Hôm nay bạn muốn đọc gì?

Tin em và yêu em - Chương 4

Chương 4.

Phu nhân Heyward đi chưa đầy một giờ đồng hồ thì ngài Ferdinand Dudley đến. Anh ta cũng xô cánh cửa va sầm vào tủ sách y như em gái và sải bước vào thư viện không một lời báo trước. Jocelyn nhăn mặt và ước gì anh đừng bảo mang bình rượu đi lúc vừa trông thấy nó. Anh vừa uống xong tách sô cô la mà Jane Ingleby đã bảo có thể làm yên dạ dày và xoa dịu đầu anh. Nó vẫn chưa đạt được cả hai kết quả đáng khao khát đó. Anh nhận ra cô ta lại ẩn mình nơi bức rèm.

“Quỷ tha ma bắt,” em trai anh nói thay lời chào. “Lão già Thô lỗ-và-Ương ngạnh tìm mọi cách ngăn em vào đây, Tresham. Anh tưởng tượng được không! Bọn gia nhân lấy đâu ra cái ý ngu xuẩn ấy thế?” “Thường là từ chủ nhân của chúng,” Jocelyn trả lời. “Trời đất!” Em trai anh dừng bước. “Anh đúng là bị nặng thật rồi. Mẹ thường nằm trên cái ghế dài đó sau khi khiêu vũ, chơi bài ba bốn đêm liền và làm như mình sắp chết đến nơi. Vậy tin đồn có đúng với sự thật không?”

“Thường thì không,” Jocelyn uể oải đáp. “Cậu đang nói đến tin đồn nào?” “Rằng anh sẽ không bao giờ đi lại được,” em trai anh nói, gieo mình xuống đúng chiếc ghế Angeline đã ngồi. “Rằng anh đã phải vật ông già Raikes xuống sàn để ngăn ông ấy chặt chân anh. Thành thực mà nói, Tresham, bác sỹ ngày nay sẵn sàng rút cưa từ túi ra hơn là bỏ thời gian để khoét viên đạn.” “Cậu có thể yên trí,” Jocelyn bảo em trai, “là hôm qua anh không có ý định vật ai xuống sàn, có lẽ trừ tay bác sỹ ngớ ngẩn mà Oliver đem đến Hyde Park. Raikes đã hoàn thành xuất sắc công việc của mình và chắc chắn anh sẽ đi lại được.”

“Đúng như em đoán mà,” Ferdinand thốt lên, mặt mày hớn hở. “Em đã viết thế trong quyển sổ cá cược ở Whit. Em đã cược năm mươi bảng là trong vòng một tháng nữa anh sẽ nhảy được điệu van ở Almak.” “Cậu sẽ thua.” Jocelyn đưa chiếc kính một mắt lên. “Anh chưa bao giờ nhảy van. Và anh cũng chưa bao giờ ló mặt vào Almak. Tất cả các bà mẹ sẽ ngay lập tức cho rằng anh định dạo chợ hôn nhân. Cậu định khi nào mới đuổi việc tên gia nhân Ferdinand hậu đậu, và thuê người nào đó có thể kìm chế không cắt cổ họng cậu mỗi khi cạo râu cho cậu đây?” Em trai anh sờ vào vết cứa nhỏ dưới cằm. “Ồ, cái đó là lỗi của em mà, Tresham. Em đã quay đầu mà không báo trước với hắn. Anh em nhà Forbes đang muốn xin anh tí huyết đấy. Có đến ba tên trong thành phố.”

Phải, bọn họ ắt sẽ làm thế, Jocelyn nghĩ. Các anh trai của phu nhân Oliver nổi tiếng là đầu gấu chẳng kém gì anh em anh. Và vì phu nhân Oliver là cô con gái duy nhất trong sáu anh em, nên thường được bọn họ bảo vệ nghiêm ngặt, ngay cả đến bây giờ, khi cô ta đã kết hôn với ngài Oliver ba năm. “Vậy thì họ sẽ phải đến mà lấy thôi,” Jocelyn nói. “Chắc sẽ không có gì khó khắn vì nghe chừng quản gia của anh sẽ cho bất cứ ai vào nhà nếu người ta chịu khó bước lên và đập vòng gõ cửa.” “Này này!” Ferdinand tỏ ra phật ý. “Em chứ có phải bất cứ ai đâu, Tresham. Và em rất không đồng tình việc anh không nhờ em làm người trợ giúp hoặc thậm chí cho em biết là sắp có cuộc đấu súng. Mà này, có đúng là có một cô hầu gái đã gây nên tất cả những um sùm này không? Brougham bảo rằng cô ta còn theo anh về nhà, xộc vào tận phòng ngủ của anh và lớn tiếng chỉ trích anh đã làm cô ta mất việc.” Anh ta cười tủm tỉm. “Em dám chắc đó là chuyện khó tin, nhưng dẫu sao cũng rất hấp dẫn.”

“Cô ta đang đứng chỗ bức rèm đằng kia kìa,” Jocelyn hất đầu về phía cô y tá đã đứng im như tượng kể từ lúc em trai anh đến. “Chà!” Ferdinand đứng bật dậy và nhìn cô ta với vẻ tò mò hăm hở nhất. “Cô ta đang làm cái quỷ gì ở đây? Thật không hay ho gì đâu, cô biết không, cô gái, khi xen vào vấn đề danh dự. Đó là việc giữa những quý ông. Cô có thể đã hại chết Tresham đấy, rồi sau đó ắt bị treo cổ.” Jocelyn thấy cô ta đang nhìn Ferdinand theo cái cách cô ta thưòng nhìn anh. Anh nhận ra những dấu hiệu quen thuộc - đôi vai vốn đã căng ra nay càng rướn thẳng, môi mím chặt, ánh nhìn trực diện không e dè. Anh thích thú chờ cô lên tiếng.

“Nếu ngài ấy bị giết, thì đó là do viên đạn của người đàn ông thách đấu với ngài ấy. Và ngớ ngẩn làm sao khi gọi một vụ đấu súng là vấn đề danh dự. Nhưng ngài đã đúng khi nói nó là việc giữa những quý ông với nhau. Phụ nữ giải quyết một cách lý trí hơn.” Ngài Ferdinand nom ngơ ngác đến buồn cười khi bị một hầu gái ăn vận gớm ghiếc quở trách. “Cô ấy được trang bị một bộ óc sắc sảo, cậu thấy đấy, Ferdinand,” Jocelyn cố ý chán nản giải thích, “kèm theo cái lưỡi còn sắc gấp đôi.”

“Chà!” Em trai quay đầu nhìn anh, thất kinh. “Cô ta đang làm cái quái gì ở đây thế?” “Conan không kể hết câu chuyện à? Anh đã thuê cô ấy làm y tá. Anh thấy không có lý do gì mà gia nhân phải gánh chịu tính khí cáu gắt của anh suốt ba tuần bị giam trong nhà.” “Quỷ tha ma bắt,” em trai anh nói. “Em cứ tưởng anh ấy nói đùa.”

“Không không,” Jocelyn xua tay. “Làm quen với Jane Ingleby đi, Ferdinand.” Nhưng hãy coi chừng chớ có quen gọi thế. Cô ấy một mực yêu cầu được gọi là cô Ingleby chứ không phải Jane hay đứa con gái. Điểm này thì anh đã chấp hành từ khi cô ấy ngưng gọi anh một cách trống không và bắt đầu thỉnh thoảng nói thưa ngài. Em trai ta, ngài Ferdinand Dudley, thưa cô Ingleby.” Anh phần nào mong đợi cô nhún gối chào. Anh phần nào trông đợi em trai anh sẽ cười ha hả. Đây chắc hẳn là lần đầu tiên nó được giới thiệu với một người hầu. Jane Ingleby nghiêng đầu một cách duyên dáng. Ferdinand đỏ mặt và hơi nghiêng mình đáp lễ, trông lúng túng rõ rệt.

“Tresham, có phải vết thương làm anh mất trí rồi không?” “Anh nghĩ,” Jocelyn đáp, đặt tay lên cái đầu nhức ong ong, “là cậu định đi rồi cơ mà, Ferdinand? Khuyên cậu một điều, cậu chàng thân mến, anh cũng chẳng biết sao mình phải tốn hơi thế vì người nhà Dudley nổi danh là không tiếp nhận lời khuyên. Hãy để anh em nhà Forbes cho anh. Mối thù hằn của họ là với anh, không phải với cậu.” “Mẹ kiếp cái lũ lưu manh côn đồ!” m trai anh hầm hừ. “Lẽ ra chúng nên cho em gái mình một bạt tai đích đáng mới đúng. Làm sao lại dây dưa với cái ả đó, em không hiểu. Em...”

“Đủ rồi!” Jocelyn lạnh lùng cắt ngang. “Có...” Anh định bảo là có một quý cô ở đây, nhưng dừng lại kịp lúc. “Anh không có nghĩa vụ trả lời chuyện riêng với cậu. Cậu đi được rồi đấy, thế mới là cậu bé ngoan, và bảo Hawkins vào đây cho anh. Anh định cố làm cho ông ta hiểu rõ rằng đây là công việc tương lai trong nhà này của ông ta phụ thuộc vào chuyện không được cho bất cứ ai bước qua ngưỡng cửa trong thời gian còn lại của ngày hôm nay. Nếu đầu anh không nổ tung trước khi trời tối và khiến não anh rớt lộp độp xuống đám sổ sách, thì anh sẽ rất ngạc nhiên đấy.” Ngài Ferdinand đành đi ra và khoảng một hai phút sau ông quản gia bước vào thư viện, sợ sệt thấy rõ. “Tôi xin lỗi, đức ngài...” ông ta mở miệng, nhưng Jocelyn đã giơ một tay lên.

“Ta thừa nhận,” anh nói, “là có lẽ phải cần tới một trung đoàn thiện chiến và một khẩu đội pháo binh mới cản được Ferdinand và phu nhân Heyward một khi họ đã quyết tâm xông vào. Nhưng không một ai nữa trong hôm nay, Hawkins. Kể cả Hoàng thân nhiếp chính có hạ cố đến đây. Ta tin là ta đã nói rõ ràng?” “Vâng, thưa đức ngài.” Quản gia của anh kính cẩn cúi đầu và rút lui, rồi lặng lẽ đóng cửa lại. Jocelyn thở phào thành tiếng. “Giờ thì, cô Ingleby, lại đây ngồi và cho ta biết cô định giải khuây thế nào cho ta trong ba tuần tới. Cô còn vô khối thời gian để nghĩ câu trả lời.”

“Vâng, tôi chơi được tất các các loại bài thông thường,” Jane trả lời câu hỏi, “nhưng tôi sẽ không chơi ăn tiền.” Đó là một quy định của ba mẹ cô - chơi bài trong nhà không được đặt cược quá vài xu, và tổng số tiền thua không được nhiều hơn nửa đồng curon, tức là hai shilling và sáu xu. “Hơn nữa,” cô thêm vào, “tôi cũng chẳng có tiền để chơi. Tôi dám chắc ngài sẽ chẳng mấy hứng thú khi chơi bài mà tiền cược không cao.” “Ta thật mừng vì cô cho rằng cô hiểu rõ ta đến thế. Cô biết chơi cờ chứ?” “Không.” Cô lắc đầu. Cha cô hay chơi cờ, nhưng ông có những quan điểm kỳ lạ về phụ nữ. Đánh cờ là trò chơi của đàn ông, ông luôn bảo với một sự thích thú trìu mến mỗi khi cô đòi ông dạy. Sự từ chối của ông càng khiến cô muốn biết chơi cờ hơn. “Tôi chưa bao giờ học.”

Anh ta nhìn cô trầm ngâm. “Ta đoán là cô không biết đọc.” “Tất nhiên là tôi biết đọc!” Anh ta nghĩ cô là đứa ngu dốt toàn phần sao? Cô muộn màng nhớ ra mình bị quy là người như thế. “À, tất nhiên,” anh ta nhẹ nhàng lặp lại, mắt hơi nheo. “Và viết cũng rất đẹp nữa, ta dám chắc thế. Cái trại mồ côi ấy thuộc kiểu gì vậy, cô Ingleby?”

“Tôi đã nói với ngài nó là một nơi rất tốt.” Anh ta nhìn cô chằm chằm nhưng không truy hỏi vấn đề đó nữa. “Vậy cô có còn tài lẻ nào khác để giúp ta giải trí không?”

“Công việc của một y tá là giải trí cho ngài sao?” cô hỏi. “Công việc y tá của ta là làm những gì ta bảo.” Đôi mắt anh ta nhìn cô như thể xuyên thấu qua những lớp quần áo. Ánh mắt ấy làm cô khá bối rối. “Xét cho cùng cô đâu cần đến hai tư giờ mỗi ngày để thay băng và nhấc chân ta lên xuống mấy cái đệm, phải không?” “Vâng, thưa ngài,” cô thừa nhận.

“Cô còn được nuôi ăn ở nữa, và ta tin là ta đang trả cô mức lương khá hậu. Cô lại khắt khe một chút giải trí cho ta sao?” “Tôi tin rằng ngài sẽ sớm chán ngấy với những thứ tôi thể hiện.” Anh ta cười nửa miệng, nhưng gương mặt chẳng những không dịu lại, mà trông càng thêm hung dữ. Cô nhận ra anh ta đã cầm chiếc kính một mắt trong tay, nhưng không đưa lên mắt.

“Để xem thế nào. Bỏ chiếc mũ đó ra, cô Ingleby. Nó làm ta khó chịu. Nó thật gớm guốc và làm cô già thêm chục tuổi là ít. Cô bao nhiêu tuổi?” “Thưa ngài, tôi không nghũ rằng tuổi của tôi có liên quan gì đến ngài. Và tôi thích đội mũ trong khi làm việc.” “Cô thích ư?” đột nhiên trông anh ta hết sức ngạo mạn và hơi đáng sợ với chân mày nhướng lên. Lần này giọng anh ta dịu dàng hơn. “Bỏ nó ra.”

Kháng lệnh xem chừng vô ích. Xét cho cùng, cô chưa bao giờ đội mũ y tá cho đến hôm qua. Nó chỉ là một hình thức ngụy trang, như thể cô có thể che giấu được những gì bên dưới cái mũ. Cô miễn cưỡng tháo nơ buộc dưới cằm và nhấc mũ ra. Cô giữ nó trên lòng bằng cả hai tay trong lúc đôi mắt anh ta chiếu thẳng vào tóc cô. “Có thể nói rằng,” anh ta nhận xét, “nó là vầng hào quang hoàn hảo của cô, cô Ingleby. Nhất là khi không bị tết và vấn thành một búi quá chặt. Điều đó khiến ta băn khoăn tại sao cô nhất quyết giấu nó đi. Có phải cô e ngại ta và tiếng tăm của ta?” “Tôi không biết tiếng tăm của ngài,” cô nói. Nhưng cũng chẳng mất qua nhiều trí tưởng tượng để đoán ra.

“Hôm qua ta bị thách đấu bởi, ừm, đã có quan hệ với một phụ nữ có chồng. Đấy không phải vụ đấu súng đầu tiên ta tham gia. Ai cũng biết ta là một gã vô luân, nguy hiểm.” “Nói nghe tự hào quá nhỉ?” Cô nhướng mày. Môi anh ta nhếch lên, nhưng không hiểu là do thích thú hay tức giận.

“Ta có những nguyên tắc của mình. Ta không bao giờ cưỡng bức người hầu. Hay tấn công bất cứ phụ nữ nào dưới mái nhà mình. Hoặc ngủ với bất cứ ai không sẵn lòng. Điều đó có trấn an được cô không?” “Hoàn toàn,” cô đáp. “Bởi tôi tin mình đáp ứng được cả ba nguyên tắc đó.” “Nhưng ta lại rất muốn,” anh ta êm ái nói, nghe nguy hiểm như vừa mới tự miêu tả về mình, “được trông thấy cô với mái tóc buông xõa.”

Những Người Tí Hon vây kín Chàng Khổng Lồ, ghìm chặt anh xuống đất - kể cả mái tóc dài - bằng sự khéo léo vô song. Cô ta đang đọc Gulliver du ký cho anh nghe, một cuốn sách anh khó lòng phản đối bởi đã dành quyền lựa sách cho cô ta. Cô ta đã dạo quanh các giá trong thư viện tới nửa giờ đồng hồ, ngắm nghía, chạm vào và thỉnh thoảng rút một cuốn mở ra xem. Cô ta sùng kính cầm những cuốn sách như thể rất yêu chúng. Cuối cùng cô ta quay lại chỗ anh và giơ cao cuốn đang đọc. “Cuốn này nhé?” Cô ta đã hỏi. “Gulliver du ký? Nó là một trong những cuốn sách tôi luôn tự hứa với mình là sẽ đọc.”

“Tùy cô.” Anh đã nhún vai. Anh hoàn toàn có thể tự đọc lấy, nhưng anh không muốn ở một mình. Anh chưa bao giờ thích bầu bạn với chính mình dù lâu hay mau. Không, không đúng. Mười năm trước có lẽ anh đã từng thích. Cả ngày hôm nay Jocelyn khá bực bội khi thực trạng khốn khổ của anh càng lúc càng trở nên rõ ràng. Anh vốn là con người mạnh mẽ, anh tham gia cả tá hoạt động mỗi ngày, đa phần về thể chất như cưỡi ngựa, đám bốc, đấu kiếm và - phải - cả khiêu vũ, nhưng không bao giờ là điệu van và không bao giờ ở cái chốn nhạt nhẽo nhất trong tất cả, Almak. Tất nhiên làm tình cũng là một hoạt động anh yêu thích, có lẽ là hoạt động mạnh mẽ nhất. Giờ thì trong ba tuần tới đây, nếu anh có thể chịu đựng sự tra tấn lâu chừng ấy, anh sẽ phải ở yên một chỗ, chỉ có sự viếng thăm của bạn bè cùng họ hàng làm bầu bạn. Và cô nàng Jane Ingleby nghiêm nghị, đanh đá. Và cơn đau.

Anh đã tìm ra cách làm mình quên đi cảnh tù túng này bằng việc cho y tá lui và dành buổi chiều với Michael Quincy. Báo cáo hàng tháng từ Acton Park, điền trang của anh, đã đến sáng nay. Anh vốn luôn quan tâm đến chúng, nhưng từ trước đến nay chưa bao giờ anh nghiền ngẫm chúng tỉ mỉ với một sự tập trung kiên định đến vậy. Nhưng buổi tối có nguy cơ kéo dài vô tận. Đến tối mới là thời gian vui chơi chính của anh, trước tiên là ở nhà hát kịch hoặc opera hoặc bất cứ vũ hội hay dạ tiệc sang trọng nào có khả năng thu hút nhiều người nhất, rồi đến một trong những câu lạc bộ hoặc ở trên giường nếu trò giải trí đó đáng để hy sinh một đêm với các chiến hữu thân thiết. “Ngài có muốn tôi đọc tiếp không?” Jane Ingleby đã ngừng lại và ngước lên khỏi cuốn sách.

“Có, có.” Anh phẩy tay ra hiệu cho cô ta, và cô ta cúi xuống tiếp tục đọc. Anh nhận ra sống lưng cô ta không hề chạm vào lưng ghế. Vậy mà trông cô ta vừa thoải mái vừa duyên dáng. Cô ta đọc tốt, không qua nhanh cũng không quá chậ giọng không đều đều cũng không cường điệu màu mè. Cô ta có giọng nói du dương dễ nghe và đầy học thức. Hàng mi dài rủ bóng trên má khi cô ta cúi xuống cuốn sách được cầm bằng cả hai tay trên lòng. Cổ cô ta dài và thanh tao như thiên nga. Mái tóc cô ta vàng óng như tơ. Cô ta đã làm được một việc đáng khâm phục là khiến nó trông rất mộc mạc và tầm thường, nhưng cách duy nhất để nỗ lực đó thành công là cạo trọc đầu đi. Sáng nay anh đã nhận ra Jane Ingleby có một gương mặt đẹp và đôi mắt yêu kiều, nhưng chính lúc cô ta bỏ mũ xuống anh mới phát hiện ra sự thật còn vượt xa mối nghi ngờ mỗi lúc một tăng rằng cô ta là một phụ nữ đẹp hiếm thấy.

Anh vừa quan sát cô ta vừa chà mạnh bàn tay phải lên đùi như để làm dịu sự đau nhức nơi bắp chân. Cô ta là một người hầu, nương náu dưới mái nhà anh, và rõ là một phụ nữ đoan trang tiết hạnh. Như cô ta đã nhận xét trong sáng nay bằng cung cách xấc xược thường thấy, cô ta được bảo vệ khỏi anh đến ba lần. Nhưng anh rất muốn ngắm mái tóc đó trong tình trạng không còn ghim kẹp và xõa tung ra. Anh cũng không phải không thích được thấy cô ta trút bỏ cái váy ảm đạm, rẻ tiền, quá rộng với khổ người và bất cứ cái gì khác cô ta có thể mặc bên trong cái váy đó. Anh thở dài, cô ta lại ngừng đọc và ngẩng lên.

“Giờ ngài muốn đi ngủ chưa?” cô ta hỏi anh. Chắc chắn cô ta có một giác quan cực kỳ nhạy bén với hoàn cảnh xung quanh. Vẻ mặt cô ta chẳng thể làm ai hiểu lầm là đang gợi ý chuyện khác. Jocelyn liếc nhìn đồng hồ trên mặt lò sưởi. Trời đất, còn chưa đến mười giờ. Buổi tối gần như mới chỉ bắt đầu.

“Vì cả cô lẫn Gulliver đều không phải là người bầu bạn quá sắc sảo, cô Ingleby,” anh đáp cộc cằn, “ta nghĩ đó là lựa chọn tốt nhất. Ta tự hỏi liệu cô có biết ta đã trở nên kém cỏi đến thế nào không.” Sáng hôm sau, Jane nhận ra một đêm ngủ không có rượu cũng như cồn thuốc phiện để an giấc cũng chẳng cải thiện được tính khí của Tresham. Bác sỹ đến và cô bị triệu từ bếp tới phòng ngủ của Công tước khi đang ăn dở bữa sáng. “Cô lề mề thế,” anh ta nói thay câu chào lúc cô gõ cửa rồi bước vào phòng chưa đầy một phút sau khi nhận được lệnh. “Chắc là cô đang mải chén hết đồ ăn trong nhà hả?”

“Tôi đã ăn sáng rồi, cảm ơn, thưa ngài,” cô nói. “Chào buổi sáng, bác sỹ Raikes.” “Xin chào, ma’am.” Ông bác sỹ nghiêng mình lịch thiệp với cô. “Bỏ cái thứ quái dị kia ra!” Công tước ra lệnh, chỉ vào chiếc mũ của Jane. “Ta mà thấy nó lần nữa thì sẽ đích thân cắt nó thành từng mảnh vụn.”

Jane bỏ mũ ra, gấp gọn lại, rồi nhét vào trong túi váy. Ông chủ của cô đã hướng sự chú ý sang bác sỹ. “Cô Ingleby đây là người đã thay băng,” anh ta nói, hình như là để trả lời câu hỏi đã được đưa ra trước khi cô đến, “và rửa sạch vết thương.”

“Cô đã làm qua tốt, ma’am,” vị bác sỹ nói. “Không hề có đấu hiệu nhiễm trùng hay hoại tử. Cô đã có kinh nghiệm chăm sóc người bệnh rồi đúng không?” “Vâng, một chút ạ, thưa ông,” Jane thừa nhận. “Cô ta đã bón thuốc xổ cho mọi đứa trẻ mồ côi mỗi khi chúng bị bội thực, ta dám chắc thế,” Công tước làu bàu cáu kỉnh. “Và ta không phải bệnh nhân. Ta có một cái lỗ ở chân. Ta nghĩ tập luyện tốt hơn là nâng niu nó. Ta định cho nó tập luyện đây.”

Bác sỹ Raikes kinh hãi. “Với tất cả sự kính trọng, đức ngài, tôi cực lực phản đối chuyện đó. Các thớ cơ dập nát và dây chằng cần lành lại trước khi bắt chúng hoạt động dù là nhẹ nhàng nhất.” Công tước chửi thề. “Tôi nghĩ ngài nợ bác ỹ Raikes một lời xin lỗi,” Jane bảo anh ta. “Ông ấy chỉ đang cho ngài những ý kiến chuyên môn, chính vì nó mà ngài gọi ông ấy đến và trả tiền cho ông ấy. Ngài đâu cần phải khiếm nhã như thế.”

Cả hai người đàn ông đều sửng sốt nhìn cô chống hai tay lên hông. Rồi cô giật mình cảnh giác khi Công tước ngả đầu ra gối và phcười. “Raikes, ta nghĩ một mảnh vỡ của viên đạn trong chân hẳn đã bắn lên và găm vào não ta. Ông có tin được là ta đã chịu đựng chuyện này suốt một ngày mà chẳng biết làm sao để chấm dứt không?” Bác sỹ Raikes rõ ràng không tin. “Tôi chắc rằng, ma’am,” ông ta vội vã nói, “đức ngài không nợ tôi lời xin lỗi nào hết. Ai cũng biết rằng vết thương đã khiến ngài ấy hết sức khó chịu.”

Có chết cô cũng không để yên chuyện này. “Không biện hộ được cho kiểu nói xúc phạm như vậy, nhất là với những người dưới quyền.” “Raikes,” Công tước sẵng giọng, “nếu ta có thể quỳ xuống trong nỗi day dứt nhục nhã vì lời nói của mình, có khi ta sẽ làm thế. Nhưng chắc là ta không ráng sức được, mong ông bỏ quá cho?” “Quả thực không cần đâu, thưa ngài.” Viên bác sỹ, đã băng lại chân cho Công tước, tỏ ra vô cùng bối rối.

Jane nghĩ tất cả là do lỗi của cô. Cô vốn lớn lên trong một mái nhà tân tiến, nơi gia nhân lúc nào cũng được đối xử như mọi người và phép lịch sự với người khác là đức tính ăn sâu vào trong máu. Cô thực sự phải học cách kiềm chế miệng lưỡi nếu muốn kiếm được số lương trong ba tuần này để có cái phòng thân. Công tước Tresham đề nghị được đưa xuống dưới nhà, nhưng chỉ sau khi anh ta đã đuổi Jane đi và hạ lệnh cho cô ở ngoài tầm mắt cho đến khi nào anh ta cho gọi. Nửa tiếng sau đã có lệnh triệu tập. Hôm nay anh ta ở trong phòng khách tầng một, đang ngả mình trên ghế sofa. “Có vẻ sáng nay đầu ta đã trở lại kích thước bình thường, thế nên cô sẽ đỡ phải dùng đến tài tháo vát phong phú của mình để giải trí cho ta. Ta đã dặn Hawkins cứ để cho khách khứa đến thăm vào, dĩ nhiên là khách phải có lý do chính đáng. Ông ta cũng được chỉ thị là chặn hết nhân viên các cửa hàng quần áo và những đám cùng loại đến gõ cửa.”

Dạ dày Jane quặn lên trước ý nghĩ có khách đến thăm. “Tôi xin phép lánh đi, thưa ngài, khi nào có khách.” “Vậy ư?” Mắt anh ta nheo lại. “Tại sao?”>

“Tôi cho rằng, người đến thăm sẽ là các quý ông cao sang nhất. Sự có mặt của tôi sẽ cản trở các ngài trò chuyện.” Công tước làm cô giật mình khi toét miệng cười. Trong chớp mắt, anh ta chợt biến đổi thành quý ông nom vừa tinh quái vừa trẻ trung hơn hẳn thường ngày. Và gần như đẹp trai. “Cô Ingleby, ta thực sự tin rằng cô là người cả thẹn.”

“Vâng, thưa ngài,” cô thừa nhận. “Tôi đúng là như vậy.” “Đi lấy tấm đệm trong thư viện qua đây,” anh ta sai phái. “Và kê nó dưới chân ta.” “Thỉnh thoảng ngài có thể nói chữ ‘cảm phiền’ được mà, ngài biết đấy,” cô bảo anh ta khi xoay người đi ra cửa.

“Có thể có,” anh ta độp lại. “Nhưng cũng có thể không. Ta ở vị thế người ra lệnh. Việc gì ta phải vờ coi chúng chỉ là những yêu cầu?” “Có lẽ vì lòng tự trọng của ngài,” cô đáp, nhìn lại anh ta. “Có lẽ vì sự tôn trọng cảm xúc của người khác. Hầu hết mọi người sẵn lòng đáp ứng một yêu cầu hơn là một mệnh lệnh.” “Thế nhưng,” anh ta nói êm ái, “có vẻ như cô bắt đầu quen tuân lệnh ta rồi đấy, cô Ingleby.”

“Nhưng với một trái tim chống đối,” cô rời khỏi phòng anh trước khi anh ta nghe được từ cuối cùng. Hai phút sau cô trở lại với tấm đệm, lẳng lặng băng qua phòng, không hề nhìn đến anh ta, cẩn thận kê nó dưới chân anh ta. Lúc nãy trong phòng ngủ cô đã nhận thấy chỗ sưng hôm qua đã xẹp. Nhưng cô cũng thấy anh ta hay xoa nắn đùi và thỉnh thoảng nhăn mặt, những dấu hiệu không lẫn đi đâu được là anh ta rất đau. Tất nhiên, là một người đầy kiêu hãnh, đừng mong anh ta thừa nhận điều đó. “Khác xa với đôi môi mím chặt,” Công tước nói, “cô rất độ lượng với ta, cô Ingleby. Ta cứ tưởng ít nhất cô sẽ giật chân ta lên và thả phịch nó xuống tấm đệm. Ta đã chuẩn bị tinh thần đối phó với cơn giận dữ như thế. Giờ cô đã lấy đi cơ hội thể hiện bài đáp trả đã luyện tập kỹ>

“Ngài đang thuê tôi làm y tá, thưa ngài,” Jane nhắc anh ta. “Tôi có nghĩa vụ làm cho ngài dễ chịu, không phải hại ngài để lấy thế làm vui. Hơn nữa, nếu tôi thấy bức xúc trước bất cứ chuyện gì, tôi có ngôn ngữ để biểu đạt, không cần viện đến bạo lực.” Jane nghĩ đó là lời nói dối kinh khủng nhất cô từng thốt ra khi nó vừa thoát ra khỏi môi. Trong một thoáng cô cảm thấy lạnh toát và buồn nôn, dạ dày quặn thắt trong cảm giác hốt hoảng giờ đã thành quen thuộc. “Cô Ingleby,” Công tước Tresham ôn hòa, “cảm ơn cô đã đi lấy tấm nệm.”

Chà. Câu nói đó khiến cô im bặt. “Ta tin rằng, điều đó suýt moi được một nụ cười từ cô. Cô đã bao giờ cười chưa?” “Khi nào tôi vui vẻ hoặc hạnh phúc, thưa ngài,” cô đáp.

“Và ở cạnh ta cô không có cả hai cảm giác ấy. Hẳn là ta đang đánh mất kỹ năng của mình. Ta nổi tiếng với biệt tài, cô biết đấy, làm cho phụ nữ vui vẻ và sung sướng.” Nhận thức của cô về sự nam tính của anh ta phần lớn là về mặt lý thuyết cho đến khi anh ta thốt ra những lời đó và nhìn cô với đôi mắt sẫm màu nheo lại rất đặc trưng. Và đột nhiên nó không còn là lý thuyết. Cô cảm thấy một niềm khao khát hoàn toàn xa lạ đang gây ra những động tác đáng ngại tới hai bầu ngực, bụng dưới và giữa hai đùi cô. “Tôi không nghi ngờ điều đó,” cô chanh chua đáp. “Nhưng tôi dám chắc ngài đã dùng hết hạn mức của nghệ thuật quyến rũ tháng này cho phu nhân Oliver rồi.”

“Jane, Jane,” anh ta dịu dàng. “nghe giống một sự hờn giận quá. Đi tìm Quincy và đem thư từ buối sáng đến đây. Cảm phiền cô,” anh ta thêm vào khi cô ra cửa. Cô quay đầu lại và mỉm cười với anh ta. “À,” anh ta thốt ra.

CHƯƠNG Angeline lại đến vào cuối buổi sáng, lần này có Heyward hộ tống, đi cùng cô để lịch sự hỏi thăm sức khỏe của ông anh rể. Hai vợ chồng chưa kịp ra về thì Ferdinand tới, nhưng với mục đích kể chyện bản thân hơn là quan tâm đến tình hình hồi phục của anh trai. Cậu đã bị lôi kéo vào một cuộc thách đấu đua xe song mã đến Brighton với ngài Berriwether có kỹ năng điều khiển dây cương không ai bì kịp ngoại trừ Jocelyn. “Anh sẽ thua, Ferdinand,” Heyward nhận xét cụt lủn.

“Anh sẽ bị gãy cổ mất, Fredie,” Angeline nói, “và thần kinh em vẫn chưa hồi phục sau vụ của anh Tresham đâu. Nhưng nom anh sẽ vô cùng bảnh bao khi lao băng băng trên đường như một cơn gió. Anh có định đặt may một chiếc áo choàng mới cho dịp này không?” “Bí quyết là giữ yên đầu lũ ngựa của cậu mỗi khi chạy trên đường thẳng,” Jocelyn nói, “nhưng chớ có thúc ngựa quá hăng và đừng thực hiện những cú rẽ ngoặt mạo hiểm không cần thiết như thể cậu là diễn viên xiếc. Vì cả hai tật ấy cậu đều có tiếng, Ferdinand. Nhưng giờ đã tham gia rồi thì tốt hơn là cậu hãy thắng. Đừng bao giờ khoác lác hay đưa ra lời thách đấu nếu khả năng của cậu không thể đi kèm lời nói. Càng không được nếu cậu là người nhà Dudley. Anh dám chắc là cậu đã khoác lác.” “Em nghĩ hay là em mượn cỗ xe song mã mới của anh, Tresham,” em trai anh tùy tiện nói.

“Không,” Jocelyn bác bỏ. “Tuyệt đối không. Anh lấy làm ngạc nhiên vì cậu tốn hơi hỏi hơn trừ phi cậu nghĩ cái lỗ ở chân đã làm nhũn não anh.” “Anh là anh trai em cơ mà,” Ferdinand chỉ ra. “Một người anh với trí tuệ minh mẫn và khá là biết điều hơn lẽ thiệt,” Jocelyn bảo em trai. “Các bánh xe ở cỗ xe của cậu vẫn tròn vào lần cuối anh nhìn thấy nó. Thắng thua chủ yếu phụ thuộc vào người đánh xe chứ không phải cỗ xe, Ferdinand. Khi nào cuộc đua diễn ra?”

“Hai tuần nữa,” em trai anh đáp. Chết tiệt! Vậy là anh không thể coi rồi, Jocelyn nghĩ. Ngay cả khi anh có ngoan ngoãn làm theo mọi mệnh lệnh của lão lang băm Raikes đi nữa. Nhưng trong thời gian hai tuần, nếu anh vẫn phải gắn với cái sofa, thì sự minh mẫn của anh rất có thể bị đe dọa.> Jane Ingleby, lặng lẽ đứng cách đó một quãng, đã đọc được tâm trí anh, Jocelyn thề như thế. Thoáng liếc mắt một cái anh đã thấy môi cô ta mím lại thành đường thẳng. Cô ta định âm mưu gì? Cột chặt anh lại cho đến khi ngày cuối cùng của ba tuần trôi qua ư?

Anh đã từ chối lời đề nghị được rút lui của cô ta khi các thành viên trong gia đình anh đến. Lúc sau anh từ chối một lần nữa khi có thêm mấy vị khách được thông báo trong lúc cô ta đanglấy từng lá thư một ở tay anh để chia chúng thành ba xấp theo chỉ dẫn của anh - những lời mời bị từ chối, những lời mòi được chấp thuận, và những lá thư cần phải đọc cho thư ký phúc đáp. Phần lớn những lời mời, trừ những lời mời dến các sự kiện trong tương lai khá xa, dĩ nhiên đều phải từ chối. “Tôi sẽ ra ngoài, thưa ngài,” cô ta nói, đứng dậy sau khi Hawkins, người mẫn cán trấn giữ lãnh địa của mình ở tiền sảnh hôm nay, bước vào thông báo rằng có một loạt bạn anh đến thăm. “Cô không được đi,” anh nhướng mày. “Cô sẽ ở lại đây.”

“Xin ngài. Tôi không có việc gì ở đây trong lúc ngài tiếp khách.” Nom cô ta gần như sợ hãi, anh nghĩ. Có phải cô ta cho rằng anh và đám bạn sẽ lôi cô ta ra làm mục tiêu đùa cợt? Có khi anh đã đích thân xua cô ta đi rồi, anh nghĩ, nếu như cô ta không tuyên bố mình sẽ đi. Giờ thì, với tính ương ngạnh cố hữu, anh không cho cô ta đi được. “Biết đâu,” anh nói, “sự phấn khích quá đá sẽ gây cảm giác chóng mặt và ta sẽ cần đến sự chăm sóc từ y tá của mình, cô Ingleby.”

Chắc chắn cô ta còn tranh cãi nữa nếu cửa không mở ra và các vị khách của anh ta bước vào. Trước tình hình ấy, cô ta vội chạy vào góc xa nhất của căn phòng, vẫn đứng đó khi anh chợt nhìn sang vào mấy phút sau. Cô ta đã làm được một việc đáng khâm phục là hòa lẫn vào đám đồ đạc. Chiếc mũ lại ngự trên đầu cô ta và che phủ hoàn toàn mái tóc. Họ đến thành một đoàn, tất cả những chiến hữu thân thiết nhất của anh - Conan Brougham, Pottier, Kimble, Thomas Garrick và Boris Tuttleford - mang theo một bầu không khí vui vẻ và náo nức. Họ tranh nhau chào anh trong tiếng ồn ào, hỏi thăm tình hình sức khỏe của anh một cách cường điệu, chế nhạo cái áo choàng ngủ và đôi dép của anh, trầm trồ trước miếng băng, và tự tìm chỗ ngồi cho mình. “Rượu vang đỏ nhà cậu đâu rồi, Tresham?” Garrick hỏi, nhìn quanh.

“Cô Ingleby sẽ đi lấy,” Jocelyn nói. Đó là lúc anh đưa mắt tìm và thấy cô ta ở tít trong góc. “Y tá của tôi thưa các quý ông, người chạy việc cặt cho tôi vì tôi không thể với tới dây chuông từ chỗ nằm. Và là người quở mắng, đưa tôi hết từ nỗi u sầu này sang sự phiền muộn khác. Cô Ingleby, bảo Hawkins mang rượu vang và rượu brandy lên đây, tiện thể kêu một gia nhân bưng khay ly cốc luôn. Cảm phiền cô.” “Cảm phiền, Tresh?” Kimble cười khùng khục. “Một từ mới trong vốn từ vựng của cậu đấy à?” “Cô ấy bắt tớ nói thế,” Jocelyn ngoan ngoãn đáp, nhìn Jane đi ra khỏi phòng, gương mặt cô ta ngoảnh đi nơi khác. “Tớ mà quên là bị la rầy ngay.”

Tiếng cười ha hả vang lên từ các bạn anh. “Ôi chà,” Tuttleford lên tiếng khi những tràng cười tạm lắng xuống, “có phải cô ta chính là người đã kêu toáng lên không, Tresham, ngay lúc cậu đang làm Oliver mất hết nhuệ khí với khẩu súng chĩa vào sống mũi hắn ý?” “Cậu ta đã thuê cô ấy làm y tá,” Conan giải đáp, cười toe toét, “và đe dọa sẽ khiến cô ấy phải hối tiếc vì mình đã sinh ra hoặc điều gì đại loại như thế. Cô ấy đã hối tiếc chưa, Tresham? Hay là cậu?”

Jocelyn nghịch nghịch tay cầm chiếc kính một mắt và mím môi lại. “Cậu thấy đấy, cô ta có một thói quen cực kỳ khó chịu là cãi lời nhem nhẻm, còn tớ rất cần một sự kích thích tinh thần, với tình trạng bị giam hãm như hiện tại và rất có thể kéo dài trong hai ba tuần tới.” “Kích thích tinh thần, ha!” Pottier vỗ đùi rống lên khoái trá, và tất cả những người khác hùa theo anh. “Cậu cần một người phụ nữ để kích thích tinh thần từ khi nào vậy, Tresham?” “Trời ơi!” Kimble quay chiếc kính một mắt của mình quanh sợi dây đeo. “Mọi người có hình dung nổi không? Cô ta còn kích thích cậu bằng cách nào khác không, Tresh? Nào nào, đến giờ thú tội rồi.”

“Cậu ta có một cái chân phải giữ bất động,” Tuttleford lại cười sằng sặc. “Nhưng tôi cá là nó không làm cậu chậm chạp tí nào, đúng không Tresham? Trong việc kích thích lại càng không. Cô ta có ngồi theo kiểu cưỡi ngựa không? Và lãnh hết phần chủ động để cậu vẫn nằm yên chứ?” Lần này tiếng cười nghe tục tĩu rành rành. Tất cả bọn họ đều ở trong tâm trạng phấn khích - và càng lúc càng phấn khích tợn. Jocelyn thong thả đưa chiếc kính một mắt lên. “Xin nhắc một điều nhỏ,” anh lẳng lặng nói, “người phụ nữ trong câu hỏi là người làm của tôi và ở dưới mái nhà tôi, Tuttleford ạ. Ngay cả tôi cũng có vài quy tắc chứ.”

“Theo tôi đoán, các cậu,” Conan Brougham nói với vẻ hiểu biết hơn những người khác, “ngài Công tước khét tiếng của chúng ta không thích cô ấy đâu.” Đó là sai lầm của anh, Jocelyn nghĩ một lúc sau khi cửa mở ra và Jane trở lại phòng, bưng một chiếc khay đặt hai chiếc bình thon cổ. Theo sau cô ta là một gia nhân với khay ly tách. Dĩ nhiên, cô ta lập tức trở thành mục tiêu chú ý của mọi người, việc đáng lẽ khiến cho anh thích thú cũng như chắc chắn làm cô ta lúng túng. Nhưng anh chỉ cảm thấy bực mình vì tên bạn nào của anh cũng cho rằng anh có sở thích bỉ ổi là ve vãn cả người hầu của mình. Jane đã có thể đi ra cùng với tên gia nhân, nhưng cô ta không làm thế. Cô ta lui về cái góc của mình với đôi mắt cụp xuống. Chiếc mũ được kéo xuống thấp hơn trên vầng trán.

Tử tước Kimble khẽ huýt sáo. “Một gia nhân giấu mặt, hả Tresh?” cậu ta lẩm bẩm, quá nhỏ để cô ta nghe được. Con mắt Kimble hẳn đã xuyên qua được lớp ngụy trang của cô ta. Kimble, với ngoại hình đẹp như thiên thần, hẳn nhiên là rất hút phụ nữ. Và sành sỏi ngang với Jocelyn. “Nhưng là người hầu,” Jocelyn đáp, “dưới sự che chở của mái nhà tôi, Kimble.”

Bạn anh hiểu ngay, cậu ta nhe răng cười và nháy mắt. Nhưng cậu ta sẽ không buông bất cứ lời tán tỉnh thiếu đứng đắn nào với Jane Ingleby. Jocelyn lập tức tự hỏi tại sao anh phải quan tâm. Cuộc chuyện trò nhanh chóng chuyển sang những chủ đề khác vì họ khó có thể bàn luận về Jane trước sự hiện diện của cô ta. Nhung dường như chẳng ai thấy có vấn đề gì khi bình phẩm oang oang đầy khoái trá về tiếng xấu của phu nhân Oliver khi cô ta lả lơi với đám người hâm mộ ở rạp hát tối qua trước sự có mặt của ba gã anh trai cùng chồng cô ta trong lô của họ; rồi về chuyện ba gã anh kia công khai quyết tâm giết chết Công tước Tresham vì tội ve vãn em gái họ ngay khi anh đứng dậy được; hay về quãng thời gian dài đến nực cười mà Hailsham cần để chứng tỏ rằng đứa con trai cả, hiện đã chín tuổi và được cho là đần độn, là con hoang và do đó ông ta có thể chuyển các quyền lợi sang thằng con thứ yêu quý; rồi cả những tình tiết giật gân mới nhất trong vụ scandal Cornish. “Hiện đang có lời đồn rằng Jardine đã chết,” Brougham nói về chủ đề cuối cùng. “Rằng anh ta chưa bao giờ hồi tỉnh sau vụ tấn công.”

“Hẳn đó là một cú đánh như trời giáng vào đầu,” Kimble bổ sung. “Những lời miêu tả giật gân hơn cho rằng não anh ta còn phòi hẳn ra ngoài qua tóc và máu. Những phòng khách ở London dạo gần đây chật ních những quý cô dễ kích động và ngất xỉu. Nó khiến cuộc sống trở nên thú vị đối với chúng ta, những người có thể ở gần họ khi chuyện đó xảy ra. Tệ một nỗi là cậu lại bất lực, Tresh.” Kimble cười tủm tỉm. “Theo như tôi nhớ,” Pottier nói, “Jardine không có nhiều tóc lắm. Não cũng thế.” “Anh ta chưa hề tỉnh lại.” Jocelyn, trong lúc cố cựa mình để tránh bị chuột rút, vô tình làm rơi tấm đệm xuống sàn. “Đến đặt lại cái này đi, cô Ingleby? Anh ta chưa từng tỉnh lại, thế nhưng - theo một số tin đồn - lại có thể miêu tả một cách cực kỳ minh mẫn vụ tấn công và sự chống trả quyết liệt anh dũng của mình. Anh ta còn có thể nhận dạng kẻ tấn công và giải thích động cơ cô ta đập vỡ sọ mình nữa. Một kiểu hôn mê kỳ lạ nhỉ?”

Jane cúi xuống đặt tấm đệm vào đúng chỗ, rồi nhấc chân anh đặt lên đó một cách nhẹ nhàng như mọi khi, và chỉnh lại mép băng đã cuộn dưới. Nhưng, khi liếc nhìn cô ta, anh nhận thấy môi cô ta trắng bệch như sáp. Anh gần như hối tiếc vì đã khăng khăng bắt cô ta ở lại trong phòng. Rõ ràng cô ta không thoải mái khi ở cùng đám đàn ông. Và không nghi ngờ gì là cùng với câu chuyện của bọn họ. Cô ta cúi xuống vết thương của anh với vẻ mặt cam chịu, có lẽ câu nói về tóc, máu và não đã quá sức chịu đựng của cô ta. “Tin tức về cái chết của anh ta có khi chỉ là tin vịt thôi,” Garrick nói sỗ sàng, đứng dậy rót cho mình một cốc rượu khác. “Có khi chỉ vì anh ta quá xấu hổ không dám phơi mặt ra sau khi đã thừa nhận bị một cô gái mảnh mai khống chế trong vụ trộm.”

“ phải cô ta nắm chặt khẩu súng bằng hai tay sao? Jocelyn hỏi. “Tức là theo lời cái kẻ chưa từng tỉnh lại từ lúc bị cô ta đánh ấy? Nhưng nói chuyện vô nghĩa ấy đủ rồi. Cái kế hoạch ngu xuẩn mà Ferdinand đã dính vào là thế nào vậy? Đua với Berriwether sao! Ai đã thách đấu?” “Em trai cậu,” Conan nói, “khi Berriwether đang huênh hoang rằng từ giờ cậu sẽ phải ngậm đắng nuốt cay nhận thua trong mọi môn thể thao cậu hằng chơi vì cậu chỉ còn một cái chân cà nhắc. Gã tuyên bố rằng cái tên Dudley sẽ không bao giờ được xướng lên trong sự trầm trồ và thán phục nữa.” “Chính tai Ferdinand nghe thấy ư?” Jocelyn lắc đầu. “Cực kỳ thiếu sáng suốt.”

“Không, không hẳn là chính tai cậu ta nghe,” bạn anh giải thích. “Mà là Ferdinand nghe từ tai nọ qua tai kia, và liền mặt mũi hầm hầm xông thẳng đến White. Tớ đã thoáng nghĩ là cậu ta sẽ ném găng tay vào mặt Berriwether cơ, nhưng cậu ta chỉ nói hết sức lịch sự rằng ngoài tài bắn súng ra thì Berriwether nghĩ cậu giỏi môn gì nhất. Dĩ nhiên là tài điểu khiển dây cương rồi. Thế là thách đấu.” “Và kết quả Ferdinand đặt cược bao nhiêu?” Jocelyn hỏi. Garrick trả lời thay. “Một nghìn đồng ghinê[1].”

“Hmm,” Jocelyn chầm chậm gật đầu. “Danh dự gia đình đáng giá một nghìn đồng ghinê. Chà chà.” [1] Đồng ghinê (tiền vàng của nước Anh xưa, giá trị tương đương 21 shilling). Jane Ingleby không còn đứng trong góc nữa, anh lơ đãng nhận ra. Cô ta đang ngồi thẳng đơ trên chiếc ghế đầu thấp, quay lưng ra ngoài.

Cô ta không nhúc nhích cho đến khi các bạn anh ra về một giờ sau đó. “Đưa ta thứ chết tiệt đó!” Công tước Tresham chìa một bàn tay hống hách ra sau khi cánh cửa phòng khách khép lại sau lưng các bạn anh ta. Jane đang đứng cạnh chiếc sofa, cô đã tháo dây buộc dưới cằm và bỏ chiếc mũ xấu xí ra, nhưng vẫn giữ chặt nó trong tay.

“Ngài định làm gì với nó?” cô hỏi. “Điều ta định làm,” anh ta cáu kỉnh nói, “là sai cô đi lấy cái kéo sắc nhất mà bà quản gia có. Rồi ta sẽ bắt cô chứng kiến ta cắt vụn nó ra thành từng mảnh. Không, không phải. Ta sẽ bắt cô cắt nó thành từng mảnh.” “Nó là của tôi,” cô bảo anh ta. “Tôi đã trả tiền mua nó. Ngài không có quyền phá hoại tài sản của tôi.”

“Tào lao vớ vẩn!” anh ta độp lại. Và rồi hình dáng anh ta chợt nhòe đi trước mặt Jane. Một tiếng nức nở kém trang nhã bật ra từ miệng cô cùng lúc cô nhận ra mắt mình đã đẫm lệ. “Trời đất!” anh ta thốt lên, lộ vẻ thất kinh. “Cái thứ khốn kiếp ấy có ý nghĩa với cô đến vậy sao?”

“Nó là của tôi!” Cô nói gay gắt nhưng bằng một giọng run rẩy đến thảm thương. “Tôi đã dốc hết tiền để mua nó cùng một cái nữa mới hai ngày trước. Tôi sẽ không cho phép ngài cắt chúng ra để làm trò vui. Ngài là kẻ ỷ thế hiếp người vô cảm.” Bất chấp nỗi tức giận và sự can đảm cố gồng lên trong lời nói, cô đang khóc nức nở và nấc lên từng hồi một cách đáng chê trách. Cô lấy mũ lau hai gò má ướt và trừng mắt nhìn anh ta. Công tước Tresham im lặng quan sát cô một lúc. “Đây không hẳn là về chuyện cái mũ, đúng không?” Cuối cùng anh ta hỏi. “Mà là vì ta đã bắt cô ở lại trong phòng với đám khách toàn nam giới. Ta đã làm tổn thương tới sự nhạy cảm của cô, Jane. Ta dám chắc trong trại trẻ con gái và con trai bị cách ly, phải không?”

“Vâng,” cô nói. “Ta mệt rồi,” anh ta nói cụt lủn. “Ta sẽ cố chợp mắt một lúc. Ta không cần cô ở đây nghe ta ngáy. Hãy về phòng và ở lại đó cho đến giờ ăn tối. Tối nay hãy trở lại chỗ ta.” “Vâng, thưa ngài,” Jane nói, quay lưng khỏi anh ta. Cô không thể nói tiếng cảm ơn cho dù cô biết anh ta đang đối xử tử tế với cô theo cách của mình. Cô không tin là anh ta muốn ngủ. Anh ta chỉ nhận thấy cô cần ở một mình.

“Cô Ingleby,” anh ta cất tiếng khi cô đã ra đến cửa. oảnh lại. “Chớ có chọc tức ta lần nữa. Khi phục vụ ta cô sẽ không đội cái mũ nào hết.” Cô lẳng lặng đi ra ngoài rồi chạy một mạch lên cầu thang về phòng mình, sập cửa lại một cách đầy biết ơn và quăng mình lên giường, một tay vẫn nắm chiếc mũ. Anh ta chết rồi.

Sidney Jardine đã chết, và sẽ không có ai trên đời này tin là cô không giết anh ta. Cô túm chặt khăn trải giường bằng bàn tay còn lại và vùi vào mặt đệm. Anh ta chết rồi.

Jane đã căm ghét kẻ đê tiện ấy hơn mức cô nghĩ mình có thể ghét bất cứ ai. Nhưng cô không muốn anh ta chết. Hoặc thậm chí bị thương. Đó chỉ là phản xạ và bản năng tự vệ vô thức khi cô chụp lấy quyển sách nặng trịch rồi phang nó vào đầu anh ta. Góc sách sắc nhọn đã va trúng vào thái dương anh ta. Sidney không ngã xuống, anh ta sờ vào vết thương, nhìn xuống những ngón tay dính máu, rồi cười, gọi cô là đồ nanh nọc, và tiến về phía cô. Nhưng cô bước tránh sang một bên đúng lúc anh ta nhào tới, khiến anh ta mất thăng bằng và ngã vào lò sưởi lát đá cẩm thạch, trán kêu răng rắc thành tiếng. Rồi anh ta nằm bất động. Có rất nhiều người chứng kiến toàn bộ cảnh tượng đê hèn đó, nhưng không thể trông mong một ai nói thật về chuyện đã xảy ra. Bọn họ chắc chắn đều sốt sắng khai man rằng cô đã bị tóm trong lúc đang ăn trộm. Chiếc vòng tay bằng vàng nạm ngọc vẫn nằm dưới đáy túi của cô là bằng chứng. Những kẻ đó đều là bạn bè của gia đình Sidney, không có ai là bạn cô, Charles - ngài Charles Fortescue, hàng xóm đồng thời là bạn thanh mai trúc mã của cô - lại không có nhà. Dù sao anh ấy cũng sẽ không được mời đến bữa tiệc đặc biệt đó.

Sidney đã không chết sau cú ngã cho dù những ai có mặt trong phòng đều đinh ninh điều ngược lại. Cô là người đã lại gần anh ta bằng đôi chân run rẩy, bụng chỉ chực nôn. Mạch của anh ta đập đều đặn. Cô còn gọi vài người hầu tới đưa anh ta về phòng riêng trên gác, đích thân chăm sóc và rửa vết thương cho anh ta đến khi bác sỹ tới, theo yêu cầu của cô. Nhưng anh ta bất tỉnh trong suốt thời gian đó. Và nom tái nhợt đến nỗi cô phải li tục kiểm tra mạch đập của anh ta bằng những ngón tay run run lạnh toát. “Những kẻ giết người sẽ bị treo cổ đấy, cô biết không,” có ai đó ngoài cửa phòng đã nói vọng vào, giọng đầy thích thú.

“Cho đến chết thì thôi,” một giọng khác đế thêm với vẻ khoái trá ghê tởm. Jane đã rời khỏi Candleford ngay trong đêm ấy, chỉ mang theo đủ vật dụng cần thiết để tới London trên một chiếc xe ngựa chạy theo tuyến - tất nhiên là cả chiếc vòng vàng, cùng với số tiền cô lấy từ bàn làm việc của Bá tước. Cô bỏ đi không phải vì tin rằng Sidney sẽ chết và cô sẽ bị bắt vì tội giết người. Cô bỏ đi vì rất nhiều lý do. Cô đã cảm thấy quá cô độc. Bá tước, anh họ của cha cô và là người kế thừa tước vị, và vợ ông, đã rời nhà đi dự một bữa tiệc gia đình cuối tuần. Dù sao họ cũng chỉ cho cô chút ít tình thương. Không một ai ở Candleford chìa tay ra trước cảnh ngộ của cô. Charles thì không có nhà. Anh đã lên đường thăm chị gái ở Somersetshire dài ngày.

Jane đã chạy tới London. Ban đầu cô không hề nghĩ đến chuyện ẩn náu, chỉ muốn tìm đến ai đó mở lòng thông cảm với cô. Cô đã đến nhà phu nhân Webb ở Portland Place. Phu nhân Webb là bạn thân nhất của mẹ cô từ hồi hai người còn là thiếu nữ cùng nhau ra mắt. Bà thường xuyên ghé thăm Candleford, và là mẹ đỡ đầu của Jane. Cô gọi bà là cô Harriet. Nhưng phu nhân Webb đã rời khỏi nhà và trong thời gian trước mắt sẽ không quay lại. Hơn ba tuần nay Jane như tê liệt vì sợ hãi, sợ rằng Sidney đã chết, sợ mình sẽ bị buộc tội giết anh ta, sợ mình sẽ bị gọi là tên trộm, sợ nhà chức trách truy lùng cô. Dĩ nhiên họ sẽ biết cô đã đến London. Cô chẳng làm gì để xóa dấu vết cả, Điều tồi tệ nhất trong những tuần vừa qua là cô chẳng biết được tin tức gì. Cô gần như nhẹ nhõm vì cuối cùng cũng biết được vài tin.

Rằng Sidney đã chết. Rằng chuyện cô đã giết anh ta vì anh ta bắt được cô đang ăn trộm hiện đang lan truyền rộng rãi. Rằng cô bị coi là kẻ sát nhân.

Không, đương nhiên đó không phải là sự nhẹ nhõm.> Jane ngồi phắt dậy và chà hai tay lên mặt. Những cơn ác mộng kinh khủng nhất của cô đã thành sự thật. Hy vọng lớn nhất của cô là chìm khuất giữa vô số cư dân vô danh của thành London, nhưng kế hoạch đó đã đổ bể khi cô ngu ngốc xen vào vụ đấu súng ở Hyde Park. Có liên quan gì đến cô khi hai quý ông không biết sử dụng mạng sống của mình thế nào cho tốt ngoài việc bắn vỡ đầu nhau? Hiện cô đang ở Mayfair, trong một dinh thự bề thế trên quảng trường Grosvenor, với vai trò làm y tá/bầu bạn cho một người đàn ông tìm thấy thù vui trong việc trưng cô ra trước bạn bè mình. Tất nhiên là không một ai biết cô. Cô đã sống cuộc đời ẩn dật ở Cornwall. Khả năng những vị khách đến Dudley House trong mấy tuần sắp tới biết mặt cô là rất ít. Nhưng cô không vững tin lắm.

Chắc chắn nó chỉ là vấn đề thời gian... Jane đứng dậy và loạng choạng băng qua phòng tới giá rửa mặt. Ơn trời là trong bình có nước. Cô rót một ít vào chậu rồi cúi xuống khum hai bàn tay vốc nước lên. Việc cô phải làm - việc cô phải hoàn thành trước tiên - là ra đầu thú trước nhà chức trách và đặt niềm tin vào sự thật và công lý. Nhưng ai là nhà chức trách? Cô sẽ đi đâu để đầu thú? Hơn nữa, cô đã tự rước lấy tội lỗi bằng cách chạy trốn và mai danh ẩn tích hơn ba tuần qua.

Anh ta sẽ biết cô cần làm gì và nên đi đâu với câu chuyện của mình. Đó là Công tước Tresham. Cô có thể kể tất cả cho anh ta và để anh ta quyết định bước tiếp theo. Nhưng cứ nghĩ đến gương mặt lạnh lùng khắc nghiệt ấy và sự coi thường của anh ta đối với những cảm xúc của cô, là cô lại rùng mình. Cô có bị treo cổ không? Cô có thể bị treo cổ vì tội giết người không? Hoặc thậm chí vì tội trộm cắp? Cô quả thật không biết. Nghĩ đến đó, cô phải chộp lấy mép giá rửa mặt để không chao đảo. Làm sao cô có thể tin tưởng vào sự thật khi mọi bằng chứng và nhân chứng đều chống lại cô?

Vừa rồi một quý ông dưới nhà đã nói rằng có khi Sidney rốt cuộc chẳng hề chết. Jane biết rõ những chuyện ngồi lê đôi mách có thể bị bóp méo và xuyên tạc ra sao. Ví như chuyện cô đã cầm hai tay hai khẩu súng lục! Có lẽ tin tức về cái chết của Sidney đã lan rộng chỉ vì một kết cục như thế sẽ gãi đúng chỗ ngứa của những ai luôn tin vào điều tồi tệ nhất. Có lẽ anh ta vẫn chỉ đang hôn mê. Có lẽ anh ta đang hồi phục một cách khả quan.

Có lẽ anh ta đã hồi phục hoàn toàn. Cũng có thể anh ta đã chết. Jane lấy khăn mặt lau khô hai gò má vẫn nóng bừng và ngồi xuống cái ghế cứng bên cạnh giá rửa mặt. Mình sẽ đợi, cô quyết định, nhìn xuống đôi bàn tay run rẩy đặt trên lòng, cho đến khi cô biết chắc hơn. Sau đó sẽ quyết định làm gì là tốt nhất.

Có phải người ta đang tìm kiếm mình không? Cô tự hỏi, áp những ngón tay lên môi và nhắm nghiền mắt. Cô phải tránh khỏi tầm mắt của những vị khách sắp tới để phòng ngừa. Cô phải cố thủ trong phòng càng nhiều càng tốt. Giá mà cô có thể tiếp tục đội cái mũ của mình... Jane chưa bao giờ là kẻ nhát gan. Cô chưa bao giờ là người trốn tránh hay co đầu rụt cổ vào một góc. Mà ngược lại. Nhưng đột nhiên cô trở nên hèn nhát.

Tất nhiên, từ trước đến nay cô đã bao giờ bị buộc tội giết người đâu..