Hôm nay bạn muốn đọc gì?

Tin em và yêu em - Chương 2

Chương 2.

Bá tước Durbury đã đặt một dãy phòng tại khách sạn Pulteney. Ông hiếm khi lên London và không có tư dinh nào ở thành phố. Ông thích một khách sạn rẻ hơn, nhưng phải giữ thể diện. Ông hy vọng không phải lưu lại lâu và sớm được lên đường trở về Candleford ở Cornwall. Người đàn ông đang đứng trong phòng khách riêng của ông, mũ cầm trong tay, bộ dạng cung kính nhưng không quỵ lụy, có việc phải làm trong thời gian Bá tước lưu lại. Anh ta nhỏ thó, lanh lợi với mái tóc bóng nhờn. Trông chẳng giống hình ảnh một thám tử Bow Street chút nào, nhưng anh ta quả đúng là một thám tử. “Ta muốn tất cả nhân viên đi tập trung đi lùng nó,” Bá tước nói. “Không khó tìm nó đâu. Xét cho cùng chỉ là một đứa con gái nhà quê, không có người quen nào ở đây ngoài phu nhân Webb, mà bà ta đã ra khỏi thành phố.”

“Xin ngài thứ lỗi,” viên thám tử đáp, “nhưng chúng tôi còn phải làm nhiều vụ khác nữa. Tôi sẽ điều thêm một hoặc hai nhân viên. Đảm bảo với ngài họ là những người có năng lực.” “Ta cũng nghĩ thế,” Bá tước lầm bầm, “xét đến khoản thù lao đã trả cho anh.” Viên thám tử chỉ nghiêng mình lịch sự. “Bây giờ cảm phiền ngài miêu tả cho tôi diện mạo cô gái.”

“Cao và gầy,” Bá tước đáp. “Tóc vàng. Quá xinh đẹp so với tư cách của nó.” “Còn tuổi, thưa ngài?” “Hai mươi.”

“Vậy cô gái chỉ đơn thuần bỏ trốn thôi sao?” Viên thám tử nhấn mũi giày mạnh hơn lên thảm. “Tôi có cảm tưởng rằng không chỉ có vậy, thưa ngài.” “Tất nhiên.” Bá tước cau mày. “Con bé đó thuộc dạng tội phạm nguy hiểm nhất. Nó là kẻ giết người. Nó đã giết con trai ta - hoặc gần như giết thằng bé. Con ta đang hôn mê và không có hy vọng sống sót. Và nó còn là một tên trộm. Nó đã bỏ trốn với một gia tài tiền mặt và nữ trang. Phải tìm bằng được nó.” “Và đưa nó ra trước tòa,” viên thám tử đồng ý. “Thưa ngài, nếu được phép, tôi sẽ hỏi ngài kỹ hơn về cô gái đó. Nét ngoại hình đặc biệt, cung cách, sở thích, những nơi chốn và hoạt động yêu thích... Mọi chi tiết có thể giúp chúng ta nhanh chóng tìm ra.”

“Ta thấy,” Bá tước miễn cưỡng nói, “tốt hơn anh nên ngồi xuống. Tên anh là gì?” “Boden, thưa ngài,” viên thám tử đáp. “Mick Boden.” Jocelyn ngà ngà một cách dễ chịu. Dễ chịu trừ việc đang phải nằm trên giường trong khi anh thích ngồi thẳng lúc say hơn - căn phòng như tròng trành chao đảo quanh anh.

“Đủ rồi!” Anh giơ một tay lên - hoặc chí ít anh nghĩ mình làm thế - khi Conan đưa cho anh một cốc Brandy nữa. “Nếu uống thêm, thì lão chuyên mổ xẻ kia sẽ cắt bỏ chân tớ trước khi tớ kịp phản đối mất.” Môi và lưỡi anh như thể là của ai khác. Não của anh cũng thế. “Tôi đã hứa là sẽ không cắt bỏ nếu chưa được sự đồng ý của ngài, thưa đức ngài.” Bác sỹ Timothy Raikes nói cứng nhắc, không vui khi bị ví là chuyên gia mổ xẻ. “Nhưng xem ra viên đạn nằm sâu đấy. Nếu nó không găm vào xương...”

“Lllấy nnó...” Jocelyn cố tập trung hơn. Anh vốn khinh thường những kẻ say xỉn nói năng líu nhíu. “Vậy thì lấy nó ra.” Sự đau đớn đã tê đi một cách dễ chịu, nhưng cái đầu nụ mị của anh vẫn nhận thức được rằng lượng cồn đã uống sẽ không át được cơn đau sắp tới. Không cách nào trì hoãn được nữa. “Cứ... cứ tiến hành đi, ông già.” “Đợi con gái tôi đến đã,” bác sỹ lo âu. “Nó là một trợ lý giỏi và vững tay trong những ca thế này. Tôi đã nhắn cho nó ngay lúc được gọi đến đây, nhưng hẳn nó đã rời thư viện Hookham trước khi lời nhắn đến nơi.” “Quỷ bắt con gái ông đi!” Jocelyn thô lỗ. “Lấy...”

Nhưng Conan đã ngắt lời. “Cô ấy đây rồi!” Giọng Conan nhẹ nhõm thấy rõ. “Không phải đâ, thưa ông,” bác sỹ Raikes đáp. “Đây chỉ là một cô hầu. Nhưng cô ta sẽ phải làm thay. Lại đây, cô gái. Cô có dễ nôn không? Cô có ngất khi nhìn thấy máu giống người hầu của đức ngài không?”

“Cả hai đều không,” cô hầu trả lời. “Nhưng chắc là có sự nhầm lẫ...” “Lại đây,” bác sỹ bắt đầu sốt ruột. “Tôi phải gắp viên đạn ra khỏi chân đức ngài. Cô phải đưa những dụng cụ tôi yêu cầu và lau sạch máu để tôi thấy mình đang làm gì. Đến gần đây, đó. Hãy đứng ở đấy.” Jocelyn phải dùng cả hai tay túm chặt lấy mép nệm để gồng người lên. Anh thoáng thấy cô hầu trước khi cô ta khuất bóng phía sau Raikes. Giây lát sau anh không thể nghĩ mạch lạc khi cơ thể, tâm trí và thế giới của anh nổ tung trong cơn đau tột cùng. Anh chẳng thể trốn đâu được khi viên bác sỹ rạch vào vết thương, dò tìm và moi sâu hơn để tìm viên đạn. Conan đang ấn cả hai tay lên đùi anh để giữ chân anh bất động, Jocelyn giữ yên phần cơ thể còn lại bằng sức mạnh ý chí và bàn tay ghì chặt vào nệm, mắt nhắm nghiền, răng nghiến chặt. Anh kiên quyết dồn sự tập trung vào việc ngăn mình thét lên.

Thời gian tương như dài vô tận cho đến khi anh nghe tiếng bác sỹ thông báo với một sự điềm tĩnh đáng nguyền rủa là viên đạn đã được gắp ra. “Nó ra rồi, Tresham,” Conan nhắc lại, nghe như thể cậu ta vừa chạy mười dặm đường dốc. “Phần đáng ngại nhất đã qua rồi.” “Quỷ tha ma bắt!” Jocelyn thốt lên sau khi tuôn ra một tràng những tính từ khắc nghiệt hơn. “Ông không thể lấy viên đạn ra nhanh hơn sao, Raikes, mà mất nguyên buổi sáng thế này?”

“Tôi đã làm nhanh nhất có thể, thưa đức ngài,” bác sỹ Raikes đáp. “Nó bị găm giữa những thớ cơ và dây chằng. Rất khó đoán mức độ tổn thương. Nếu tôi mà vội thì ắt sẽ làm ngài què và chuyện cưa chân là không tránh khỏi.” Jocelyn chửi thề lần nữa, rồi bỗng cảm thấy dễ chịu không sao tả xiết khi một chiếc khăn ướt mát lạnh được dấp vào trán anh, rồi tới hai bên má. Anh đã không hề biết mình nóng đến mức nào. Anh mở mắt. Anh nhận ra cô ta ngay lập tức. Mái tóc vàng của cô ta được vấn thành một búi chặt. Miệng mím lại thành một đường thẳng băng y như lần trước - ở Hyde Park. Cô ta đã bỏ chiếc áo choàng xám và mũ bonnet ra, nhưng những gì nằm bên dưới chúng cũng chẳng khá hơn. Cô ta mặc một chiếc váy rẻ tiền, màu xám xỉn, cổ cao kín mít. Dù say, mà nhờ nó sự đau đớn của anh đã giảm đáng kể, Jocelyn vẫn láng máng nhớ anh đang nằm trên giường trong phòng ngủ nhà mình ở London. Còn Hyde Park nằm trên đường đi làm của cô ta. “Cô đang làm cái quái gì ở đây?” anh hỏi.

“Giúp thấm máu và giờ là lau mồ hôi,” cô ta đáp, quay người nhúng khăn vào bát nước, vắt kiệt rồi lại áp nó vào trán anh. Cô ả xấc xược. “Ôi trời!” Hiển nhiên Conan cũng vừa nhận ra cô gái. “Ai cho cô ta vào?” Jocelyn nhăn mặt và lại chửi thề khi bác sỹ Raikes đắp cái gì đó lên vết thương của anh.

“Tôi nghĩ là quản gia của ngài,” cô ta nói. “Tôi bảo ông ấy là tôi đến nói chuyện với ngài, thế là ông ấy đưa ngay tôi lên đây. Ông ấy nói là mọi người đang chờ tôi. Có lẽ ngài nên khuyên ông ấy cảnh giác hơn với những người ông ấy cho vào nhà. Tôi có thể là bất cứ ai.” “Cô là bất cứ ai!” Jocelyn quát, ghì chặt lấy nệm khi chân anh bị dịch chuyển và cơn lũ đau đớn tràn qua người. Bác sỹ bắt đầu băng bó vết thương. “Cô muốn cái quái gì hả?” “Dù cô là ai,” viên bác sỹ lên tiếng, lộ vẻ lo lắng, “cô cũng đang làm bệnh nhân của tôi mất bình tĩnh. Có lẽ cô...”

“Thứ tôi muốn,” cô ta kiên quyết, phớt lờ ông ta, “là một chữ ký với xác nhận rằng sáng nay ngài đã giữ tôi lại trái với ý muốn của tôi và vì thế tôi mới đi làm muộn.” Hẳn mình đã say hơn mình tưởng, Jocelyn nghĩ. “Xéo đi với quỷ ấy,” anh bảo với cô ả xấc xược.

“Có lẽ tôi cũng làm thế thật,” cô ta vặc lại, “nếu tôi bị mất việc.” Vừa nói cô ta vừa thấm nhẹ chiếc khăn mát rượi lên cằm và cổ anh. “Có lẽ...” Bác sỹ Raikes lại mở miệng. “Sao ta phải quan tâm,” Jocelyn hỏi lại, “nếu cô mất việc và bị quẳng ra ngoài đường cho chết đói? Nếu không phải tại cô, thì ta đã không nằm đây, bất lực như con cá voi mắc cạn thế này.”>

“Tôi không phải là người chĩa súng vào ngài,” cô ta chỉ ra. “Tôi không phải là người bóp cò. Tôi đã kêu cả hai người dừng lại, nếu ngài còn nhớ.” Có thực là, Jocelyn đột nhiên tự hỏi, anh đang đấu khẩu với một đứa làm thuê không? Trong nhà anh ư? Tại phòng ngủ của anh sao? Anh gạt tay cô ta ra. “Conan,” anh cộc lốc, “cậu vui lòng cho cô gái này đồng vàng cô ta chưa nhận được sáng nay, và ném cô ta ra ngoài nếu cô ta không chịu tự đi.”

Nhưng bạn anh chỉ kịp bước lên được một bước. “Chắc chắn là cô ấy không chịu đi,” cô gái đứng thẳng lên và trừng mắt nhìn anh, hai má đỏ bừng. Cô ta cho anh thấy rõ là mình đang nổi giận. “Không có được chữ ký thì cô ấy sẽ không nhúc nhích một ly đâu.” “Tresham à,” Conan can gián, giọng có vẻ thích thú, “cậu chỉ mất một phút thôi mà, bạn già. Tôi có thể lấy giấy, bút và mực. Thậm chí tôi sẽ tự tay viết ra, và tất cả những gì cậu cần làm là ký. Đó là kế sinh nhai của cô ấy.”

“Chết tiệt!” Jocelyn bật ra. “Thậm chí đề nghị đó còn không đáng để ta đếm xỉa đến. Cô ta có thể đứng mọc rễ ở đây cho đến khi bị một tên gia nhân lực lưỡng tới ném ra ngoài. Ông xong chưa, Raikes?” Bác sỹ Raikes đứng thẳng lên và quay sang túi đồ nghề. “Tôi xong rồi, thưa đức ngài,” ông ta đáp, “Tôi có nghĩa vụ phải cảnh báo ngài là vết thương nặng đấy. Tôi hy vọng tổn thương không phải vĩnh viễn. Nhưng ngài nhất thiết không thể được cử động và phải treo cao chân ít nhất ba tuần.”

Jocelyn nhìn chằn chằm ông ta, kinh hoảng. Ba tuần hoàn toàn bất động? Anh chưa từng nghĩ đến hậu quả tất yếu này. “Nếu ngài không ký, thì ngài phải cho tôi một việc làm thay cho công việc bị mất. Tôi không chịu chết đói đâu.” Jocelyn quay đầu nhìn cô ta - căn nguyên của mọi tai ương. Đây là cuộc đấu súng thứ tư anh tham gia. Trước ngày hôm nay anh chưa gánh chịu thương tích nào nặng hơn một vết trầy xước. Oliver ắt sẽ bắn chệch cả thước nếu không phải tiếng thét của cô ả này đã tạo cho hắn một tấm bia ngon lành hơn để ngắm bắn và cơ may chĩa súng vào đố thủ mất tập trung.

“Được,” anh đanh giọng. “Cô được thuê, cô gái. Trong ba tuần. Làm y tá cho ta. Tin ta đi, trước khi thời hạn này kết thúc cô sẽ tự hỏi phải chăng chết đói còn hay hơn.” Cô ta điềm tĩnh nhìn anh. “Mức lương của tôi thế nào?” Sáng hôm sau Jane dậy sớm trong trạng thái mất phương hướng. Không có tiếng đàn ông say rượu gầm rống, tiếng phụ nữ quát tháo, tiếng trẻ con khóc vã cãi nhau, không có mùi bắp cải ôi thiu, rượu gin và những mùi kinh khủng hơn mà cô gần như đã quen thuộc. Chỉ có sự tĩnh lặng, lớp chăn ấm áp và mùi của sự sạch sẽ.

Cô đang ở Dudley House trên quảng trường Grosvenor, Jane sực nhớ, và tung chăn ra để bước xuống sàn nhà trải thảm đầy sang trọng. Ngày hôm qua, sau khi về thông báo cho chủ nhà trọ và thu dọn số đồ dùng ít ỏi, cô đã đến trình diện ở cửa giành cho gia nhân, mong được xếp vào phòng gác mái với những cô hầu khác. Nhưng bà quản gia đã cho cô hay phòng gia nhân đã kín và không còn giường nào trống. Y tá của đức ngài sẽ ở trong phòng dành cho khách. Thực ra nó là một căn phòng nhỏ phía sau nhà, trông ra vườn, nhưng với Jane thì nó quá xa hoa so với những chỗ gần đây cô ở. Chí ít nó cũng cho cô sự riêng tư, và cả sự thoải mái. Cô chưa nhìn thấy người chủ mới của mình kể từ sáng hôm qua, lúc cô quá liều lĩnh - và hết sức chán nản - yêu cầu anh ta tìm việc cho cô nếu không chịu giúp cô giữ công việc hiện có. Hình như anh ta đã dùng một liều cồn thuốc phiện mà bà quản gia đã lén bỏ vào cốc rượu nóng sau khi cô và ông bác sỹ đi khỏi. Liều thuốc này cộng hưởng với lượng rượu đã uống làm anh ta ói mửa rồi ngủ li bì.

Jane đoán sáng nay anh ta sẽ đâu đầu kinh khủng. Chưa kể đến cảm giác đau đớn ở chân. Cô biết là nhờ có bác sỹ giỏi anh ta mới còn nguyên cả hai chân. Cô rửa mặt bằng nước lạnh, nhanh chóng mặc quần áo, chải tóc, tết nó lại bằng những ngón tay thành thục rồi vấn gọn ra sau đầu. Cô lấy một trong hai chiếc mũ vải màu trắng cô đã mua hôm qua bằng tiền công kiếm được ở cửa hiệu quần áo. Jane đã đường hoàng quay lại đó để thông báo rằng cô sẽ làm việc cho Công tước Tresham. Madame de Laurent đã trả ticho cô, Jane đoán là do bà ta qua kinh ngạc đến độ không biết làm gì khác. Cô rời phòng và đi xuống bếp, hy vọng được ăn chút điểm tâm trước khi bị triệu đến để bắt đầu công việc y tá.

Hôm qua anh ta đã báo trước là sẽ làm cho cô thích chết đói hơn công việc hiện thời. Chắc chắn anh ta sẽ cố hết sức để khiến cuộc sống của cô khốn khổ. Khó lòng tìm được gã đàn ông nào kiêu ngạo hơn, khó chịu hơn, thô lỗ hơn anh ta. Tất nhiên tình huống hôm qua làm cô dễ chấp nhận sự quá quắt của anh ta hơn bởi anh ta phải chịu cái đau cắt da cắt thịt, và đã vượt qua rất cừ, trừ cái lưỡi. Điều đó cho anh ta quyền hiếp đáp bất cứ ai nằm trong tầm nghe. Cô tự hỏi công việc của mình là gì. Chà, ít nhất, cô nghĩ là khi bước vào bếp và thất vọng nhận ra mình hẳn là người làm dậy muộn nhất, công việc sẽ không buồn tẻ như ở cửa hàng của Madame de Laurent. Cô lại còn được trả lương gấp đôi cộng cơm ăn hàng tháng và một phòng ở. Tất nhiên, nó sẽ chỉ kéo dài vẻn vẹn ba tuần.

Tỉnh dậy, Jocelyn thấy chân nhức nhối như một con voi ma mút bị đau răng. Dựa vào độ sáng trong phòng, anh đoán giờ là tờ mờ sáng hoặc nhá nhem tố, anh nghĩ là sáng. Anh đã ngủ li bì suốt chiều và đêm qua, trải qua những giấc mơ kỳ quái dài dằng dặc. Và giờ anh chẳng thấy tỉnh táo chút nào. Anh buộc phải tập trung vào cái chân đau. Thậm chí anh còn không muốn nghĩ đến cái đầu như to ra ít nhất là mười hai lần của mình, chỗ nào cũng ong ong như có một bàn tay vô hình đang vỗ trống - từ bên trong. Tốt nhất cũng nên lờ cái bụng đi. Miệng anh như bị nhồi một đám vụn len hôi hám. Có lẽ điểm sáng duy nhất trong tình trạng chỉ toàn tin xấu này là ít ra anh không còn sốt. Cơn sốt nhiễm trùng giết người còn nhanh hơn vết thương.

Jocelyn sốt ruột giật dây chuông cạnh giường rồi trút sự cáu kỉnh lên gã gia nhân không mang nước cạo râu lên cho anh. “Tôi tưởng ngài muốn nghỉ ngơi sáng nay, thưa ngài,” gã nói. “Ngươi tưởng! Ta trả lương để cho ngươi tưởng hả, Barnard?”>

“Không ạ, thưa ngài,” tên hầu đáp với vẻ ngoan ngoãn chịu đựng. “Thế thì mang nước cạo râu lại đây,” Jocelyn nói. “Râu trên mặt ta đủ để nạo pho mát rồi.” “Vâng thưa ngài,” Barnard đáp. “Quincy muốn biết khi nào gặp ngài được?”

“Quincy?” Jocelyn nhăn trán. Thư ký của anh muốn gặp anh? “Ý ngươi là ở đây, trong phòng ngủ của ta? Sao anh ta lại nghĩ ta sẽ tiếp anh ta ở đây hả?” Barnard nhìn ông chủ của mình với vẻ hết sức lo lắng. “Ngài đã được khuyên phải giữ yên chân trong ba tuần, thưa ngài.”

Jocelyn không nói nên lời. Gia nhân của anh thực sự mong anh sẽ ở yên trên giường trong ba tuần sao? Bọn chúng mất hết lý trí rồi chắc? Anh hùng hồn cho tên hầu kém may mắn biết mình nghĩ gì về những lời khuyên răn và can thiệp của bác sỹ, người hầu, thư ký, và tất cả gia nhân nói chung. Anh tung chăn ra, vắt hai chân qua thành giường - và nhăn mặt. Rồi anh nhớ ra một chuyện khác. “Con bé mắc dịch kia đâu?” anh hỏi. “Con ranh lắm điều mà ta nhớ hình như đã thuê làm y tá ấy? Chắc là đang ngủ trong chăn ấm nệm êm phải không? Chờ bữa sáng mang đến tận giường chứ gì?”

“Cô ấy ở trong bếp, thưa ngài,” Barnard cho anh hay, “đang chờ lệnh của ngài.” “Để chăm sóc ta?” Jocelyn bật ra một tràng cười. “Cô ta nghĩ được nhận vào đây để đắp khăn lạnh lên trán ta và kích động thần kinh ta bằng cái lưỡi sắc nhọn, phải không?” Tên hầu của anh đủ sáng suốt để ngậm miệng không nói năng gì.

“Đưa cô ta đến thư viện,” Jocelyn lệnh, “sau khi ăn sáng ta sẽ sang đó nghỉ. Giờ thì mang nước cạo râu lên và bỏ cái vẻ bất mãn khỏi mặt ngươi đi.” Nửa tiếng tiếp theo anh rửa mặt, mặc áo sơ mi, và ngồi yên cho Barnard thắt ca vát đúng kiểu anh thích, đơn giản và nhanh gọn, đi ngược lại thứ nghệ thuật diêm dúa lố bịch. Nhưng anh buộc phải thừa nhận rằng mình không thể mặc quần ống túm hay quần chẽn. Nếu thời trang đương đại không bắt cả hai thứ đó phải bó sát sạt, có lẽ vấn đề đã khác. Nhưng người ta không thể chống lại thời trang được. Quần ống túm nào của anh cũng bó sát vào chân như làn da thứ hai. Nên thay vào đó anh đành mặc áo choàng ngủ dài đến mắt cá màu rượu vang thêu kim tuyến và xỏ chân vào đôi dép lê. Anh cũng đành chấp nhận để một gia nhân trẻ vạm vỡ đang cố hết sức tỏ ra dửng dưng đến độ vô tri vô giác nửa dìu nửa khiêng mình xuống dưới nhà. Song Jocelyn vẫn cảm thấy sự bất lực của mình thật mất mặt. Ngồi ăn sáng và đọc báo xong, anh lại được nửa dìu nửa khiêng tới thư viện, an tọa trong chiếc ghế bành bọc da cạnh lờ sưởi chứ không ở sau bàn làm việc mà sáng nào anh cũng thường ngồi độ một giờ.

“Nghe này,” anh nói luôn với viên thư ký khi anh ta vừa đến. “Không được hé một lời nào, Michael, về việc ta nên ở đâu và nên làm gì. Thậm chí nửa lời cũng không, nếu cậu coi trọng công việc của mình.” Anh thích Michael Quincy, quý ông kém anh hai tuổi và đã làm cho anh được bốn nắm. Kiệm lời, lễ phép, và rất có năng lực, nhưng không khúm núm. Lúc này cậu ta còn cả gan dám cười. “Thư từ buổi sáng đã ở trên bàn làm việc, thưa ngài. Tôi sẽ lấy cho ngài.”

Jocelyn nheo mắt nhìn cậu ta. “Cô gái đó,” anh nói, “lẽ ra giờ này Barnard phải đưa cô ta đến đây rồi. Đã đến lúc cô ta bắt đầu làm việc. Bảo cô ta vào đây, Michael. Ta đang đủ bực để thích sự bầu bạn của cô ta.” Thư ký của anh thực sự cười toe toét khi ra khỏi phòng. Giờ thì đầu anh như thể to gấp mười lăm lần bình thường rồi, Jocelyn nghĩ.

Khi cô ta bước vào phòng, rõ ràng sáng nay cô ta đã quyết định có thái độ ngoan ngoãn của một người làm công. Chắc chắn tin tức đã lan khắp nhà rằng anh đanh ở trong tâm trạng bẳn gắt. Cô ta đứng ngay cửa thư viện, hai tay chắp trước bụng, chờ nghe chỉ thị. Lập tức Jocelyn cảm thấy còn bực bội hơn. Anh phớt lờ cô ta trong vài phút trong lúc cố giải mã lá thư dài loằng ngoằng viết bằng nét chữ xấu thậm tệ của em gái anh. Con bé sống cách đây chưa đầy mười phút đi bộ, nhưng đã viết trong tâm trạng lo âu nhất là khi nghe tin về cuộc đấu súng. Xem chừng con bé đã chịu đựng sự hồi hộp, những cơn ngất xỉu và những triệu chthể giải đáp khác nghiêm trọng đến nỗi Heyward, chồng nó, đã bị triệu từ Thượng nghị viện về. Heyward ắt không hề vui vẻ. Jocelyn ngẩng lên. Nom cô ta thật gớm guốc. Cô ta vẫn mặc cái váy xám che kín mít từ cổ đến mắt cá chân từ hôm qua. Không có món trang sức nào tô điểm để bộ trang phục rẻ tiền ấy trông đẹp hơn. Hôm nay cô ta có thêm chiếc mũ bonnet rắng. Nhìn chung thì, anh dùng con mắt kinh nghệm để đánh giá, đằng sau dáng đứng thẳng đơ đó, bên dưới lớp váy áo xám xịt đó trông cô ta khá nữ tính, nhưng phải chú ý lắm mới thấy. Anh láng máng nhớ qua cơn ác mộng đầy đau đớn hôm qua là tóc cô ta màu vàng. Giờ nó đã bị giấu đi.

Tư thế của cô ta rất phục tùng. Nhưng đôi mắt không nhìn xuống sàn một cách nhu thuận. Cô ta đang điềm tĩnh nhìn thẳng vào anh. “Lại đây!” Anh sốt ruột ra hiệu. Cô ta tiến tới bằng những sải chân dứt khoát cho đến khi cách ghế anh ba bước. Cô ta vẫn nhìn thẳng vào anh bằng đôi mắt xanh đến kinh ngạc. Thật ra thì, anh hơi ngạc nhiên nhận ra cô ta có gương mặt đẹp theo kiểu cổ điển. Không có khiếm khuyết nào, trừ đôi môi mà anh nhớ hôm qua mím chặt thì hôm nay nó đã thư thái hơn, trông mềm mại và rất thanh tú.

“Sao nào?” anh cộc cằn. “Cô có gì để nói không? Cô đã sẵn sàng xin lỗi ta chưa?” Cô ta mất một lúc để nghĩ câu trả lời. “Không,” cuối cùng cô ta đáp. “Ngài đã sẵn sàng để xin lỗi tôi chưa?”

Jocelyn ngả người ra ghế và cố lờ đi cơn đau khủng khiếp ở chân, “Chúng ta hãy làm rõ một điều,” anh nói bằng giọng thản nhiên, gần như khôi hài mà anh biết sẽ khiến cho mọi gia nhân run lập cập. “Không có sự tương đồng nào dù là nhỏ nhất giữa hai ta...” anh dừng một lát rồi cau mày. “Mà tên cô là cái quỷ gì ấy nhỉ?” “Jane Ingleby.” “Không có sự tương đồng nào dù là nhỏ nhất giữa hai ta, Jane,” anh tiếp tục. “Ta là ông chủ còn cô là người hầu. Một người hầu thấp kém. Cô không được đốp chát lại mọi lời ta nói bằng sự xấc lược dù dí dỏm. Cô sẽ phải tỏ thái độ kính trọng đúng phép tắc đối với ta. Cô sẽ đưa từ ‘thưa ngài’ vào mọi câu nói. Ta giải thích thế đã rõ ràng chưa?”

“Rõ,” cô ta đáp. “Và tôi tin rằng, thưa ngài, ngài nên cân nhắc lời lẽ trong tầm nghe của tôi. Tôi không chấp nhận thêm tên quỷ sứ hay Chúa trời vào các câu nói như thể chúng là ngôn ngữ đàng hoàng.” Trời đất quỷ thần ơi! Hai tay Jocelyn nắm chặt lấy tay ghế. “Vậy sao?” Anh dùng tông giọng lạnh lẽo nhất của mình. “Cô còn chỉ thị nào cho ta nữa không, Jane?”

“Có, còn hai điều,” cô ta đáp. “Tôi muốn được gọi là Ingleby hơn.” Bàn tay phải của anh tìm đến chiếc kính một mắt. Anh đưa nó lên. “Còn điều kia?” “Tại sao ngài không ở trong giường?”

.