Hôm nay bạn muốn đọc gì?

Vụ Giết Người Bí Ẩn - Chương 6

.

Tôi gọi điện cho cảnh sát trưởng Mason trong một cabin điện thoại bên đường cái.

Bill Anderson nhanh chóng nhấc máy.



- Bill hả? Mình báo cho cậu biết là ngôi nhà của Fred đã bị đập phá tan hoang,

- tôi nói.

– Mình nghĩ rằng cần phải báo cho các cậu biết.



- Đập phá tan hoang kia à?



- Đúng thế.

Im lặng một lúc lâu rồi Bill hỏi tôi:

- Hãy tha lỗi cho tôi, Dirk ạ.

Anh đang làm gì ở đó thế?



- Mình buồn quá, chợt thấy quan tâm tới lũ ếch.



- Tôi sẽ tới đó ngay.



- Chính vì thế mà mình gọi cho các cậu.

Nhớ đưa cả Mason, bác sĩ Steed, xe cấp cứu và hai người thật khỏe mang ủng lội bùn đấy.





- Anh nói sao?

- Mình quên chưa nói với cậu chi tiết này.

Harry Weatherspoon đang uống no bùn trong đầm nuôi ếch.

Chắc là hắn nghẻo rồi và lũ ếch chẳng tỏ ra đau buồn gì.

(Tôi gác máy).

Tôi quay lại ngôi nhà của Fred, ngồi xuống chiếc ghế dưới bóng râm và chờ đợi.



Một giờ sau mới thấy xe của cảnh sát trưởng rẽ vào con đường hẹp.

Bill Anderson ngồi sau tay lái, Mason và bác sĩ Steed ngồi ở ghế sau.

Trong chiếc xe cứu thương chạy phía sau có hai người da đen cao lớn và hai người da trắng mắc quần áo bảo hộ.

Tôi tiến tới đón mọi người xuống xe.

Cảnh sát trưởng Mason vẫn còn đang ngà ngà, chân đứng không vững.

Bác sĩ Steed có vẻ hơi lo lắng.

Bill Anderson mặt vẫn chưa hết ngạc nhiên.



- Trước hết ta hãy xem qua trong nhà đã,

- tôi nói.

– Ông Weatherspoon cũng chẳng có gì phải vội.



Sau khi nhìn tôi với ánh mắt ngờ vực, Mason và Steed cùng bước vào nhà.



- Cậu cũng nên vào xem, Bill ạ.

Anderson liền nhập bọn với hai người kia.



Người da đen nhìn tôi và nói.



- Một nạn nhân mới à?

- Đúng thế.

Anh ta ướt sũng rồi.

Nếu anh có vải mưa thì hãy lấy ra đi.



Ba người trong nhà đi ra.



- Chà… chà…,

- bác sĩ Steed lẩm bẩm.

– Cái bọn trẻ bây giờ đúng là lũ phá hoại.

Chúng không còn coi ai ra gì nữa.



- Ông nghĩ sao, Mason? – tôi hỏi.



Mason chớp mắt và gật đầu.



- Đ.

.

úng thế, bọn phá hoại.



- Các ông có cảm thấy bọn nó tới đây là để tìm kiếm cái gì đó không?



- Bọn phá hoại thôi! – Mason nhắc lại.



- Thế còn ông Weatherspoon thì sao? –bác sĩ Steed hỏi.

– anh nói ông ta chết rồi phải không?

- Đó mới chỉ là cảm tưởng của tôi thôi, biết đâu các ông có thể nghĩ rằng ông ta giả vờ cũng nên.

(Tôi quay sang người đi ủng).

Các anh cần phải tìm một cái sào có móc.



Người này nhìn tôi toét miệng cười.



- Tôi có một cái rồi,

- anh ta lấy từ xe cứu thương ra một chiếc sào dài.

Một người đi ủng nữa cũng lấy xuống một mảnh vải mưa lớn.

Xem ra Anderson cũng khá tháo vát.



Rồi tôi dẫn đầu đoàn người đến đầm.

Mason có vẻ khó nhọc lê bước theo con đường hẹp.

Những con ếch lại nhảy lên ngồi trên xác Weatherspoon như trên một cái bè.

Thấy chúng tôi tới, chúng lại nhảy hết xuống đầm.

Cuối cùng, bác sĩ Steed lên tiếng:

- Tội nghiệp ông tạ Thật là kinh khủng! Thôi nào, các anh.

Hãy vớt ông ta lên đi.



Hai người cứu thương trải tấm vài mưa xuống đất, còn hai người đi ủng lội xuống kéo xác Weatherspoon vào.

Họ đặt ông ta lên tấm vải mưa rồi lùi lại.

Tôi vẫn đứng nguyên tại chỗ nhìn cái xác.

Miệng và lỗ mũi ông ta chứa đầy bùn nhão xanh lét.

Tay phải ông ta nắm chặt một vật dài và đầy lông lá cuốn xung quanh cổ tay ông ta.



- Lạy Chúa, Larry! – Mason kêu lên khi nhìn Weatherspoon.

– Chuyện gì đã xảy ra thế này?



- Cho tôi mấy phút nào, Tim.

– ông bác sĩ Steed bình tĩnh nói.

Ông quỳ xuống, xem xét đầu Weatherspoon, rồi nhìn xung quanh và gật đầu.



- Chết do tai nạn, Tim ạ.

– ông nói.

– Chuyện này hiển nhiên như mũi ở giữa mặt người.



Tôi bèn tới gần viên bác sĩ.



- Ông ta cầm gì ở tay thế kiả – tôi hỏi.

Tôi quỳ xuống, cầm lấy vật đó và nhẹ nhàng gỡ ra trong khi Steed đứng quan sát tôi.





- Một bộ tóc giả! – tôi kêu lên và giơ cao mớ tóc vàng ướt sũng.

Đúng là một bộ tóc giả rất bình thường mà người nào cũng có thể mua ở bất cứ cửa hiệu nào.



- Không có gì quan trọng cả,

- bác sĩ Steed nói.

– Thật tội nghiệp.



Mason bước lên lắp bắp:

- Có phải chết do tai nạn không, Larry?

- Không còn nghi ngờ gì nữa! Thì cứ nhìn đây này,

- Ông nói và chỉ những cái rễ cây mọc đâm xuống tận đầm.

– Có một vết bầm máu bình thường ở gáy ông tạ Rõ ràng là ông ta bị trượt chân ngã, đập đầu vào rễ cây, lăn xuống nước và chết đuối.

Nghĩa là chết vì tai nạn.



Cảnh sát trưởng thở phài nhẹ nhõm.



- Thế thì khỏi cần báo cảnh sát bang, hả?

- Trong trường hợp chết do tai nạn thì khỏi cần,

- bác sĩ Steed khẳng định.

– Thôi nào, các chàng trai, hãy đưa ông ta về nhà xác.

Tôi sẽ tới đó ngay.





- Ấy, đi đâu mà vội,

- tôi nói.

– Cần phải kiểm tra các túi ông ta đã.



- Tôi sẽ làm điều đó ở nhà xác.



- Tốt nhất là nên làm khi có mặt mọi người làm chứng.

(Tôi quay sang Anderson).

Cậu hãy lục soát các túi xem.



Anderson lưỡng lự.

Nhưng thấy cảnh sát trưởng không nói gì, anh ta quỳ xuống cạnh cái xác và nhanh chóng lộn hết các túi trên người Weatherspoon.

Tất cả chỉ có một bao thuốc đã ướt sũng, một cái bật lửa bằng vàng và một cái ví có hai trăm đô tiền lẻ.

Anderson lập danh sách các vật mà anh ta đã tìm thấy trong túi Weatherspoon rồi đưa cho bác sĩ Steed.



- Vết thương là do đập vào rễ cây này, phải không bác sĩ? – tôi hỏi.



Steed gật đầu

- Điều đó không còn nghi ngờ gì nữa.



- Thế nhỡ có ai tới từ phía sau và đập vào gáy ông ta thì sao?

Sau một lát im lặng, viên cảnh sát trưởng nói:

- Anh đã nghe bác sĩ Steed nói rồi đấy.

Cho phép tôi báo cho anh biết bác sĩ đây hành nghề từ khi anh còn chưa đẻ kia.

Tôi không cần bận tâm tới nhận xét của anh.

Mà anh đã làm gì ở đây?

- Tôi đi tìm Johnny Jackson,

- tôi đáp.

– Thế ông tự hỏi Harry Weatherspoon tới đây làm gì chưa?



- Ông ta muốn mua trang trại này.

Ông ta tới đây để xem thực trạng ra sao.

Chuyện đó cũng tự nhiên thôi, phải không?

- Đúng thế.

Nhưng ông ta tới đây xem và mang cả rìu theo.

Viên cảnh sát trưởng nổi cáu.





- Anh đi đi, anh không có quyền ở đây.

Anh chỉ gây chuyện những chuyện rắc rối.



- Ông có tự hỏi Weatherspoon tới đây bằng cách nào không? Không có xe của ông ta ở đây.

Hay là ông ta đi bộ tới.

? Nói xong, tôi đi về phía ngôi nhà để mặc cho Masoon và Steed lúng túng nhìn theo.



Tôi tính toán rằng phải mất một thời gian người ta mới gói xong và chở cái xác đi.

Ra khỏi tầm nhìn của họ, tôi vùng bỏ chạy.

Tới ngôi nhà tôi lẻn vào.

Trước hết phải tìm cho ra chiếc rìu: sự đập phá chỉ có thể làm bằng dụng cụ này.

Sau hai ba phút, tôi tìm thấy nó được giấu trong đám vật liệu nhồi ghế phôtơi.

Đó là một chiếc rìu cán ngắn, lưỡi khá sắc.

Tôi cuộn tay trong chiếc mùi soa rồi cầm lưỡi nhấc lên và kiểm tra phần sống rìu.

Không có kết quả gì.

Tôi chợt thấy trên cán rìu có một cái nhãn nhỏ ghi: “Tài sản của nhà Morgan và Weatherspoon”.

Tôi đặt chiếc rìu vào nơi Anderson có thể nhìn thấy, rồi đi ra khỏi nhà và vòng ra phía sau.

Quay về chỗ bóng cây.

Tôi thấy một chiếc xe máy Hondạ Tôi nghĩ đây là chiếc xe mà Weatherspoon đã đến đây.

Tôi cũng cho rằng ông ta tới đây có mang theo cả rìu và dùng nó đập phá một cách hệ thống trong nhà.

Ông ta tìm kiếm gì? Rõ ràng ông ta chỉ tìm thấy một bộ tóc giả màu vàng.

Tôi nhớ Abe Levi nói ông ta thấy ở nhà Fred có một cô bé tóc vàng.

Và người ta cũng nói Johnny là một đứa ái nam ái nữ.

Johnny có thể mua mua tóc giả ở Searle và đội nó vào những ngày ông già Fred không ở nhà và bất chợt bị Levi nhìn thấy.



Điều này giải thích được sự có mặt của cô gái bí ẩn.

Wally hoàn toàn có lý khi nói rằng nếu Levi thấy đứa con gái ở nhà Fred thì chỉ có thể là Johnny.

Khi đi ra con đường hẹp dẫn tới chỗ đỗ xe, bất chợt tôi nảy ra một ý.

Đó là: có thể Weatherspoon sau khi phát hiện ra một thứ khác ngoài bộ tóc giả đã bị tên theo dõi giết chết.

Liệu có phải hắn cũng là tên giết Jackson không? Tôi quyết định tiếp tục đào bới cho tới khi Parnell trở về.

Tôi sẽ báo cáo với ông tất cả những điều tôi biết và để ông ấy quyết định.



*** Tới Searle, tôi đậu xe trước khách sạn và đi vào.

Mọi người có mặt ở đó đều chằm chằm nhìn tôi và xì xào bàn tán.

Hàng chục người đang ngồi ăn cũng nhìn tôi với ánh mắt đầy hy vọng.

Tôi gọi một chiếc bánh sandwich nhồi thịt gà và dăm bông cho vào một cái túi



- Chuyện xảy ra với ông Weatherspoon thật khủng khiếp! – một người hầu bàn nói.

Tất cả mọi người đều dừng ăn và dỏng tai nghe.



- Có ai sống mãi được đâu,

- tôi đáp và không ngạc nhiên là tin tức đã loan về đến Searle, rồi tôi trả tiền.





- Xin lỗi, ông Wallace,

- một người nhỏ thó đang nhồm nhoàm nhai nói.

– Tôi nghe là ông đã phát hiện ra xác của ông Weatherspoon, phải vậy không?

- Nếu đó không phải là ông ta thì là ai đó mặc quần áo của ông ta,

- tôi nói rồi bước ra.

Tôi phóng xe tới nhà máy Morgan và Weatherspoon, đậu xe trước cổng, rồi đi tới kho chế biến.

Tôi thấyh Levi ngồi ăn trong cái vỏ hộp như lần trước.

Ông già Levi vẫy tay gọi tôi.

Tôi đi tới và ngồi xuống cạnh ông.





- Bác vẫn thích món đậu hay cùng ăn bữa trưa với cháu? – tôi hỏi và mở cái túi giấy ra.



- Bánh mì à? Không bao giờ.

Tôi thích món đậu này hơn.

Đã hơn hai mươi năm nay tôi chỉ ăn món này.

Tôi đành rút bánh ra nhai.





- Ông chủ đã bị ngã xuống đầm nuôi ếch và chết đuối, phải không? – Levi hỏi và dùng thìa vét thức ăn trong hộp.



- Đúng thế.

Nhưng rồi nhà máy sẽ ra sao?

- Tôi cóc cần biết.

Tôi sẽ xin về hưu.

Tôi cũng ngán đi thu gom ếch lắm rồi.

Tôi có một bà vợ hiền thục, một ngôi nhà đàng hoàng và một ít tiền để dành.

Thế thì can cớ gì tôi phải lo cho số phận nhà máy.





- Weatherspoon có vợ con gì không? Một ánh nhìn tinh quái lại lóe lên trong mắt ông già.



- Anh lại cần thông tin phải không?

Tôi đáp đúng thế.



- Thế thì chi hai mươi đô đây, sự tò mò của anh sẽ được thỏa mãn.

Thời gian rất gấp rút.

Tôi mở ví lấy ra tờ năm đô và đưa cho ông.





- Để xem bác có thỏa mãn được sự tò mò của cháu hay không

- Anh hỏi tôi ông chủ có vợ con gì không, đúng thế không?

- Này bác Levi, đừng có chơi trò méo vờn chuột nữa.

Bác sẽ có hai mươi đô nếu bác cung cấp đúng thông tin mà cháu cần.

Weatherspoon có vợ con gì không?



- Không.

Nhưng ông ta ngủ khắp lượt.

Với cả con Peggy ông ta cũng không thạ Con bé cứ nghĩ ông ta cưới nó đến nơi, nhưng ông ta đâu có phải loại người làm chồng, thế mà con bé cứ hoắng cả lên.



- Bác có biết ai sẽ là người thừa kế nhà máy này không?

- Tôi nghĩ là chẳng có ai.

Weatherspoon là người độc thân.

Nhà máy này có giá lắm đấy.

Khi mua lại của Morgan, ông chủ mới bắt đầu cho đóng hộp ếch.

Nhờ thế, ông ấy cung cấp đùi ếch cho hầu hết các khách sạn sang trọng và hốt bạc.





- Ếch đóng hộp? Thế mà cháu không biết người ta đóng hộp cả ếch kia đấy,

- tôi nói vẻ chế nhạo.

– Người ta chỉ ướp lạnh đùi ếch, chứ ai lại đóng hộp bao giờ.



- Anh còn lạ gì, Wallacẹ Phụ nữ bây giờ lười nhác lắm.

Họ cho chồng con ăn toàn đồ hộp thôi.

Riêng tôi vẫn thích đậu Hà Lan đóng hộp.



- Thế ra ông ta đã xây dựng cả một nhà máy đóng hộp ếch.





- Thì chứ sao.

Đây không phải là chỗ của tôi.

Tôi chỉ chuyên đi thu gom ếch thôi.

Còn xưởng đóng hộp dưới kia kìa.

Phụ trách nó là một cô gái thông minh lắm.

Cô ta lo chuyện này từ khi ông chủ mua nhà máy.

(Ông ta nhìn tôi hỏi).

Anh có muốn biết thêm nữa không?

- Nếu bác muốn có mười lăm đô còn lại thì phải nói thêm nữa.

Ông già vét hết số đậu còn lại trong hộp, rồi nói.





- Ông chủ là tay bẩn thỉu lắm.

Ông ta lúc nào cũng chạy theo đồng tiền.

Ông ta lập cả một băng găngxtơ nữa kia.

(Ông già lại nhìn tôi).

Mà không hiểu tại sao thứ năm nào ông ta cũng cưỡi Honda đi và trở về với cái túi da buộc phía sau? Tôi thường gặp ông ta đi và khi tôi đang dỡ hàng thì ông ta về.

Thi thoảng còn có một tay Mêhicô cũng lai vãng đến đây.

Họ thì thầm bí mật trong văn phòng ông chủ.

Cứ như buôn bạc giả ấy.



- Gã Mêhicô ấy trông thế nào?

- Một thằng bẩn thỉu với hàng ria mảnh.

Tháng nào hắn cũng tới.

Rồi có một gã nữa đi chiếc xe Jaguar.

Tôi chỉ gặp hắn một lần.

Hôm đó tôi sửa xe tới tối muộn.

Tôi thoáng thấy hắn và không hiểu hắn là ai.

Tôi nghe thấy hắn to tiếng với ông chủ.



Tôi đưa thêm cho ông mười đô nữa.



- Hắn nói những gì?

- Tôi không nhớ chính xác.

Chỉ nhớ là chuyện tiền bạc gì đấy.

Hắn hét: “trả đi”.

Sau đó không thấy ầm ĩ nữa.

Tôi không quan tâm đến chuyện của họ, tôi đang sửa xe mà.





- Thế cô gái phụ trách xưởng đóng hộp tên gì?

- Cloe Smith.

Anh có định nói chuyện với cô ấy không, Wallace?

- Tại sao lại không?



- Đừng có đút tiền cho cô ấy đấy.

Đối với một người da đen thì cô ấy thuộc loại khá giả rồi.



- Xin nghe lời bác.

Tôi đưa nốt năm đô dự trữ cho ông già.





- Nếu cháu nghĩ thêm được ý gì, cháu sẽ tìm bác.

Tôi chia tay ông già Levi rồi đi vào nhà kho cuối sân.

Tôi mở cửa bước vào một căn phòng dài và hẹp.

Cạnh cửa sổ là một dãy vỏ hộp chưa đóng.

Trong góc có một thiết bị hàn và cả đống nắp vỏ hộp.

Một cô gái da đen cao lớn từ phòng bên cạnh bước ra và chòng chọc nhìn tôi.

Cô ta rất đẹp.

Người cân đối, nước da đen như mun và khuôn ngực căng tròn.

Trông cô chỉ trạc độ trên dưới ba mươi.





- Cô Smith? – tôi hỏi và mỉm cười thân thiện.

Từ chỗ râm, cô bước ra chỗ có ánh nắng xuyên qua các cửa sổ.



- Đã đến giờ đóng cửa rồi,

- cô nói bằng một giọng nghiêm nghị nhưng du dương.





- Tôi chỉ muốn hỏi cô hai ba câu hỏi thôi.

Tôi là Dirk Wallace.

Cô gái gật đầu.



- Có báo cho cô tin buồn này chắc cũng vô ích thôi, cô Smith ạ.

Vì ở Searle này tin tức lan truyền nhanh kinh khủng.



Lại gật đầu.



- Cô có biết Johnny Jackson không?

- Không.





- Chắc là cô biết tôi đang tìm anh ta chứ?

- Tôi có nghe nói.



- Cô Smith ạ, biết đâu cô có thể giúp được tôi cũng nên.

Vì ông Weatherspoon muốn mua trang trại của Jackson mà.

Người ta nói với tôi là ông chủ của cô bán ếch cho các khách sạn, nhưng tôi lại không biết ông ấy cho đóng hộp.



Cô gái nhìn tôi dò xét và suy nghĩ.



- Thế thì có quan hệ gì đến Johnny Jackson? Tôi cố nở một nụ cười cầu thân.





- Tôi cũng không biết.

Nghề của tôi là tìm kiếm thông tin mà.

Đôi khi thông tin này lại xác nhận một thông tin khác.

Ông Weatherspoon có bán nhiều ếch đóng hộp không?

- Không.

Chúng tôi chỉ bán khoảng năm trăm hộp mỗi tháng.

Nhưng ông Weatherspoon nói đó mới chỉ là bắt đầu thôi.

Tôi nghĩ chắc sẽ còn tăng nữa.



- Cô có thể cho tôi biết cách chế biến không?

Cô gái nhún vai.



- Ếch được đưa đến chỗ chúng tôi từ phân xưởng ở đầu kia.

Chúng được tẩm bột rồi đem rán và sau đó đóng hộp.

Khách hàng chỉ việc mở hộp đặt trên đĩa rồi hâm nóng trên bếp chỉ mười lăm phút là ăn ngon lành.



- Chỉ có thế thôi sao?



- Chưa hết.

Ông Weatherspoon còn phát minh ra thứ nước chấm đặc biệt bán kèm theo đùi ếch.

Thành phần chính là một loại bột được đựng trong một túi nylon đặt trong hộp.

Chỉ có ông ta mới biết bí mật làm ra thứ bột này.

Việc pha chế cũng rất nhanh: cho chất bột vào nồi, và thêm vào đó một chút nước, một chút sữa và rượu trắng rồi đun nhỏ lửa khoảng ba phút là xong.



- Rất hấp dẫn,

- tôi nói.

– Tôi vốn hay tìm những món dễ nấu mà.

Tôi có thể mua một hộp để nấu thử được không? Cô gái lắc đầu.





- Không được.

Về điểm này ông Weatherspoon rất thận trọng.

Ông luôn luôn tự tay đặt các gói bột nước chấm vào từng hộp và đứng bên cạnh trông tôi hàn.

Ông ta có một danh sách những khách hàng đặt trước chỉ một hộp mỗi tháng.

Những hộp này đều được bao gói rất cẩn thận.



- Tôi có thể mua một hộp như thế này ở cửa hàng thực phẩm không?

- Chúng chỉ được bán cho những khách hàng đặt trước.

Ông Weatherspoon nói rằng chúng tôi không đủ khá năng cung cấp bán lẻ.

Nhưng ông hy vọng rằng việc làm ăn rồi sẽ phát triển rất nhanh.



Tôi đã bắt đầu thấy sự vật đã hơi sáng tỏ.



- Cám ơn cô Smith rất nhiều.

Nhưng bây giờ ở đây sẽ ra sao? Cô gái nhún vai.





- Tôi cũng không biết nữa.

Chắc là tôi sẽ phải tìm một công việc khác.



- Đối với một cô gái xinh đẹp và thông minh như cô thì có khó gì.

Biết đâu ông Weatherspoon chả có một cộng sự sẽ mua lại nhà máy.



- Có một người Mêhicô thường xuyên tới đây.

Nhưng tôi không biết ông ta có cộng tác với ông chủ tôi không? Cũng có thể đó chỉ là một khách hàng.





- Tôi nghĩ là tôi biết anh ta: người nhỏ con, vai rộng và hàng ria mép mảnh.

Cô gái gật đầu và nhìn tôi vẻ tư lự.



- Ông có còn gì muốn hỏi không? Tôi cần phải về rồi.





- Rất tiếc đã làm mất thì giờ của cộ Xin hỏi một câu cuối.

Ông Weatherspoon sống ở đâu?

- Ông ấy có căn hộ Ở ngay bên trên văn phòng.



- Ông ấy có vợ không?



- Không.



- Cám ơn cô Smith.

– tôi nói và mỉm cười thân thiện, rồi chia tay cô.

Tôi trở về khách sạn Jumping Frog.

Bob Wyatt ngồi ở quầy tiếp tân.

Trông ông có vẻ gần đất xa trời lắm rồi.





- Không biết bao nhiêu là tin buồn! – tôi nói và dừng trước mặt ông.

Ông gượng cười với vẻ mệt mỏi.



- Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên mà.





- Rồi ông sẽ tìm được người mua khác thôi.

Đã đến ngày tận cùng thế giới đâu mà lo.



- Tôi đâu có lo cho tôi, lo là lo cho con Peggy kia.



- Bệnh tình cô ấy sao rồi?



- Người ta nói rồi cũng qua thôi.

(Ông nhìn tôi buồn bã).

Nó buồn lắm, mà tôi thì không thể bỏ khách sạn đến thăm nó luôn được.



- Ông nghĩ rằng cô ấy sẽ vui khi có người đến thăm ư? Chiều nay tôi rỗi, tôi có thể mang hoa tới và nói chuyện với cô ấy một lúc, được chứ ạ? Gương mặt ông già tươi hẳn lên.





- Thật thế chứ? Nó có vẻ mến anh lắm, anh Wallace ạ.

Tôi chẳng biết nhờ cậy ai làm việc đó.

Các bà ở đây thì lại không ưa nó.



- Thôi cứ để tôi làm chọ Tôi sẽ tới đó ngay bây giờ.

Bệnh viện ở chỗ nào, ông Bob? Ông chỉ đường cho tôi.

Bệnh viện chỉ cách Searle khoảng một cây số.



Mang một bó hoa tươi và một cuốn sách ăn khách mới nhất của Judith Kantz, tôi bước vào sân bệnh viện và phát hiện ngay ra Peggy đang ngồi ở ban công, mắt nhìn đăm đăm vào cánh rừng thông.

Cô ta nhìn tôi miệng há ra vì ngạc nhiên, rồi mặt cô ta rạng rỡ hẳn.



- Dirk! Sao lại có chuyện lạ thế này!



- Sức khỏe cô thế nào rồi? – tôi hỏi rồi đặt quyển sách và hoa xuống cái bàn ở bên cạnh cô.



- Rồi cũng ổn thôi.

Qua cơn nguy kịch rồi, bác sĩ Vance sẽ cho em xuất viện ngày mai.



- Thật thế ư? Sao sớm thế.



Peggy cười.



- Thì em có phải nghiện rượu thật đâu, trông bên ngoài có vẻ thế thôi.

Em đau buồn là đau buồn vì tình kia.

Tôi ngồi xuống bên cạnh cô.





- Thật là một tin tốt lành.

Thế nỗi đau buồn vì tình của cô ra sao rồi?

- Hai giờ trước, cô y tá đã cho em biết rằng hắn ta đã chrết rồi.

Thậm chí em không nhỏ một giọt nước mắt nào.

Thế mà em cứ tưởng mất trí vì ông ta.



- Ở tuổi cô, tôi cũng đã từng mất trí vì một cô gái,

- tôi nói dối.

– Phải mất một thời gian mới nguôi ngoai được, nhưng rồi sẽ qua.





- Ba em có khỏe không?

- Chắc sẽ khỏe hơn nhiều nếu cô về nhà.

Hiện thời, không có cô, ông nhà phải trông nom khách sạn cũng vất vả.



- Em chắc cũng vậy.

Tội nghiệp ba em! Anh nói giúp với ba em là mai em xuất viện, được không?



- Tất nhiên rồi.



- Không hiểu khách sạn có bán được không?

- Không có Weathrspoon, thể nào chả tìm được người mua khác.



Cô gái gật đầu.



- Em rất muồn rời Searlẹ Ở đây chẳng ai yêu em cả.



- Hãy tới gặp ông Wallis Pollack.

Ông ta có thể tìm cho cô một người mua.





- Đúng.

Nhưng dù sao cũng phải đợi cho ba ra đi đã.



- Peggy này, tôi nghĩ là cô có thể giúp tôi.

Càng tìm kiếm Johnny, cuộc điều tra chúng tôi càng trở nên phức tạp.

Cô có thể cho tôi biết những chuyện đã xảy ra giữa cô và Weatherspoon được không?

- Giữa Harry và Johnny thì có quan hệ gì? – cô ta nhìn tôi tỏ vẻ ngạc nhiên.





- Tôi cũng không biết.

Tôi như người đi câu ấy mà.

Cứ thả mồi xuống nước với hy vọng rằng một con cá nào đó sẽ cắn câu.

Lần đầu tiên cô gặp ông ta là khi nào?

- Khoảng hai năm trước.

Ông ta tới đề nghị với ba em mua lại khách sạn.

Ông ta có nét gì đó khiến em mê ngaỵ (Cô ta giơ tay lên làm một động tác tuyệt vọng).

Trời ơi, anh Dirk, bọn con gái chúng em mới nhẹ dạ làm sao!

- Đàn ông bọn tôi cũng vậy thôi.





- Rồi em yêu Harry đến mất trí.

Ban đầu ông ta không mấy để ý đến em.

Nhưng rồi em thấy ông ta dần dần đã tỏ ra quan tâm.

Một buổi tối, ba em không được khỏe và đi nằm sớm, thì ông ta đến.

Ông ta yêu cầu em cho xem căn phòng tốt nhất.

Và điều gì xảy ra sau đó chắc anh đã đoán ra… (Cô gái thở dài).

Ông ta đã đem lại cho em những khoái cảm tuyệt vời.

Em cũng đã từng làm tình, nhưng Harry thì không ai sánh được.

Ông ta làm cho em sung sướng tới mức chỉ nghĩ đến lần tiếp sau.

Ở khách sạn mà làm chuyện đó thì quá nguy hiểm vì sợ ba em bắt được.

Ông ta đề nghị em tới nhà ông tạ Đến đó chỉ mất mấy phút đi bộ chứ mấy.

Đó là một căn hộ đẹp ngay bên trên văn phòng ông tạ Chúng em gặp nhau ba lần một tuần.

Em không bao giờ thấy mệt mỏi vì ông tạ Rồi em nhận thấy ông ta có vẻ lảng em.

Một lần, ông ta tới ăn trưa ở khách sạn, mỉm cười với em và nói rằng tối nay đừng tới vì ông ta bận.

Em ham muốn ông ta tới mức em phải uống một cốc rượu gin thật lớn cho quên đi, rồi đi nằm và khóc tới phát ốm.

Lạy Chúa, em mới ngốc nghếch làm sao!

- Chuyện ấy cũng là bình thường thôi mà.



- Có thể! (cô gái nhún vai).

Bây giờ thế là hết.

Và em thấy mừng! Sau đó mỗi tháng em chỉ được gặp ông ta một lần, nhưng rượu thì em tiếp tục uống.





- Nhưng tại sao cô lại thấy mừng, Peggy?

- Vì ở Harry có cái gì đó… khó giải thích lắm.

Em có cảm giác như ông ta có dây vào những vụ buôn bán mờ ám.

Đôi ba lần, vào ban đêm khi em và ông ta đang ngủ, thì điện thoại réo và ông ta đi xuống văn phòng.

Nhiều lần em để ý ông ta la hét ầm ĩ trong điện thoại, có vẻ giận sữ lắm.

Khi lên phòng, trông ông ta có vẻ dữ dằn và tàn ác thế nào ấy.

Rồi ông ta bảo em phải đi vì ông ta có việc.

Một hôm em phản đối không đi, ông ta vẻ mặt hầm hầm dữ tợn.

Em sợ quá.



- Cô hãy quên hắn đi.

– tôi nói.

– Hắn đã bước ra khỏi đời cô rồi.





- Chính vì thế mà em thấy mừng mà.



- Cô nói cô nghĩ rằng hắn có dây vào những vụ buôn bán mờ ám.

Tại sao, Peggy?

- Em đâu có là con ngốc.

Tại sao người ta lại gọi điện cho hắn vào hai giờ sáng? Tại sao ông ta lại đuổi em đi lấy cớ là có việc phải làm gấp? Và rồi lại còn chiếc xe tải tới vào lúc ba giờ sáng nữa chứ.





- Xe tải nào vậy, Peggỷ – tôi hỏi như để mà hỏi.

Cô gái lưỡng lự rồi nhún vai.



- Xét cho cùng, bây giờ hắn chết rồi, có nói ra cũng chẳng sao.

Chuyện này xảy ra hồi em còn mê mẩn hắn.

Có lẽ vì em uống hơi quá.

Hắn đến khách sạn vào buổi tối chúng em đã hẹn để hủy bỏ hẹn đó.

Dirk ạ, em đã chờ đợi buổi tối hôm đó với một sự sốt ruột kinh khủng! Em đã mơ cả về nó.

Em muốn hắn sẽ bế em lên, ôm ấp em, làm cho em sung sướng.

Đúng là em điên lên vì hắn.

Mà tại sao em lại đi kể cho anh những chuyện này nhỉ?



- Nói được ra cô sẽ thấy nhẹ nhõm hơn,

- tôi mỉm cười nói.



- Lạy Chúa, anh moi hết ruột gan em còn gì! Vẻ mặt cô đột ngột thay đổi và tôi sợ cô sẽ mất đi sự tự tin vốn đã rất mỏng manh.





- Điều này rất quan trọng với tôi.

Hãy kể về chiếc xe tải đi.



- Đây là lần đầu tiên có người tặng hoa cho em.

Tôi cố nén sự nôn nóng của mình.





- Và đây cũng không phải là lần cuối cùng! Em còn trẻ cơ mà.

Cô gái đặt bó hoa xuống rồi lật giở từng trang sách.



- Peggy,

- tôi nói bằng một giọng nghiêm hơn,

- hãy kể về chiếc xe tải đi.





- Cái đêm ông ta hủy bỏ cuộc hẹn với em, em say mềm.

Nằm trong giường em tự nhủ có thể là ông ta lừa em để đi với một cô gái khác.

Em phải tìm ra sự thật.

Em mặc quần áo rồi đi tới nhà máy.

Lúc đó đã quá nửa đêm.

Cổng vào rất may không khóa.

Nhưng căn hộ của Weatherspoon vẫn sáng đèn.

Có thể là anh không hiểu, nhưng lúc đó em bị kích thích mạnh, do có cả hơi men nữa, đến gần như phát điên.

(Rồi cô ta nhìn tôi đắn đo).



- Tôi hiểu.



- Em vẫn băn khoăn không biết anh có hiểu thật không.

Nói thì dễ.

Mà thôi… Thực ra, em vẫn tự hỏi không biết con người ta có hiều những người khác hay không?



- Thì họ vẫn cố hiểu đấy chứ.



- Em cầm chắc rằng có một cô gái khác đang ở phòng hắn tạ Em phải biết đó là ai.

Nhưng do say quá em không đủ dũng cảm đi vào để bắt quả tang.

Vả lại, hắn ta có thể giết chết em, nếu em gây ầm ĩ.

Em đành nấp bên ngoài.

Đúng là trò tra tấn, em phải đợi hơn 3 giờ đồng hồ.

Lúc đó em đã dã rượu.

Em cay đắng thấy mình phải ngồi xổm sau thùng tônô chở ếch tanh tưởi, lòng tan nát vì ghen tuông.

Cùng với cơn say tan dần, em cũng bắt đầu hiểu ra rằng em chỉ là con ngốc và Harry cũng chẳng là cái đinh gì.

Em đang định bỏ về, thì chiếc xe tải tới.

Sau khi bóp còi, một người đàn ông từ trên xe bước xuống, mở cổng.

Đợi chiếc xe tải vào trong sân anh ta khóa cổng lại.

Trời tối em chỉ nhìn thấy bóng người.

Rồi cửa văn phòng mở và Harry bước ra.

Ánh sáng từ văn phòng lọt ra và em nhìn thấy người đàn ông thứ hai trên xe bước xuống.

(cô gái run người lên).

Hai gã này khiến em thấy sợ.

Đó là hai gã da đen.

Điệu bộ của họ lạ lắm.

Họ đi theo Harry vào văn phòng.

Hai mươi phút sau, họ chuyển ra những chiếc hộp các tông nhỏ và xếp lên xe.

Họ làm nhanh lắm, nhưng có lẽ tới hàng trăm hộp.

Sau khi xếp xong, cả hai gã da đen quay vào văn phòng.

Từ chỗ nấp em nhìn rõ những gì diễn ra trong đó.

Harry giao tiền cho họ, rồi họ lên xe và lái đi.

Harry ra mở cổng, rồi khóa lại và trở về phòng.

Một lát sau, tất cả các đèn đều tắt.

Em thấy mình thất vớ vẩn, có đứa con gái nào đâu, trong khi mình lại bị nhốt trong nhà máy thế này.

Sau khi tìm khắp lượty, em phát hiện thấy có cửa sau.

Ổ khóa đã han gỉ mủn cả ra.

Em mở cửa và đi về nhà.



- Thật là một đêm đáng ghi nhớ!



- Chính vì thế mà em nói rằng hắn có dây dưa vào chuyện buôn bán mờ ám.

Anh có hiểu chuyện gì ở đây không, Dirk?

- Hãy nghe tôi, Peggỵ Hắn ta đã chết rồi.

, em hãy quên chuyện này đi.

Bây giờ hãu\y nói chút gì về em đi.



- Chưa bao giờ em kể cho ai như vừa kể với anh,

- cô nói.

– Xin lỗi, nếu em làm anh phiền lòng.



Tôi cười.



- Rồi đâu sẽ vào đấy thôi, Peggy ạ.

Em đã có những phút khó khăn, nhưng giờ thì đã qua rồi.

Hãy tới gặp ông Willis Pollack đi.

Ông ấy sẽ tìm cho em một người mua khác.

Nhưng trước mắt hãy trở về giúp cha em đã.



- Anh là người biết cảm thông nhất mà em đã từng gặp,

- cô nói vẻ cảm động.



Trở về khách sạn, tôi nói với cha Peggy rằng con gái ông đã bình phục và sáng mai sẽ xuất viện.

Nghe tin đó, ông trẻ ra đến năm tuổi.

Sau bữa tối ngon lành với món súp cá, tôi lên phòng ngồi xem một bộ phim Viễn Tây cũ đầy bạo lực.

Hai mươi giờ bốn nhăm bộ phim kết thúc, tôi lấy đèn pin cực mạnh, kiểm tra lại súng và đi xuống tiền sảnh.

Ông già Abraham đang ngủ say sau quầy tiếp tân.

Hai thương gia vẫn đang ngồi làm việc.

Không ai ngước mắt nhìn tôi khi tôi bước ra đường phố vắng tanh.

Ở Searle này, người ta đi ngủ khá sớm.



Đồn cảnh sát cũng chìm trong bóng tối.

Bước nhanh và được bóng đêm che chở, tôi đi tới nhà máy.

Tôi lần theo con đường hẹp men theo tường nhà máy và cuối cùng đã tìm được cái cửa sau mà Peggy đã kể với tôi.

Tôi dừng bước và dỏng tai lên nghe ngóng.

Tôi chỉ nghe thấy tiếng xe cộ chạy ầm ì phía ngoài xa lộ.

Không khí nóng và ẩm làm cho mùi tanh tưởi của ếch thêm nồng nặc.

Tôi đè cả người vào cánh cửa đẩy vào.

Cửa mở, tôi bước vào cái sân rộng.

Toàn bộ khu nhà, cả văn phòng lẫn căn hộ của Weatherspoon đều chìm trong bóng đêm.

Tôi đi ngang qua sân, tới tòa nhà đặt các văn phòng và định mở cửa.

Không ngờ cửa đã mở sẵn và tôi không khỏi thất vọng.

Dưới luồng sáng của đèn pin, tôi thấy ba ổ khóa.

Một ở trên cao, một ở giữa và một ở dưới thấp.

Tất cả đều mở toang.

Tôi đi vòng quanh nhà và phát hiện ra một cái cửa được khóa rất chắc.

Tôi vòng ra sân và phát hiện một cái thang để lẫn trong cỏ.

Tôi mang chiếc thang ra sau tòa nhà văn phòng, dựng vào tường và leo lên.

Từ đó tôi leo xuống lan can của hàng hiên, may mắn có một cái cửa sổ để mở.

Tôi rút then và dỏng tai nghe ngóng và mở toang hai cánh cửa ra.

Tôi trèo vào phòng, mở cửa bước ra một hành lang tối, đẩy một cánh cửa khác và bước vào một phòng bày biện sang trọng.



Có các bậu cầu thang.

Từ trên cao tôi chiếu xuống và thấy rằng cửa đã bị khóa.

Đối với cái khóa này thì không thể tính chuyện dùng sức mà mở được.

Thất vọng, tôi đành trở lai căn hộ của ỵ Tôi mở một cái tủ quần áo lớn, và lục soát tất cả các túi áo vét, nhưng không phát hiện thấy gì.

Tôi tìm trong ngăn kéo, nhưng không thấy gì thú vị cả.

Cuối cùng sau hơn nửa giờ tìm kiếm, tôi mở một ngăn kéo nhỏ ở tủ đầu giường tìm được một gói capốt Anh quốc và một chiếc chìa khóa.

Lòng tràn đầy hy vọng, tôi đi xuống và tra chìa vào ổ khóc.

Chiếc cửa mở ra ngon lành và tôi bước vào.

Tất cả các ngăn kéo đều khóa.

Chỉ có những kẻ mở khóa chuyên nghiệp mới hòng mở nổi.

Bỏ chiếc bàn ấy, tôi đi một vòng trong phòng và phát hiện thấy một chiếc cửa.

Tôi mở ra và đi vào một lối hẹp.

Trước cửa là một thanh thép chắc có dây xich.

Có hai ổ khóa.

Không có chìa thì phải phá cửa mới hòng vào được.



Tôi đứng bất động nhìn cái cửa.

Rồi tôi nghe có tiếng ô tô đi tới.

Tôi tắt ngay đèn pin và đi tới gần cửa sổ.

Tôi nghe loáng thoáng tiếng người.

Cổng nhà máy mở ra và một chiếc xe tải đi vào sân.

Theo sau là một chiếc xe con tới đỗ bên cạnh.

Tôi nhìn rõ hai chiếc xe.

Một gã nhỏ con, béo tròn, tôi nhận ra đó là Edundo Raiz.

Hai tên khác cũng từ xe tải bước xuống.

Đó là hai gã da đen đã phục nhà tôi dạo trước.



Tôi nhanh chóng mở cửa đi lên căn hộ, khóa cửa rồi lặng lẽ đi lên cầu thang.

Tôi chui ra qua cửa sổ sau, leo xuống cầu thang mà tôi đặt ngay lúc trèo.

Rút súng ra khỏi bao, tôi đi vòng quanh tòa nhà và dừng lại cạnh sân.

Văn phòng đã được bật sáng.

Tôi nghe thấy có giọng nói.

Ẩn mình trong bóng tối, tôi tiến ra sân và khi thấy đống thùng tônô chở ếch, tôi nấp vội vào đó.

Có lẽ Peggy cũng đã từng nấp ở đây, từ chỗ này, có thể nhìn rất rõ những gì diễn ra trong văn phòng.

Một lúc sau Raiz đến bên bàn với một chùm chìa khóa trong taỵ Ngồi vào bàn, y lần lượt mở các ngăn kéo.



Rồi gã mặc áo da dê bước ra tay bê khệ nệ những chiếc hộp các tông đến chiếc xe tải và xếp hàng vào đó.

Tôi quan sát Raiz.

Hắn xem xét cả đống giấy tờ vừa lấy ở một ngăn kéo và xem vội vã, thi thoảng lại để riêng một tập ra bên cạnh.

Raiz lại mở một ngăn kéo khác lấy ra một tập giấy tờ nữa, xem xét rồi đặt chúng nó cũng vào chỗ giấy tờ y để riêng.

Sau khi đã mở hết các ngăn kéo khác, xem qua, hắn đóng sầm lại.

Tôi nghĩ hắn đã tìm được những thứ cần tìm.

Đoạn, hắn đứng dậy và tôi nghe thấy hắn hét:

- Thế nào, chúng mày còn chưa xong à?

Tôi chợt nhận ra đây là cơ may duy nhất của tôi.

Tôi lập tức rời chỗ nấp nhảy tới sau chiếc xe tải, cuỗm gọn một hộp rồi lấy hết tốc lực chạy lại nấp sau những cái thùng chở ếch.

Tất cả chưa hết ba giây.

Đúng lúc tôi vừa ngồi thụp xuống thì hai gã da đen lại lặc lè bê tiếp các hộp các tông ra.

Raiz rút khăn mùi soa lau kỹ các ngăn kéo và mặt bàn.

Raiz cầm tập hồ sơ giấy tờ, tắt đèn, bước ra khóa cửa lại và rảo bước tới chỗ đỗ chiếc xe con.



- Dông thôi,

- hai gã nói với hai tên kia.



Chiếc xe tải ra khỏi sân thì dừng lại, gã mặc áo da dê nhảy xuống khép cổng và tôi nghe thấy tiếng khóa bập lại.

Tôi ngồi im sau đống thùng chở ếch tanh nồng nặc và hai tay ôm chặt chiếc hộp các tông.

Tôi đợi cho tiếng xe im hẳn, mới dám cử động.

Tôi đi ra theo lối cửa hậu và rảo bước về khách sạn.

Ông già Abraham tay đặt trên gối vẫn đang ngủ ngon lành.

Tôi lay nhẹ để đánh thức ông dậy.

Ông hé mắt nhìn tôi rồi chớp mắt ngồi thẳng dậy.





- Chắc là tôi vừa mới thiếp đi được một lúc.

Anh có cần gì không?

- Tôi muốn một cái mở hộp.



- Anh bảo sao?



- Tôi muốn một cái mở hộp.

Ông có không?

- Mở hộp à?

- Đúng thế, một cái mở hộp,

- tôi nói một cách bình thản.



Ông già ngoài tám mươi này chắc vừa qua một giấc mơ ngọt ngào về quá khứ, về con cháu nên chưa tỉnh hẳn.



- Tôi cần một cái mở hộp,

- tôi cố ý nói thật to.



- Để tôi đi kiếm cho anh.

Anh có đói tôi sẽ nấu cái gì đó cho mà ăn.





- Khỏi cần.

Chỉ cần mang cho tôi chiếc mở hộp.

Ông già nặng nhọc đứng dậy, rồi lê chân đi vào nhà ăn.

Tôi đứng đợi, năm phút sau Abraham quay lại.



- Bà đầu bếp chắc không đồng ý đâu,

- Ông nói và chìa cho tôi chiếc mở hộp đã han gỉ.

– Vào giờ ăn sáng ngày mai, anh trả cho tôi đấy nhé.





- Ông yên tâm.

Cám ơn ông Abraham.

Ông ngủ tới mấy giờ?

- Ông Wvatt muốn mở cửa suốt đêm.

Ông ấy bảo rằng làm sao biết khách đến lúc nào.

Nhỡ có ai đó muốn trú đêm thì khách sạn phải phục vụ chứ.



- Chúc ông ngủ ngon,

- tôi nói và vỗ nhẹ vào vai ông.



Tôi nhanh chóng lấy thang máy và lên phòng.

Tôi châm thuốc và khóa trái cửa lại rồi đặt chiếc hộp lên bàn.

Đó là một hộp các tông cứng rộng hai mươi, dài hai mươi và cao mười xentimét.

Bên trên có dán tấm nhãn: Sản phẩm của nhà Morgan & Weatherspoon Searle Florida

Gửi bà: Lucilla Banbury 1445 West Drive Los Angeles

Tôi dùng con dao con rạch lớp băng dính trên hộp các tông và mở nắp ra.

Hai hộp đồ hộp bằng kim loại sáng loáng được đặt cẩn thận trong hai ngăn.

Tôi lấy ra một hộp và đọc tấm nhãn.

Đùi ếch Đặc sản cao cấp.

Làm theo hướng dẫn quí vị sẽ có một món ăn nhanh và ngon cho hai người.



Bản hướng dẫn sử dụng chính là những điều mà cô Cloe Smith đã cho tôi biết.

Tôi dùng cái mở hộp mở nắp, và nhìn thấy bên trong những chiếc đùi ếch tẩm bột rán vàng ươm xếp rất đẹp mắt.

Trông đã thấy ngon rồi.

Tôi dùng lưỡi dao nhíp lách tìm xung quanh hộp và tìm được một túi nylon nhỏ chứa đầy một chất bột màu trắng.

Tôi lấy nó ra khỏi hộp và đưa vào phòng tắm rửa sạch.

Tôi đã ngờ về thứ bột trắng này, nhưng tôi muốn thật chắc ăn.

Tôi đặt túi bột vào ví rồi cầm lấy chiếc hộp trên bàn và mặc dù rất tiếc, đổ hết vào hố xí cùng với cái nhãn hộp rồi sổ nước.



Đoạn tôi mở cửa sổ, và khi tin chắc không có ai trên đường phố, tôi lấy sức quẳng chiếc hộp ra thật xạ Tôi đậy nắp hộp các tông, bên trong chỉ còn duy nhất một hộp đùi ếch, và đặt nó vào tủ quần áo.

Cho dù chưa tìm được Johnny, nhưng ngày làm việc của tôi quá ư là hiệu quả.

Tôi tắm rửa và lên giường đi ngủ.

.