Hôm nay bạn muốn đọc gì?

Vụ Giết Người Bí Ẩn - Chương 8

.

Sáng hôm sau, tới văn phòng tôi nhận được hai thư nhắn.

Bức thứ nhất: Ông Anderson nhắn anh gọi điện gấp.

Bức thứ hai: Ông Benbolt nhắn anh gọi điện.

Những điều mà Terry cho biết khiến tôi lo lắng.

Tôi đang đứng trước bài toán lạ lùng.

Johnny Jackson phải không tồn tại! Tất nhiên là tôi không thể chấp nhận theo Terry là anh ta không có mặt trên đời này được.

Tôi cứ tự hỏi là Bêbê hay Phyllis nói dối tôi.

Mà họ nói dối để làm gì mới được chứ? Cả hai đều kể rằng Johnny là một thằng đồng tính và nó cặp kè với một gã da đen.

Thế mà Flossie lại khăng khăng không biết hai thằng đó.

Mà bằng chứng thì đây.

Theo những điều tôi nghe được thì Johnny là thằng đồng tính mười mươi.

Tất cả những người ở Searle đều nói nó là đứa ẻo lả và không thích con gái.

Nếu điều đó không muốn nói rằng nó là pêđê thì là gì nữa? Tôi nhấc máy gọi cho Anderson.



- Có tin mới cho anh đây,

- cậu ta nói.





- Tin gì vậy?

- Tôi đã tìm được tung tích của khẩu Beretta được dùng để giết ông già Jackson.



- Cậu tìm bằng cách nào vậy?



- Như thường lệ tôi chỉ ngồi chơi xơi nước ở văn phòng mà.

Nhưng khẩu súng cứ ám ảnh tôi, tôi bèn gọi điện cho tất cả đồn cảnh sát ở vùng biển này.

Và rồi ở Jacksonville tôi đã gặp maỵ Họ nói rằng đã cấp giấy phép dùng khẩu súng đó sáu năm trước.



- Cho ai?

- Đây mới là điều đáng ngạc nhiên.

Cho Harry Weatherspoon.





- Hoan hô Bill!

- Họ còn nói rằng hai năm trước, Weatherspoon có báo rằng khẩu súng đó đã bị mất cắp và cần phải hủy giấy phép đó.



- Nó bị mất cắp trong hoàn cảnh nào?



- Theo Weatherspoon thì có kẻ nào đó lẻn vào nhà máy lấy cắp tiền cùng với khẩu súng.

Ông ta cũng nói với cảnh sát ở Jacksonville rằng cảnh sát trưởng Mason đang lo điều tra, nhưng vẫn xin hủy giấy phép.



- Thế ở đây có nhiều vụ bẻ khóa ăn trộm như vậy không, Bill?

- Không.

Tôi chỉ biết có vụ đó, ngoài ra không có vụ nào khác.





- Nhưng tại sao Weatherspoon lại xin giấy phép ở tận Jacksonville?

- Tôi cũng đặt câu hỏi đó thì họ nói rằng Weatherspoon có thuê một căn hộ Ở thành phố này một thời gian tìm kiếm gì đó ở đây.

Ông ta nói rằng cần khẩu súng để tự vệ.

Weatherspoon giải thích với họ rằng ông ta là nhân viên của cơ quan phòng chống ma túy nên có rất nhiều kẻ thù.

Và họ chấp nhận lời giải thích của ông ta.



- Cậu đã làm một việc tuyệt vời, Bill ạ! Điều này chắc chắn sẽ được đại tá Parnell đánh giá cao đấy.





- Tuyệt diệu! Anh có nghĩ rằng chính Weatherspoon giết ông già Jackson không?

- Đó là quan điểm của mình.



- Nhưng lạy Chúa, vì lý do gì mới được chứ?



- Mình đang đào bới vấn đề này.

Khi nào sẽ tiến hành điều tra về cái chết của Weatherspoon?

- Hôm naỵ Đám tang đã định vào ngày kia.



- Bác sĩ Steed vẫn khẳng định ông ta chết do tai nạn chứ?



- Tất nhiên rồi.

(Anderson thở một hơi thật sâu).

Thế không phải vậy sao? Tôi không đáp.



- Hãy kể về khẩu súng đi, Bill.

Bác sĩ Steed vẫn giữ nó chứ?



- Tôi nghĩ là vậy.

Tôi không biết chính xác.



- Thế người ta đã lấy dấu tay chưa?

- Tôi rất muốn làm chuyện này nhưng bác sĩ Steed nói không cần.





- Thế cậu có biết đó có đúng là khẩu súng bắn chết Jackson không?

- Chưa kiểm tra về mặt đạn đạo học, nếu đó là điều anh muốn hỏi.



- Lạy Chúa, lại thêm một cái lá nho nữa! Thôi được, chào Bill.

– tôi gác máy.



Sau đó tôi gọi điện cho văn phòng Howard và Benbolt.

Không may lại rơi đúng mụ già thường trực.

Nghe thấy tên tôi, bà ta bèn lên giọng trịch thượng.



- Ông ấy đi vắng rồi,

- bà ta tuyên bố vẻ đắc chí.



- Ông ấy nhắn tôi gọi điện mà,

- tôi cố kiên nhẫn.





- Ông ấy có để lại thư nhắn đây.

Ông ấy muốn gặp anh vào lúc ba giờ chiều nay.



- Tôi sẽ tới,

- tôi nói và gác máy.

Tôi lấy mấy bản báo cáo gửi đại tá ra đọc lại.

Tôi thêm vào đó chi tiết Anderson vừa cho biết.

Tôi đã hỏi chuyện tất cả mọi người liên quan trực tiếp hay gián tiếp với Johnny, chỉ trừ một người: Herbert Stobart.

Cũng có thể ông ta chưa bao giờ nghe nói đến Johnnỵ Nhưng bây giờ tôi rất muốn nói chuyện với ông tạ Tôi đưa chị Glenda bản báo cáo thêm về cú điện thoại của Anderson và yêu cầu xếp chung với tập báo cáo tôi đã gửi trước đó.





- Anh định viết tiểu thuyết hả? – chị ta hỏi bằng một giọng chế nhạo.



- Cũng là ý hay đấy! Thế mà tôi chưa nghĩ tới.

Tôi tới câu lạc bộ Country, đỗ xe và đi lên tiền sảnh.

Lúc đó khoảng mười một giờ mười.



Tôi tìm gặp Sammy Johson, người gác cửa, lúc đó đang soạn thự Ông ta mỉm cười với tôi.

Đại tá cũng không bao giờ quên ông vào những dịp Nôel và lễ Tạ Ơn.

Vì ông ta như cái tai dán vào cửa, nên có ông ta trong tay áo là rất lợi hại.



- Chào Sammy,

- tôi nói.

– Trông ông ngày càng trẻ ra.



- Thì anh thấy đấy,

- Ông ta cười.

– Có lẽ vậy, tôi cũng cảm thấy ngày càng trẻ ra.





- Ông Stobart có ở đây không?

- Ông ấy đang chơi golf.

Chắc bây giờ đang ở lỗ mười bảy rồi.



- Tôi chưa bao giờ gặp, vậy làm thế nào nhận ra ông ta?



- Ông ấy saukhi chơi bao giờ cũng ngồi dưới hàng hiên bên dưới.

Người nhỏ, đôi chiếc mũ chơi bóng chày kẻ đỏ và trắng.

Không lẫn vào đâu được.



- Cám ơn Sammy.



- Nếu anh muốn nói chuyện với ông ta thì không nên vào lúc này.

Ông ta chơi golf để bàn việc với một ngài nào đó.

Mà Stobart là người khó tính lắm.





- Một lần nữa cám ơn Sammy.

Tôi đi xuống hàng hiên bên dưới, thấy một chiếc bàn đứng biệt lập, tôi kéo chiếc ghế ngồi chờ đợi.

Hai mươi phút sau, tôi thấy một người đội mũ chơi bóng chày kẻ sọc đỏ trắng.

Ông ta vừa đi vừa nói chuyện với một gã nhỏ con, béo tròn và tôi nhận ra ngay đó là Edmundo Raiz.

Tôi vội dịch nhanh ghế nấp kín hơn.

Họ đi tới gần và ngồi cách tôi khoảng ba bàn.

Stobart ngồi quay lưng về phía tôi và Raiz ngồi xuống cạnh ông tạ Cả hai không ai nhìn về phía tôi.



Stobart bật ngón tay kêu đánh tách gọi người hầu bàn.

Ông ta gọi bia, rồi nghiêng người ra phía trước tiếp tục nói chuyện với Raiz.

Tôi thấy Raiz gật đầu lia lịa cứ như đang nhận mệnh lệnh.

Tôi thất vọng không nhìn được rõ mặt Stobart, nhưng tôi kiên nhẫn đợi.

Người hầu bàn mang bia tới, Stobart ký hóa đơn, cho tiền boa và người hầu bàn lùi ra.

Tôi thấy Stobart rút túi ra cái gì đó, mở ra rồi lấy bút viết.

.

tôi nhổm người nhìn và thấy ông ta đang viết séc.

Viết xong ông đưa cho Raiz.

Raiz cầm ngay lấy và đút nhanh vào ví.



- Tốt lắm, Ed,

- Stobart nói cao giọng.

– Hãy lên đường đi.

Nhớ đổi ra tiền mặt và giải quyết gọn vụ này.





- Vâng, thưa ông Stobart.

Ngay khi có tin, tôi sẽ gọi ngay cho ông.



- Đừng có đánh trượt đấy, nhớ chưa, Ed.



- Stobart gắt.



- Ông cứ tin ở tôi, ông Stobart ạ.



Nói rồi hắn đi ngang qua hàng hiên và biến mất.

Rồi ông ta đứng dậy đi nhanh tới bậc thang dẫn lên hàng hiên trên.

Tôi vội bám theo, nhưng giữ khoảng cách đủ xa, nên vẫn nhìn thấy lưng ông ta.

Trong gian tiền sảnh, ông ta mua một tờ Paradise City Herald ở quầy báo.

Tôi chọn chỗ đứng ngay cạnh chiếc cửa quay nhìn ra hàng hiên phía trước.

Bên dưới là chiếc Rolls sơn hai màu be và nâu.

Một gã da đen lực lưỡng đứng đợi sẵn.

Tôi nhận ra gã: đó chính là tên dọa tôi khi tôi từ nhà Hank Smith đi ra.

Hốt hoảng, tôi lùi lại và xô phải Stobart đang đi ra cửa.





- Say hả? – ông ta lầu bầu và nhìn tôi.

Chúng tôi nhìn vào mắt nhau và tôi sững sờ.

Người đứng trước mặt tôi có hai con mắt sát nhau, cái miệng gần như không có môi và một vết sẹo chạy dài từ mắt phải tới cằm.

Ông ta gạt tôi sang một bên rồi ra cửa.

Thằng khỉ đột mở cửa xe, Stobart ngồi vào và chiếc xe phóng vụt đi.

Tôi đứng nhìn cho tới khi chiếc xe đi khuất.

Bây giờ thì tôi biết Herbert Stobart chính là thằng bạn thân thiết của Mitch Jackson.

Hắn chính là Syd Watkins!

*** Tôi gặp Benbolt ở văn phòng của ông.

Ông bắt tay tôi và vồn vã mời ngồi.





- Tôi vừa từ Searle về xong,

- Ông nói.

– Do có người yêu cầu mua nhà máy, tôi nghĩ rằng đã đến lúc nói với cô Peggy Wyatt.

(Ông ta cười vẻ đểu giả).

Cô bé hấp dẫn đấy chứ nhỉ? Lại còn gặp may nữa!

- Ai yêu cầu mua vậy?

- Ông thấy đấy, đã xảy ra quá nhiều chuyện.

Bản di chúc của Weatherspoon thì không có vấn đề gì.

Ông Seiler thuộc công ty Seiler đã gặp tôi và đưa một đề nghị khá hấp dẫn đối với nhà máy.

Vì quyền lợi của cô Wyatt tôi buộc phải xem xét đề nghị này.

Sáng nay tôi cho cô ta biết và cô ta đã chấp nhận bán.





- Người ta trả bao nhiêu? Benbolt xoa chiếc cằm.



- Một số tiền rất lớn.





- Này ông Benbolt, bí mật nghề nghiệp của ông chẳng có nghĩa lý gì với tôi.

– tôi nói bằng giọng gay gắt.

– Tôi đã nói với ông rồi, kẻ mua nhà máy sẽ là một tên buôn bán ma túy.

Ông ta trả bao nhiêu?

- Thì tôi đã nói với ông rồi.

– đôi mắt ti hí của ông ta tối sầm lại.

– Còn chuyện kia tôi cũng chỉ mới nghe ông nói thôi.



- Rồi ông sẽ phải đương đầu với các nhân viên cơ quan phòng chống ma túy.

Mà họ không phải là những kẻ nhẹ tay đâu.

Người ta trả bao nhiêu?



- Nếu cần, tôi sẽ làm việc thẳng với họ chứ không phải ông, ông Wallace ạ.



- Ai sẽ là người mua? Ông ta ngả lưng ra ghế, gương mặt đầy vẻ thù địch.





- Ông Wallace ạ, nhiệm vụ của ông là tìm kiếm Johnny cơ mà.

Liệu chúng ta có nên chỉ dừng ở đây thôi, được không? Tôi chằm chằm nhìn ông ta.



- Ông muốn nói rằng ông từ chối hợp tác?



- Tôi chẳng có lý do gì phải cộng tác với một thám tử tư cả.

Ông đã nói rằng nhà máy ếch hộp bán ma túy.

Tôi đã kiểm tra nhà máy và không thấy có gì chứng tỏ nó có những hoạt động khác với nhiệm vụ thực tế của nó.

Đó chỉ là một doanh nghiệp phát đạt nhờ chuyên cung cấp đùi ếch cho các khách sạn lớn.

Nếu việc bán nhà máy bị chậm trễ, các khách sạn sẽ bị mất khách và họ có thể sẽ tìm nguồn cung cấp khác.

Khi đó công nhân có tay nghề sẽ bị thất nghiệp.

Tất cả chỉ bởi vì những phỏng đoán không có căn cứ của ông cho rằng nhà máy có liên kết với bọn buôn bán ma túy.

(Ông ta giơ tay xem đồng hồ).

Tôi đề nghị Ông đừng quấy rầy tôi nữa.

Tôi không muốn mất thời gian vô ích với ông.

Tôi đứng dậy.



- Họ đã đút cho ông bao nhiêu, ông Benbolt?

Gương mặt ông ta bừng bừng sát khí.



- Cút ra khỏi văn phòng tôi ngay!

- Bình tĩnh nào, đừng có làm ra vẻ vô tư nữa đi, đồ khốn kiếp! – tôi nói.

– Rồi chúng ta sẽ gặp nhau ở tòa.



Nói xong, tôi hầm hầm bước ra ngoài.

Tôi quyết định phải liên lạc ngay với Peggỵ Có cả một dãy cabin điện thoại ở gian tiền sảnh.

Tôi tìm số phôn của khách sạn Jumping Frog.

Người nhấc máy là ông Abraham.



- Peggy có ở đó không, bác Abraham? Tôi đây, Wallace đây mà.





- Không.

Cô ấy đi vắng rồi, Wallace ạ.



- Cô ấy đi đâu?

- Tôi nghĩ là đến nhà máy.

Anh đã biết tin vui chưa? Bây giờ cô ấy là bà chủ ở đó rồi.





- Có, tôi biết rồi.

Cám ơn bác.

(Tôi gác máy).

Từ Paradise City tới Searle mất hơn hai giờ xe hơi.

Và trong hai giờ đó nhiều chuyện có thể xảy ra.

Dù sao tôi cũng thấy bứt rứt không yên và mỗi khi rơi vào trạng thái đó tôi luôn phải hành động.

Tôi gọi điện đến đồn cảnh sát Searlẹ Anderson nhấc máy.





- Bill, mình nhờ cậu một việc.

Cậu hãy đến ngay nhà máy đóng hộp ếch xem Peggy có ở đó không và có chuyện gì xảy ra với cô ấy không.



- Có chuyện gì xảy ra với Peggy à? – Anderson hỏi vẻ ngạc nhiên.

– Ý anh muốn nói gì? Anh biết tin gì chưa? Cô ấy vừa mới được thừa kế, Weatherspoon đã…

- Mình biết rồi.

Hãy tới nhà máy xem cô ấy làm gì ở đó.

Mình đang gọi điện cho cậu từ một cabin điện thoại, số đây.

(Tôi đọc số cho Anderson).

Cậu ghi xong chưa?



- Rồi.

Nhưng có chuyện gì vậy?

- Đi ngay đi.

Hãy nói chuyện với cô ấy, chúc mừng cô ấy và nếu thấy mọi chuyện ổn cả thì gọi điện ngay cho mình.

Mình sẽ đợi.



- Đồng ý.

Có thể anh phải đợi hơi lâu đấy.





- Mình sẽ chờ.

Thôi, đi nhanh lên.

Tôi ngồi ở tiền sảnh, cạnh dãy cabin điện thoại, châm thuốc hút và nghĩ về Benbolt.

Tôi tin rằng người ta đã mua được hắn.

Chắc Seiler đã đút cho hắn để đảm bảo nhà máy sẽ được bán.

Liệu hắn có biết những chuyện đã xảy ra ở nhà máy không nhỉ?

Cuối cùng, sau bốn mươi phút chờ đợi và đốt tới sáu điếu thuốc, tôi nghe tiếng chuông điện thoại trong cabin.

Tôi vội nhấc máy.



- Anh Dirk hả?

- Mình đây.

Có chuyện gì không?



- Tại sao anh cứ cuống lên thế? Tôi đã đi bộ tới nhà máy.

Peggy cũng có ở đó.

Cô ta đang phát điên lên vì sung sướng.

Tôi vừa mới cất lời chúc mừng, cô ta đã ngắt lời ngay: “Không phải bây giờ, Bill.

Sau này hẵng haỵ Tôi đang bận lắm”.

Rồi cô ta đóng sập cửa ngay trước mũi tôi.



- Chỉ có thế thôi à?

- Thế thôi.

Anh sợ cái gì mới được chứ?



- Cô ta đang bận việc à? Có ai ở đó với cô ta không?

- Có.

Qua cửa sổ văn phòng tôi thấy có một gã có vẻ như người Mêhicô.



- Mẹ kiếp!

- tôi nói rồi gác máy.



Tôi chạy ngay tới chỗ đỗ xe.

Khi tôi tới nơi, tôi thấy một thằng bé tóc vàng chừng mười hai tuổi đang đứng cạnh xe.



- Xe chú bị xịt lốp rồi,

- nó nói.

– Cháu thấy một gã thọc dao vào lốp.



Tôi nhìn xuống bánh xe trước.

Lốp đã bị xẹp chẳng còn tí hơi nào.



- Nó nhìn thế nào? – tôi hỏi.



- Một gã da đen đội chiếc mũ lớn màu đen.

Hắn đeo cả một tá dây chuyền và hôi hám lắm.



Lại thằng khốn kiếp đó.

Tôi lấy lốp dự phòng ra thaỵ Hàng năm nay có xảy ra chuyện này bao giờ đâu.

Sau khi thấy tôi loay hoay một lúc, thằng bé nói:

- Chú lắp sai rồi.

Để cháu làm cho.



Thằng bé thay chiếc lốp chỉ trong mười phút.

Tôi phải mất hơn nửa giờ nữa mới tới được đó.



- Cháu tên gì? – tôi hỏi trong khi đặt chiếc lốp xịt vào trong cốp.



- Wes Bridley.





- Nếu một ngày nào đó cháu muốn trở thành thám tử tư, hãy tới gặp chú ở hãng Parnell.

Chú sẽ giúp cháu vào làm trong đó.

(rồi tôi đưa cho thằng bé năm đôla).



- Cháu mà làm thám tử đấy à? Đâu có hay ho gì.

(Nó nhăn mũi).

Cháu thích làm chủ nhà băng kia.

Tôi ngồi vào xe, giơ tay chào nó, rồi phóng thẳng về Searlẹ Tôi đi theo con đường ven biển và cố giữ không vượt quá tốc độ cho phép cho tới tận Fort Pierce, từ đây tôi đi ra quốc lộ 8.

Đoạn đường tới Fort Pierce rất đông xe cộ và tôi tin rằng Raiz đã ra lệnh cho thằng nhọ đó làm chậm thêm hành trình của tôi.

Mặc dù vậy, tôi vẫn lái thận trọng không vượt quá sáu mươi cây số một giờ để không cho cảnh sát làm chậm trễ tôi hơn.

Trên quốc lộ 8, xe cộ vắng hơn và tôi đã liều chạy tới hơn chín mươi cây số giờ.



Tôi cố không nghĩ tới Peggỵ Tôi nhớ Stobart đã trao cho Raiz một tấm séc và nói với anh ta đổi ra tiền mặt.

Lóa mắt trước cả đống tiền mà Raiz mời mọc, giờ này chắc Raiz đã thuyết phục được Peggy bán nhà máy mất rồi.

Cách hồ Placid khoảng chục cây số, tôi chợt thấy một chiếc xe chở đầy cam chạy bám theo tôi chừng mấy mét.

Giờ tôi mới nhớ rằng thực ra nó đã theo tôi một thời gian rồi.

Có lẽ vì lúc nào cũng có hàng chục xe tải chở rau quả chạy trên quốc lộ nên tôi đã không để ý.

Nhưng tôi chạy với tốc độ cả trăm cây số giờ vẫn thấy nó bám theo sát.

Phía trước, con đường thẳng băng, hai bên là cây cối và các rãnh thoát nước.

Tôi quyết định cắt đuôi và nhấn ga hết cỡ.

Chiếc xe của tôi vọt lên và đạt tới tốc độ một trăm hai mươi cây số giờ.

Tôi liếc mắt nhìn qua gương hậu thấy chiếc xe tải đã bị bỏ lại phía sau.

Tôi đã cách nó vài trăm mét, nhưng không thể tiếp tục duy trì tốc độ này mãi được.

Rất nhiều xe tải chạy ngược chiều và tôi chợt thấy ngay trước mặt một chiếc xe tải hai mươi tấn, chất đầy rau quả, đang ỳ ạch chạy như rùa.

Tôi đạp hờ phanh và chờ cơ hội vượt lên.

Nhưng xe chạy ngược chiều mỗi lúc một đông và qua gương hậu tôi thấy chiếc xe tải chở cam chỉ còn cách tôi vài mét.



Đó là một chiếc xe loại nhỏ mang biển số Miamị Kính chắn gió màu xanh không cho phép tôi nhìn rõ mặt người lái.

Thấy có thể vượt lên, tôi nhấn gạ Tôi rất sợ sẽ bị ép ở bên phải.

Một chiếc xe con phóng rất nhanh vừa khẽ đánh tay lái đã suýt đâm phải tôi.

Tôi chỉ kịp nghe thấy tiếng còi, chiếc xe đã mất hút phía trước.

Tôi rất cố gắng giữ bình tĩnh.

Qua gương chiếu hậu tôi lại thấy chiếc xe cam chỉ cách tôi vài mét.

Mà tôi đang chạy với tốc độ một trăm hai mươi cây số giờ chứ ít đâu.

Tôi chợt thấy một cánh tay đen đặt trên thành cửa của chiếc xe tải.

Lại một thằng đen! Bên phải tôi lúc đó là một hào sâu, sau đó là hàng cây.

Đường hào này dùng thoát nước vào mùa mưa.

Tôi lại nhìn qua gương hậu.

Chiếc xe tải đã biến mất lúc nào! Toát mồ hôi , tôi liếc mắt sang trái.

Chiếc xe tải khốn kiếp ở ngay cạnh tôi.

Cabin quá cao nên tôi không nhìn được người lái.

Tôi hiểu ngay nó sẽ ép xe và cho tôi lăn xuống hào.



Linh tính mách bảo tôi nhấn ga, nhưng đây không phải chiếc xe tải bình thường.

Nó có thể chạy nhanh không kém gì tôi.

Tôi đạp phanh và đè mạnh hai tay lên vô lăng để bánh sau không bị trượt.

May mà phanh tôi còn tốt.

Tôi thấy chiếc xe tải vọt lên trước.

Cái chắn va sau của nó quệt vào cái chắn va trước của tôi.

Chiếc xe của tôi quặt về phía đường hào.

Nhờ đè tay lái thật lực, tôi đã làm cho chiếc xe không lao xuống đó.

Nhưng số phận chiếc xe tải không được may mắn như thế.

Mải hất tôi xuống hào, tên lái xe không để ý phía trước.

Đúng lúc đó có chiếc xe tải cỡ lớn lao tới.

Gã lái xe vội quặt tay lái và chiếc xe đâm xuống hào.

Tiếng kim loại vặn, gãy tạo ra những âm thanh chát chúa.



Tôi dừng xe và bước xuống.

Chiếc xe hai mươi tấn cũng vừa tới và dừng lại.

Cả dòng xe phía sau tắc nghẽn.

Cánh lái xe tải đều xuống xe.

Họ cùng với tôi đi tới chiếc xe bị lật.

Chúng tôi nhìn vào cabin xe.

Đầu hai thằng nhọ đều bị đâm qua kính chắn gió, trông đến sợ.

*** Khi tôi dừng xe trước khách sạn Jumping Frog, đồng hồ đã chỉ mười rưỡi đêm.

Trước khi tới Searle, tôi đã suy nghĩ về những điều đã xảy ra.

Rõ ràng là người ta đã định giết tôi.

Tôi tự nhủ từ nay về sau phải hết sức thận trọng.

Tôi vẫn băn khoăn không biết Benbolt có nói với Raiz về việc tôi đã biết về mạng lưới buôn bán ma túy không.



Có thể lắm.

Tôi khoan khoái nghĩ tới bản báo cáo và hộp đùi ếch đang đợi đại tá trở về.

Tôi gặp ông già Abraham ở quầy tiếp tân.

Ông mỉm cười chào tôi.





- Peggy đâu? – tôi hỏi.



- Ở đây.

Đang trong văn phòng.

Cô ấy đang làm việc với ông Willis Pollack, công chứng viên của chúng tôi.

Anh đã biết tin gì chưa? Peggy giàu to rồi.



- Bố Peggy đâu?

Nụ cười của ông già tắt hẳn.



- Ông ấy đang nằm trong giường.

Tội nghiệp ông chủ.

Chắc đận này ông ấy không qua khỏi mất.

Tôi vòng qua quầy tiếp tân, gõ cửa văn phòng và bước vào.



Ông già Pollack đang ngồi trên tràng kỷ, còn Peggy đứng sau bàn.

Họ đang chúc nhau sâm

-panh.



- Chào Dirk! – Peggy cười hết cỡ.

– Anh ở đâu mấy hôm nay? Chúng tôi đang ăn mừng đây.

Hãy cùng vui với chúng tôi nhé.



- Cám ơn,

- tôi nói.

– Hai người đang ăn mừng gì vậy?



- Em đã bán xong cái nhà máy đóng hộp ếch rồi! Harry đã di chúc để lại cho em tất cả.

Em giàu rồi! Tôi kéo ghế ngồi xuống.



- Các vị đừng để mất thời gian nữa.

Người ta đã chôn Weatherspoon đâu.





- hãy kể cho anh ấy nghe đi, ôâng Pollack.

Tôi muốn anh ấy biết.

– Peggy nói và rót sâm

-panh cho tôi.

– Anh thấy đấy, anh Dirk, anh hoàn toàn có quyền được ăn mừng như em mà! Tôi cầm lấy cốc, nâng lên và uống một ngụm rồi đặt xuống bàn.



- Bán rất được giá, anh Wallace ạ.

– Pollack nói.

– Peggy đã làm rất đúng là đã xin ý kiến tôi.





- Khi ông Benbolt cho em biết nội dung bản di chúc của Harry và nói rằng ông ta có thể bán được nhà máy, em đã phóng ngay tới gặp ông Pollack.

Ông Pollack có mặt cùng với em khi Raiz tới.

Ông Pollack nhìn tôi cười.



- Nói thật lòng, anh Wallace ạ, tôi không ưa anh ta lắm, nhưng hắn có vẻ là người làm ăn đúng đắn.

Hắn nói rằng hắn muốn mua nhà máy, nếu để muộn, sẽ phải giải tán nhân sự và sẽ mất khách ở những nhà hàng lớn.

Tôi thấy cũng có lý.

Anh ta đề nghị hai trăm năm mươi ngàn độ Tôi thấy cái giá đó là được rồi.

Anh ta đề nghị trả trước năm mươi ngàn bằng tiền mặt, hai trăm ngàn còn lại sẽ trả khi bản di chúc có hiệu lực.

Nếu Peggy chấp nhận, anh ta sẽ cho người tới nhận nhà máy ngay ngày mai.

Khi đó sẽ giữ nguyên nhân sự của nhà máy và giữ được khách hàng.

Đó là đề nghị chấp nhận được và tôi khuyên Peggy ký giấy đồng ý.

Bắt đầu từ ngày mai, Raiz sẽ là ông chủ của nhà máy, mặc dù bản di chúc còn chưa có hiệu lực.

Cuối cùng, sau một hồi bàn tính, tôi đã buộc Raiz phải chấp nhận nếu kết cục không thành thì số tiền năm mươi ngàn đặt trước sẽ thuộc về Peggỵ Vậy là dù có chuyện gì đi nữa thì trong tay cô bé này cũng đã có năm mươi ngàn đô.



Tôi nâng cốc chúc sức khỏe của Peggy và uống cạn một hơi.



- Thật là tuyệt vời.



- Sao lại không? Bây giờ em đã có cái để chăm sóc cho ba em,

- Peggy nói với đôi mắt bừng sáng.

– Từ lâu em đã mong ước được chăm sóc tử tế cho ba em.

Rồi em sẽ đưa ba em đến bệnh viện ở Miamị Em rất hy vọng và cầu mong ở đó người ta sẽ điều trị khỏi cho ba em.



Tôi nhìn Pollack và thấy ông buồn rầu lắc đầu.



- Tôi đã báo trước với Peggy rồi,

- Ông nói.

– Sẽ chẳng có hy vọng gì đâu.



- Tôi cóc cần biết! Tôi sẽ đưa ba tôi đến bệnh viện.

Tiền bạc để làm gì nếu không giúp cho những người thân yêu của mình?



- Thế còn khách sạn? – tôi hỏi.

– Em cũng sẽ bán chứ? Cô gái lắc đầu.



- Không phải bây giờ.

Em đã đổi ý rồi.

Ba em muốn em giữ lại khách sạn.

Với số tiền bán nhà máy và cửa hàng thực phẩm, em sẽ tân trang lại.

Ông Pollack cũng cho rằng làm như thế là phải.





- Thế kết quả điều tra về cái chết của Weatherspoon thế nào? – tôi hỏi ông Pollack.



- Tất cả được tiến hành rất nhanh: chết do tai nạn.

Tôi nhún vai.

Bác sĩ Steed đã thực sự chứng tỏ lòng trung thành với người bạn già sâu rượu của mình.





- Peggy, một lần nữa xin chúc mừng em! Chúc em có nhiều may mắn hơn.

Tôi bước ra và đi lên phòng.

Nằm dài trên giường và vẫn còn hơi choáng về vụ mưu sát.

Tôi đã gần như phanh phui một mạng lưới buôn bán ma túy.

Nhưng nhiệm vụ chính của tôi là tìm kiếm Johnny Jackson.

Vậy tôi lại phải làm theo lời khuyên của cha tôi.

“Nếu con bị bế tắc, kệ nó, hãy quay trở về những dữ liệu ban đầu và khi ngẫm nghĩ, có thể con sẽ phát hiện ra đầu mối quan trọng mà trước đó con đã bỏ qua”.

Tôi đành quay trở lại những dữ liệu ban đầu và suy nghĩ rất lâu.

Tôi xua đuổi khỏi đầu óc cái mạng lưới buôn bán ma túy, Raiz, Stobart và Stellạ Chúng chỉ làm phân tán đầu óc tôi.

Tôi cố tập trung chú ý vào ông già tốt bụng trồng hoa hồng Wally Watkins.

Tôi hình dung thấy rõ ông mồn một vào lúc tôi hỏi ông gần đây có gặp Johnny không và lúc đó tôi nhớ rằng ông có vẻ lưỡng lự.

Một sự lưỡng lự thường thấy ở những người nhân hậu và trung thực mỗi khi họ sắp phải nói dối.



Tôi thấy đói và đi xuống nhà ăn, rồi gọi món chính trong ngày: một miếng sườn bò.

Ăn tối xong, tôi lấy xe đi tới nhà ông Watkins.

Tôi rời đường lớn và đậu xe ở cạnh đường, cách nhà ông Watkins chừng vài trăm mét.

Qua chỗ ngoặt tôi đã nhìn thấy ngôi nhà.

Tôi lặng lẽ đi vòng quanh ngôi nhà và ra phía sau.

Không thấy ánh đèn trong các buồng ngủ.

Tôi đã mang theo đèn pin cực mạnh phòng xạ Tôi dừng lại dỏng tai lên nghe.



Tôi phát hiện có một cái cửa nhỏ và tôi đi qua đó vào vườn sau, rồi đi ra phía trước ngôi nhà.

Tivi trong phòng khách đang bật.

Trước mặt tôi là mấy cái cửa sổ phòng ngủ.

Một cánh mở toang.

Đó là phòng của ông Watkins.

Tôi chiếu đèn pin nhìn vào.

Sau đó tôi chiếu vào phòng bên cạnh.

Phòng này nhỏ hơn phòng kia, diêm dúa và đầy nữ tính với một chiếc giường đơn.

Trong phòng có một bàn trang điểm nhỏ, trên đặt một lọ nước hoa và mấy thứ trang điểm của phụ nữ.

Thu hút tôi là một bộ tóc giả dài màu vàng treo trên một cái giá.

Tôi cố tìm cách mở cửa sổ này, nhưng nó đóng chặt và cài then bên trong.

Tôi quay sang chiếc cửa sổ mở ở phòng ông Watkins, lặng lẽ trườn vào, mở nhẹ cửa và đi vào một hành làng tối om.

Ông Watkins đang mải nghe thời sự.

Tôi đi tới phòng phụ nữ, mở cửa và lẻn vào.

Tôi khép cửa vào rồi chiếu đèn quan sát phòng.

Theo cách bày biện thì đây là phòng của một cô gái trẻ.

Có mấy con búp bê đặt trên giá đóng ở tường sau.

Một con gấu bông đã sờn đặt trên một chiếc ghế.

Tôi chiếu cao đèn thì thấy một cái khung gỗ treo trên đầu giường.

Thì ra đó là khung của tấm huân chương.

Đến sát hơn tôi thấy mấy chữ Huân chương Danh dự.

Huân chương của Mitch trước kia được treo ở đầu giường ông già Fred, còn bây giờ nó treo ở phòng này.

Ai đang sống ở đây? Liệu có phải Johnnỷ Liệu nó có ái nam ái nữ tới mức dùng bộ tóc giả của phụ nữ, chơi búp bê kia không? Cũng có thể, nhưng tôi hơi ngờ.

Tôi đi tới mở tủ quần áo.

Có một số bộ váy áo treo ở đây.

Tất cả đều là váy của thiếu nữ, loại rẻ tiền.

Trên giá tôi còn phát hiện được hai chiếc xu chiêng và ba chiếc quần lót trắng.

Tôi nhìn Huân chương một lần nữa rồi đi sang phòng Watkins và trườn qua cái cửa sổ ra ngoài.

Tôi bấm chuông.

Tôi nghe tiếng tắt tivi, sau đó im lặng hoàn toàn.

Sau một lúc khá lâu, cửa trước mở ra và ông Watkins nhìn tôi ngạc nhiên.





- Chào bác Watkins,

- tôi nói.

– Cháu là Dirk Wallace đây mà.



- Tưởng ai,

- Ông già nói và đứng chắn trên ngưỡng cửa.

– Anh đến không đúng lúc rồi.

Ngày mai anh đến được không?

- Rất tiếc là ngày mai cháu không thể đến được.

Cháu muốn nói về con trai bác.



Tôi thấy ông co dúm người lại.



- Anh Wallace ạ, tôi nghĩ là tôi đã nói rằng tôi không quan tâm tới thằng đó nữa rồi mà.

Nếu anh có điều gì cần nói với tôi, thì hãy cố đợi đến ngày mai.

Xin lỗi, mong anh thông cảm,

- Ông nói và có ý khép cửa lại.

Tôi cứ bước tới.





- Rất tiếc, bác Watkins ạ.

Nhưng đây là vấn đề liên quan tới cảnh sát.

Và có thể liên quan tới bác nữa.

Tốt nhất là ta nên nói chuyện với nhau.



- Một việc liên quan tới cảnh sát ư? Ông lùi lại và tôi bước vào hành lang rồi khép lại.





- Đúng như vậy, một lần nữa mong bác thứ lỗi.

Ông lưỡng lự rồi ông mở cửa phòng ăn.



- Nếu vậy thì mời anh vào đây.



Tôi theo ông vào căn phòng tiện nghi, bàn ăn đã được dọn sẵn cho hai người.



- Tôi hy vọng rằng câu chuyện của anh không kéo dài chứ, anh Wallacẹ Tôi sắp ăn tối mà.

Tôi có thể mời anh uống chút gì chứ?

- Không.

Cám ơn bác.



Tôi ngồi trên chiếc tràng kỷ.



- Cháu rất tiếc phải nói với bác rằng con trai bác hiện trong tình trạng rất nghiêm trọng.

Chỉ vài ngày nữa anh ta sẽ bị bắt vì đứng đầu mạng lưới buôn bán ma túy ở Searle này.

Tôi quan sát và thấy ông già nhảy dựng lên.





- Con tôi? Ở ngay đây? (Rồi ông thả người xuống ghế).

Tôi hoàn toàn không hiểu.

Syd ở ngay đây ư?

- Không.

Anh ta không ở Searlẹ Anh ta ở Paradise với cái tên Herbert Stobart.

Harry Weatherspoon và anh ta tổ chức một mạng lưới buôn bán ma túy mang lại rất nhiều tiền bạc.

Hàng năm Harry phải kiếm hơn ba triệu đô.



- Weatherspoon? – Ông già sững sờ hỏi.





- Hãy cho phép cháu giải thích cho bác hiểu, bác Watkins ạ.

Điều cháu sắp nói với bác phần lớn là dựa trên các giả thuyết.

Nhưng cháu có những bằng chứng khẳng định những giả thuyết đó là chính xác.

Tất cả mọi chuyện bắt đầu ở Việt nam.

Weatherspoon lúc đó là nhân viên của cơ quan phòng chống ma túy của quân đội.

Trong đám binh lính có rất nhiều tên nghiện ma túy.

Weatherspoon đã phát hiện ra một gã chuyên bán ma túy cho đám lính trẻ.

Gã này chắn chắn phải có kẻ cung cấp.

Và Weatherspoon đã tìm ra kẻ cung cấp đó chính là con trai bác.

Trước khi tên bán ma túy – hắn chính là Mitch Jackson – lẽ ra đã bị bắt, thì hắn chết.

Weatherspoon hẳn là đã biết số tiền Mitch kiếm được là rất lớn.

Vốn là tên hám tiền, hắn liên lạc với con trai bác và hai đứa đã móc ngoặc với nhau.

Sau khi cả hai giải ngũ, chúng nghĩ ra cách dùng ếch đóng hộp để ngụy trang cung cấp hêrôin cho những tay giàu có sa đọa.

Ma túy được cho vào túi nylon giả danh là bột pha nước chấm bán kèm với đùi ếch.

Đây là một ý tưởng tuyệt vời và chúng không hề phải mạo hiểm chút nào.

Con trai bác đã lập cả một danh sách lớn gồm những khách hàng đặt thường xuyên và gửi hêrôin trong hộp đùi ếch mỗi tháng một lần.

Weatherspoon có nhiệm vụ đặt các túi hêrôin vào hộp đùi ếch và con trai bác lo việc chuyển cho khách hàng và cung cấp hêrôin.

Nhưng rồi giữa chúng đã có chuyện.

Chuyện gì thì cháu không biết, nhưng Weatherspoon quyết định rút ra khỏi hội này.

Hắn đã để ra được nửa triệu đô và quyết định bỏ không làm tiếp nữa.

Có thể là hắn đã bất đồng với con bác, cụ thể thế nào thì cháu không biết.

Nhưng điều đó không quan trọng.

Cũng như số phận của tất cả những kẻ tham gia trong mạng lưới buôn bán ma túy quyết định từ bỏ không làm tiếp nữa, hắn đã phải bỏ mạng.

Nhà máy đóng hộp ếch vừa mới được mua bởi một gã người Mêhicô, Edmundo Raiz, do con trai bác bỏ vốn.

Bọn chúng tưởng sẽ vẫn còn tiếp tục được việc buôn bán mờ ám như trước.

Nhưng cháu đã thu thập đủ bằng chứng để tống tất cả lũ này vào nhà đá ít nhất là mười lăm năm.

Ông già Watkins ngồi bất động một lúc lâu rồi nhìn tôi.



- Tôi đã nói với anh rằng tôi không muốn dây dưa với thằng con trai tôi nữa.

Những điều anh nói với tôi thật kinh khủng.

Tôi hy vọng Syd sẽ nhận được những gì xứng đáng với nó.

Có lẽ tôi cũng phải cám ơn anh đã cất công đến đây báo cho tôi biết, nhưng tôi không thấy mình có gì liên quan tới vụ này cả.

Tất nhiên, điều này khiến cho tôi đau lòng, nhưng Syd đã luôn luôn gây đau khổ cho vợ chồng tôi từ lâu rồi.

Anh nói rằng tôi có thể liên quan.

(Ông ta nhìn thẳng vào mắt tôi).

Thế thì tôi liên quan ở cái gì?

Tôi không trả lời câu hỏi của ông để ông tiếp tục không giữ được bình tĩnh.



- Cuộc đời nhiều bí ẩn lắm, bác Watkins ạ.

– tôi nói.

– Mươi hôm trước hãng chúng cháu nhận được bức thư của Fred Jackson yêu cầu tìm đứa cháu nội của ông tạ Ông già đã thanh toán ngay một trăm đôla và chúng cháu đã nhận nhiệm vụ đó.

Chỉ duy nhất bởi vì Jackson đã nhắc nhở đại tá Parnell rằng Mitch, con trai ông, đã phục vụ Ở Việt nam dưới quyền đại tá và đã được truy tặng Huân chương Danh dự.

Và đại tá đã giao cho cháu công việc tìm Johnnỵ Trong quá trình điều tra cháu đã phát hiện ra một mạng lưới buôn bán ma túy.

Nhưng đó chỉ là sản phẩm phụ, mặc dù rất quan trọng.

Hiện cháu vẫn chưa tìm ra Johnny Jackson.

Mấy hôm trước cháu có hỏi bác gần đây có gặp anh ta không.

Bác trả lời cháu là không.

Nhưng ngay lúc đó cháu đã có cảm tưởng rằng bác đã không nói thật với cháu.

Bây giờ cháu lại xin hỏi lại một lần nữa: gần đây bác có gặp Johnny Jackson không? Ông già cúi nhìn chăm chú hai bàn tay và không nói gì.





- Gần đây bác có gặp Johnny Jackson không? – tôi nhắc lại.

Nhìn vẻ rầu rầu của ông, tôi thấy rằng ông đang chuẩn bị nói dối một lần nữa.

Nhưng đúng thời điểm đó, cánh cửa đột ngột mở ra và Bêbê Mansel bước vào.



- Xéo khỏi đây ngay, thằng khốn! – Cô ta hét lên.

– Đứng lên và xéo ngay đi.



Tôi nhìn cộ Bêbê vẫn mặc chiếc áo phông làm nổi rõ bộ ngực căng tròn và chiếc quần bò bó.

Mái tóc đen mượt mà thả dài xuống ngang eo.

Gương mặt nhỏ trắng trẻo sầm lại như tạc bằng đá.



- Bây giờ thì khỏi phải đuổi tôi cũng đi! – tôi nói và đứng dậy.

Tôi nhìn Watkins.

Ông vẫn ngồi bất động trong ghế phôtơi và không rời mắt khỏi bàn tay mình.





- Bác Watkins, bác vẫn chưa trả lời câu hỏi của cháu.

Bêbê sấn sổ xông đến tôi, nắm lấy tay tôi và làm cho tôi quay tại chỗ.



- Xéo đi! – cô ta rống lên.



Tôi nhìn cô và bất chợt hiểu ra tất cả.

Căn phòng ngủ thứ hai, con gấu bông và lũ búp bê, tủ quần áo con gái và tấm Huân chương Danh dự treo trên tường.



- Tất nhiên rồi, tôi sẽ đi.

Cô gái mở toang cửa.





- Xéo ngay khỏi đây! Khi đi ngang qua cô, tôi tóm lấy một lọn tóc đen và mượt rồi giật mạnh.

Bộ tóc giả tung ra.

Cô gái hét lên và giơ tay định tát tôi, nhưng tôi chộp được cổ tay cô.

Tôi nhìn mái tóc vàng cắt ngắn như của con trai của cô, rồi mỉm cười:



- Chào Johnny Jackson,

- tôi nói.

– Thế là cuối cùng tôi đã tìm ra cậu.

*** Wally Watkins ngồi như hóa đá và cô gái cũng đứng như trời trồng tại chỗ.

Cô hết nhìn tôi lại nhìn ông Watkins.

Tôi cứ để mặc cho sự im lặng kéo dài.

Rồi cuối cùng, ông già khẽ lên tiếng:



- Cháu Johnny ạ, bác nghĩ đã đến lúc ta nên giải thích cho anh Wallace rõ.



- Tùy bác! – cô ta hét lên và giật bộ tóc giả từ tay tôi.

– Bác cứ việc cho anh ta biết! Cô ta chạy ra khỏi phòng và đóng sập cửa lại.



Ông Watkins nhìn tôi.



- Anh uống với tôi một chút uytski nhé.

Phiền anh lấy giúp.

Cái gối của tôi lại giở trò rồi.



- Rất vui lòng, nhưng còn bữa tối của bác? (Tôi mở tủ rượu và lấy hai chiếc ly).

Cháu rất tiếc về những gì đã xảy ra, bác Watkins ạ.





- Không sao, ăn sau cũng được.

(Ông già nhìn ly uytski và gật đầu).

Anh pha khá đấy, anh Wallace ạ.

Tôi cầm ly của tôi và ngồi xuống ghế đối diện.



- Không có gì buộc bác phải nói cả, bác Watkins ạ.

Cháu đã tìm được Johnny rồi, nhiệm vụ của cháu thế là xong.





- Tôi cũng muốn nó đơn giản vậy thôi.

Nhưng tôi muốn anh nên biết toàn bộ câu chuyện về Johnnỵ Và tôi cũng muốn anh làm gì đó để tỏ ra thông cảm hơn đối với nó.

Tôi châm thuốc và ngả người ra ghế.



- Cũng được! Thế thì bác cứ kể đi.





- Tôi sẽ cố gắng nói ngắn gọn thôi.

Kitty và tôi đã tham gia vào câu chuyện đáng buồn này ngay từ đầu.

Con trai chúng tôi đã làm chúng tôi thất vọng.

Tôi không cần nó quay trở về nữa.

Mà chúng tôi thì rất quý trẻ con.

Khi Johnny tới Searle và tới cửa hiệu chúng tôi, hai vợ chồng tôi rất quan tâm tới nó.

Cả hai chúng tôi đều nghĩ nó là con trai.

Chúng tôi thừa biết ông già Fred sống khổ hạnh thế nào mà, nên bảo nó hàng tuần tới đây để tắm giặt.

Ông ta thì chẳng bao giờ tắm cả.

Thực tế, ở nhà ông ấy cũng chẳng có phòng tắm.

Johnny mừng lắm.

Vậy là chúng tôi gặp nó thường xuyên và dần dần gắn bó với nhau.

Nói thực lòng, cho đến bây giờ tôi coi nó như con đẻ của mình.

Cho tới khi Johnny mười bốn tuổi, Kitty đã ngờ rằng nó không phải là con trai mà là con gái.

Vào thời gian đó, Johnny đã rất quý chúng tôi, nhưng chưa được như với cái lão già thô lỗ và bẩn thỉu kia.

Một tối, nó đến đây tắm, nó đã kể hết cho chúng tôi nghe.

(Ông già ngắt lời, uống một hớp nữa rồi nói tiếp).

Mẹ nó, tức Stella Costa, đã làm quen với Mitch Jackson ngay trước khi anh ta nhập ngũ.

Mitch có một vẻ quyến rũ làm cho phụ nữ mê mẩn.

Rồi khi có thai với Mitch, Stella cầu khẩn Mitch hãy cưới cô ta và hắn nói rằng nếu đứa bé là con trai, thì khi ở Việt nam về hắn nhất định sẽ cưới.

Người đàn bà rất mong được cưới Mitch.

Khi đứa bé ra đời và biết là con gái, Stella hiểu ngay rằng Mitch sẽ không cưới cộ Tuyệt vọng, cô đã làm khai sinh cho đứa bé dưới cái tên Johnny Jackson, con trai, và gửi cho Mitch một bản sao giấy khai sinh, đồng thời nhắc anh ta về lời hứa sẽ cưới khi ở Việt nam trở về.

Cũng phải nói rằng nhà Jackson rất lạ lùng.

Cả cha lẫn con đều không muốn cho con gái kế thừa.

Và Mitch đã trả lời: hắn tỏ ra rất sung sướng và hứa nhất định sẽ cưới Stella khi trở về.

Stella nuôi dạy con bé như một đứa con trai.

Rồi Stella gặp khó khăn vì Mitch không gửi tiền về nữa.

Johnny lúc đó đã tám tuổi và trở nên gánh nặng đối với cô tạ Cô quyết định cho nó về ở với ông nội nó.

Cô ta đã giải thích toàn bộ câu chuyện chẳng hay ho gì này với Johnny và dặn đi dặn lại nó không bao giờ được tiết lộ với ông già nó là con gái.

Vào thời đó Johnny vui lòng đóng trò giả trai.

Ông già Fred rất mừng vì có cháu đích tôn.

Ông đối xử tốt với Johnny, tất nhiên là theo cái cách thô lỗ của ông ta và cuối cùng Johnny cũng yêu và ngưỡng mộ Ông.

Tối đó con bé nói với tôi rằng ông già Fred kể cho nó nghe về cuộc đời mình, nhất là những trận đánh nhau với cá sấu, và về Mitch.

Rồi năm tháng qua đi.

Lẽ tự nhiên là Johnny càng ngày càng bộc lộ rõ tính con gái.

Ông già Jackson cũng thi thoảng nói về lũ con gái, nhưng bằng một cách thô lỗ và đầy khinh bỉ.

Johnny hiểu rằng ông già đã nghi ngờ nó là con gái, và thế là nó bỏ trốn đi.

(Watkins lại ngước mắt nhìn tôi).

Thật là buồn, phải không anh? Johnny thực lòng ngưỡng mộ Ông già, nhưng nó tính rằng sớm muộn gì rồi ông cũng phát hiện ra nó là con gái.

Bà Kitty nhà tôi lúc đó đã mất, nhưng mỗi tuần một lần Johnny vẫn đều đặn đến đây tắm giặt và nói chuyện với tôi.

Nó phải bó ngực cho phẳng xuống và không để lộ cho ông nó biết.

Nhưng nỗi lo sợ bị phát hiện ngày càng lớn dần.

Tôi bèn khuyên nó hãy bỏ ông già và đến đây sống với tôi.

Và nó đã làm như thế để khỏi phải đương đầu với cơn giận dữ của ông nó khi phát hiện ra sự thật.

Chúng tôi không hề nghĩ rằng ông nó lại gửi thư nhờ đại tá Parnell.

Sau đó, anh tới đây điều tra và phát hiện ra sự thật đáng buồn này.

Bây giờ thì anh biết mọi chuyện rồi, anh Wallace ạ.

Chúng tôi cũng chẳng có gì ân hận và điều đó cũng không quan trọng vì Johnny cũng sắp ra đi.

Tôi đã tìm cho nó một công việc ở Los Angeles.

Cháu tôi có cửa hàng bán đồ may sẵn ở đó.

Ngày mai nó sẽ đi và tôi hy vọng rằng ở đó nó sẽ tìm thấy hạnh phúc.

(Ông cười buồn bã).

Tôi chắc sẽ nhớ nó lắm.



- Cháu hoàn toàn hiểu bác, bác Watkins ạ.

Vẫn còn nhiều câu hỏi chưa được trả lời.

Ví dụ như tiền, chẳng hạn? Ông tỏ vẻ ngạc nhiên.





- Tiền? Tiền nào?

- Tiền của ông già Jackson.



- Ông ấy mà có tiền ư? Tôi không biết gì hết.



Tôi có cảm tưởng là ông già nói thật.



- Johnny bỏ nhà đi khoảng hai tháng trước,

- tôi nói.

– và tới sống ở nhà bác.

Vậy cô ấy làm gì?

- Nó nói với tôi là nó làm cho một câu lạc bộ Ở Miamị Điều đó tôi không quan tâm.

Nó chỉ về với tôi vào những ngày nghỉ cuối tuần.

Đừng bao giờ can thiệp sâu vào công việc của lũ trẻ, anh Wallace ạ.





- Bác nói đúng.

Nhưng cháu cần nói với Johnny mấy lời.

Cháu cần câu trả lời cho một số câu hỏi.

Cháu hy vọng cô ấy sẽ nói sự thật, nhưng có mặt bác chắc là cô ấy sẽ không nói.

Bác cho phép cháu chứ? Ông già ngẫm nghĩ một lát rồi lắc đầu.



- Tôi không quan tâm.

Tôi chỉ yêu cầu anh hãy đối xử tốt với nó.

Cuộc đời nó đã cơ cực lắm rồi, anh Wallace ạ.

Mà tôi thì vô cùng yêu nó.



Tôi đứng dậy.



- Để cháu rót thêm ly uytski cho bác.

Cháu sẽ cố gắng thật nhanh để hai người còn ăn tối.



- Cám ơn anh.



Tôi rót đầy ly cho ông rồi đi ra cửa.

Tôi đi theo hành lang tới phòng ngủ thứ hai, gõ cửa rồi bước vào.

Cô gái nửa ngồi nửa nằm trên giường, tay ôm con gấu bông đợi tôi.



- Ta nói chuyện với nhau một lát,

- tôi nói và khép cửa lại.

– Tiền của ông cô đâu rồi?

Cô gái ghì chặt con gấu trong tay.



- Tôi đã lấy rồi.



- Cô có thể kể cho tôi về điều này không, Johnny?

Cô lưỡng lự một lát rồi nhún vai.



- Ông muốn để cho Mitch số tiền đó.

Sau này, khi Mitch chết, ông muốn để lại nó cho con trai của Mitch.

Nếu Mitch không có con trai thì ông muốn hiến hết số tiền đó cho Quỹ giúp đỡ những cựu chiến binh bị mất chân tay.



- Tôi biết.

Nhưng vì cô là con gái, cô không có quyền được hưởng số tiền đó.





- Đúng là như thế.

Tôi lấy là vì thằng Weatherspoon khốn kiếp định đánh cắp nó.



- Bình tĩnh nào, Johnnỵ Cô có biết mạng lưới buôn bán ma túy và nhà máy đóng hộp ếch không?

- Có, tôi biết.

Mẹ tôi có cho tôi biết.





- Cô cũng biết rằng cha cô, Weatherspoon và Stobart cùng cộng tác với nhau chứ?

- Cha tôi chết rồi hai người này mới móc nối với nhau.

Nhưng thôi, đúng là cha tôi có bán ma túy.

Nhưng sau đó thì sao? Cha tôi đã phải mất mạng để cứu sống mười bảy mạng người và đã được trao tặng huân chương.

Tôi nén không cho cô biết rằng cha cô ta vào rừng chẳng qua để cứu món thu nhập hàng tuần của mình.





- Cô đã làm gì với số tiền đó? Cô ta nhìn tôi với đôi mắt bừng bừng tức giận.



- Anh cứ thử hình dung xem tôi đã làm gì? Nghe đây, tôi rất yêu ông tôi.

Đó là người duy nhất đã đối xử với tôi như con người.

Không kể ông bà Wally và Kitty, những người đã giúp đỡ tôi rất nhiều.

Đồng ý là ông tôi có những tật nhỏ.

Ông căm ghét phụ nữ.

Ông không bao giờ giải thích với tôi vì sao như vậy.

Ông chỉ nói: “Johnny ạ, chúng ta là đàn ông, cần phải sát cánh với nhau.

Trên thế gian này, phụ nữ còn tồi tệ hơn cả lũ cá sấu”.

Ông ham tiền kinh khủng, nhưng chẳng tiêu pha gì.

Ông tằn tiện và số tiền để dành ông giấu trong một cái hố đào dưới gầm giường.

“Khi ông ra đi, Johnny ạ,

- Ông nói với tôi,

- cháu sẽ lấy số tiền đó.

Ông không cần tới chúng nữa.

Với cháu thì chúng có thể sẽ rất có ích đấy.

Vì cháu là cháu nội của ông, ông muốn cháu sống thảnh thơi sau khi ông mất”.

Tôi thì tự biết mình là con gái, và ông sẽ không muốn một đứa con gái như tôi được hưởng.

Nếu biết tôi là con gái chắc ông sẽ tống tôi ra khỏi nhà.

Rồi khi biết tin cha tôi chết, Stobart đã tới gặp ông tôi.

Tôi ở trong phòng nên nghe hết những điều họ nói với nhau.

Hắn nói rằng hắn là bạn Mitch, rằng Mitch và hắn cùng làm ăn với nhau.

Mitch có nói với hắn rằng nếu có chuyện gì xảy ra với Mitch, thì ông tôi có thể nhận phần của Mitch và nếu ông tôi chết thì con trai của Mitch sẽ hưởng.

Ông tôi nói rằng ông không cần.

Nhưng Stobart cứ nài.

“Mitch với cháu là bạn thân với nhau.

Cái gì đã hứa là hứa.

Nếu bác không cần thì thằng bé có thể sẽ cần”.

Và trong suốt sáu năm, tháng nào cũng có thư gửi tới.

Ông tôi không biết rằng tôi đã nghe lỏm được hết.

Ông không bao giờ mở phong bì xem, ông đặt hết vào cái hố cùng số tiền ông dành dụm được.





- Thế cô ước lượng là bao nhiêu tiền không, Johnny?

- Nhiều lắm.

Khi tới năm trăm ngàn đô thì tôi không đếm nữa.



- Thế số tiền này, cô cũng đang giữ chứ?



- Bây giờ thì không.

Nó không phải của tôi.

Tôi đã cho vào hộp và gửi cho những người ở Quỹ giúp đỡ các cựu chiến binh bị mất chân tay, ở New York, như một món quà tặng vô danh.

Đó là mong muốn của ông tôi và tôi đã làm như vậy.

Tôi sững sờ nhìn cô gái.



- Nhưng cô vẫn có thể giữ món tiền đó cơ mà, Johnny.



Đôi mắt cô lại bừng bừng tức giận.



- Anh xem tôi là hạng người nào? Một con ăn cắp ư?

- Xin lỗi.

Cô đúng là một cô gái tuyệt vời.





- Im ngay cái trò đạo đức giả ấy đi! Đối với tôi, ông tôi là tất cả.

Tôi không phải là cháu đích tôn, tôi chỉ là đứa cháu gái của ông thôi.

Nếu ở địa vị anh, anh cũng sẽ làm như thế chứ, phải không? Liệu tôi có làm như thế không nhỉ?

- Tôi hy vọng cũng sẽ làm như thế, Johnny ạ.





- Anh đã hỏi xong chưa? Tôi phải đi ăn với bác Wally đây.



- Chưa.

Hãy nói cho tôi biết về Weatherspoon đi.

Cái nhìn của cô gái tối sầm lại.





- Anh muốn tôi nói gì đây?

- Hắn ta đã giết ông cô, phải không?

- Đúng thế.





- Hãy kể đi.

Cô gái lưỡng lự một lát rồi nói.



- Tôi đã bỏ ông tôi trốn đi và tới làm việc cho câu lạc bộ Skin.

Chính mẹ tôi đã xin cho tôi vào đó.

Những ngày nghỉ cuối tuần tôi lại về nhà bác Wallỵ Tôi mượn xe của mẹ tôi.

Lúc nào tôi cũng nghĩ về ông tôi.

Tôi thường lén nhìn ông bắt ếch ở đầm.

Tôi vô cùng muốn nói với ông mấy câu, nhưng biết rằng ông không muốn tôi nữa rồi.

Rồi tôi có mặt ở đó đúng vào ngày ông tôi bị giết.

Thằng khốn kiếp Weatherspoon đang nói chuyện với ông tôi trong nhà khi tôi từ ngoài đầm đi vào.

Hắn la hét chuyện tiền nong gì đó rồi tôi nghe thấy súng nổ.

(Cô gái nhắm nghiền mắt và ôm chặt con gấu bông trong tay).

Sau đó, Weatherspoon đi ra với khẩu súng trong taỵ Đúng lúc đó hắn nghe thấy tiếng xe của anh đi lên.

Hắn nhảy đại vào một bụi cây.

Tôi biết đã xảy ra một chuyện khủng khiếp và tôi sợ.

Rồi anh tới và đi vào nhà.

Từ nơi nấp, tôi và Weatherspoon quan sát anh.

Sau khi anh đi, hắn ta chạy vào nhà và đi ra không thấy mang súng nữa.

Rồi hắn nhảy lên chiếc môtô giấu sau nhà và p

.