Hôm nay bạn muốn đọc gì?

Thất gia - Chương 73

Chương 70: Trận chiến cuối cùng (một)

Hiện tại trong triều đình đã không còn ai dám nhắc tới chuyện dời đô về Nam nữa. Người thanh niên giữ vẻ hoàn ôn hòa đôn hậu hơn hai mươi năm qua, rốt cuộc đã bộc lộ một ý chí kiên cường, tàn khốc lạnh lung của mình trước mặt thế nhân. Sau đó, đối mặt với tình thế chỉ còn đường chết này, trong khi người nào người nấy đều muốn lui lại phía sau, hắn truyền lệnh cho bộ Lễ gấp gáp chuẩn bị một phen, gần như hoảng hốt mà nhận lấy ngôi cao. Trong thâm cung, Hách Liên Bái thở từng hơi yếu ớt, đã là dầu sắp cạn đèn sắp tắt, mà giang sơn thiên hạ lúc này, buộc phải nợ cha con trả. Năm ấy, Hách Liên Dực hai mươi tám tuổi, đổi niên hiệu thành Vinh Gia. Trong kinh thành bấy giờ, những người đứng ra bày tỏ quan điểm tạm nhẫn nhịn vì lợi ích lâu dài, đề xuất nghị hòa để “xungphong đi đầu” làm quân tốt thí, phần lớn những kẻ còn lại dưới chính sách chuyên chế của Hách Liên Dực đều im lặng hẳn xuống, nhưng cũng chỉ là sự im lặng bất đắt dĩ mà thôi – từ các quan trong triều cho đến ngự lâm quân sau chót, người người hoảng loạn, vốn dĩ nhân số ngự lâm quân chưa đến sáu vạn người, một bộ phận lại bị Hách Liên Chiêu điều động tạm thời đi đánh trận, lực lượng hiện tại chỉ còn ngót nghét ba vạn. Ngày trước ai ai cũng đều tinh anh cả, có điều vào thời điểm này, sau khi nghe xong tin tức quân đội Đại Khánh cơ hồ bị tiêu diệt toàn bộ xong, lại vì sợ hãi khôn cùng mà thành quân vô dụng. Số binh lính còn lại có thể điều động được từ các vùng lân cận kinh thành như SƠn Đông, Hà Nam không già yếu cũng ốm đau tàn tật. Tình hình trước mắt cũng chỉ có cách chữa ngựa chết thành ngựa sống. Hách Liên Dực triệu tập tất cả số ấy lại. Về phần binh lính trấn thủ các nơi khác như Nam Cương, Lưỡng Quảng, tuy biết rõ nước xa không cứu được lửa gần, cũng vẫn đang gấp rút kéo về kinh thành bất kể ngày đêm.

Lục Thâm nắm toàn quyền cai quản bộ Hộ trong tay, quyết định đầu tiên hắn đưa ra chính là quy định quân đội trở về kinh từ phía Tây nhất định phải qua Miên Châu, từ phía Nam nhất định phải ghé qua Thương Châu, là kho lương lớn gần kinh thành nhất. Hắn lệnh cho quân đội đi ngang qua, sau đó tự động mang lương thảo vào kinh – quân chuẩn bị lúc trước đã sớm chon vùi toàn bộ ở chiến trường Tây Bắc, giờ gom góp lần nữa tất nhiên không kịp, các vùng Miên Châu, Thương Châu tuy nói cách kinh thành không xa, cũng vẫn tốn một đoạn đường. Trước mắt thế đạo loạn lạc, chỉ sợ có bất trắc xảy ra, bất đắc dĩ phải để quân đội về kinh cáng đáng thêm trọng trách. Còn Cảnh Thất và Chu Tử lại đang làm một công việc khác. Từ lúc Đại Khánh mới bắt đầu kiến thiết, trong kinh thành đã có cơ cấu chuyên xử lý những việc liên quan đến Xuân thị, tên gọi “Lai Bắc Ti”, Ti này vốn do Hồng Tư Lự Khanh quán chế, có điều sau này để tăng hiệu quả công việc, Lai Bắc Ti có thêm không ít quan viên tộc Ngõa Cách Lạt, cũng dần dần thoát ly khống chế của Hồng Lư Tự, trở thành một bộ phận biệt lập. Toàn bộ giao dịch Xuân thị tiến hành trên Tây Bắc, một năm mới tổ chức một lần, bởi vậy thường ngày công việc không nhiều, nhưng lại là mảnh đất cực kỳ béo bở. Năm đó số lần qua lại giữa Triệu Chấn Thư cùng thủ lĩnh Cách Tây của tộc Ngõa Cách Lạt nhiều không đếm xuể, đều là giao dịch giữa tiền và quyền. CÓ thể nói Triệu Chấn Thư đã một tay nuôi lớn con sói này, mà Lai Bắc Ti cơ hồ trở thành tay trong giúp Triệu Chấn Thư giao dịch với kinh thành.

Những giao dịch ngầm ấy, đến cả Trương Tiến cũng chưa từng có cơ hội chen chân, thêm nữa người ngoại tộc chung quy vẫn là người ngoại tộc, Đại Khánh tranh chấp chính trị nội bộ có đôi khi cũng không tiện dính dáng đến người ngoài. Bởi vậy trong đợt càn quét thanh trừ Tây Bắc lần đó, đám sâu mọt này lại tránh thoát được, hệt như kỳ tích. Sauk hi cấp báo từ Tây Bắc truyền về, Hách Liên Dực liền lệnh cho Chu Tử Thư giám sát chặt chẽ đám người này, hiện tại kinh thành giới nghiêm, Chu Tử Thư bèn thẳng thừng trở mặt, trực tiếp giam lòng bọn họ lại. Trong lòng Cảnh Thất hiểu rất rõ, đám người béo tròn béo trục, vòng bụng còn to gấp mấy vòng đầu, đã sớm không còn trông ra được bộ dạng của người xuất thân du mục này kỳ thực chỉ cầm tiền làm việc, không có chút quan hệ nào với trận chiến trước mắt. Hiềm nỗi lúc này y đang cần một thứ gì đó có thể kích thích cảm xúc của dân chúng kinh thành, chặn lại nỗi sợ hãi kiêng dè “Võ sĩ tộc Ngõa Cách Lạt đao kiếm đâm không thủng” đang lan truyền như mầm bệnh dịch. Cảnh Thất vốn dĩ không phải kẻ có tài làm tướng, nên công to việc lớn gì. Năng lực y dư dả làm trợ thủ, phụ tá, đề xuất chủ ý, lại không đủ dứt khoát, rất khó có được cái quả quyết đủ đảm đương một bề. Nhưng y lại hiểu rõ lòng người hơn bất kỳ ai khác – y cũng biết, vào thời điểm này, thứ đáng sợ nhất không phải đại quân Ngõa Cách Lạt đang hầm hè kéo tới, mà ngược lại chính là lòng người kinh thành đang bất ổn hoang mang. Bất luận là thực sự điều ra được, hay chỉ bắt gió bắt bóng vô cớ đặt điều, Chu Tử Thư nhanh chóng đưa ra được vô số tội trạng của đám người Lai Bắc Ti. Chưa biết thật giả thế nào, lại cực kỳ có sức kích động quần chúng. Từng điều từng điều được đọc ra, khiến cho tất cả những người không rõ sự tùnh chỉ hận không thể lột da rút gân đám người “tội ác tày trời” nọ. Thế là hôm đó, Cảnh Thất điều hơn một trăm Ngự Lâm Quân, bất ngờ bao vây Lai Bắc Ti.

Đội quân không nói không rằng, xông vào kéo từng người từng người một ra, lột bỏ quan phục ngay giữa phố, sau đó trói gô lại, một mặt sai người phao tin, một mặt lệnh thuộc hạ tiến hành chuỗi hoạt động tịch biên tài sản một cách nhanh chóng rõ ràng. Y cưỡi trên lưng ngựa, mặt không đổi sắc hạ lệnh trói những kẻ đang run cầm cập kia lên cọc gỗ, phía sau cọc gỗ có treo một tấm vải trắng cực lớn, bên trên ghi rõ kẻ này là ai, là người tộc Ngõa Cách Lạt, còn là tên chó săn cặn bã này nòi trong lòng Đại Khánh, đã phạm những tội gì, phân tích cặn bã từng điều một. Sau đó Cảnh Thất đích thân dẫn đoàn người đi diễu phố. Lại xét thấy ít lão bá tánh không đọc được chữ, y liền mượn hai đại cao thủ dưới trướng Chu Tử Thư là Lô Dũ và Đoàn Bằng Cử. Hai người này theo sát đoàn người, vận nội công, vừa đi vừa đọc rành mạch rõ ràng, khiến người đứng xa gần đều nghe rành rọt. Vạn người đổ xô ra phố khiến kinh thành như mùa trẩy hội, lão bá tánh cùng binh lính duy trì trật tự tụ tập hết hai bên đường, cũng chẳng biết ai là người đầu tiên ném rau thồi lên đầu đám người Lai Bắc Ti luôn mồm kêu oan uổng. Đám đông dần dần trở nên kích động, căm phẫn dâng trào, đá cục, rau thối, nước miếng, ai có gì thì quăng cái ấy. Vốn dĩ binh lính được điều tới để “duy trì trật tự”, lúc đầu cũng năn cản đuôc một hai, nhưng binh lính cũng là người, cũng có người thân bạn bè bỏ xác trên chiến trường Tây Bắc, bởi vậy tình thế biến thành quân dân một nhà, quăng ném cũng chuyển thành giẫm đạp và quần ẩu.

Người ta nói với bọn họ rằng, những kẻ béo phệ chỉ ngồi không mà hướng này chính là người tộc Ngõa Cách lạt, bọn chúng không có ba đầu sáu tay, cũng chẳng đao kiếm không chết. Đám người ngoại tộc ấy đang thổi cơn gió tanh hôi đến mảnh đất phồn hoa vốn đang hòa bình yên vui của họ, hại chết thân nhân, hại chết huynh đệ họ, khiến họ rơi vào cảnh loạn ly, sống không thấy mặt chết chẳng gần nhau. Cảnh Thất và Chu Tử Thư thần không biết quỷ không hay tách khỏi đám đông, đứng ngoài quan sát. Trên lầu cao, Cảnh Thất lặng lẽ đưa mắt nhìn, một lúc sau mới nói: “Tử Thư, bảo người của ngươi trà trộn vào đám đông cẩn thận một chút, kẻ nào chưa bị đánh chết thì đánh vào đầu, người chết rồi thì đợi bách tính giải tán hết hãi nhặt thi thể về, chặt đầu treo lên cổng thành”. Chu Tử Thư than nhẹ, lắc đầu cười bảo: “Vương gia, ngài có biết không, giờ đến cả ta cũng có cảm giác trút được gánh nặng trong lòng, như thể tảng đá lớn đè lên lồng ngực đã biị ai đánh nát”.

Cảnh Thất nheo mắt lại, bất chợt nghiêng đầu nhìn hắn: “Nghe nói… ngươi rốt cục đã ‘chịu’ cho Tiểu Lương Tử đi rồi?”. Chu Tử Thư lắc đầu cười khổ: “Cửu Tiêu không đi thì Tử Thư còn phải để mắt trông nom. Tình hình trước mắt như vậy, vạn nhất hắn lại gây ra họa gì thì thảo dân lấy sức đâu lo lắng cho hắn. Đã sai người trói lại, cưỡng chế đi rồi”. Cảnh Thất nói, như cười như không: “Cẩn thận hắn lại nói hận ngươi cả một đời”.

Chu Tử Thư bỡn cợt: “Vương gia, yêu càng sâu hận mới càng nhiều, Tử Thư đây đâu có được người yêu mến giống vương gia”. Cảnh Thất thoáng ngẩn người, sau mới nhíu mày nhìn hắn: “Ngươi lại dám chế nhạo bản vương?”. Chu Tử Thư cố nhịn cười: “Vương gia nhất định phải giữ gìn sức khỏe, chớ tức giận mà hại đến thân. Thuộc hạ còn chờ ngày sau đến chỗ vương gia xin chén rượu nhấm nháp đây, nghe nói… rượu độc của Nam Cương là thứ đại bổ”.

Vẻ mặt vốn có phần nghiêm nghị của Cảnh Thất phút chốc giản ra, thoáng trầm mặc, sau mới nhẹ giọng đáp: “Nếu nhờ phúc của lão huynh, ta thật sự có thể sống tới ngày ấy, vậy thì đừng nói là rượu, có bảo ta đi tìm cô nương Nam Cương xinh đẹp tươi tắn eo nhỏ thon thon cho ngươi lập thê cũng không thành vấn đề”. Chu Tử Thư vội nói: “Vương gia, quân tử một lời nói ra bốn ngựa khó đuổi. Ngài nói nhất định phải giữ lời đấy”. Cảnh Thất vung nắm đấm ra, nhướng mày nhìn hắn, Chu Tử Thư nở nu cười, cũng vươn nắm đấm ra, khẽ cụng tay với y.

“Một lời đã định.” Sau đó, Cảnh Thất bắt tay vào việc chia kinh thành ra làm nhiều khu vực, mỗi khu vực lại điều động người phụ trách riêng, phân công mỗi ngày mỗi hộ phải cung cấp bao nhiêu lương thực, lại hạ lệnh dọn s ạch mấy khu phố chợ trên con đường mà đoàn quân phụng chỉ vào kinh thành nhất định sẽ đi qua mỗi ngày luyện binh ngay trên phố đó, canh gác nghiêm ngặt. Quy định sẵn sang, hễ có viện quân tiến vào kinh phải đốt ngay ba cột lửa thông báo toàn thành. Hách Liên Dực dốc sức trấn an người nhà Hách Liên CHiêu, truy phong Hách Liên Chiêu là Trung Dũng Đại Tướng Quân Vương, con trưởng của Hách Liên Chiêu là Hách liên Vũ Dương phong tước thân vương. Những chuyện ấy vốn chỉ là hình thức phải làm cho có, ai dè lại thu được hiệu quả bất ngờ. Những thuộc hạ cũ của Hách Liên Chiêu, lấy nhạc phụ năm xưa từng là quan to nhỡ thời – Giản Tự Tông làm đầu, trở thành lực lượng trung kiên đầu tiên đứng ra ủng hộ chủ chiến. Mười năm trước trên điện Kim Loan, Giản Tự Tông ôm lấy Triệu Minh Tích gọi một tiếng “bảo bối”, mười năm sau, đầu Triệu Minh Tích và đám người xui xẻo Lai Bắc Ti bị Nam Ninh vương treo hết lên tường thành, còn Giản Tự Tông vốn đã cáo già dưỡng lão, đầu tóc bạc phơ lại đang dẫn đầu đám binh vốn xuất thân là gia nô xưa trong phủ đại hoàng tử, lẩy bẩy quỳ trước mặt Hách Liên Dực, tung hô vạn tuế.

Hách Liên Dực không bổ nhiệm bất kỳ ai chứ tướng nào, hắn cở bỏ long bào mới mặc chưa lâu, khoác lên mình chiếc chiến bào, tuyên bố sẽ đích thân bảo vệ kinh thành, đến chết mới thôi. Đứng sau lưng hắn đã chẳng còn là mớ cát rời rạc khi xưa, giờ hắn có Lục Thâm vạn phần cẩn thận, có Cảnh Bắc Uyên đột nhiên trở nên quỷ quyệt, tàn khốc tột cùng, có Thiên song quý thần khó lường mới thành lập, có một lực lượng đông đảo các thư sinh kháng khái hung hồn, sôi trào nhiệt huyết, có đội binh kiên cường ngút trời bi phẫn của đại hoàng tử năm xưa. Củng đúng vào lúc ấy, một người khác nữa cũng lộ diện trước đám đông - con gái của Phùng đại tướng quân Phùng Nguyên Cát, người được thái thượng hoàng Hách Liên Bái nhận làm dưỡng nữ - Phùng tiểu thư, cũng là Tĩnh An công chúa.

Cô nương bao năm qua vẩn ủy khuất an phận trong thâm cung nay đột nhiên xuất hiện, thân khoác nhung trang nàng có đôi mắt quật cường cùng sống lưng thẳng tấp, không khác gì Phùng đại tướng quân năm đó. Nữ nhi noi bước phụ thân, chốn thâm cung không tài nào mài mòn đi khí phách Phùng gia sắc bén trên người nàng. Tĩnh An công chúa tay chống thương trường, tóc buộc cao lên giống như nam giới, quỳ xuống xin Hách liên Dực cho nàng noi gương Mộc Lan “tong quân thay cha”. Bộ phận binh lính theo Phùng tường quân năm xưa cùng vây cánh Hách Liên Chiêu để lại vốn dĩ torng nước lúa không dung, nhưng thời điểm này rốt cục hai bên đã hòa làm một. Một tháng sau, số lượng binh lính đóng tại kinh thành lên tới mười tám vạn, lương thảo đủ đầy. Cảm xúc của tất cả mọi người dù là bá tánh thường dân hay quân binh lính tráng đều đạt tới đỉnh cao – Vinh Gia hoàng đế Hách Liên Dực c1 lẽ chính là vị hoàng đế có uy danh lừng lẫy nhất kể từ khi Đại Khánh bắt đầu chép sử tới nay. Mồng Tám tháng Mười một, Hạ Doãn hành đã tập hợp tàn quânc òn sót lại trên Tây Bắc, sống sót trở lại kinh thành. Hách Liên Dực nghe tin đích thân ra cổng thành nghênh đón. Hạ Doãn hành quỳ sụp ngay tại chỗ, bật khóc thê lương trức mặt Hách Liên Dực. Có điều khó xong một trận, Hạ Doãn Hành không thỉnh tội, Hách Liên Dực cũng không giáng tội, chỉ bố trí hắn vào hàng ngũ các tướng lĩnh bảo vệ kinh thành – thời điểm này, bất kể là sống hay chết, đều cần dung khí cả.

Mặt khác Chu Tử Thư không hay biết rằng, Lương Cửu Tiêu vốn bị hắn cưỡng chế đưa đi đã giở mánh khóe trên đường, hai người được cử đi hộ tống nhất thời sơ sẩy, để hắn chạy thoát. Lương Cửu Tiêu ầm thầm mà đi, trên đường vừa khóe gặp phải một đội qu6an hậu bị từ phía Nam tiếng về kinh thành, liền lấy tên giả là Tiểu Tưởng, trà trộn đi theo. Trong lòng hắn khúc mắc vẫn luôn tồn tại, hắn luấn quẩn mãi chuyện sư huynh sát hạt toàn bộ Tưởng gia, hắn không thể quên những lời nghe mà rét căm tận xương tủy vương gia từng nói. Lương Tiểu Cửu biến bản thân rất ngốc nghếch, suy xét không thấu đáo, cố đến đâu cũng chẳng hiểu được những kẻ thông minh ấy suy nghĩ gì. Thế nhưng, hắn không thể bắt bản thân ngừng thổ thẹn. Hắn vẫn luôn mơ có một ngày bản thân biến thành vị đại hiệp bênh vực cho chính nghĩa, nhưng từ sau khi đặt chân đến kinh thành, tới bản thân mình hắn cũng không giữ được. Lương Cửu Tiêu thấy bản thân nên trở về, dù không vì sư huynh tiến thoái chung sinh tử, thì cũng vì tìm lại con đường dẫn đến “đại nghĩa thiên hạ” trong thời đại ngập trong máu và lửa này.

Trong một tháng ngắn ngủi, ai cũng đều tìm được cho mình một lý do để nung nấu quyết tâm. Bởi vậy, quân xâm lược kia, cứ việc thúc ngựa tới đây đi..