Hôm nay bạn muốn đọc gì?

Thất gia - Chương 75

Chương 72: Trận chiến cuối cùng (ba)

Mồng Một tháng Mười, Đại Hồng thất thủ. Hai mươi ba tháng Mười, Tuyên Thành bị phá. Cuối tháng Mười, Kinh Quan sụp đổ.

Đến thời điểm hiện tại, phía Bắc kinh thành đã không còn vùng đất trọng yếu nào để bảo vệ, không còn tường thành san sát cao vút cung mây, chỉ sót lại dải đồng bằng phóng tầm mắt nhìn qua là có thể thu hết vào tầm mắt. Thủ tĩnh Cách Tây của tộc Ngoã Cách Lạt cùng mấy chục vạn quân của Hách Liên Chiêu tranh đấu tại Cam Túc. Mặc dù Hách Liên Chiêu đã tử trận sa trường, tàn quân còn sót lại của Đại Khánh hoang mang chạy trốn, nhưng bên phe Ngoã Cách Lạt cũng tổn thất không nhỏ. Cách Tây vốn nghĩ Đại Khánh chỉ là một bầy ô hợp không chịu nổi một kích, chẳng ngờ lúc đối chiến lại quyết liệt đến bất ngờ. Bấy giờ Cách Tây mới nhận ra bản thân đã đánh giá thấp người Đại Khánh. Trận chiến kia gần như thắng địch một vạn tự chết tám nghìn, giả như vào giây phút cuối cùng Hách Liên Chiêu không bị trúng tên ngã ngựa, bị một võ sĩ Ngoã Cách Lạt liều mình xông tới, nhân lúc rối ren chém chết thì chỉ sợ Cách Tây sẽ phải nghĩ đến chuyện lui bình. Thế nhưng, ông Trời cuối cùng vẫn đứng về phía hắn.

Sau đại chiến Cam Túc, Cách Tây nghỉ ngơi và chỉnh đốn quân đội tại chỗ một thời gian, cẩn trọng vạch ra kế hoạch tiến công mới, bởi vì hắn biết, thứ đang chờ hắn phía trước, chính lá những trạm gác trùng trùng điệp điệp cùa Đại Khánh. Cách Tây Ô Nhĩ Mộc năm nay ba mươi sáu tuổi, là kiêu hùng hiếm có của thảo nguyên rộng lớn. Hắn giúp Triệu Chấn Thư ngấm ngầm nuôi lính riêng ở Xuân thị, mặc Triệu Chân Thư sai bảo như chó ngựa, ẩn nhẫn mười mấy năm trời. Trong mười mấy năm đó, hắn từ một thanh niên lòng đầy hăng hái, khí phách căng tràn, giữa kiên nhẫn và mưu tính, đã dần dần bồi đắp cho mình sự khôn ngoan đáng sợ, lòng dạ thâm sâu như biển. Triệu Chấn Thư thấy hắn được việc, trong tay lại có tiền. Thế là lão vui vẻ nuôi một con chó săn thảo nguyên, bao nhiêu năm qua vẫn nâng đỡ hắn, cung cấp cho hăn vô số tiền tài. Cách Tây không phung phí ăn tiêu, ngày ngày hắn vẫn ăn bánh bột mỳ thê tử làm cho, cắn thứ thịt khô chế biến sơ sài, khó nuốt giống tất cả mọi người, mặc quần áo của dân chăn thả ngập mùi tanh tưởi. Còn số tiền kia, hắn âm thầm dùng để mở cửa thông đườn, dâng nô lệ và mỹ nhân cho kẻ thù của hắn, sau đó dần dần thôn tính trọn. Hắn dùng khoảng thơi gian mười năm quét ngang cả thảo nguyên rộng lớn, khiến tộc Ngoã Cách Lạt đã tan đàn xẻ nghé mấy trăm năm có lẻ lại thống nhất một nhà. Sói xám phương Bắc hú dài, vung vuốt sắt tràn xuống phương Nam. M ục đích của Cách Tây không đơn giản chỉ là của cải Đại Khánh. Hắn dẫn những võ sĩ như hỏ như sói kia xuống phương Nam, không phải cứ đoạt được bạc vàng, cướp được mỹ nhân là xong chuyện. Thứ hắn muốn chính là trọn vẹn dải non sông tuyêt đẹp của mảnh đất Trung Nguyên.

Người xưa nói, đâu cứ phải con giống cháu dòng mới làm được vương hầu quan tước(*) - đến cả kẻ làm nông trong núi còn nói được những lời như vậy, thì có gì mảnh đất non xanh nước biếc màu mỡ xinh tươi kia lại để cho lũ ngườì Trung Nguyên phù phiếm yếu mềm chiếm lĩnh cả trăm nghìn năm đằng đẵng? Từ đầu đến cuối, mục tiêu hành quân của Cách Tây chỉ có một - kinh thành. (*)Nguyên văn: “Vương hầu tương tướng ninh hữu chủng hầu”.Câu nói trên là lời tuyên bố hào hung của người lãnh tụ cuộc khởi nghĩa nông dân-Trần Thắng, đã được sử gia Tư Mã Thiên chép vào Sử ký, phần Trần Thiệp thế gia. Sau kinh thành chính là điện Kim Loan.

Thế nhưng sự kháng cự hắn dự tính nhận được lại không hề xuất hiện, trận Cam Túc dường như đã doạ cho đám người Đại Khánh sợ mất hồn mất vía, một đường nam hạ thuận lơi vô cùng rất nhiều thành trì gần như chưa đánh đã tan, những nơi gắng gượng chống trả cũng chỉ như vậy, lộ rõ sự bạc nhược vô dụng. Hắn nghĩ rồi hiểu ra ngay – dân Đại Khánh đã sống cảnh thái bình suốt mấy trăm năm ,dũng khí của bọn dù bị miễn cưỡng thổi phồng lên một lần, cũng chỉ là thứ đươc bao bọc bởi lớp vỏ cực mong manh, gió vừa thôi liền nát ngay. Cách Tay trở nên kích động, nỗi kích động càng ngày càng dữ dội hơn theo đại quân áp sát kinh thành. Hắn như thế đã nhìn thấy kinh đô được miêu tả như toà thành trên thiên giới phủ trong truyền thuyết phủ phục dưới chân mình, bản thân hắn dẫm bước trong cung điện được phủ vàng ròng khắp mọi ngõ ngách, để người trong thiên hạ đều phải tới bái lạy mình. Rốt cuộc, vào ngày Hai mươi tháng Mười một, địch dưới chân thành. Trong thời khắc ấy, giữa kinh thành, điện Kim Loan phủ mờ cát bụi đang nghênh đón chiều thần lần cuối cùng. Vương Ngũ, Vu Quỳ cùng Hỷ công công và những người khác đều lui vào trong góc. Đứng cạnh Hách Liên Dực là hai người trước nay chưa từng xuất hiện trước thế nhân, một người là Công chúa Tĩnh An thân khoác quân trang, một người là Chu Tử Thu đeo mặt na da người, giả dạng làm một văn sĩ trung niên. Bách quan văn võ đứng thẳng hai hàng, Hách Liên Dực kêu người treo cao long bào lên đại điện, như thể đang nâng một bước đồ dằng lấp lánh. Hắn mặc áo giáp dày và nặng, viền bởi gầy gò mà trở nên sắc bén hơn, xuyên thẳng vào trong tóc, mang theo thứ lực lượng chưa ai từng thấy trước đây.

Chín cửa kinh thành, binh lực tổng cộng mười tám vạn, việc phong vương phong tước cho các tướng lĩnh cũng đã hoàn thành. “Huyền Vũ Môn Phùng tiểu thư, Triêu Dương Môn Hạ Doãn Hành…” Cuối cùng chính là Trình Vũ Môn ở phía Bắc – chín chin tám mươi mốt khối đá xanh dài ba trượng rộng ba trượng trải dài tới tận cửa thành, là chốn âm khí nhất, tanh mùi máu nhất kinh thành, là nơi Ô Khê giết chết hai mươi tư thích khách hắc vũ năm hắn mười lăm tuổi, cũng là nơi đối đầu trực diện với nanh vuốt của bầy sói Ngoã Cách Lạt đang tràn tới.

Chu Tử Thư nâng thánh chỉ, đọc chậm rãi, rõ ràng: “Trình Vũ Môn, do trẫm đích thân trấn thủ.” Đối với đa sô những người đang đứng trên đại điện này, đây là lần đầu tiên họ tham dự vào hội nghị quân sự trước lúc hành quân giao chiến, chỉ sợ cũng là lần cuối cùng. Hiện giờ nơi đây không còn hoàng thượng, tể tướng, vương gia, công chúa, chỉ có người giữ thành, người nắm đao, cũng người sắp sửa liều mình. “Một nửa giang sơn rơi vào tay giặc, phía Nam kinh thành không còn quan ải nào trấn giữ, mà nay, trẫm bất hiếu, khiến nước non ta long dong, khiến núi sông ta ảm đạm, dưới Cửu Tuyền quả thực không còn mặt mũi nào gặp liệt tổ liệt tông.”

“Mấy chục vạn đại quân vùi thân nơi Cam túc, tinh nhuệ truyền đình gần như mất hết, hoàng huynh trẫm hy sinh, cơ hồ không mảnh da ngựa bọc thây anh hào. Binh tướng Man tộc đuổi sát chân thành, nước nhà lâm vào bước đường cùng, đầu quý trên cổ, máu nóng trước ngực, còn gì tiếc rẻ mà không vứt bỏ, còn gì lưu luyến mà không buông? Việc đến nước này, nếu kinh thành thất thủ, hiên son bệ ngọc còn đó mà người đã khác(*), cố quốc vẫn như xưa, nhưng non sông thay họ! Trẫm dù phải chết, cũng lấy đâu mặt mũi tạ tội với trăm họ muôn dân? Các vị đứng đây, cũng lấy mặt mũi đâu mà gặp bà con phụ lão?!” (*)Lấy ý từ hai câu thơ “Điêu lan ngọc thế ưng do tại, chỉ thị chu nhan cải” trong bài Ngu mỹ nhân kỳ 1 của Lý Dục. Nguyện noi theo Hạng đại tướng quân(*), đập nồi dìm thuyền, sống mái một phen – nếu không thắng được liền tự kết thúc tại đây.”

(*)Trong trận Cự Lộc nổi danh cuối đời Tần, Hạng Vũ đích thân dẫn hai vạn tinh binh tấn công Trương Hàm nhằm báo thù cho chú là Hạng Lương. Trước khi vượt sông ông đã ra lệnh cho binh lính dìm thuyền, đập hết nồi nấu cơm, chỉ mang theo lương thảo đủ dùng ba ngày, quyết tâm đánh một trận sống mái, không thắng không về. “Kể từ khi khai chiến, binh tướng ra trận, chin cửa thành đóng chặt, không phải người mặc áo giáp cầm gương không được vào thành, kẻ nào khánh lệnh, chém! Kẻ tự ý rời cương vị, chém! Lâm trận,người trước rút lui, người sau chém! Kẻ nào liều lĩnh bao che, xử cùng tội đó! Kẻ làm tướng lại dám trốn chạy, binh linh có thể cùng xông lên giết chết, giành vị trí cho mình, nhưng nếu không có chuyện đó, kẻ nào dám vi phạm quân lệnh, không tuân theo điều phối của cấp trên, chém!” Thanh âm hắn thoáng ngừng lại, sau đó chậm rãi nói từng tiếng một: “Trẫm, cùng các tướng, thề cùng mảnh đất này chung sinh tử!”

Ngày Hai mươi mốt tháng Mười một, tộc Ngoã Cách Lạt chính thức khai chiến cùng những quan binh cuối cùng của Đại Khánh. Toà thành đã trải qua trăm năm sương gió, dùng phấn son bồi đắp mà nên nay bắt đầu hứng chịu con sóng máu hung tàn đầu tiên của dân tộc du mục đến từ một nơi rất xa xôi. Ngày đầu vây thành, Cách Tây thử tấn công Sùng Văn Môn, tướng quân trấn thủ Sùng Văn Môn chính là Thiết Thư của Đông Đại Doanh, trước đó đã từng bị Hạ Doãn Hành ngầm mỉa mai là tôi tớ của đại hoàng tử. Lúc xuất chinh Hách Liên Chiêu không dẫn Thiết Như theo, là vì hắn có nhiệm vụ bảo vệ kinh thành, cũng là vì để lại cho bản thân một lối sau trong ngoài kết hợp nếu sau này có cơ hội dẫn quân trở về. Mà nay Hách Liên Chiêu đã mất, lối sau không cần nữa, Thiết Như liền buông tay bất chấp. Không thứ gì có được sức mạnh thần kỳ khiến dê con biến thành lang sói chỉ trong một đêm ngắn ngủi lớn hơn thù hận. Sáu nghìn binh lính Ngoã Cách Lạt hăng hái sôi trào được Cách Tây phái đi phá cổng thành, đoàn quân dương dương đắc ý mà đi, lại gặp phải đội quân phòng thủ không khác gì ác quỷ của Đại Khánh. Người Ngoã Cách Lạt cơ hồ choáng váng. Đoạn lịch sử kinh người lại một lần tái hiện, bọn họ hoảng hốt thất kinh, nhanh chóng đổ vỡ, trốn chạy khắp nơi, hệt quân Đại Khánh trong cái đêm doanh trại bị tập kích ngày đó. Điểm khác nhau là, bọn họ không có vị tướng lính nhìn thấu lòng quân bên ta bên địch, dám xung phong đi đầu, vung đao lớn xông lên liều mạng.

Như thể chỉ trong một đêm, thép bị hoà tan thành nước, đổ đầy sông Vọng Nguyệt. Cách Tây đứng từ xa ngưỡng vọng toà thành đồ sộ mà tráng lệ, cùng cung điện cao vút cung mây có thể trông thấy mờ mờ lúc ngẩng đầu lên, đột nhiên có một dự cảm không lành – toà thành ấy, như thể không gì xâm phạm được. Lúc này ở Trình Vũ Môn, bên cạnh Hách Liên Dực còn hai người ở lại, đang vây quanh tấm bản đồ phân bố quân phòng thủ, một đứng một ngồi.

Những người có thể dùng đều đã đi giữ cổng thành cả, Cảnh Thất cùng Chu Tử Thư lưu lại bên cạnh Hách Liên Dực, một là vì an toàn của hắn, hai là vì biến Trình Vũ Môn – nơi nguy hiểm bậc nhất thành bộ chỉ huy cuối cùng. Mấy trăm Thiên song xuất quỷ nhập thần dưới trướng Chu Tử Thư trở thành mối nối trung gian liên kết chín cổng thành. Bọn họ đồng loạt thay áo vải, xăm lên cánh tay một nhánh mai, trà trộn thành đủ các hạng người, dùng tốc độ nhanh nhất thiết lập nên hệ thống tin tức trải khắp kinh thành. Y phục trên người Cảnh Thất đổi thành một bộ áo tối màu cực kỳ đơn giản, trang sức trên người cùng những thứ vặt vãnh có cũng được không cũng chẳng sao đã cởi bỏ hết từ đêm trước. Cảnh Thất khoanh tay trước ngực, đầu mày hơi nhíu lại. Hách Liên Dực nhìn bong lưng y, chợt thấy người kia có gì đó khác với Cảnh Bắc Uyên không chút khí thế, bao năm qua vẫn biếng lười cợt nhả - vai lưng y gầy sọm, lại vô cùng thẳng, ống tay cùng lưng áo trước để rộng thùng thình đều được thắt chặt lại, phong thái quý tộc thấm vào xương tuỷ đột nhiên tiêu tan không gặp, như thể những gì y thể hiện suốt bao năm qua đều là giả vậy. Gò má y hơi hóp lại, đôi mắt hoa đào hơi lõm xuống, lại sắc bén kinh người. Hách Liên Dực thoáng thấy lòng mình đau nhói, có điều nỗi đau ấy lập tức bị nỗi chết lặng to lớn hơn che lấp – không ai trong bọn hắn còn đường lui. Cảnh Thất loanh quanh mấy vòng tại chỗ, trong lúc ấy Thiên song không ngừng báo lại tình hình chiến đấu tại Sùng Văn Môn. Hách Liên Dực sai người giấu thắng lợi nhỏ nhoi ấy đi, chỉ để các tướng lĩnh khác biết rằng, Sùng Văn Môn vẫn đang chiến đấu, phải đề phòng nghiêm ngặc hơn.

Cảnh Thất chau mày nói: “Bệ hạ, chín lối kinh thành, nhìn vào có vể là cửa lớn, sừng sững nguy nga, nhưng lại là nơi tấn công dễ mà phòng thủ khó, nếu đợi tên tiểu tử Ô Mộc kia hoàn hồn lại, tập trung tấn công một chỗ, vậy chỉ sợ là… khó đối phó.” Cả Hách Liên Dực lẫn Chu Tử Thư đều hiểu rõ đạo lý này, quân đội phòng thủ kinh thành tổng cộng mười tám vạn, quân số vốn đã không đông, lại phải chia ra trấn thủ chín cửa thành, tương đối eo hẹp. Năm đó khi toà thành này được xây lên, vốn gửi gắn trong mình ý tứ hào sảng cười đón khách phương xa từ tám hướng ghé thăm, tràn ngập cảm giác ưu việt của đô thành đại quốc. Hiềm nỗi hiện nay khách không mời tự đến lại mang ý xấu, kinh thành không muốn cười đón tiếp, đương nhiên liền xuất hiện vấn đề. Cổng thành nhiều như vậy, khác nào cái sang bị người chọc thủng chín lỗ, chỗ nào chỗ nấy đều là nhược điểm. Nhất thời Hách Liên Dực và Chu Tử Thư đều im lặng, Cảnh Thất tiếp tục nói: “Quân địch có mấy điểm khó đối phó như sau: Thứ nhất, Cách Tây Ô Nhĩ Mộc nhẫn nhịn được, đồng nghĩa với việc khó bị chọc giận, không dễ nổi nóng, đánh trận điềm tĩnh; Thứ hai, người tộc Ngoã Cách Lạt ai cũng cường tráng vạm vỡ, chuyện này không cần nói làm gì. Trước mặt tinh thần binh tướng trong thành đang sôi sục nên không có vấn đề gì, chỉ sợ chiến sự kéo dài khiến sức cùng lực kiệt, đến lúc đó e là…”

Y lắc đầu, chân mày càng nhíu chặt hơn. Hách Liên Dực thong thả tiếp lời: “Nếu trẫm là Cách Tây, sau khi dò xét tất cả các cửa thành một hai lần, nhất định sẽ hiểu rõ vấn đề. So với việc điều quân tấn công khắp chín cổng thành không mục đích, không bằng chọn lấy một nơi để tấn công kịch liệt, chúng ta nhất định không chống đỡ được.” Chu Tử Thư hỏi: “Theo ý bệ hạ, hắn sẽ chọn nơi nào để tập trung tấn công?”

Hách Liên Dực thoáng lưỡng lự, sau đó đáp: “Nếu chỉ muốn đánh vào kinh thành, trẫm sẽ chọn Huyền Vũ Môn, Tĩnh An tuy là nữ nhi của Phùng đại tướng quân quá cố, nhưng dù gì cũng chỉ là một cô nương. Có lẽ nàng có khả năng, nhưng nếu đọ sức bền, e là không đua nỗi với đám Ngoã Cách Lạt hệt lũ bò hoang kia. Còn nếu… còn nếu muốn làm chủ thiên hạ…” Hách Liên Dực quay đầu lại, đưa mắt nhìn chân trời mờ mịt, ngợp trong khói lửa phía đằng xa, rì rầm: “Còn nếu muốn làm chủ thiên hạ, hắn nhất định sẽ chọn Trình Vũ Môn, tới cùng trẫm phân cao thấp!”.