Hôm nay bạn muốn đọc gì?

Tin em và yêu em - Chương 5

Chương 6.

Thám tử Mick Bowden của Bow Street một lần nữa đứng trong phòng tiếp khách riêng của Bá tước Durbury tại khách sạn Pulteney, sau một tuần kể từ lần đầu tiên đến đây. Y không phát hiện được dấu vết nào mới của tiểu thư Sara Illingsworth. Sự thất bại khiến y không hài lòng. Y ghét những nhiệm vụ như thế này. Y đã được phái tới Cornwall để điều tra vụ mưu sát Sidney Jardine, lẽ ra y có thể sử dụng mọi kỹ năng trong nghề để khám phá danh tính kẻ giết người và bắt giữ hắn. Nhưng chẳng có gì bí ẩn trong vụ án này. Cô gái đã tiến hành vụ trộm khi Bá tước đi vắng và bị Jardine bắt quả tang. Cô ta đã đánh vào đầu gã bằng một vật cứng, hẳn nhiên là nhân lúc gã đang kinh ngạc bởi gã biết cô ta và hoàn toàn không nhận ra cô ta định làm gì, và rồi cô ta chuồn đi với chiến lợi phẩm lấy được. Người hầu của Jardine đã chứng kiến toàn bộ cảnh tượng - một kẻ nhát gan khác thường theo đánh giá của Mick, vì tên trộm chỉ là một cô gái không tấcắt trong tay ngoài một vật cứng để phang vào chủ hẳn.

“Nếu cô ta ở London, thì chúng tôi sẽ tìm ra cô ta, thưa ngài,” y cất tiếng. “Nếu nó ở London? Nếu ư?” Bá tước nổi đóa. “Tất nhiên là nó ở London rồi. Nó còn ở đâu được nữa?” Mick có thể kê ra một loạt nơi mà chẳng cần động não, nhưng y chỉ giật giật dái tai. “Có lẽ là không còn chỗ nào,” y thừa nhận. “Và nếu cô ta không rời khỏi đây độ một tuần trước, thì hiện giờ cô ta có muốn rời đi cũng sẽ khó khăn hơn, thưa ngài. Chúng tôi đã hỏi tất cả các chủ trạm xe và người đánh xe trong thành phố. Không ai nhớ có một phụ nữ với ngoại hình như thế trừ người đã chở cô ta đến đây. Và hiện chúng tôi đang theo dõi anh ta gắt gao.”

“Tất cả những việc đó đều đáng khen ngợi,” Bá tước nói với vẻ hết sức mỉa mai. “Nhưng anh đang làm gì để tìm nó trong lòng London? Một tuần ắt sẽ là thời gian thoải mái ngay cả khi anh co chân ngủ trong năm hoặc sáu ngày đầu.” “Cô ta chưa quay lại nhà phu nhân Webb, thưa ngài. Chúng tôi đã kiểm tra. Chúng tôi cũng đã tìm ra khách sạn cô ta ở trong hai đêm đầu sau khi đến, nhưng không ai biết sau đó cô ta đi đâu. Theo như thông tin ngài cung cấp, thì cô ta không quen biết ai trong thành phố. Nhưng nếu cô ta mang theo nhiều tiền bạc, tôi nghĩ cô ta sẽ thuê một phòng khách sạn khác hoặc trọ tại một khu đàng hoàng. Song chúng tôi vẫn chưa có được manh mối nào ở hai hướng ấy.” “Ta cho rằng anh chưa nghĩ đến một điều,” Bá tước đi tới đứng trước cửa sổ và gõ móng tay lên bệ cửa, “nó có thể không muốn thu hút sự chú ý bằng việc tiêu xài phung phí.”

Mick cảm thấy hết sức kỳ quặc, tại sao ăn cắp được bao nhiêu của cải như thế mà lại hờ hững không tiêu xài? Mà sao cô gái ấy lại phải đi ăn cắp, nếu cô ta đang sống trong xa hoa ở Candleford với tư cách con gái của vị Bá tước quá cố và là họ hàng của Bá tước hiện thời? Và nếu cô ta đã hai mươi tuổi và xinh đẹp như ngài Bá tước đã miêu tả, không phải cô ta đang trông chờ một mối lương duyên thuận lợi với một người đàn ông trẻ trung giàu có sao? Đây không phải là lần đầu tiên Mick nghĩ trong chuyện này còn nhiều uẩn khúc hơn những gì mắt thấy tai nghe. “Ngài có nghĩ cô ta có thể đi kiếm việc làm không?” y hỏi.

“Ta đã nghĩ qua điều đó.” Bá tước tiếp tục gõ ngón tạy trong lúc cau mặt nhìn ra ngoài cửa sổ. Có bao nhiêu tiền đã bị lấy đi? Mick tự hỏi. Chắc chắn là một con sỗ rất lớn nếu như cô gái đã sẵn sàng giết người vì nó. Dĩ nhiên còn cả đồ trang sức nữa - nghĩ đến đó y chợt nảy ra những phương cách khả thi đềìm cô gái. “Vậy tôi và các cộng sự sẽ bắt đầu hỏi thăm những trung tâm tìm kiếm việc làm,” y nói. “Đó sẽ là điểm khởi đâu. Và tất cả các hiệu cầm đồ cùng cửa hàng trang sức, những nơi có thể mua lại nữ trang. Tôi cần bản miêu tả chi tiết từng món, thưa ngài.”

“Đừng phí thời gian,” Bá tước lạnh nhạt. “Nó sẽ không đem cầm thứ nào đâu. Tập trung vào các cơ sở kinh doanh buôn bán ấy, tất cả những nơi có khả năng thuê người làm. Tìm bằng được nó.” “Chắc chắn chúng tôi không muốn một tội phạm nguy hiểm được tự tung tự tác ở chỗ những chủ lao động tin người, thưa ngài ” Mick đồng ý. “Cô ta có thể sử dụng cái tên nào ạ?” Bá tước quay mặt về phía viên thám tử. “Cái tên nào?”

“Cô ta dùng tên thật ở nhà phu nhân Webb,” Mick giải thích, “và ở khách sạn hai đêm đầu tiên. Sau đó cô ta biến mất. Theo tôi thấy, thưa ngài, thì cô ta đã nhận ra tốt hơn là hãy giấu giếm danh tính. Cô ta có thể dùng tên nào ngoài tên thật của mình? Cô ta có tên lót nào không? Ngài có biết tên thời còn gái của mẹ cô ta không? Tên cô hầu của cô ta? Những bà bảo bảo mẫu của cô ta? Bất cứ cái tên nào để tôi có thể hỏi ở những nơi thuê người làm, thưa ngài, nếu như không có thông tin về cái tên Sara Illingsworth.” “Cha mẹ nó luôn gọi nó là Jane.” Bá tước gãi đầu và cau mày. “Để ta xem nào. Tên mẹ nó ngày trước là Donningsford. Đứa hầu của là...” Mick ghi lại những cái tên được cung cấp.

“Chúng tôi sẽ tìm ra cô ta, thưa ngài,” y đảm bảo với Bá tước Durbury lần nữa khi cáo từ vài phút sau đó. Nhưng đây đúng là một vụ kỳ lạ. Con trai độc nhất của một người đàn ông đang hôn mê, một chân đã đặt trong mồ, chân kia đặt trên mảnh băng trơn trượt. Gã có thể chết bất cứ lúc nào. Vậy mà cha gã lại bỏ mặc con nằm đấy để đi tìm người phụ nữ đã cố giết gã. Nhưng theo như Mick biết, người đàn ông này chưa bao giờ rời khỏi phòng khách sạn. Kẻ rất có khả năng trở thành sát nhân đã lấy trộm một gia tài, vậy mà Bá tước lại cho rằng cô ta có thể đi tìm việc làm. Cô ta đã trộm rất nhiều nữ trang, nhưng Bá tước lại không muốn miêu tả hay lùng sục chúng trong các hiệu cầm đồ. Quả thực là một vụ án hết sức kỳ lạ.

Sau một tuần di chuyển giữa chiếc giường trên lầu, sofa trong phòng khách và cái ghế dài trong thư viện, Jocelyn đã ngán đến tận cổ. Nói thế có lẽ còn nhẹ mười lần. Các bạn anh đến thăm thường xuyên – thực ra là hằng ngày – và mang cho anh mọi tin tức cùng những chuyện ngồi lê đôi mách nóng hổi. Em trai anh đến thăm và hầu như chẳng nói gì khác ngoài cuộc đua xe mà Jocelyn ắt sẽ trả cả một gia tài để chính mình được tham gia. Em gái anh thì thao thao bất tuyệt những chủ đề sâu sắc về mũ bonnet và thần kinh của nó. Em rể anh có vài chuyến viếng thăm lịch sự và bàn luận về chính trị. Những ngày dài lê thê, buổi tối còn dài hơn, và đêm thì như vô tận. Janngleby trở thành người bầu bạn gần như thường xuyên của anh. Nhận thức ấy khiến anh vừa thích thú vừa bực bội. Anh bắt đầu cảm thấy mình giống một bà già với người bầu bạn được trả tiền để sai vặt và lấp đầy tâm hồn trống rỗng.

Cô ta thay băng cho anh ngày một lần. Có lần anh đã bảo cô ta mát xa đùi cho anh, một trải nghiệm sẽ không lặp lại dù bàn tay cô ta êm dịu đến thần kỳ, nhưng cũng đem tại sự khuấy động đáng lo, thế nên anh khiển trách cô ta vì cái tội quá cả thẹn đến đỏ bừng mặt mũi và bảo cô ta ngồi xuống. Cô ta chạy việc vặt cho anh, sắp xếp thư từ khi anh đọc xong và chuyển nó cho Quincy theo chỉ dẫn của anh. Cô ta đọc sách cho anh nghe và chơi bài với anh. Anh đã bảo Michael Quincy đánh cờ với anh vào một buổi tối và lệnh cho cô ta ngồi xem. Đánh cờ với Michael thú vị ngang với chơi critket cùng đứaa tuổi. Dù thư ký của anh là một người chơi thành thạo, cũng chả phải mất nhiều mánh khóe lắm mới đánh bại được cậu ta. Tất nhiên thắng cuộc lúc nào chả vui, nhưng không được hồ hởi lăm khi có thể nhìn ra ai là kẻ chiến thắng từ trước ít nhất là hàng chục nước. Sau đấy Jocelyn đánh cờ với Jane. Ban đầu cô ta chơi cực kỳ kém, anh chán vô hạn lúc bảo cô ta chơi tiếp vào ngày hôm sau. Lần này thì cô ta gần như sẵn sàng để có một cuộc cạnh tranh bên lề với Michael, nhưng chắc chắn không phải với anh. Chơi đến ván thứ năm thì cô ta thắng.

Cô ta vỗ tay và cười khanh khách. “Ngài thấy chưa, đấy là hậu quả tất yếu,” cô ta bảo anh, “của việc tỏ ra ngán ngẩm, khinh khỉnh, che miệng ngáp và nhìn tôi bằng nửa con mắt như thể tôi là vết bẩn trên giày ngài. Ngài đã không tập trung.” Những lời cô ta nói đều là sự thật. “Vậy thì cô sẽ thừa nhận,” anh hỏi lại, “là ta sẽ thắng nếu ta tập trung, phải không Jane?” “Ồ, nhất định rồi,” cô ta thừa nhận. “Nhưng ngài đã không làm thế nên ngài đã thua. Một cách thê thảm, tôi xin nói thêm.”

Kể từ đó trở đi anh liền tập trung. Đôi khi họ chỉ nói chuyện đơn thuần. Jocelyn lấy làm lạ vì mình có thể nói chuyện với một phụ nữ. Anh rất giỏi chuyện gẫu với các quý bà quý cô, thành thạo lối chơi chữ với những cô gái bao hạng sang. Nhưng không tài nào nhớ nổi mình đã từng nói chuyện thẳng thắn với một người phụ nữ nào. Một buổi tối Jane đang đọc sách cho anh và anh đang tự giải khuây bằng việc quan sát mái tóc búi chặt sau đầu của cô ta, đôi mắt cô ta nghiêng nghiêng chếch một góc. Dĩ nhiên đó là sự nổi loạn nhỏ của cô ta, nhằm khiến mái tóc mình càng bớt hấp dẫn càng tốt ngay cả khi không có cái mũ. Anh hy vọng một cách ác ý rằng cô ta sẽ bị đau đầu.

“Cô Ingleby,” anh thở dài nói, cắt ngang câu cô ta đang đọc dở, “ta không thể nghe thêm nữa.” Dù sao anh cũng chẳng để tai nghe mấy. “Theo quan điểm của ta, cô cứ thoải mái tỏ ý kiến nếu không đồng tình, thì Gulliver là một tên đần.” Đúng như anh nghĩ, môi cô ta mím lại thành một đường mỏng dính. Một trong những thú vui của anh trong tuần qua là chọc tức cô ta. Cô ta đóng cuốn sách lại. “Tôi cho rằng” cô ta nói, “ngài tin lẽ ra anh ta nên gi bẹp những con người nhỏ bé ấy xuống đất vì anh ta to lớn hơn và mạnh hơn họ.”

“Cô đúng là một người bầu bạn dễ chịu, cô Ingleby,” anh nhận xét. “Cô suy diễn hộ ta luôn và do đó miễn cho ta khỏi phải nghĩ ngợi và phát biểu ý kiến của mình.” “Tôi chọn cuốn khác nhé?” cô ta hỏi. “Có khi cô sẽ chọn một bộ sách thuyết giáo mất,” anh độp lại “Không, chúng ta nói chuyện đi.”

“Về chủ đề gì?” cô ta hỏi sau một thoáng im lặng. “Hãy kể tôi nghe về trại mồ côi,” anh nói. "Cuộc sống của cô ở đó” Cô ta nhún vai. “Cũng không có gi đáng nói.”

Chắc hẳn nó là một trại mồ côi tử tế. Nhưng dẫu vậy, trại mồ côi vẫn là trại mồ côi. “Ở đó cô có cô đơn không?” anh hỏi. “Cô có cô đơn không?” “Không.” Rõ ràng cô ta sẽ không hào hừng kể chuyện đời tư của mình. Cô ta không giống như đa số phụ nữ - và công bằng mà nói, cả đa số đàn ông – những người chỉ cần một sự khích lệ nhò nhất là hăng say nói liên tu bất tận về bản thân.

“Sao lại không?” anh hỏi, nheo mắt nhìn cô ta. “Cô lớn lên mà không có cả cha lẫn mẹ và các anh chị em. Cô đến London ở độ mỗi hai mươi, nếu phán đoán của tôi chính xác, chắc hẳn là với một ước mơ tạo lập cuộc đời, nhưng không quen biết ai. Sao cô có thế không cảm thấy cô đơn?” Cô ta ặt cuốn sách xuống chiếc bàn nhỏ bên cạnh và thu hai tay vào nhau trên lòng. “Cảnh một thân một mình không phải lúc nào cũng đồng nghĩa với sự cô đơn, nếu như người ta học được cách yêu quý bản thân và sự bầu bạn của chính mình. Tôi nghĩ rất có thể người ta vẫn cô đơn ngay cả khi có đủ cha mẹ và các anh chị em nếu như về cơ bản họ không yêu quý chính mình, nếu họ mang nặng cảm giác họ không xứng đáng được yêu thương.” “Cô ăn nói thật thâm thúy!” anh cộc cằn, đột nhiên tức giận.

Anh chợt nhận ra mình đang bị đôi mắt xanh biếc điềm tĩnh quan sát. “Có phải đó là chuyện xảy ra với ngài?” cô ta hỏi. Khi Jocelyn nhận ra cô ta đang hỏi điều gì, tính chất cực kỳ riêng tư trong câu hỏi, thì anh giận dữ đến nỗi câu đuổi cổ cô ta đã nằm nơi đầu lưỡi. Sự xấc láo của cô ta quả là không giới hạn. Nhưng một cuộc đối thoại dĩ nhiên phải có qua có lại, và chính anh mới là ngươi đã cố khơi lên câu chuyện.

Anh chưa bao giờ có những buổi chuyện trò thẳng thắn, kể cả với đám bạn nam giới, về những vấn đề riêng tư. Anh chưa bao giờ nói về mình. Có phải đó là chuyện xảy ra với anh? “Lúc nào ta cũng yêu quý Angeline và Ferdinandanh nói, nhún vai. “Bọn ta thường xuyên hục hặc, ta nghĩ hầu hết các anh chị em đều thế, dù việc bọn ta là những người nhà Dudley chắc chắn khiến bọn ta hay sinh sự và gây ầm ĩ hơn hầu hết những gia đình khác. Bọn ta cũng chơi đùa và cùng nghĩ ra những trò tai quái. Ferdinand và ta thỉnh thoảng còn hào hiệp gánh đòn thay cho Angeline vì những trò nó đã làm, nhưng rồi bọn ta lại trừng phạt nó theo cách riêng của mình.”

“Tại sao là một người họ Dudley có nghĩa ngài phải ngỗ ngược hơn, dữ tợn hơn, nguy hiểm hơn những người khác vậy?” cô hỏi. Anh nghĩ về chuyện đó, về gia đình mình, về ảo tưởng nơi bản thân và địa vị đã không ngừng hình thành, phát triển trong họ từ khi ra đời, thậm chí có khiước cả lúc đó. “Nếu cô biết bố ta và ông ta,” anh đáp, “thì cô ắt không hỏi thế.”

“Và ngài cảm thấy ngài phải phấn đấu có được danh tiếng như họ?” cô hỏi. “Ngài làm vậy là lựa chọn cá nhân? Hay ngài bị đóng đinh vào vai trò con cả, người thừa kế và cuối cùng vì ngài là Công tước Tresham?” Anh cười khẽ. “Nếu cô biết đầy đủ về danh tiếng của ta, cô Ingleby, cô cũng sẽ không cần hỏi câu đó. Xin cam đoan với cô là ta không thoải mái với hào quang sẵn có của tổ tiên. Ta có đủ cho chính mình rồi.” “Tôi biết rằng ngài qua lại với những phụ nữ đã có chồng mà không mảy may quan tâm đến sự thiêng liêng của hôn nhân hoặc những cảm xúc của người chồng bị ngài xúc phạm.”

“Xem ra cô biết nhiều về ta,” anh chế nhạo. “Tôi phải vừa mù vừa điếc mới không biết.” cô đáp, “Tôi còn biết ngài coi tất cả những người có địa vị xã hội thấp hơn ngài - và những người đó chiếm đa số - là những tay chân chạy việc vặt cho ngài và tuân theo mỗi mệnh lệnh mà không thắc mắc.” “Và không thèm nói câu cảm phiền hay cám ơn” anh bổ sung.

“Tôi cũng dám chắc ngài thường tham gia những vu cá cược điên rồ nhất. Tuần vừa rồi ngài chẳng lo lắng chút nào về cuộc đua xe đến Brighton sắp tới của ngài Ferdinand. Ngài ấy có thể bị gãy cổ.” “Ferdinand thì không. Giống như ta, nó có cái cổ bằng thép.” “Ngài chỉ quan trọng mỗi một điều, là em ngài thắng cuộc đua. Quả thực tôi tin rằng ngài ước gì có thể thế chỗ em ngài, để tự làm gãy cổ mình.”

“Có một mục đích nhỏ khi tham gia một cuộc đua,” anh giải thích, “trừ phi người ta không định thắn, cô Ingleby, nhưng dĩ nhiên ai nấy đều biết phải hành xử thế nào cho đúng chất một quý ông khi thua cuộc. Lẽ nào cô đang chỉ trích ta? Liệu đây có phải một sự tố cáo nhẹ nhàng cung cách và đạo đức của ta?” “Những cái đó không liên quan đến tôi, thưa ngài. Tôi chỉ đang nhận xét dựa trên những gì tôi quan sát được.” “Rõ là cô có thành kiến về ta.”

“Nhưng tôi dám chắc,” cô đáp trả, “những quan điểm của tôi chẳng có ý nghĩa gì hơn một cái búng tay của ngài.” Anh cười tủm tỉm. “Ngày xưa ta khác hẳn, cô biết không,” anh nói. “Nhưng cha ta đã cứu ta. Ông đã đảm bảo để ta đi hết bước dạy dỗ cuối cùng để trở thành một quý ông như trái tim ông mong mỏi. Có khi số cô lại may đấy, cô Ingleby, chẳng bao giờ biết đến cha hay mẹ mình.” “Hẳn là họ rất yêu ngài.”

“Yêu.” Anh cười vang. “Ta nghĩ cô có một quan niệm lý tưởng hóa về yêu thương bởi cô chưa từng được nếm trải nó, hoặc nếm trải những thứ phải vượt qua để có được nó. Nếu tình yêu là sự tận tâm không vụ lợi với người mình yêu, Jane, thì quả thực chả có tình yêu nào như thế. Chỉ có tính ích kỷ, sự hiến dâng vì lợi ích của chính mình, mà người họ yêu thương được sử dụng để tôn cao hai tính cách đó. Lệ thuộc không phải là yêu. Thống trị không phải là yêu. Ham muốn chắc chắn không phải, nhưng đôi khi nó có thể là vật thay thế khá ổn.” “Ngài thật nghiệt ngã.” Anh tìm tay cầm chiếc kính một mắt và đưa lên mắt. Cô ta đang ngồi nhìn lại anh, xem ra khá điềm tĩnh. Hầu hết phụ nữ anh biết đều điệu làm bộ hoặc tỏ ra lúng túng dưới sự săm soi ấy. Dù sao mục đích lần này của nó chỉ là làm cảnh. Thị lực của anh không kém đến mức thiếu nó anh không thể nhìn rõ cô ta. Anh thả chiếc kính xuống ngực.

“Cha mẹ ta là một cặp đôi vô cùng hạnh phúc. Ta chưa bao giờ nghe thấy họ bất đồng quan điểm hay cau có với nhau. Họ sinh được ba đứa con, một dấu hiệu chắc chắn của sự tận tâm người này dành cho người kia.” “Chà, thế thì,” Jane nói, “ngài vừa bác bỏ luận điệu của chính mình. “Có lẽ đó là vì họ chỉ gặp nhau ba hoặc bốn lần mỗi năm, mỗi lần vài phút. Khi cha ta về nhà ở Acton Park, thì mẹ ta sẽ tới London. Khi nào bà về nhà, thì ông lại đi. Một sự sắp xếp lịch sự và hòa ái, cô thấy không?” Một sự sắp xếp mà anh thấy bình thường vào thời điểm đó. Lạ một điều là những đứa con không thấy gì khác thường và có thể thích ứng rất nhanh với mọi hoàn cảnh.

Jane không nói gì. Cô ta ngồi im phăng phắc. “Họ cũng kín đáo một cách đáng khâm phục, như bất cứ cặp đôi hoàn hảo nào phải thế nếu muốn duy trì hôn nhân êm ấm. Không một tin đồn nào về danh sách người tình của mẹ ta lan được tới Acton. Ta không biết gì về họ cho tới khi đến London năm mười sáuuổi. May thay vẻ ngoài ta lại giống cha như đúc. Angeline và Ferdinand cũng thế. Nó giảm thiểu được mối nghi ngờ rằng có thể có đứa nào là con hoang, đúng không?” Jocelyn không nói những lời đó nhằm gây tổn thương. Anh nhớ ra quá muộn rằng Jane Ingleby không biết cha mẹ mình. Anh tự hỏi ai đã đặt họ cho cô. Sao không phải là Smith hay Jones? Có lẽ một trại mồ côi đàng hoàng thường phân biệt những đứa trẻ của trại với người bình thường bằng cách đặt cho chúng những cái họ độc đáo hơn.

“Vâng,” cô đáp. “Tôi rất tiếc. Không đứa trẻ nào nên mang nặng cảm giác bị phản bội, ngay cả chúng đã khi đủ lớn để đối phó với nhận thức ấy. Nó hẳn là một đòn nặng nề với ngài. Nhưng tôi dám chắc bà yêu ngài.” “Nếu lấy số lượng và sự lộng lẫy của những món quà bà mang từ London về làm thước đo,” anh nói, “thì bà yêu bọn ta lắm lắm. Cha ta thì không dùng thời gian ông ở London để vui thú. Có một ngôi nhà tranh tuyệt đẹp ở một góc hẻo lánh của Acton Park, Jane. Một dòng sông chảy qua cuối khu vườn sau nhà, những ngọn đồi xanh rì cây cối bao quanh. Đó là một khung cảnh vô cùng điền viên, là mái nhà ta sống trong những năm tuổi thơ với một người bà con nghèo khổ, một phụ nữ rất xinh đẹp và quyến rũ. Đến năm mười sáu tuổi mới hiểu chị tạ là ai.” Anh luôn nung nấu ý định hạ lệnh kéo sập ngôi nhà tranh đó mà vẫn chưa làm được. Nhưng hiện ở đó không có ai ở, và anh đã căn dặn ông quản gia không được bỏ xu nào để sửa sang lại. Theo thời gian nó sẽ tự sập vì bị bỏ hoang.

“Tôi rất tiếc,” cô ta nhắc lại cứ như cô ta chịu trách nhiệm cho sự thiếu tế nhị của cha anh khi chứa chấp tình nhân – hoặc một trong số họ - trong chính ngôi nhà mà ông sống cùng các con. Nhưng Jane mới chỉ hiểu một phần câu chuyện, và anh không định khai sáng cho cô ta. “Ta có nhiều cái phải phấn đấu, cô thấy đấy, nhưng ta tin về phần mình ta đang duy trì danh tiếng của dòng họ.” “Ngài không bị trói buộc bởi quá khứ,” cô ta bảo anh. “Không hề. Bị ảnh hưởng, thì có, có lẽ gần như bị thôi thúc phải phấn đấu. Nhưng không bị ép buộc. Ai cũng có tự do ý chí, à ngài. Ngài có tước vị, của cải, uy thế để sống một cuộc đời như cách ngài muốn.”

“Nhà đạo đức học nhỏ bé của ta ơi,” anh dịu dàng, mắt nheo lại nhìn cô ta, “đây đích thị là điều ta đang làm. Tất nhiên là không kể lúc này. Tình trạng bất động thế này là lời nguyền rủa đối với ta. Nhưng có lẽ nó là một hình phạt đích đáng, cô có đồng ý không, cho việc tận hưởng lạc thú trên giường với một phụ nữ đã có chồng?” Cô ta đỏ mặt và cụp mắt xuống. “Nó tới eo cô chưa?” anh hỏi. “Hay là quá eo?”

“Tóc tôi sao?” Cô ta giật mình ngước nhìn anh. “Nếu chỉ là tóc thôi, thì nó dài quá eo.” “Chỉ là tóc thôi,” anh lẩm bẩm. “Chỉ là một suối vàng. Một tấm lưới ma thuật mà bắt cứ tên đàn ông nào cũng sung sướng được mắc luôn vào đó, Jane.” “Tôi không cho phép ngài nói năng suồng sã như thế, thưa ngài,” cô ta nghiêm mặt.

Jocelyn cười nhẹ. “Sao ta lại dung thứ cho sự xấc láo của cô nhỉ?” anh hỏi. “Cô là người hầu của ta cơ mà?” “Nhưng không phải nô lệ của ngài,” cô ta nói. “Tôi có thể dứng lên và đi qua cánh cửa kia bất cứ lúc nào tôi muốn và sẽ không quay lại. Số tiên ngài trả tôi cho ba tuần phục vụ không cho ngài quyền sở hữu tôi. Hoặc là cớ biện hộ cho cách nói năng xấc xược với ý đồ dâm đãng về tóc tôi. Và ngài không thế chối bỏ rằng có ngụ ý trong những lời ngài nói về nó và cách ngài nhìn nó.” “Chắc chắn ta không chối rồi,” anh đồng tình. “Ta luôn cố gắng nói sự thật, cô Ingleby ạ. Đi lấy bàn cờ trong thư viện qua đây. Chúng ta sẽ xem liệu cô có chơi được một ván ra trò tối nay không. Và nhân tiện bảo Hawkins lấy rượu brandy luôn. Ta đang khát như một sa mạc khô cằn, và dễ cáu như một cây xương rồng lắm gai.”

“Vâng, thưa ngài” Cô ta đứng dậy với bộ dạng khá sẵn sàng. Và ta khuyên cô,” anh nói, “chớ có bảo ta là xấc láo cô Ingleby. Ta không thể bị đồn ép mà không trả miếng đâu.” “Nhưng ngài không thể ra khỏi chiếc sofa,” cô ta trả lời, “còn tôi có thể đi qua cánh cửa kia bất cứ lúc nào. Tôi nghĩ điều đó cho tôi một lợi thế nhất định.”

Phải có lần nào đó, anh nghĩ khi cô ta khuất dạng sau cửa - hoặc chí ít một lần trong thời gian hai tuần làm việc còn lại - anh sẽ là người nói câu kết thúc với cô nàng Jane Ingleby. Anh chưa bao giờ không nói câu kết thúc với ai đó, đàn ông cũng như phụ nữ, trong suốt mười năm qua. Nhưng anh thấy nhẹ nhõm vì cuộc trò chuyện của họ đã trở lại mức bình thường trước lúc cô ta đi. Anh không hiểu làm thế nào cô ta lại xoay ngược tình thế về phía anh và nắm quyền chủ động. Anh định moi vài điều bí mật ở cô ta, vậy mà kết cục lại thành k cho cô ta nghe đủ chuyện về tuổi thơ và thời niên thiếu của mình, những chuyện mà anh chẳng quan tâm, thậm chí nghĩ tới nó, nữa là thổ lộ với người khác. Jocelyn đã suýt nữa phơi bày trái tim mình.

Anh muốn tin rằng anh chưa làm thế..