nghĩ. Im đi nào! Gã White trưng ra bộ mặt của một chú cún con đang buồn phiền. “Quái vật ư?” hắn nói.

“Thật đau lòng. Mày đang nói về tao đấy, mày biết chứ! Tao và tất người của tao ở đây, trước khi bọn tao tiến hóa. Tuy thế, tao sẽ cố không để bụng sự xúc phạm của mày. Giai đoạn thiếu niên hiếm khi hấp dẫn, dù là giống loài nào đi nữa.” Hắn vỗ mạnh hai bàn tay, làm tôi giật bắn mình. “Bây giờ, thẳng vào việc!” Hắn soi mói chúng tôi bằng cái nhìn chằm chằm chậm rãi, giá lạnh, như thể tìm kiếm điểm yếu trong hàng ngũ chúng tôi. Ai trong chúng tôi sẽ gục ngã đầu tiên? Rốt cuộc ai sẽ cho hắn biết sự thật về cô Peregrine đang ở đâu?

Gã White nhắm vào Horace. Cậu ta đã hồi lại sau khi ngất xỉu nhưng vẫn nằm dưới sàn, co quắp và run bần bật. Hắn bước một bước dứt khoát về phía cậu ta. Horace thu người lại trước tiếng ủng của hắn. “Đứng dậy, nhóc.” Horace không nhúc nhích.

“Ai đó nâng thằng nhóc dậy.” Một gã lính cộc cằn nắm lấy cánh tay lôi Horace đứng lên. Horace co ro trước mặt gã White, mắt nhìn xuống sàn. “Tên mày là gì, nhóc?”

“Hơ… hơ… Horace…” “Được, Hơ-Horace, mày có vẻ là đứa biết điều. Thế nên tao sẽ cho mày lựa chọn.” Horace hơi ngẩng đầu lên. “Lựa chọn…?”

Gã White rút dao ra khỏi thắt lưng và chĩa nó về phía mấy người Digan. “Chọn xem ai sẽ bị giết đầu tiên. Tất nhiên là, trừ phi mày muốn cho tao biết Chủ Vòng của mày đang ở đâu. Khi đó không ai phải chết cả.” Horace nhắm tịt hai mắt lại, như thể cậu ta chỉ muốn ước gì mình biến khỏi nơi này. “Hoặc,” gã White nói, “nếu mày không muốn chọn một đứa trong bọn chúng, tao sẽ rất vui lòng chọn ai đó trong chúng mày. Mày có thích thế hơn không?”

“Không!” “Vậy nói cho tao biết!” gã White gầm lên, hai môi thu lại để lộ bộ răng sáng bóng. “Đừng nói gì với chúng hết, syndrigasti!” Bekhir hô lớn, và một gã lính đá vào bụng ông, làm ông rên rỉ vật ra rồi im bặt.

Ông White đưa tay ra chộp lấy cằm Horace, cố buộc cậu ta phải nhìn thẳng vào đôi mắt trắng dã ghê rợn của hắn. “Mày sẽ nói cho tao biết chứ, phải không? Mày nói cho tao biết, thì tao sẽ không làm hại mày.” “Vâng,” Horace nói, vẫn tiếp tục nhắm tịt mắt lại, vẫn tiếp tục ước cậu ta sẽ biến được đi, song vẫn phải ở lại nơi này. “Vâng gì hả?”

Horace hít một hơi run rẩy. “Vâng, tôi sẽ nói cho ông biết.” “Đừng!” Emma hét lên. Ôi Chúa ơi, tôi nghĩ. Cậu ta sẽ khai ra bà ấy. Cậu ta quá bạc nhược.

Đáng lẽ bọn mình nên để cậu ta lại chỗ trại động vật… “Suỵt,” gã White thì thầm rít lên vào tai cậu ta. “Đừng có nghe lời chúng. Giờ nói đi, con trai. Nói cho ta biết con chim đó ở đâu.” “Nó ở trong ngăn kéo,” Horace nói.

Đôi lông mày dính nhau của gã White nhíu lại. “Ngăn kéo. Ngăn kéo nào?” “Vẫn cái ngăn kéo nơi nó luôn ở đó,” Horace nói. Hắn chộp lấy hàm Horace lắc lắc và gầm lên, “Ngăn kéo nào?!”

Horace bắt đầu nói gì đó, rồi ngậm miệng lại. Khó nhọc nuốt nước bọt. Lưng cứng lại. Thế rồi cậu ta mở mắt ra, nhìn trừng trừng vào mặt gã White và nói, “Ngăn kéo quần lót của mẹ mày ấy,” rồi cậu ta nhổ toẹt vào mặt hắn. Gã White dùng cán dao đập vào bên đầu Horace. Olive kêu thét lên, vài người trong chúng tôi bất giác giật thót mình đau đớn khi Horace ngã vật ra sàn như một tải khoai tây, tiền lẻ và vé tàu rơi tung ra từ các túi áo cậu ta. “Cái gì thế này?” gã White nói, cúi người xuống nhìn.

“Tôi bắt được chúng đang cố lên một chuyến tàu,” gã lính đã bắt được chúng tôi nói. “Sao đến bây giờ mày mới nói cho tao biết hả?” Gã lính lúng túng. “Tôi tưởng…”

“Đừng bận tâm,” gã White nói. “Đi đón đầu nó. Ngay lập tức.” “Thưa ngài?” Gã White liếc nhìn vé tàu, rồi xem đồng hồ của hắn. Chuyến tàu tám giờ ba mươi đi London sẽ dừng lâu lại Porthmadog. Nếu mày khẩn trương, nó sẽ vẫn còn đợi mày ở đó. Lục soát đoàn tàu từ đầu tới cuối, bắt đầu từ toa hạng nhất.”

Gã lính đứng nghiêm chào rồi ra ngoài. Gã White quay sang mấy gã lính còn lại. “Lục soát mấy đứa nhóc còn lại,” hắn ra lệnh. “Xem xem chúng có mang theo gì đáng quan tâm không. Nếu chúng chống cự, bắn bỏ.” Trong khi hai gã lính chĩa súng trường canh chừng chúng tôi, gã thứ ba đi qua từng đứa trẻ đặc biệt một, lục tìm trong các túi của chúng tôi. Phần lớn chúng tôi chẳng có gì ngoài những mẩu bánh vụn và xơ vải, nhưng gã lính tìm thấy một chiếc lược ngà trên người Bronwyn – “Làm ơn, nó là của mẹ tôi!” cô cầu xin, nhưng hắn chỉ bật cười và nói, “Bà ta đáng lẽ ra nên dạy mày cách dùng nó, con nhóc tướng đàn ông!”

Enoch mang theo một cái túi nhỏ đựng đất huyệt lúc nhúc giun, gã lính mở cái túi ra, ngửi ngửi, rồi kinh tởm thả rơi xuống. Trong túi tôi hắn tìm thấy chiếc điện thoại di động đã tắt ngóm. Emma thấy nó rơi bịch xuống sàn và nhìn tôi vẻ lạ lùng, băn khoăn tại sao tôi vẫn còn giữ nó. Horace nằm bất động dưới sàn, đã bị đánh ngất hoặc đang giả ngất. Sau đó đến lượt Emma, nhưng cô không chịu. Khi gã lính tiến về phía cô, Emma gằm ghè, “Chạm một bàn tay vào người tôi là tôi đốt trụi luôn đấy!” “Làm ơn giữ lửa của cô lại!” hắn nói rồi phá lên cười. “Xin lỗi, không thể dừng được.” “Tôi không đùa đâu,” Emma nói, và cô giơ hai bàn tay từ sau lưng ra. Chúng đỏ rực, và thậm chí từ cách xa cả mét tôi vẫn có thể cảm thấy hơi nóng chúng phả ra.

Gã lính bật lùi lại khỏi tầm tay cô. “Cái chạm tay quả là nóng bỏng, tính khí cũng chẳng kém!” hắn nói. “Tao thích điều đó ở một phụ nữ. Nhưng cứ thử đốt tao xem, rồi anh bạn Clark kia sẽ cho óc cô em tung tóe lên tường.” Gã lính hắn vừa nói đến gí nòng súng trường vào đầu Emma. Cô nhắm mắt lại, lồng ngực phập phồng gấp gáp. Sau đó, cô hạ hai bàn tay xuống đưa ra sau lưng. Có thể thấy cả người cô đang run lên vì phẫn nộ. Cả tôi cũng vậy.

“Giờ thì liệu chừng,” gã lính cảnh cáo cô. “Không được cử động đột ngột.” Hai nắm tay tôi siết chặt lại trong khi tôi quan sát hai bàn tay hắn đưa lên đưa xuống theo hai bàn chân cô, rồi lùa các ngón tay vào dưới đường viền cổ váy cô, làm tất cả một cách chậm chạp không cần thiết cùng một nụ cười nhăn nhở đểu cáng. Từ bé đến giờ tôi chưa bao giờ cảm thấy bất lực đến thế, kể cả khi chúng tôi bị nhốt trong cái chuồng thú đó. “Cô ấy không có gì cả!” tôi hét lên. “Để cô ấy yên!”

Tôi bị lờ đi. “Tôi thích con bé này,” gã lính nói với White. “Tôi nghĩ chúng ta nên giữ cô ta lại một thời gian. Vì… khoa học.” Gã White nhăn mặt. “Anh đúng là một kẻ đáng ghê tởm, hạ sĩ. Nhưng tôi đồng ý với anh – con bé thật đáng kinh ngạc. Tao đã nghe nói về mày rồi, mày biết đấy,” hắn nói với Emma. “Tao sẵn sàng đổi bất cứ thứ gì để làm được điều mày có thể làm. Giá như chúng ta có thể ngâm hai bàn tay đó của mày trong chai…”

Gã White mỉm cười thật quái gở đoạn quay sang gã lính. “Kết thúc đi,” hắn gắt gỏng, “chúng ta không có cả ngày đâu.” “Rất sẵn lòng,” gã lính đáp, rồi vừa đứng dậy vừa đưa bàn tay vuốt theo thân người Emma.

Chuyện xảy ra tiếp theo dường như một cảnh phim quay chậm. Tôi có thể thấy gã dâm dật ghê tởm này chuẩn bị cúi người xuống hôn Emma. Tôi cũng thấy sau lưng cô, lúc này hai bàn tay Emma đã được nối với nhau bằng một quầng lửa. Tôi biết chuyện này sẽ đi tới đâu: ngay khoảnh khắc môi hắn kề sát vào cô, Emma sẽ vung hai bàn tay ra trước và đốt cháy mặt hắn – cho dù như thế có nghĩa là phải chịu một viên đạn. Cô đã vượt quá ngưỡng chịu đựng. Cả tôi cũng vậy. Tôi căng người, sẵn sàng chiến đấu. Tôi tin chắc đây là những khoảnh khắc cuối cùng của chúng tôi. Nhưng chúng tôi sẽ sống những khoảnh khắc này như chúng tôi muốn – và nếu sắp phải chết, thề có Chúa, chúng tôi sẽ lôi vài gã xác sống đi theo.

Gã lính đưa hai bàn tay trượt quanh hông Emma. Nòng khẩu súng của một gã khác ấn vào trán vô. Cô dường như đang ấn trán vào nòng súng, thách hắn bắn. Sau lưng Emma, tôi thấy hai bàn tay cô bắt đầu xòe ra, những lưỡi lửa nóng trắng cháy dọc theo từng ngón tay. Đến lúc rồi. Thế rồi Đoàng! – một tiếng súng vang lên, choáng váng và đinh tai. Tôi nhắm mắt lại, mọi thứ tối đen trong một giây.

Khi thị lực trở lại với tôi, Emma vẫn đang đứng. Đầu cô vẫn còn nguyên. Khẩu súng gí vào nó lúc trước giờ chĩa xuống dưới, còn gã lính vừa định hôn cô đã lùi ra, quay ngoắt người lại nhìn ra cửa sổ. Phát súng tới từ bên ngoài. Mọi đầu dây thần kinh trên người tôi đều tê dại, rần rật vì kích động.

“Cái gì vậy?” gã White hỏi, hối hả lao tới cửa sổ. Tôi có thể nhìn qua lớp kính từ sau lưng hắn. Gã lính lúc trước đã đi chặn đón đoàn tàu đang đứng bên ngoài, người ngập tới hông trong hoa dại. Hắn quay lưng về phía chúng tôi, súng trường chĩa về phía cánh đồng. Gã White thò tay qua các chấn song cửa sổ và đẩy mở cửa ra. “Mày bắn cái quái gì thế hả?” hắn gắt gỏng. “Sao mày vẫn còn ở đây?”

Gã lính không nhúc nhích, không nói gì. Cả cánh đồng sôi động với tiếng vo vo của côn trùng, và trong một lát, đó là tất cả những gì chúng tôi nghe thấy. “Hạ sĩ Brown!” gã White lớn tiếng. Gã kia chậm chạp quay lại, chân lảo đảo. Khẩu súng trường tuột khỏi tay hắn rơi xuống đám cỏ cao. Hắn loạng choạng bước tới vài bước.

Gã White rút khẩu súng ổ quay ra khỏi bao, chĩa nó ra ngoài cửa sổ về phía Brown. “Nói gì đi chứ, đồ chết tiệt!” Brown há miệng và cố nói; nhưng thay vì giọng nói của hắn, một âm thanh vo vo kỳ quái vọng lên từ trong bụng hắn, giống hệt âm thanh đang vang lên trên khắp cánh đồng quanh hắn. Đó là tiếng ong đập cánh. Hàng trăm, hàng nghìn con ong. Tiếp theo những con ong xuất hiện: thoạt đầu chỉ vài con, chui ra qua đôi môi hé mở của hắn. Thế rồi một sức mạnh nào đó vượt qua sức lực của gã lính dường như đã nắm lấy hắn: hai vai hắn thụt ra sau, ngực ưỡn ra trước và quai hàm hắn há ngoác ra mở rộng, rồi từ trong cái mồm đang há hoác của hắn ùa ra một luồng ong dày đặc tới mức trông chúng như một khối duy nhất; một dòng dài côn trùng tuồn tuột chui ra dường như vô tận từ cổ họng hắn.

Gã White loạng choạng lùi lại khỏi cửa sổ, sững sờ đến kinh hoàng. Ngoài cánh đồng, Brown gục xuống giữa một đám mây ong. Khi thân hình của hắn ngã vật ra, một thân hình khác lộ diện sau lưng hắn. Là một cậu thiếu niên.

Hugh. Cậu đứng đó đầy thách thức, nhìn chằm chằm vào qua cửa sổ. Những con côn trùng quần lượn quanh cậu thành một quả cầu lớn lay động, vần vũ. Ngoài cánh đồng đầy ắp chúng – ong mật và ong bắp cày, ong vò vẽ và ong vàng, những sinh vật có ngòi để đốt mà tôi không biết hay không thể kể tên – và có vẻ tất cả chúng đều chịu sự chỉ huy của cậu. Gã White giương súng lên và bắn hết băng đạn.

Hugh nhào xuống, biến mất vào đám cỏ. Tôi không rõ liệu cậu ta bị ngã xuống đất hay chủ động nhào xuống. Rồi ba gã lính chạy tới bên cửa sổ, và trong khi Bronwyn kêu lên “Làm ơn, đừng giết cậu ấy!” chúng bắn như mưa ra ngoài đồng, làm tai chúng tôi ong ong vì tiếng nổ từ những khẩu súng của chúng. Thế rồi ong xuất hiện trong phòng. Có khi đến cả tá, hung hãn lao vào đám lính. “Đóng cửa sổ vào!” gã White la lớn, vung tay đập không khí xung quanh hắn.

Một gã lính đóng sầm cửa vào. Tất cả chúng cùng bắt tay vào đập những con ong đã lọt vào trong. Trong lúc chúng bận bịu với việc đó, ngày càng có nhiều côn trùng bâu lại bên ngoài – một tấm thảm khổng lồ, lổn nhổn côn trùng áp sát vào mặt bên kia lớp kính – và nhiều đến nỗi khi gã White và thủ hạ của hắn giết xong những con ong bên trong phòng, đám côn trùng bên ngoài đã gần như che khuất mặt trời. Đám lính co cụm vào giữa phòng, quay lưng vào nhau, súng chĩa ra ngoài như những chiếc lông nhím. Bên trong tối tăm và nóng, và tiếng vù vù quái lạ của cả triệu con ong đang nổi điên đập vang ra khắp phòng như xuất hiện từ một cơn ác mộng. “Làm cho chúng để bọn tao được yên!” gã White gào lên, giọng hắn lạc đi, tuyệt vọng.

Cứ như thể còn ai khác ngoài Hugh có thể làm được điều đó – nếu cậu vẫn còn sống. “Tao sẽ đưa ra cho mày một đề nghị khác,” Bekhir vừa nói vừa nắm lấy các chấn song cửa sổ để kéo người đứng dậy, thân hình tập tễnh của ông nổi bật trên nền kính tối om. “Bỏ súng xuống, nếu không tao sẽ mở cửa sổ này ra.” Gã White quay ngoắt lại đối diện với ông. “Thậm chí một thằng Digan cũng không ngu tới mức làm việc đó.”

“Mày đánh giá chúng tao quá cao đấy,” Bekhir nói, các ngón tay trượt dần về phía tay nắm cửa. Đám lính giơ súng trường lên. “Làm đi,” Bekhir nói. “Bắn đi.”

“Đừng bắn, chúng mày sẽ làm vỡ kính!” gã White hét lên. “Tóm lấy hắn!” Hai gã lính ném súng xuống và lao tới Bekhir, nhưng trước đó ông đã kịp đấm vỡ lớp kính. Cả cửa sổ vỡ tan tành. Ong ùa vào phòng. Cảnh hỗn loạn bùng lên – tiếng la hét, tiếng súng nổ, tiếng xô đẩy – cho dù tôi hầu như không nghe thấy được dưới tiếng vo vo của bầy côn trùng, thứ âm thanh dường như không chỉ tràn ngập trong tai tôi mà còn đầy ắp trong từng lỗ chân lông trên người tôi.

Mọi người trèo cả lên nhau để thoát ra ngoài. Ở bên phải, tôi thấy Bronwyn đẩy Olive xuống sàn rồi lấy thân mình che chở cho cô bé. Emma hét to “Nằm xuống!” và chúng tôi nằm bẹp xuống tìm chỗ trốn trong khi ong bâu đầy trên da, trên tóc chúng tôi. Tôi chờ chết, vì bầy ong đã phủ kín tất cả phần cơ thể bị hở ra của tôi bằng nhữn cái ngòi đốt chắc chắn sẽ làm tắt ngấm hệ thần kinh của tôi. Ai đó đã mở tung cửa. Ánh sáng ùa vào. Chừng chục chiếc ủng rầm rầm chạy đi trên những tấm ván sàn. Im lặng trở lại. Tôi từ từ bỏ tay che đầu ra.

Lũ ong đã biến mất. Bọn lính cũng vậy. Thế rồi, từ bên ngoài vọng vào một bản đồng ca những tiếng la hét kinh hoàng. Tôi nhảy bật dậy, hối hả chạy tới khung cửa sổ vỡ, ở đó một nhóm người Digan và những đứa trẻ đặc biệt đã xúm lại nhìn ra ngoài. Thoạt đầu, tôi không hề thấy đám lính – chỉ một đám côn trùng khổng lồ, dày đặc vần vũ quay cuồng, dày đặc tới mức tối đen, nằm cách chúng tôi khoảng mười lăm mét về phía đầu lối mòn.

Những tiếng la hét vọng ra từ bên trong đám côn trùng đó. Thế rồi từng tiếng la hét một lần lượt im bặt. Khi tất cả đã kết thúc, đám mây côn trùng bắt đầu tản ra và tan dần, để lộ ra thân hình gã White và thủ hạ của hắn. Chúng nằm sát cạnh nhau trên cỏ thấp, đã chết hay gần như vậy. Hai mươi giây sau, những kẻ triệt hạ đám xác sống đã biến mất hẳn, tiếng vo vo khủng khiếp của chúng lặng dần khi chúng tôi quay trở về các cánh đồng. Sau khi chúng ra đi, một sự im lặng lạ lùng và đượm không khí đồng quê buông xuống, như thể đây chỉ là một ngày hè bình thường khác, và vừa rồi chẳng có gì bất thường xảy ra.

Emma đếm số thi thể của đám lính trên các ngón tay cô. “Sáu. Tất cả chúng,” cô nói. “Thế là hết.” Tôi đưa cánh tay ôm chầy lấy cô, run rẩy vì biết ơn và kinh ngạc. “Mọi người có ai bị thương không?” Bronwyn hỏi, lo lắng đưa mắt nhìn quanh. Những khoảnh khắc cuối cùng đã thật điên khùng – bầy ong đông nghìn nghịt, tiếng súng bắn trong bóng tối. Chúng tôi kiểm tra xem có ai trong cả bọn bị thương không. Horace vẫn còn choáng nhưng tỉnh táo, một vệt máu chảy xuống từ thái dương cậu ta. Vết đâm Bekhir phải nhận khá sâu nhưng sẽ lành. Những người còn lại trong chúng tôi bị chấn động mạnh nhưng không hề bị thương – và thật kỳ diệu, không ai trong chúng tôi bị ong đốt.

“Khi ông đấm vỡ cửa sổ,” tôi nói với Bekhir, “làm thế nào ông biết bầy ong sẽ không tấn công chúng ta?” “Tôi không biết,” ông nói. “Thật may là quyền năng của bạn cậu đủ mạnh.” Bạn của chúng ta…

Emma đột ngột lùi xa khỏi tôi. “Ôi Chúa ơi!” cô thảng thốt. “Hugh!” Trong lúc hỗn loạn, chúng tôi đã quên mất cậu ta. Cậu ta có khi đang mất máu đến chết ngày lúc này đây, đâu đó giữa đám cỏ cao. Nhưng đúng lúc chúng tôi sắp sửa ùn ra ngoài tìm Hugh, cậu ta xuất hiện trên ngưỡng cửa – rách rưới, dính đầy cỏ, nhưng tươi tỉnh mỉm cười. “Hugh!” Olive reo lên, chạy ùa đến chỗ cậu ta. “Cậu còn sống!”

“Tớ còn sống đây!” cậu ta vui vẻ nói. “Tất cả các cậu vẫn an toàn chứ?” “Vẫn an toàn, nhờ cậu đấy!” Bronwyn nói. “Ba lần hoan hô dành cho Hugh!” “Cậu đúng là cứu tinh của bọn này trong lúc khó khăn, Hugh!” Horace reo lên.

“Chẳng ở đâu tớ lại đáng sợ bằng giữa một cánh đồng đầy hoa dại,” Hugh nói, tận hưởng sự chú ý. “Xin lỗi về tất cả những lần tớ mang năng lực đặc biệt của cậu ra đùa,” Enoch nói. “Tớ chắc nó không vô dụng lắm.” “Thêm vào đó,” Millard nói, “tớ muốn khen ngợi Hugh về khả năng chọn thời điểm hoàn hảo. Quả thực, nếu cậu tới chỉ chậm vài giây thôi…”

Hugh giải thích cậu đã thoát khỏi vụ bắt bớ ngoài ga nhờ chui xuống khoảng trống giữa đoàn tàu và ke ga – đúng như tôi đã nghĩ. Cậu ta phái một con ong trong đàn của mình bám theo chúng tôi, nhờ đó cậu ta có thể bám theo từ một khoảng cách an toàn. “Sau đó chỉ còn là vấn đề để tìm thời điểm hoàn hảo để tấn công,” cậu ta nói đầy tự hào, như thể chiến thắng đã được đảm bảo chắc chắn từ khoảnh khắc cậu ta quyết định cứu chúng tôi. “Thế nếu cậu không tình cờ gặp được một cánh đồng đầy ắp những ong thì sao?” Enoch hỏi.

Hugh lấy thứ gì đó từ trong túi áo cậu ra và giơ lên: một quả trứng gà đặt biệt. “Kế hoạch B,” cậu ta nói. Bekhir tập tễnh đi tới bên Hugh và bắt tay cậu. “Chàng trai trẻ,” ông nói, “chúng tôi nợ cậu mạng sống.” “Thế cậu con trai đặc biệt của ông thì sao rồi?” Millard hỏi Bekhir.

“Nó đã thoát được cùng hai người của tôi, ơn Chúa. Hôm nay chúng tôi đã mất ba con ngựa tốt nhưng không mất người nào.” Bekhir cúi chào Hugh và trong khoảnh khắc tôi nghĩ thậm chí ông còn định cầm bàn tay Hugh lên hôn. “Cậu phải cho phép chúng tôi trả ơn cậu!” Hugh đỏ mặt, “Không cần đâu, xin cam đoan với ông…” “Và cũng không có thời gian nữa,” Emma nói, đồng thời đẩy Hugh qua cửa.

“Chúng ta cần bắt kịp chuyến tàu!” Những ai trong chúng tôi vẫn chưa nhớ ra cô Peregrine đã đi mất đều tái mặt. “Chúng ta sẽ lấy chiếc jeep của chúng,” Millard nói. “Nếu chúng ta may mắn – và nếu gã xác sống đó nói đúng – có thể chúng ta vẫn kịp lên tàu trong khi nó dừng lại ở Porthmadog.”

“Tôi biết một đường tắt,” Bekhir nói, đoạn ông dùng mũi giày vẽ một bản đồ đơn giản lên mặt đất. Chúng tôi cảm ơn những người Digan. Tôi nói với Bekhir chúng tôi rất xin lỗi vì đã gây ra cho họ nhiều rắc rối đến thế, và ông phá lên cười thật to trong khi vẫy tay chào lúc chúng tôi đi theo lối mòn. “Chúng ta sẽ gặp lại nhau, syndrigasti,” ông nói. “Tôi biết chắc là thế!” ***

Chúng tôi chen nhau leo lên chiếc jeep của mấy gã xác sống, tám đứa trẻ ngồi lèn chặt như cá sardine trong hộp trên chiếc xe thiết kế cho ba người ngồi. Vì là người duy nhất từng lái xe, tôi ngồi vào sau tay lái. Tôi phải mất kha khá thời gian để hình dung ra cách khởi động cái xe mắc dịch – hóa ra không phải bằng chìa khóa, mà bằng cách bấm vào một cái nút dưới sàn – rồi sau đó đến chuyện sang số; tôi mới chỉ lái xe số sàn có vài lần, và luôn có bố tôi chỉ dẫn từ ghế hành khách. Bất chấp tất cả, sau một hay hai phút, chúng tôi – bấp bênh, nhấp nhổm, có phần do dự - đã lên đường. Tôi đạp mạnh chân ga và cho xe chạy nhanh hết mức chiếc jeep quá tải có thể đưa chúng tôi đi, trong khi Millard lớn tiếng chỉ đường, còn những người khác cố bám chắc. Chúng tôi tới thị trấn Porthmadog sau hai mươi phút, tiếng còi tàu vang lên trong khi chúng tôi phóng nhanh theo con phố chính về phía nhà ga. Chúng tôi phanh kít lại trước ga và cuống cuồng nhảy xuống xe. Tôi còn chẳng buồn tắt máy. Hối hả băng qua nhà ga như những con báo săn đuổi theo một con linh dương, chúng tôi leo lên toa cuối cùng của đoàn tàu đúng lúc nó đang được kéo rời khỏi nhà ga. Chúng tôi đứng cúi gập người xuống thở hổn hển trên lối đi giữa toa trong khi các hành khách kinh ngạc nhưng cố giấu cái nhìn chòng chọc. Nhễ nhại mồ hôi, bẩn nhem nhuốc, đầu tóc rũ rượi – trông chúng tôi hẳn là rất ấn tượng.

“Chúng mình kịp rồi,” Emma hổn hển.“Tớ không tin nổi chúng mình đến kịp.” “Tớ không tin nổi tớ lái được nhanh thế,” tôi nói. Người soát vé xuất hiện. “Các cô cậu trở lại đây rồi,” ông này nói kèm theo tiếng thở dài cố nén lại. “Tôi tin là các cô cậu vẫn còn giữ vé của mình đấy chứ?”

Horace moi vé từ trong túi áo chìa ra thành một nắm. “Đi đường này tới toa của các cô cậu,” người soát vé nói. “Cái rương của chúng cháu!” Bronwyn nói, bám chặt lấy khuỷu tay người soát vé. “Nó vẫn còn ở đó chứ?”

Người soát vé gỡ cánh tay ông ta ra. “Tôi đã thử đưa nó tới chỗ hành lý thất lạc. Nhưng chịu không thể làm cái rương quý hóa đó nhúc nhích lấy một ly.” Chúng tôi chạy từ toa này sang toa khác cho tới khi tới khoang hạng nhất, tìm thấy cái rương của Bronwyn vẫn ở nguyên chỗ cô để nó lại. Cô hối hả lao tới chỗ nó và mở khóa, rồi mở nắp lên. Cô Peregrine không có trong rương. Tôi cảm thấy một cơn đau tim nho nhỏ.

“Con chim của cháu!” Bronwyn kêu lên.“Con chim của cháu đâu rồi?!” “Bình tĩnh nào, nó ở ngay đây,” người soát vé nói, và ông này chỉ lên trên đầu chúng tôi. Cô Peregrine đang đậu trên một giá hành lý, ngủ say. Bronwyn loạng choạng lùi lại va vào thành toa, cảm thấy nhẹ nhõm tới mức thiếu chút nữa thì xỉu đi. “Làm sao nó lên trên đó được?”

Người soát vé hướng một bên mày lên. “Đó là một món đồ chơi rất sống động.” Ông ta quay người đi ra cửa khoang rồi dừng lại và nói, “Nhân tiện, tôi có thể mua một món đồ chơi thế này ở đâu nhỉ? Con gái tôi hẳn sẽ thích nó lắm.” “Cháu e rằng nó là độc nhất vô nhị,” Bronwyn nói, đoạn đỡ cô Peregrine xuống và ôm bà vào lòng. ***

Sau tất cả những gì chúng tôi đã trải qua trong mấy ngày qua – chưa nói gì tới mấy giờ vừa qua – tiện nghi của khoang hạng nhất quả là một cú sốc. Toa xe của chúng tôi có đi văng da bọc nhung, một bàn ăn, và những khung cửa sổ ngắm cảnh rộng. Trông nó giống hệt phòng khách nhà giàu và chúng tôi lại còn không phải chung đụng với ai. Chúng tôi thay nhau tắm rửa trong phòng tắm ốp ván gỗ, rồi thưởng thức thực đơn. “Gọi bất cứ thứ gì các cậu thích,” Enoch nói, nhấc chiếc điện thoại được gắn vào tay vịn ghế ngả được. “Xin chào, các vị có pa tê gan ngỗng không? Tôi muốn gọi tất cả. Phải, mọi thứ các vị có.Và bánh mì nướng tam giác.” Chẳng ai nói gì về những biến cố đã xảy ra. Có quá nhiều thứ, những thứ quá kinh khủng, và lúc này chúng tôi chỉ muốn nghỉ ngơi cho lại sức và quên đi. Còn rất nhiều việc phải làm, rất nhiều mối nguy hiểm phải tính đến.

Chúng tôi dần trở nên thoải mái hơn với chuyến đi. Bên ngoài, những ngôi nhà thấp bè của Porthmadog bé dần lại, và ngọn núi của cô Wren hiện lên trong tầm mắt, vươn lên xám xịt phía trên các ngọn đồi. Trong khi những người khác bị cuốn vào các cuộc trò chuyện, tôi vẫn dán mũi vào cửa sổ và những khung cảnh vô cùng vô tận của năm 1940 đang hiện ra đằng sau nó – cho tới tận gần đây, năm 1940 với tôi chỉ là một trải nghiệm nhỏ, chỉ gói gọn trên một hòn đảo tí xíu, và một nơi tôi có thể rời khỏi bất cứ lúc nào tôi muốn bằng cách chui qua đường hầm tối tăm trong ngôi mộ đá ở Cairnholm. Tuy vậy, từ khi rời hòn đảo, năm này trở thành một thế giới, một thế giới trọn vẹn với những khu rừng đầm lầy, những thị trấn cuộn khói, những thung lũng với các dòng sông lấp lánh nắng chạy ngoằn ngoèo ngang dọc; và với những con người, sự vật trông có vẻ cũ kỹ song chưa hề cũ, như những đạo cụ trong một bộ phim về một thời kỳ quá khứ được dàn dựng công phu nhưng lại chẳng có kịch bản – tất cả vùn vụt trôi qua ngoài khung cửa sổ của tôi như một giấc mơ vô tận. Tôi ngủ thiếp đi rồi lại bừng tỉnh, lại ngủ rồi lại thức dậy, nhịp chuyển động của đoàn tàu ru tôi vào trạng thái gà gật, trong đó thật dễ quên rằng tôi không chỉ là một kẻ bị động ngồi nhìn, còn ô cửa sổ của tôi không chỉ là một màn hình chiếu bóng; rằng ngoài kia mọi thứ cũng đều thực như trong ngày. Thế rồi dần dà tôi nhớ lại mình đã trở thành một phần thực tại này ra sao: ông nội tôi; hòn đảo; đám trẻ. Cô gái xinh đẹp với đôi mắt tựa đá lửa ngồi cạnh tôi, bàn tay cô đặt lên bàn tay tôi. “Có phải tớ thực sự đang ở đây không?” tôi hỏi cô.

“Ngủ tiếp đi,” cô nói. “Cậu có nghĩ chúng ta sẽ ổn không?” Cô hôn lên chóp mũi tôi.

“Ngủ tiếp đi.”.